Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN 



TÔI BẬN LẮM!
Truyện ngắn
           


Mỗi buổi chiều về đóng cánh cửa đen thẫm sau lưng, tôi lại một mình đi. Bây giờ thì tôi thú thật, tôi hơi điên điên mỗi lúc chiều về, thật đấy. Máu lên não nhiều quá, chân bước đi trong trạng thái vô hồn. Tôi đi ra suối K'roa, đừng làm phiền tôi bằng những câu chuyện đẫm máu, tôi không thích đâu, thế gian nhiều máu quá!
Giữa lòng suối, nơi nước sâu và xanh nhất, có những phiến đá trắng được nước mài nhẵn, trơn tru nõn nà như tấm lưng sơn nữ. Chân vốn bước nhẹ như không, khi đi, bước trên những tảng đá sơn nữ, lại háo hức vô cùng. Tôi tập đi tập chạy tập bò trên những tảng đá trắng hồng nhũ phấn...
Ai gọi gì tôi đấy? Tôi không nghe nữa đâu, đang bận lắm! Tôi đang trò chuyện với đá nước nghìn năm. Những vết chân tôi như khắc như in trên đá, có hình con mắt màu xanh. Tôi bước đến đâu, những con mắt màu xanh mở ra đến đấy, đăm đắm nhìn theo. Tôi dừng lại chuyện trò như với người bạn thân hàng triệu năm gặp lại.
"Này, mắt sơn nữ màu xanh giữa làn suối trắng, mỗi lúc chiều về có buồn không?"
"Này, những tấm lưng sơn nữ trắng ngần có con mắt màu xanh, mỗi khi chiều về...?"
Tôi nghe tiếng cười giòn dưới lưng đá vọng lên, nghe cả tiếng thở dài dưới mắt đá vọng lên... Lũ cá chiều về nép mình khe khẽ không dám cựa. Chúng sợ những con mắt màu xanh thức giấc, sợ nước mắt lại nổi lên lềnh bềnh rồi trôi về bên kia núi Chư Mang...
Mỗi khi đêm về đóng cánh cửa đen sẫm sau lưng, tôi lại một mình đi. Bây giờ thì tôi thú thật, tôi hơi điên điên mỗi lúc đêm về, thật đấy. Tôi đi ra suối K'roa. Những hòn đá lưng trần thiếu nữ ban chiều bây giờ mới bắt đầu múa hát. Vui lắm! Ai bảo núi Chư Mang chỉ toàn những buồn đau. Tôi mải mê với đôi mắt sáng như bó đuốc trên đầu. Tôi gọi cánh trăng lưỡi liềm xuống chơi, gọi luôn cả muôn vàn sao sáng xuống chơi. Những thiếu nữ lưng trần mắt xanh lúng liếng dưới lòng suối hát bài hát về nữ thần Mặt Trời trong truyền thuyết. Tôi cổ vũ bằng điệu nhảy lò cò qua các tảng đá nõn nà. Bầy hươu nai ngạc nhiên quây lại xem rồi cùng nhảy nhót cho đến tận khuya, khi những vì sao mệt mỏi ngủ lăn lóc trên thảm cỏ mùa hè...
Ai gọi gì tôi đấy? Tôi không nghe nữa đâu, đang bận lắm. Tôi bận múa hát với cánh trăng cong lưỡi liềm và muôn ngàn sao sáng. Tôi ôm những thiếu nữ lưng trần mắt xanh lúng liếng da dẻ trắng phau pháu đá cuội nghìn năm. Tôi nói: "Múa hát mải mê thế này, đã gọi là vui chưa?". Tôi nói nữa: "Cả muôn vạn trăng sao tề tựu, đã gọi là thiên đường được chưa?". Tất cả hổn hển ôm lấy nhau, ngã vào nhau, đè lên nhau, mắt đè lên da, nụ cười đè lên mắt, da đè lên nụ cười, tất cả giao hoan. Khi mặt trời bắt đầu nhuộm hồng chân trời phía bên kia núi thì tất cả mệt nhoài giã biệt ...
Mỗi buổi sáng ra, không còn cánh cửa đen sẫm sau lưng, tôi lại một mình đi. Bây giờ thì tôi thú thật, tôi hơi điên điên mỗi lúc mặt trời lên, thật đấy. Tại vì máu lên não nhiều quá, mà mặt trời thì luôn luôn chói gắt. Tôi đi ra suối K'roa, đừng làm phiền tôi bằng những câu chuyện đẫm máu, tôi không thích đâu, thế gian nhiều máu quá!
Nếu ngửa mặt nhìn vào mặt trời một lúc, chúng ta cũng bị màu đỏ bàng hoàng nhuộm kín. Tôi nhìn xuống suối. Nước suối trong veo. Có đôi vợ chồng mới cưới đang lựa thóc giống để ngâm ủ chuẩn bị gieo mùa mới. Họ chào tôi bằng một nụ cười. Tôi chào họ bằng một nụ cười. Tiếng cười, cũng như hạt thóc giống, có thể nảy mầm và sinh sôi rất nhanh.Người vợ nói: "Rẫy đã phát xong, chúng ta trồng trỉa".Người chồng nói: "Cả ngàn năm nay, chưa thấy nữ thần xuống tuốt lúa với buôn làng". Tiếng cười của họ nảy mầm rất nhanh, thoáng chốc đã lan xanh cả một triền núi buổi sáng mùa hè...
Ai gọi gì tôi đấy? Tôi không nghe nữa đâu, đang bận lắm. Tôi bận rình xem tiếng cười nảy mầm, tiếng cười lên xanh và trổ bông trĩu hạt. Cùng đôi vợ chồng trẻ, tôi hí húi đào lỗ, căng dây đặt bẫy. Chúng tôi bẫy nữ thần Mặt Trời! Nếu nàng, trong một chuyến lang thang dọc núi đồi, gặp một vạt rẫy lúa chín tựa vàng mười, nàng sẽ sà xuống ngắt một bông để cắn vào miệng và bay tiếp, như loài chim k'tia. Tôi làm bẫy cò ke bằng chiếc cần cây le uốn cong, lấy cọng cỏ làm dây thong lọng.  Tôi đặt bẫy xong rồi ngồi chờ mãi, chờ mãi cho đến khi bóng nắng quá đầu. Đột nhiên bẫy bật lên, tôi mừng rỡ từ trong bụi cỏ chạy ra, đinh ninh là đã bắt được nữ thần. Hóa ra không phải, một giọt sương lang thang chui vào bẫy! Tôi tháo dây ra bảo: “Đi chơi tiếp đi, nắng lên cao rồi!”.
Nắng lên cao rồi. Những giọt sương đọng đầu ngọn lúa vẫy tay chào tạm biệt. Đôi vợ chồng trẻ đi lên đầu rẫy để đuổi chim. Tiếng kèn lá lanh lảnh cho đến khi ánh nắng gắt gao nhuộm chín cả sườn núi Chư Mang...
Mỗi buổi trưa đến, không còn cánh cửa đen sẫm nào sau lưng, tôi lại một mình đi. Bây giờ thì tôi thú thật, tôi hơi điên điên mỗi khi trưa đến, thật đấy. Tại vì máu lên não nhiều quá, mà mặt trời thì luôn luôn chói gắt. Tôi đi ra suối K'roa, đừng làm phiền tôi bằng những câu chuyện đẫm máu, tôi không thích đâu, thế gian nhiều máu quá!
Ai gọi gì tôi đấy? Tôi không nghe nữa đâu, đang bận lắm. Tôi ngụp lặn trên suối, chơi đùa với lá với hoa. Tôi khiêu vũ với mắt trời dưới lòng suối. Nữ thần Mặt Trời trong những buổi trưa vắng lặng thường xuống suối K’roa tắm, rực rỡ xiêm y và ngời ngợi thịt da. Chúng tôi liếc mắt đưa tình và chuyện trò không đầu không cuối cho đến xế chiều…
Tôi bận lắm, đừng ai gọi tôi nữa! Bây giờ thì tôi thú thật, tôi hơi điên điên mỗi lúc…






Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

THĂM THỦ ĐÔ XANH - Ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 277 tháng 9 năm 2015




Đã cuối tháng bảy, nhưng trời vẫn đổ mưa nặng hạt. Đoạn đường hơn 30 km từ thành phố Tuyên Quang về Tân Trào nhiều quãng nước tràn qua đường như suối. Vào gần đến địa điểm dừng xe để mọi người xuống đi bộ lên khu di tích Nà Nưa, trời ngớt mưa.
Theo chân hướng dẫn viên, đoàn chúng tôi đi qua con đập dài khoảng 400m, xây dựng kiên cố: mặt đập rải thảm nhựa, thân đập gia cố bằng xi măng, tạo thành một hồ nước lớn. Mặt hồ trong xanh. Ba phía mặt hồ cây cổ thụ xanh rì soi bóng, thấp thoáng đỉnh núi cao mờ mờ trong mây. Núi nhiều và xanh thẫm, chứng tỏ khu vực này rừng được bảo quản tốt. Vượt qua con đập, trước mắt chúng tôi hiện lên chiếc bia đá khá lớn được dựng bên cạnh gốc cây cổ thụ khắc dòng chữ:
Lán Nà Nưa
Tại đây, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ở, làm việc để chỉ đạo việc chuẩn bị tổng khởi nghĩa và lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Cả đoàn mười một văn nghệ sỹ Đắk Lắk vượt trên ngàn cây số ra đây với mong muốn được tận mắt thấy vùng đất được mệnh danh là ATK Tân Trào – Thủ đô xanh của cách mạng Việt Nam thời tiền khởi nghĩa… Mảnh đất đó là đây, nơi cánh rừng này 70 năm trước Bác Hồ của chúng ta đã từng ở, làm việc và quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Ai cũng xúc động cố sờ lên tấm bia đá, sờ lên gốc đại thụ, những hiện vật ghi dấu một thời khó khăn gian khổ mà Bác của chúng ta từng sống và làm việc. Sau khi chụp hình lưu niệm, đoàn tiếp tục leo lên đồi đến gần một chiếc lán lợp lá cọ, xung quanh thưng nứa, núp mình dưới bóng của những cây tre thẳng tắp, vươn lên đan xen ngọn cây cổ thụ tạo thành một vùng bóng mát che khuất cả ánh nắng mặt trời buổi chiều vừa mới tan mây. Trước lán có một hòn đá tự nhiên lớn rêu mọc xanh rì, bên cạnh có chiếc bàn đá được đục bằng đá nguyên khối, nét đục còn mới, chắc người ta mới đặt vào, một lư hương lớn đang nghi ngút khói. Cô hướng dẫn giới thiệu:
- Đây là lán Nà Nưa, Bác của chúng ta ở từ tháng năm đến cuối tháng tám năm 1945.
Nhà thơ Hoàng Chuyên, thành viên nhiều tuổi nhất đoàn, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Đắk Lắk bước lên trước, yêu cầu mọi người xếp thành hàng ngang, quay mặt về phía lư hương hô lớn: “Tất cả chú ý, chỉnh đốn trang phục; nghiêm! Để tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của đất nước, người cha già kính yêu của dân tộc, phút mặc niệm bắt đầu!” Giọng của người cựu chiến binh tuy đã gần bảy mươi tuổi nhưng vẫn còn rất khỏe, rắn rỏi. Mọi người cúi đầu thành kính sau đó dâng hương, nhìn mắt ai cũng long lanh, xúc động. Không xúc động sao được khi thấy chiếc lán nhỏ bé như chiếc lều đuổi chim của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thường dựng trên rẫy lại là nơi nghỉ và làm việc của lãnh tụ gần bốn tháng trời, nơi đưa ra những quyết định hết sức quan trọng tạo nên bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Cô hướng dẫn viên khu di tích chắc chỉ ngoài hai mươi tuổi, mặc bộ quần áo truyền thống của người dân tộc Tày giọng xúc động khi giới thiệu cho chúng tôi biết: Giữa lúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp đi đến hồi kết, cách mạng Việt nam có một bước ngoặt lớn trước thời cơ ngàn năm có một, Bác quyết định về Tân Trào ở, nơi đáp ứng được yêu cầu: “Gần nước, gần dân, xa đường quốc lộ, thuận đường tiến, tiện đường thoái” để kịp thời lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cũng chính tại chiếc lán đơn sơ này những văn kiện, chỉ thị, các chủ trương kế hoạch được Bác Hồ khởi thảo. Đây thực sự là đại bản doanh của vị Tổng tư lệnh chỉ huy cuộc tổng khởi nghĩa. Bác Hồ đã triệu tập hội nghị cán bộ ngày 4-6-1945 quyết định thống nhất chiến khu thành Khu giải phóng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Quân giải phóng. Trong thời gian này, có những ngày Bác ốm rất nặng, tưởng như không qua khỏi đã gọi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến dặn: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập".
Trong công việc thường ngày của mình, chắc cô đã có hàng ngàn lần giới thiệu di tích Nà Nưa với du khách, vậy mà khi nói đến Bác, giọng không giấu nổi xúc động làm mọi người cũng rưng rưng. Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Quang Khải, sinh ra và lớn lên ở miền Nam, lập nghiệp tại thành phố Buôn Ma Thuột lần đầu tiên đến Nà Nưa, mắt long lanh ứa lệ khi nghe giới thiệu đến đoạn Bác ốm, đã cố gắng bấm máy ghi thật nhiều những tấm hình từ nhiều góc độ khác nhau đưa về làm tư liệu và giới thiệu với đồng nghiệp, gia đình. Nhà thơ Tiến Thảo, tuổi cũng đã xấp xỉ bảy mươi xúc động tâm sự: Không ngờ Bác mình ngày ấy ở đây khổ đến vậy! Cái giọng Huế ấm áp của nhà thơ nói về Bác giọng cũng run run, tay sờ lên hòn đá đầy rêu trước cửa lán; chắc đang hình dung ra cảnh người Cha già dân tộc buổi chiều hàng ngày ra đây, ngồi làm việc với chiếc máy chữ được đặt lên hòn đá này và những mệnh lệnh, những quyết sách quan trọng cho cách mạng Việt Nam đã truyền đi từ đây.
Cánh rừng già nhiều muỗi và vắt, cuộc sống vật chất đạm bạc, nhưng vì công việc, vì sự nghiệp cách mạng, Bác vẫn tận tụy làm. Mỗi gốc cây, hòn đá nới đây như còn ghi dấu Bác, lưu lại những ký ức một thời gian khổ: đói cơm, nhạt muối, bệnh tật… nhưng vượt lên tất cả là công việc, là thời cơ của cách mạng đã đến phải nắm lấy, quyết định để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Bác của chúng ta rất vĩ đại nhưng cũng rất bình dị, luôn luôn hết mình chăm lo cho công việc. Trong lúc bị mắc trọng bệnh, khi tỉnh lại Bác dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “ Lúc nào cũng phải chú trọng xây dựng chi bộ, bồi dưỡng cán bộ đảng viên và các phần tử trung kiên, trong chiến tranh du kích lúc phong trào lên ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú ý xây dựng căn cứ cho thật vững chắc đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân được”. Những lời dặn dò, khẳng định quyết tâm và tấm lòng khát khao giành độc lập của Bác cũng như tầm nhìn xa trông rộng, vạch ra hướng đi cho cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. 
Sau khi khỏi bệnh, Bác chỉ thị tổ chức gấp Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội. Người nói với Thường vụ Trung ương: “Nên họp ngay và không nên kéo dài Hội nghị, chúng ta phải tranh thủ từng giây phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”. Với tầm nhìn chiến lược, dự đoán được tình hình chiến sự thế giới và thời cơ cũng như thách thức của cách mạng nước nhà trước bước ngoặt lịch sử, Bác đã kịp thời có nhứng điều chỉnh về sách lược quan trọng. Ngày 13/8/1945, Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng khai mạc tại khu rừng Nà Nưa trong không khí hết sức khẩn trương. Hội nghị quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, trang mới của cách mạng Việt Nam đã mở. Lịch sử dân tộc Việt Nam lật qua một trang mới hào hùng với những mốc son chói lọi làm “chấn động địa cầu”, khẳng định vị thế Việt Nam với thế giới bắt đầu từ đây. So với cả quãng đường hoạt động cách mạng của Người, ba tháng ở Tân Trào là thời gian rất ngắn nhưng chính từ lán Na Nưa đơn sơ này đây với những nhận định đúng đắn, những quyết sách kịp thời, táo bạo về thời cơ cách mạng, Bác đã chỉ đường cho toàn dân tộc vươn tới, tạo một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Từ bước ngoặt đó, dân tộc Việt Nam đã chấm dứt những ngày tháng nô lệ, bước sang kỷ nguyên độc lập, tự do.
Mười một văn nghệ sỹ đại diện cho những người làm công tác quản lý văn học nghệ thuật của vùng đất được mệnh danh là “thủ phủ Tây Nguyên” về thăm lại chiến khu xưa nhân kỷ niệm 70 năm thành lập nước. Vùng đất sơn thủy hữu tình Tân Trào có vinh dự là nơi một thời Bác ở, làm việc và lãnh đạo cách mạng Việt Nam vào những thời khắc quan trọng nhất. 70 năm đã qua, Đảng bộ và chính quyền nơi đây đã làm tốt công tác bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, bảo vệ được khu rừng – chiến khu xưa cho các thế hệ hôm nay và mai sau đến tham quan, học tập thật đáng quý biết bao. Về với ATK Tân Trào là về với miền đất lịch sử, về nơi linh thiêng mà mỗi người khi đặt chân đến, thắp nén hương tưởng nhớ Bác lòng như ấm lại khi được báo với Bác những việc mình đã làm, những công sức cống hiến cho cách mạng, cho công cuộc xây dựng đất nước... và thầm hứa: Chúng con nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Người đã chọn, bước tiếp dưới lá cờ vinh quang của Đảng, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Tuyên Quang – Đắk Lắk, mùa thu năm 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả KHÔI NGUYÊN

Nhà văn KHÔI NGUYÊN


LA ĐÀ VỚI 25 NĂM



25 năm, khoảng thời gian dài bằng ¼ thế kỷ. Nhớ nhớ quên quên. Sau 2 đợt vận động (1983-1988 và 1988-1990) kéo dài 8 năm với sự tích cực tham gia đôn đốc của nhiều đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh như: Huỳnh Văn Cần, Nguyễn An Vinh, Ama H’Oanh, Huỳnh Thị Xuân, Châu Khắc Chương… ngày 5 và 6 tháng 9 năm 1990, Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk được diễn ra với số lượng 45 hội viên đủ các chuyên ngành như bây giờ. Trong đó có cả hội viên danh dự. Hội viên trẻ nhất là nhà thơ Lê Vĩnh Tài (24 tuổi).
Lại nhớ trước kỳ Đại hội lần thứ nhất một vài tháng, căn nhà gỗ của tôi luôn có khách văn nghệ đến thăm, họ đến vận động cha tôi (nhà thơ Hữu Chỉnh): Chỉ có anh ra đảm nhiệm chức danh Chủ tịch thì mới thành lập Hội được… Lúc bấy giờ, cha tôi đang làm Giám đốc Công ty Phát hành sách – thiết bị trường học, cơ chế thị trường mới thoáng mở, Công ty đang đà phát triển, việc chọn lựa giữa kinh tế với văn nghệ là sự đắn đo. Rồi cái tâm với văn nghệ đã chiến thắng.
Đại hội thành công, Tỉnh ủy và Ủy ban giao ngay cho căn nhà 172 Điện Biên Phủ lừng lững 3 tầng làm trụ sở, xe UW làm phương tiện công tác… Biên chế Hội lúc bấy giờ có cha tôi, nhà thơ Phạm Doanh, nhà thơ Đinh Hữu Trường, nhà thơ Hoàng Mạnh Thường, nhà báo Nguyễn Lưu, nhà thơ Lê Tiến Dị… Hình như bấy giờ thủ tục hành chính còn đơn giản nên đến nay, chúng tôi không tìm được hồ sơ thành lập Hội, hồ sơ giao nhà làm trụ sở… dù đã nhờ đến bộ phận lưu trữ của Tỉnh ủy và Ủy ban.
Thời bấy giờ, Hội Văn Nghệ được quan tâm lắm, các Bí thư, Chủ tịch tỉnh thường xuyên ghé thăm Hội, sắp xếp mọi công việc để tham gia các cuộc tọa đàm, hội thảo để lắng nghe ý kiến của văn nghệ sĩ. Một năm vài chục đoàn văn nghệ sĩ các hội tỉnh bạn đến thăm mà vẫn được đón tiếp chu đáo nhờ nguồn ngân sách tỉnh cấp (mặc dù Đắk Lắk thuộc diện nhóm tỉnh nghèo). Mà cũng không riêng gì Đắk Lắk, bên Gia Lai – Kon Tum cũng vậy (bấy giờ chưa tách tỉnh), cụ Chỉnh và cụ Doanh thỉnh thoảng vẫn nhắc chuyện đi dự đại hội nhầm. Cứ tưởng đi trước 1 ngày để hôm sau dự Đại hội của Hội tỉnh bạn, sang đến nơi mới té ngửa rằng còn cả chục ngày nữa mới Đại hội! Vậy mà Hội bạn giữ lại chơi để chờ đến ngày Đại hội.
Thời bấy giờ, công nghệ thông tin còn hạn chế, lái xe Nguyễn Minh Đăng  chở tranh của hội viên đi dự triển lãm tại Hà Nội, tiêu chuẩn mỗi cá nhân chỉ được gửi tham dự 3 tác phẩm. Họa sĩ Lê Bá Điều gửi tới 4 tác phẩm. Là “tướng ngoài biên ải”, lái xe Nguyễn Minh Đăng chọn ngay bức tranh mà anh cho là xấu nhất của Lê Bá Điều để ghi tên mình vào. Ngờ đâu bức tranh đó lại được chọn treo triển lãm (hình như có cả giải thưởng)!
25 năm, 6 kỳ Đại hội. Có Đại hội thành công tốt đẹp, có Đại hội “thành công một nửa”. Buồn vui lẫn lộn. Đại hội lần thứ nhất để thành lập Hội khá êm xuôi, có những văn nghệ sĩ không được mời tham dự đành nhóm họp ở nhà bạn để ngóng tin về Đại hội, có văn nghệ sĩ không được mời chính thức nhưng cứ đến dự thế là nghiễm nhiên được coi là thành viên sáng lập Hội. Đại hội lần thứ hai, hơn 30 đoàn khách của các tỉnh bạn đến dự, gần trăm lẵng hoa chúc mừng. Đại hội lần thứ ba, việc bầu Ban Chấp hành phải bỏ phiếu 2 lần mà vẫn chưa đảm bảo cơ cấu, 6 tháng sau mới có Chủ tịch Hội. Đại hội lần thứ tư, 2 năm sau mới có Chủ tịch Hội. Đại hội lần thứ năm, 5 tháng sau mới đầy đủ ủy viên Ban Thường vụ và có Phó chủ tịch thường trực. Đại hội lần thứ sáu, việc bầu Ban Chấp hành khóa mới đúng như dự kiến ban đầu…
Từ 45 hội viên sáng lập, hàng năm kết nạp thêm, 25 năm qua, người mất người còn, người chuyển công tác hoặc chuyển địa bàn cư trú, người “cạn” vốn sáng tạo… cũng có những hội viên không còn thiết tha với hội nên Ban Chấp hành cho thôi sinh hoạt, số hội viên lúc này là 219. Hội viên cao tuổi nhất cũng đã gần trăm mùa rẫy, hội viên trẻ nhất đang tuổi 25. Có 86 hội viên của các hội chuyên ngành Trung ương và Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam.    
Tạp chí Chư Yang Sin vẫn còn đó giai thoại khi phát hành những kỳ đầu, do viết bằng ký tự Êđê nên nhiều người đọc không được, có người tò mò hỏi: Cái “củ yang sin” ở chỗ các ông có bổ như củ sâm Ngọc Linh không? Và những câu chuyện có thật khi thẻ phóng viên của Tạp chí khiến nhiều người tưởng là phóng viên của một tạp chí nước ngoài (na ná như Nhật Bản hay Hàn Quốc). Thời kỳ đầu,  có những kỳ phát hành, tác giả được nhận nhuận bút bằng báo biếu nhưng vẫn vui vì được đăng một bài trên báo văn nghệ cấp tỉnh là “oách” lắm rồi, nhất là những người lần đầu tiên có bài được sử dụng (trước năm 1990, báo Dak Lak ra mỗi tuần một số, tập san Văn nghệ của Ty Văn hóa – Thông tin vài tháng ra một kỳ, từ 1977 đến 1990 chỉ có 5 tập sách thơ văn do Tỉnh ủy và UBND tỉnh tổ chức xuất bản, chỉ có 2 tác giả là Thiên Lương và Vũ Nhật Hồng có sách in riêng). Qua 25 năm, sau nhiều lần tăng trang đổi khổ, rút ngắn thời gian phát hành, thay đổi cách trình bày, xác định rõ mục tiêu là hướng đến nhu cầu thưởng thức giá trị chân – thiện – mỹ của bạn đọc… Tạp chí ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về hình thức, số độc giả cũng nhiều hơn, cộng tác viên trên cả nước ngày càng đông (không kể những bài viết được chuyển qua đường bưu điện, mỗi ngày có vài chục cộng tác viên gửi bài qua đường Email). Các chuyên trang, chuyên mục được duy trì thường xuyên. Sự độc đáo của Tạp chí Chư Yang Sin là tính bản sắc của một vùng đất được ổn định, không lẫn với tạp chí văn nghệ của các tỉnh bạn. Tính chuyên nghiệp trong quá trình để cho ra một kỳ tạp chí ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vui về chuyện của Tạp chí nhưng lo cũng không ít. Ngoài việc đã có thời kỳ trả nhuận bút bằng chính những cuốn tạp chí còn có những kỳ nhuận bút chi trả cho một bài thơ 100.000 đồng, một truyện ngắn 200.000 đồng, một ảnh 50.000 đồng… trong khi một công cuốc cỏ rẫy hoặc một công phụ hồ cho thợ xây là 180.000 đồng. Rồi nữa, Tạp chí không có chức danh Tổng biên tập từ 2006 đến nay mà chỉ có chức danh Quyền tổng biên tập. Bản thân tôi vẫn hài hước với mọi người rằng chẳng có ai “Q” dài bằng tôi, vắt từ 2006 đến nay (tháng 9.2015) vẫn chưa “cắt” được. Chao ôi cái tiêu chí của Tổng biên tập của một cơ quan báo chí thật nhiêu khê, được cái này thì mất cái nọ. Không được làm Tổng biên tập vì chưa qua lớp Cao cấp lý luận chính trị, khi có rồi thì lại vấp “Thủ trưởng cơ quan chủ quản…”. Đề xuất nhân sự khác thì vấp thêm “bằng đại học chuyên môn”, “độ tuổi”… Luật rõ ràng, các văn bản dưới luật (thông tư, chỉ thị, hướng dẫn… cũng rất giấy trắng, mực đen, con dấu đỏ…), cấp có thẩm quyền đành “lách” cho thêm chữ “quyền” trước  cụm từ “tổng biên tập”. 
Tôi chính thức được hưởng lương ở Hội từ tháng 3 năm 2004 với chức danh Phó tổng biên tập Tạp chí. Lúc bấy giờ, nhà văn, nhạc sĩ Linh Nga Niê Kdăm đảm nhiệm chức danh Chủ tịch, nhà thơ Phạm Doanh đảm nhiệm chức danh Phó chủ tịch kiêm Tổng biên tập Tạp chí văn nghệ Chư Yang Sin, kế toán Trần Thị Mùi vi tính và trình bày văn bản Tạp chí (việc trình bày bìa, ảnh, minh họa… phải nhờ đến họa sĩ An Quốc Bình, lúc bấy giờ làm ở phòng kỹ thuật của Nhà in Đắk Lắk). Hồi ấy chưa có Internet nên các bài viết của cộng tác viên đều được gửi qua đường bưu điện, phải gõ lại từng bài, nhiều bài viết tay, luận mãi mới ra chữ (nên Trần Thị Mùi vẫn được chúng tôi gọi đùa là “biên tập viên” của Tạp chí). Trình bày xong thì in vào giấy can (giấy có dầu) để đưa lên Nhà in phơi tai. Mỗi lần đưa bản thảo đi phơi tai là một lần vất vả, trên đường đi cứ phải giữ hơn giữ đồ dễ vỡ dễ đổ vì sợ rớt chữ. Khi Nhà in phơi tai, lại phải có mặt đọc từng chữ xem có bị rớt chữ hay không, có bị lẫn trang hay không… Chỉ cần một sơ suất nhỏ có khi chữ Ô thành Ó hoặc Ò vì mất nửa dấu mũ, hoặc dấu của các thanh điệu cũng như dấu câu “chạy” đi đằng nào… Ngay cả các trang cũng vậy, không cẩn thận, khi đóng thành sách mới thấy đang bài của tác giả này lại có trang của tác giả khác chen vào (do nhầm tai giấy)… Còn khâu trình bày hình ảnh thì cũng phải bám Nhà in, ngồi với An Quốc Bình cả tuần để ken rồi sắp xếp hình minh họa, ảnh, chú thích ảnh… Rồi xem lại tất cả bản in thử trước khi in chính thức. Lại nhớ, chỉ có hai chú cháu làm công tác biên tập Tạp chí, nên có nhiều ảnh, nhà thơ Phạm Doanh phải đưa cho mọi người cùng xem và đánh giá ảnh đẹp hay không, với lý do “Tôi bị mù màu”!?... Hoặc đưa bản thảo truyện ngắn cho họa sĩ nọ nhưng lý do “bận việc” nên gọi điện thoại cho An Quốc Bình mà kể lại để nhờ An Quốc Bình phóng bút minh họa cho truyện… In xong, Phó tổng biên tập lại đánh con xe Wave tàu lên Nhà in, chằng trước bó sau, rề rề chở về Hội (mấy ông xe ba-gác ở ngã tư Điện Biên Phủ + Trần Phú, cách trụ sở Hội cỡ 15 m, thè lưỡi lắc đầu: Ai cũng như ông thì chúng tôi mất việc). Cũng may, sang 2015, nhà văn Hồng Chiến về làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí. Nhưng đổi lại, Y Kuan Ny Niê vi tính trình bày Tạp chí thay cho Trần Thị Mùi (chuyển sang làm chuyên trách kế toán của cơ quan). Bấy giờ, Y Kuan còn quá non nớt với tiếng Việt (phổ thông), thành ra các văn bản sửa morat cứ nhoe nhoét, rối mù, sửa rồi lại sửa nữa. Có chỗ, lỡ sửa nhưng cảm thấy không cần thiết, ghi: “để nguyên, không phải sửa”, đọc văn bản sau khi được gõ máy sửa morat, thấy ngay chỗ đó có lời ghi như vậy!.. Muốn khóc mà vẫn phải cười!...             
Phải khẳng định rằng chỉ có ở Đắk Lắk, 25 năm qua, công tác bồi dưỡng thế hệ trẻ kế cận sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật được quan tâm, chú trọng bằng hành động cụ thể mà không có tỉnh, thành nào làm được như thế. Nếu các tỉnh bạn “phát hiện – bồi dưỡng” thì Đắk Lắk “bồi dưỡng – phát hiện”. 25 năm, từ “Mầm non Cao nguyên” đến “Bên hàng phượng vĩ” rồi “Hạ Xanh” và “Hương Rừng”, đến hẹn lại lên, các mùa hè lại mở ra “sân chơi” cho thanh thiếu niên Đắk Lắk yêu văn học nghệ thuật bằng các trại sáng tác. “Không thành văn thì cũng thành nhân” – mục đích đã xác định – những người đi trước dồn tâm huyết để khích lệ, động viên thế hệ sau hiểu rằng văn hóa cũng là một trong hai nền tảng phát triển xã hội, văn nghệ sĩ là lực lượng nòng cốt trong vai trò người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa… Nhờ thế, lực lượng sáng tác trẻ của Đắk Lắk có số lượng khá đông so với các tỉnh bạn, nếu tính là người dân tộc thiểu số thì có lẽ là đứng đầu cả nước về lực lượng sáng tác trẻ ở độ tuổi dưới 30 có tác phẩm được đăng trên báo chí TW, có đầu sách in riêng hoặc in chung, có giải thưởng khu vực, trong nước hoặc quốc tế…  
Rồi những chuyến đi thực tế, những trại sáng tác… Tôi sợ lắm, lo lắm, chỉ mong sao trong kết quả có hai chữ “bình yên”. Chiếc xe TOYOTA của Hội mỗi ngày thêm gần hết Date, lái xe của Hội mỗi ngày một già, hội viên mỗi ngày một nhu cầu cao hơn… Xin đừng vì cá tính văn nghệ sĩ để tránh được việc không tổ chức thì êm xuôi, tổ chức đi cả ngàn cây số để xích mích với nhau, để “không thèm nhìn mặt nhau” thậm chí là “mày chết tao không đến tiễn”… Sau mỗi chuyến đi ấy, tôi được thở phào nhẹ nhõm: Anh em vui vẻ và thân thiết với nhau hơn, có tác phẩm được đánh giá là chất lượng… Ừ, tiền của Nhà nước là tiền của nhân dân, anh em hội viên biết cùng nhau nâng niu giá trị đó. Mừng lắm, quý lắm, yêu thương lắm…!     
25 năm, một khoảng thời gian đủ để con người từ thoát thai đến trưởng thành, đủ để một Hội văn nghệ địa phương từng bước vững đi lên từ non trẻ đến khẳng định vị thế của mình mà hòa vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại. Những cuộc thi, những triển lãm, những trại sáng tác, những chuyến đi thực tế, những hội nghị - hội thảo, những sinh hoạt chuyên môn… là động lực thúc đẩy phong trào sáng tạo. Những công trình, những tác phẩm được công bố, được xuất bản, được mọi người đón nhận để cùng say cảm là xúc tác để người nghệ sĩ hăng say lao động sáng tạo nghệ thuật hơn. Bởi thế, ở bất cứ nhiệm kỳ nào, Thường trực Hội luôn quan tâm đến công tác phong trào hoạt động cho hội viên. Quan tâm đến đời sống hội viên, tạo điều kiện cho những hội viên có cơ hội sáng tác, tạo điều kiện cho tác phẩm của hội viên được công bố để phục vụ cuộc sống… là nỗi trăn trở của Thường trực Hội trong mỗi nhiệm kỳ theo đúng nghĩa của nó là rất “thường trực”. Lãnh đạo Hội luôn xác nếu mình chưa đủ tầm thì phải đủ tâm. Mỗi ủy viên của Ban Chấp hành Hội, mỗi thành viên của Hội đồng Nghệ thuật, mỗi ủy viên Ban Chấp hành Chi hội… đều xác định dù chẳng có một đồng phụ cấp, “quyền” thì có mà lợi thì không, trách nhiệm thì “to vật vã” nhưng lợi chẳng thấy đâu, chỉ thấy điều này tiếng nọ khiến mang tai mang tiếng, thậm chí là mất lòng với một số người… vậy nhưng vì uy tín và danh dự, vì sự tín nhiệm của hội viên… nên ai cũng dùng cái tâm của mình, không chút vụ lợi để vì sự phát triển của văn học – nghệ thuật. Nghiêm khắc với chính mình để nghiêm khắc với công việc, dám làm dám chịu, chấp nhận “đau thương” bởi sự nghiệt ngã một khi đã phải gắn cái mác “có chức danh” trong giới văn nghệ sĩ, mang tiếng là “quan chức văn nghệ”.   
25 năm đã qua, buồn vui sao cứ lởn vởn trộn với nhau, lúc tròn như quả cầu, lúc phẳng lặng như mặt nước hồ thu, lúc bùng lên như bão tố, lúc trầm xuống nốt nhạc đồ, lúc phóng khoáng như cây cọ của người họa sĩ đang hứng khởi, lúc lãng đãng như nhà thơ đã tìm ra thi hứng, lúc cô đơn như nhà văn đang chắp nhặt những mảnh vụn cuộc sống để xây lâu đài tiểu thuyết, lúc sáng bừng như ánh đèn sân khấu, lúc tĩnh mịch như nhà biên kịch hay đạo diễn cùng các diễn viên cóp nhặt ý tưởng dâng đời… Trân trọng lắm, yêu quý lắm những người đang làm đẹp, làm tốt thêm cho cuộc sống này.     
25 năm qua, số năm của cha con tôi công tác tại cơ quan Hội tính đến nay có tổng số là 22, và sẽ còn dài hơn thế. Buồn cũng có. Vui cũng có. Lẫn lộn. Nhưng khi đã vào cuộc thì phải hết mình.
Còn đó, cái trụ sở Hội khang trang của 25 năm về trước (thời mà chỉ có 45 hội viên, kể cả hội viên danh dự). Còn đó, chỉ tiêu biên chế, cả Văn phòng Hội và Tòa soạn Tạp chí là 9 định biên. Còn đó, nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng cao, sức sáng tạo của các văn nghệ sĩ ngày càng lớn vậy mà không có nơi, không có điều kiện để văn nghệ sĩ góp mình. Còn đó, sự ưu đãi, chẳng cần thảm đỏ thảm vàng rải, nghệ sĩ chỉ cần mình lao động sáng tạo mà nuôi đủ chính mình…
Thèm lắm thời mà các nhà lãnh đạo của tỉnh thường xuyên ghé thăm Hội như các vị: Huỳnh Văn Cần, Nguyễn An Vinh, Huỳnh Thị Xuân, Nguyễn Văn Lạng…     
Buồn – vui. Vui – buồn… Ơ sao cứ la đà…


Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

CHÉM HỔ ĐƯỢC VỢ truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 277 tháng 9 năm 2015




Nhân dịp tết Trung thu, mấy đứa cháu nội ngoại từ thành phố về thăm ông bà. Bọn trẻ thấy cái gì cũng lạ, từ cánh rừng cà phê xanh tươi ngút ngàn nhưng chỉ cao ngang đầu người đều nhau như cây cảnh cùng trồng trong một chậu bonsai. Khu vườn cà phê sau nhà, đất màu đỏ sẫm; mỗi khi mưa vừa tạnh nếu đi ra đất sẽ dính vào bàn chân thành chiếc dép nặng chịch. Nhưng lạ nhất là những cây đại thụ đứng cao lêu nghêu, nổi bật trên rừng cà phê, xòe tán như những chiếc ô giương cành lá che mát cho cả một vùng rộng lớn. Bé My hỏi ông ngoại:
-         Sao trong vườn cà phê lại có cây to cao thế, khi quả chín làm sao hái được?
-         À, đó là cây cổ thụ của rừng già để lại che bóng mát cho cà phê, chứ không phải cây cà phê đâu mà phải hái quả.
Ông Thạch Sơn xoa đầu cháu ngoại, trả lời. Bé My năm nay lên lớp hai tò mò, muốn khám phá nhiều chuyện để về thành phố khoe với bạn nên hỏi ông:
- Trước đây khu này là rừng già hở ông, thế có thú dữ không ạ?
- Có cả hổ đấy, xin ông kể chuyện “Chém hổ được vợ” cho nghe.
Mẹ bé My dọn đồ ăn gần bên góp chuyện. Bé My nghe thấy vậy thích thú kêu toáng lên:
-         Chị Hồng Trang và chị Trúc Nhi ơi, ra nghe ông kể chuyện “Chém hổ được vợ” nè.
Nghe bé My gọi, các cháu nội ùa ra đòi nghe chuyện, Thạch Sơn bồi hồi nhớ lại câu chuyện cách đây gần bốn mươi năm về trước, khi ấy…
Năm 1976, đơn vị thanh niên xung từ ngoài Bắc được điều vào Tây Nguyên xây dựng kinh tế, trong đó có Đại đội 5 đóng quân gần suối Buôn Ya Vầm làm nhiệm vụ mở đường và khai thác lâm sản. Đơn vị có cô Hằng mới tốt nghiệp cấp ba, thi không đậu đại học nên gia nhập lực lượng thanh niên xung phong với mong ước xong nghĩa vụ sẽ về ôn thi vào đại học. Thấy Hằng nhanh nhẹn, thùy mị lại xinh đẹp, học vấn cao nên đơn vị giao làm công tác quản lý. Hàng ngày xong việc sổ sách, Hằng tranh thủ xuống giúp bộ phận nhà bếp lo cơm nước cho anh chị em. Vốn con nhà nông, công việc nội trợ thành thạo nên được anh em trong đơn vị quý mến, nhiều chàng trai để ý, thương thầm, nhớ trộm, nhưng Hằng vẫn vô tư sống và làm việc, chưa bao giờ bận tâm với ý nghĩ gì khác ngoài công việc.
Thời ấy, khu vực đơn vị đóng quân còn là rừng già nguyên sinh, cây cối rậm rạp, thỉnh thoảng heo rừng kéo về từng đàn, có con còn ủi cả cửa nhà bếp vào tìm thức ăn, làm xoong, chảo rơi loảng xoảng; chúng sợ chay lung tung, húc cả vào người. Lại có đêm voi về cả bầy, đua nhau gầm lên như muốn xua đuổi con người ra khỏi vùng đất của chúng. Nhưng những chàng trai, cô gái trong Tổng đội Thanh niên Xung phong từ đất Bắc vào vẫn bám trụ, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, cố gắng hoàn thành công việc được giao, không ai nản chí.
Hôm đó vào một ngày cuối tháng bảy, khi mặt trời vừa chui xuống phía tây, núp sau khu rừng để ngủ, hắt lên trời những tia sáng chiếu vào các đám mây tạo nên màu vàng rất đẹp. Hằng giúp bộ phận nhà bếp chia cơm cho anh em xong, tranh thủ ra suối gánh nước. Từ nhà ăn ra suối khoảng hơn trăm mét, hai bên đường được rào bằng những cây le to hơn ngón chân cái ngăn heo rừng đến phá để trồng rau xanh. 
Con suối gần đơn vị đóng quân có nhiều đá lớn chen lấn mấy gốc cây cổ thụ nên không tăng gia sản xuất được, đơn vị cho người phát bớt cành thấp làm chỗ cho anh chị em buổi trưa ra ngồi nghỉ mát. Phía bờ suối đối diện cây cối rậm rạp, lau lách mọc um tùm. Đoạn suối chảy qua đơn vị rộng chừng chục mét, mùa mưa có lúc nước gầm thét tràn lên hai bên bờ; mùa khô nước cạn chảy hiền hòa qua các tảng đá, bãi cát không bao giờ cạn. Nơi Hằng lấy nước là một vụng suối, mùa khô nước vẫn sâu đến gần hai mét. Như mọi ngày, Hằng lội ra suối múc nước; vừa cúi xuống, nghiêng xô thì…
-         - Hừm!
Tiếng gầm dữ dội của con hổ vọng vào rừng già, len qua lòng suối tạo thành tiếng rền vang kéo dài làm người nghe nổi da gà. Khi ấy Thạch Sơn, người cùng đơn vị Thanh niên xung phong nhưng khác đội, đi khảo sát rừng về thấy trên cây đa có dò phong lan nở hoa đẹp quá, trèo lên hái nên về sau mọi người. Vừa đến bến nước nghe tiếng hổ gầm dưới lòng suối, đoán hổ bắt người nên quẳng hoa chạy lại. Dưới lòng suối, con hổ to như con bò đực lớn, lưng dài hơn sải tay; nửa mình chìm trong nước, mồm ngoạm vào cổ cô gái, đôi mắt lóe lên tia sáng lạnh lẽo dưới ánh sáng chiều. Nhìn thấy hổ bắt người, bao nhiêu sự sợ hải bay đi đâu mất cả, trong đầu của Thạch Sơn chỉ còn một điều duy nhất: đánh hổ cứu người. Sẵn con rựa đang cầm trên tay, dụng cụ quan trọng nhất của những người đi rừng, vừa dùng chặt cây mở đường và khi cần sẽ thành vũ khí chống lại thú dữ; Thạch Sơn thét lên:
-         - A…a...a!
Từ trên bờ suối cao hơn hai mét, Thạch Sơn nhảy xuống, vung cây rựa có cán dài độ một mét, nhằm lưng hổ bổ xuống. Con hổ nghe tiếng hét giật mình quay đầu nhìn lại, mồm vẫn ngoạm mái tóc dày của Hằng, mắt tròn xoe như ngạc nhiên trước sự xuất hiện của con người từ trên trời rơi xuống. Thạch Sơn con nhà nông, sinh ra trong một gia đình đông anh em quê nghèo xứ Thanh, học xong cấp hai ở nhà lao động một thời gian, đến tuổi vì lý do sức khỏe không đủ để đi bộ đội nên gia nhập Thanh niên xung phong với mong muốn được khám phá vùng đất phương nam của Tổ quốc. Anh em trong đơn vị quý mến Thạch Sơn vì ít nói, chịu khó trong công việc và có sở thích lạ: rất mê sưu tầm hoa phong lan rừng, xung quanh nơi ở treo đầy các loài hoa phong lan nhiều màu sắc, lúc nào cũng có hương thơm ngào ngạt tỏa ra.
Nhát chém của Thạch Sơn nhằm vào giữa lưng con hổ, nếu đúng theo suy nghĩ thì con hổ sẽ gãy lưng, hết đường kháng cự; nhưng do bờ suối cao và bãi cát lại quá mịn nên nhát chém chỉ chạm vào hông làm toạc một đường dài. Con hổ bị đau, há mồm lắc mạnh, chắc nó định nhả Hằng ra để cắn Thạch Sơn; nhưng mái tóc dài và dày của Hằng vẫn mắc vào răng. Hổ quay mình, nhằm Thạch Sơn chồm lên. Thạch Sơn vung dao định phạt một nhát chí mạng vào cổ con ác thú kết thúc cuộc chiến, nào ngờ… tóc Hằng vẫn dính vào răng hổ, nên khi nhảy lên nó kéo luôn Hằng lên theo. Lúc đó nhát dao lia ngang của Thạch Sơn sẽ không trúng vào cổ con hổ mà lại chặt ngang người của Hằng. Giật mình, Thạch Sơn giật dao lại, nhảy qua bên vừa lúc con hổ tha cả Hằng chồm đến. Chắc do vướng Hằng nên con hổ cũng hụt đà, trượt chân trên cát không vồ được Thạch Sơn như ý, quật chiếc đuôi vào mặt Thạch Sơn. Thạch Sơn lấy hết sức bình sinh, vung dao chặt một nhát thật mạnh làm đứt một khúc đuôi của hổ. Con hổ gầm lên, đứng dựng bằng hai chân sau, giơ hai chân trước giật mớ tóc đang mắc trong mồm ra, làm Hằng ngã úp mặt xuống cát rồi chồm lên... Chặt được đuôi con hổ nhưng vì đứng trên cát lại rướn người quá mức Thạch Sơn cũng ngã sấp xuống; khi nghe hổ gầm, theo phản xạ lăn một vòng, chống cán dao xuống cát, lưỡi dao hướng lên trời, nhắm mắt chấp nhận…
Trong đơn vị nghe tiếng hổ gầm, mọi người hoảng sợ hò hét, chạy nháo nhào tìm xoong, nồi, xô, chậu… gõ loạn xạ cả lên. Ông Đại đội trưởng đang tắm, tung cửa chạy về phòng vơ khẩu súng AK nhằm trời kéo cò… phằng phằng, phằng phằng; rồi cùng mọi người lao ra suối. Khi mọi người chạy ra tới nơi thì thấy đôi nam nữ nằm cạnh nhau, người đầy máu; người con gái nằm úp mặt xuống cát, mái tóc như mây che kín lưng; còn anh thanh niên tay vẫn nắm chặt con dao, cắm cán xuống cát lưỡi hướng lên trời, đôi mắt trợn trừng...
-         - Ông ơi, họ chết cả ạ!
Tiếng My mếu máo hỏi; còn Hồng Trang, Trúc Nhi nước mắt trào ra, ôm chặt lấy ông. Ông chưa kịp trả lời, mẹ bé My lên tiếng;
-         - Nếu hai người chết cả, thì làm gì có các con bây giờ.
-         - Thật à ông?
-        -  Ừ!
Ông ngoại trả lời bé My mà đôi mắt nhìn xa xăm về phía trước. Lòng lâng lâng, ngày ấy đơn vị đưa hai người về bệnh xá cấp cứu. Vết thương của Hằng không nặng, nhưng do sợ quá nên ngất đi; còn Thạch Sơn cũng bị ngất tuy trên người không bị vết thương nào. Mọi người không lý giải nỗi vì sao con hổ lại bỏ chạy. Có người cho rằng tại hổ mất đuôi nên bỏ chạy vì muốn vồ mồi, theo bản năng nó phải đập đuôi xuống đất lấy đà. Có người lại bảo tại khi ngất đi Thạch Sơn cắm con dao xuống đất, lưỡi hướng lên trời làm hổ khiếp sợ; loài hổ vồ mồi bao giờ cũng tung mình lên cao chụp con mồi… Mỗi người một cách lý giải, không ai chịu ai, nhưng cũng từ hôm ấy không còn con hổ nào dám bén mảng đến khu rừng đơn vị đóng quân.
Sau hơn một tuần điều trị tại bệnh viện, hai người xuất viện và như có duyên tiền định, họ thương nhau, yêu nhau rồi nên vợ nên chồng; họ sống hạnh phúc bên nhau, con cái sinh ra đã hoàn thành nốt hoài bão của mẹ: tốt ngiệp các trường Đại học rồi công tác luôn ở thành phố. Cánh rừng đơn vị Thanh niên xung phong đóng quân khi xưa được khai hoang trồng cà phê, những người có nhu cầu ở lại được biên chế vào làm công nhân nông trường. Rừng già mất đi nhường chỗ cho các cánh rừng cà phê bạt ngàn, xanh tốt thế chỗ. Mọi thứ dần dần đổi thay theo năm tháng, nhưng câu chuyện người thanh niên xứ Thanh “chém hổ được vợ” vẫn lưu truyền, trở thành truyền thuyết, người dân nơi đây thường kể cho con cháu nghe mỗi đêm trăng rằm như kỷ niệm đẹp về một vùng đất.

Buôn Ma Thuột, tháng 8 năm 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - tác giả VIỆT VĂN


Ban chấp hành Hội VHNT Dak Lak khóa VI, nhiệm kỳ 2015-2020


ĐỈNH CAO CHO CAO CẤP!


    
Trong một lần tham dự Hội thảo về nghệ thuật cộng đồng ở Việt Nam, đạo diễn Philippe Bouler - Giám đốc Công ty ATC International (Pháp), người tham gia 8 lần Festival Huế, nói: “Các bạn Việt Nam nên có sự phân biệt khán giả. Không nên chỉ nghĩ đến lớp khán giả bình dân. Khi các bạn có khán giả cao cấp thì các bạn mới có tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao”. Tác phẩm đỉnh cao dành cho khán giả cao cấp đã tới lúc cần phải được quan tâm như một mục tiêu trong chiến lược phát triển văn học, nghệ thuật (VHNT) Việt Nam ở ngay thời điểm này, khi hoạt động của các Hội VHNT nhiệm kỳ mới 2015 - 2020 đã khởi động.
Tư duy “quần chúng”
Chuỗi Hội thảo khoa học toàn quốc Văn học - Nghệ thuật (VHNT) 15 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa 8 từ Hà Nội đến TPHCM vào cuối năm 2013 đã bàn luận về việc không có tác phẩm đỉnh cao nào trong mấy chục năm qua. Phải chăng, chính vì tư duy mặc định "phục vụ quần chúng" mà các tác phẩm VHNT đương đại Việt Nam cứ làng nhàng, chất lượng vừa phải, nói gì đến “đỉnh cao”?
Bởi vì muốn phục vụ quần chúng được nhiều nhất, nên thời gian qua, nền VHNT mới nảy sinh những tác phẩm thị trường - rất nhiều lần báo động về sự xuống cấp chất lượng cả nội dung và nghệ thuật. Khoảng 5 năm trở lại đây, từ “thảm họa” luôn được nhắc tới khi nhiều người đề cập đến phim điện ảnh, phim truyền hình gia đình, lĩnh vực ca nhạc, tác phẩm sân khấu, văn học, múa, nhiếp ảnh, kiến trúc… Và cũng vì mang tư duy “quần chúng”, giới văn nghệ sĩ đã tự dễ dãi, buông thả trong tác phẩm của mình, sáng tạo nghệ thuật chỉ chạy theo thị hiếu tầm thường, bình dân, không những không nâng tầm thưởng thức, thẩm mỹ nghệ thuật của quần chúng cộng đồng, mà còn làm thấp kém, thậm chí sai lệch, biến tướng. Những bộ phim như: “Hit: Hoàng tử và lọ lem”, “Yêu em, anh dám không?”, “Cưới ngay kẻo lỡ”… từng bị báo chí và cư dân mạng “ném đá” tơi bời vì sự cẩu thả, dễ dãi và cả một số yếu tố “nhảm nhí” trong phim nữa.
Nguy hiểm hơn, những sản phẩm VHNT thị trường kiểu bình dân này, trong đó có cả những sản phẩm ăn khách, cháy phòng vé, sẽ có thể phá hỏng tư duy thẩm mỹ nghệ thuật của một thế hệ.
Sợ thay đổi!
Ngay trong giới văn nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn, cũng không ít người bảo thủ, trì trệ, không chịu cập nhật những xu hướng, tinh hoa nghệ thuật đương đại trên thế giới để vượt lên chính mình…
Có những nghệ sĩ thành công nhưng vẫn đi theo lối mòn, để tìm kiếm sự an toàn mà không dám thử nghiệm, không dám bắt đầu lại như một người chưa nổi tiếng để có những tác phẩm nghệ thuật tươi mới.
Vì thế có những đạo diễn có tên tuổi, là NSND, làm nhiều phim, nhưng nói đến người đó thì mọi người chỉ nhắc đến bộ phim thời kỳ đầu vài chục năm trước như là dấu mốc vinh quang của họ chứ không phải là tác phẩm mới nhất. Trong nhiếp ảnh, có những tác giả có cả mấy trăm giải thưởng nhưng lại không có một tác phẩm nào đặc sắc, độc đáo, có ảnh hưởng sâu rộng trong giới nghề, chưa nói đến ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Vì họ cứ đi hoài một đường, thi mãi những cuộc thi theo khuôn khổ của FIAP - một tổ chức nhiếp ảnh nghiệp dư toàn cầu. Trong văn học, có nhà văn, nhà thơ khởi đầu như mơ với tác phẩm đầu tay rực sáng để rồi cứ chìm dần đi, chính vì sự ám ảnh tác phẩm sau phải hơn tác phẩm trước, mà “lực bất tòng tâm” không thể làm nổi!
Và như thế, không thể có được tác phẩm VHNT đỉnh cao.
VHNT ở thời đại công nghệ cao, toàn cầu hóa, kinh tế thị trường đã trở thành một loại hàng hóa sản phẩm đặc biệt, nên cũng cần có thị trường với nhiều nhu cầu khác nhau, sản phẩm nhiều loại khác nhau. Không thể từ bỏ các sản phẩm mang nhãn “thị trường”, nhưng cũng không thể thiếu những sản phẩm chất lượng cao dành cho những đối tượng “khách hàng” cao cấp. Nói như đạo diễn Pháp Philippe Bouler: “Hàng hóa còn có hàng hiệu, thì tác phẩm nghệ thuật cũng cần phải có hàng hiệu để phục vụ khán giả cao cấp. Và như thế bạn phải sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật xứng tầm… Khán giả cao cấp là chất xúc tác kích thích cho bạn có những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao”.
Dĩ nhiên, đỉnh cao hay bình dân - có thể còn rất nhiều tranh cãi về học thuật trong lĩnh vực VHNT, nhưng không thể cứ để các tác phẩm bình dân, thậm chí là “thảm họa” mãi như hiện tại kéo xuống một nền VHNT mà cái gốc của nó vốn được xây dựng bởi nền là những tác phẩm đỉnh cao đã trở thành niềm tự hào chung như di sản VHNT của Việt Nam.

Tác phẩm đỉnh cao dành cho khán giả cao cấp đã tới lúc cần phải được quan tâm như một mục tiêu trong chiến lược phát triển VHNT Việt Nam ở ngay thời điểm này, khi hoạt động các Hội VHNT nhiệm kỳ mới 2015-2020 đã khởi động.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - PHẠM TUẤN VŨ





CHẤT THƠ TRONG TRUYỆN NGẮN
“TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH




Nhận định về phong cách Thanh Tịnh, SGK Ngữ văn 8 viết: “Sáng tác của Thanh Tịnh nhìn chung đều toát lên vẻ đẹp đằm thắm, tình cảm êm dịu, trong trẻo”. Tôi đi học (in trong tập truyện Quê mẹ, xuất bản lần đầu năm 1941) là truyện ngắn rất tiêu biểu cho phong cách này. Truyện kể về những kỉ niệm êm đềm của ngày đầu tiên đến trường, được chọn làm bài mở đầu cho chương trình Ngữ văn lớp 8. Đây là một truyện giàu chất thơ, thể hiện đậm nét trên mọi phương diện của tác phẩm.
Đề tài
Truyện viết về đề tài kỉ niệm thời đi học. Trong cuộc đời đi học của mỗi người, sẽ có nhiều lần dự khai giảng khác nhau. Nhưng Thanh Tịnh đã chọn lần đầu tiên cho câu chuyện của mình. Đây là dụng ý của tác giả. Bởi những gì gắn với lần đầu tiên bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu đậm, những xúc cảm khó quên. Nhân vật tôi trong truyện cứ hằng năm vào cuối thu lại nhớ về những kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên. Bởi đơn giản, những “cảm giác trong sáng” của ngày đầu đi học ấy, “tôi quên thế nào được”.
Hơn nữa, đề tài của truyện gắn liền với mái trường, với tuổi thơ, với trẻ con là những gì vô tư, trong sáng, đẹp đẽ nhất. Khác với những dạng đề tài thế sự, chiến tranh, thân phận con người… đề tài kỉ niệm mái trường thường thuần phác hơn, không có sự pha trộn và đặc biệt, không có sự xuất hiện của sự tranh đấu, nghi kị, giết chóc, dằn vặt, hận thù, lừa lọc… Rõ ràng, với việc lựa chọn đề tài này, tác giả đã có nhiều điều kiện để triển khai, phát triển mạch trữ tình và chất thơ trong truyện của mình, một trong những đặc điểm quan trọng làm nên phong cách Thanh Tịnh.
Cốt truyện
Tôi đi học gần với thể loại hồi kí, tản văn hơn là truyện ngắn. Bởi tác phẩm này gần như không có cốt truyện. Thông qua hồi tưởng của nhân vật “tôi”, truyện chỉ đơn thuần kể lại theo thời gian tuyến tính buổi sáng của ngày đầu tiên đi học, từ lúc theo mẹ đến trường cho tới khi vào lớp học. Không có những xung đột, kịch tính, những tình huống bất ngờ hay biến cố đột ngột, câu chuyện vì thế không gây ra sự hồi hộp, căng thẳng. Thay vào đó là cảm giác êm ái, trong trẻo gắn với cảm xúc về lần đầu tiên đến trường của “tôi”. Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chất thơ cho tác phẩm này.
Không xuất hiện nhiều nhân vật (trong truyện chỉ có nhân vật “tôi”, người mẹ, ông đốc, người thầy trẻ tuổi và những người học sinh, người đi đường. Hầu hết các nhân vật đều không có tên, trừ thằng Quý, thằng Sơn và thằng Minh không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện mà chỉ được “tôi” nhắc lại), không có quá nhiều lời thoại (cả truyện có tổng cộng 5 lời thoại, trong đó chỉ có 2 lượt là đối thoại), chủ yếu trong truyện là dòng cảm xúc miên man và những suy nghĩ dường như không dứt của nhân vật chính. Có thể nói, cùng với yếu tố không có cốt truyện, ít nhân vật và lời thoại, dòng cảm xúc và độc thoại nội tâm xuyên suốt tác phẩm làm cho câu chuyện trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng hơn. Chất thơ vì thế cũng có điều kiện biểu hiện rõ nét hơn.
Giọng điệu
Không hề xuất hiện các giọng điệu thường gặp trong truyện ngắn (nhất là truyện hiện thực phê phán) như giọng mỉa mai, chế giễu, coi thường (như trong truyện Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng); giọng đau buồn, uất ức, bất bình (như trong truyện Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố), giọng lạnh lùng, khách quan, triết lí (như trong truyện Nam Cao)… chủ yếu trong Tôi đi học là giọng điệu tâm tình, êm ái.
Tôi đi học gần với giọng điệu của truyện Tự Lực văn đoàn, đặc biệt gần với giọng điệu truyện ngắn Thạch Lam hơn cả. Bởi về cơ bản, truyện ngắn của Thanh Tịnh viết theo khuynh hướng chủ nghĩa lãng mạn. Không có thái độ đay nghiến, chua chát, phẫn uất, khổ đau, lạnh lùng, giễu nhại hay suồng sã, Tôi đi học êm dịu như một bài thơ mà ở đó, mỗi dòng văn như là một tâm tình, một kí ức ngọt ngào mà tác giả muốn thủ thỉ, sẻ chia cùng độc giả. Giọng điệu tâm tình cùng với những tình cảm trong sáng làm nên chất thơ cho truyện ngắn này.
Hình ảnh
Trong truyện ngắn Tôi đi học, hình ảnh được tác giả huy động sử dụng với tần số lớn. Các hình ảnh này đều mang những đặc điểm chung: đẹp, lãng mạn và thi vị.
Ngay ở phần mở đầu câu chuyện, tác giả đã dựng nên một khung cảnh cuối thu tuyệt đẹp để làm “chất xúc tác” cho những kỉ niệm tuổi thơ ùa về: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường”.
Dọc theo câu chuyện, những hình ảnh giàu chất thơ như vậy thường xuyên xuất hiện: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”, “người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa”, “trường Mĩ Lí vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hoà Ấp”, “một con chim liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao”…
Những hình ảnh so sánh trong truyện cũng thật đẹp, gợi cảm: “những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”, “ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi”, “họ như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ”…
Có thể nói, trong một dung lượng truyện tương đối nhỏ, những hình ảnh lãng mạn, ý vị được sử dụng với số lượng khá lớn đã góp phần làm cho câu chuyện trở nên giàu chất thơ, hình tượng trong truyện trở nên lung linh, đẹp hơn rất nhiều.
Từ ngữ và câu văn
Từ ngữ và câu văn cũng là một trong những phương diện góp phần quan trọng vào việc làm nên chất thơ trong truyện ngắn Tôi đi học. Dễ dàng nhận ra những đặc điểm độc đáo, nổi bật của từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn này:
Truyện được huy động sử dụng một lượng từ láy cực lớn: 61 lần từ láy xuất hiện. Trong đó, có nhiều từ láy giàu sức tạo hình (bàng bạc, mơn man, quang đãng, xinh xắn, tươm tất, cao ráo, sạch sẽ, sáng sủa…), có sở trường trong việc miêu tả cảnh vật (tưng bừng, rộn rã, rộn ràng, vắng lặng...), miêu tả tình cảm, tâm lí con người (nao nức, rụt rè, âu yếm, non nớt, ngập ngừng, chơ vơ, lúng túng, vụng về, ước ao, lưu luyến, quyến luyến, thèm thuồng, thút thít…). Như vậy, không chỉ xuất hiện với tần suất rất lớn (88 câu có đến 61 từ láy, tỉ lệ 0,69 từ/câu, lớn hơn tỉ lệ từ láy trong phần lớn các bài thơ, điều đặc biệt hiếm gặp trong một truyện ngắn), từ láy trong tác phẩm còn được khai thác các sở trường một cách hiệu quả, mang đến cho câu chuyện những chi tiết được miêu tả một cách chính xác, tinh tế; đồng thời, làm cho truyện thêm giàu hình tượng, giàu chất thơ hơn.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ truyện còn có những đặc điểm nổi bất khác như: Sử dụng nhiều tính từ (125 từ), lời văn dung dị, trong sáng, ít sử dụng từ Hán Việt (137 từ, rất thấp so với tương quan hơn 70% từ vựng tiếng Việt là từ Hán Việt), trong đó hầu hết là những từ Hán Việt đã được Việt hóa hoàn toàn, quen thuộc trong đời sống ngôn ngữ của người Việt (cảm giác, hoa, thu, như, đầu tiên, cảnh vật, tự nhiên, trang trọng, áo quần, sách, bút, học, cảm tưởng, cảm động, oai nghiêm, phụ huynh, kỉ niệm, tưởng tượng, ông, thân, toàn thân,…).
Về câu văn, truyện sử dụng nhiều câu dài (có những đoạn văn chỉ là một câu), mở rộng nhiều thành phần, sử dụng nhiều từ có thanh bằng, âm mở để tạo nên nhịp điệu êm ái, âm điệu du dương như: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường” (một đoạn, 18/34 âm tiết là thanh bằng); “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng” (một đoạn, 15/28 âm tiết là thanh bằng); “Vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lê Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết” (một đoạn, 17/32 âm tiết là thanh bằng)…
Rõ ràng, ngôn ngữ truyện với những đặc điểm trên đã có vai trò quan trọng trong việc tạo nên âm hưởng êm dịu, du dương, tha thiết, gợi cảm, giàu nhạc tính cho tác phẩm, qua đó, góp phần cùng các phương diện khác làm nên chất thơ đậm nét trong truyện ngắn Tôi đi học, một sáng tác của Thanh Tịnh nói riêng và truyện ngắn theo khuynh hướng lãng mạn của văn học Việt Nam thời kì 1932-1945 nói chung.
Sáng tác của Thanh Tịnh mang một phong cách rất độc đáo. Thạch Lam, bạn văn cùng thời đã nhận định về ông như sau: “Truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, và bài thơ nào hay đều có cốt truyện”. Thật vậy, theo như Trần Hữu Tá: “Nhìn chung, tác phẩm Thanh Tịnh đậm chất trữ tình. Thông qua tâm hồn tác giả, hiện thực cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc, không phải chỉ ở bề ngoài, mà ở cái linh hồn sâu kín bên trong. Văn Thanh Tịnh gợi cảm, đằm thắm và trong sáng” (Từ điển văn học - nxb Thế giới, H., 2004). Tôi đi học, một truyện ngắn giàu chất thơ, là tác phẩm rất tiêu biểu cho điều này.

Quy Nhơn, 7.7.2015