Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

MỘT TRƯỞNG CÔNG AN XÃ bút ký của NGUYỄN LIÊN - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018



Được lãnh đạo Công an huyện Ea Kar cho biết, xã Ea Ô là đơn vị có nhiều hoạt động sáng tạo về công tác bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội góp phần thành công trong quá trình xây dựng nông thôn mới; Trưởng công an xã đạt giải nhất cuộc thi Công an xã giỏi cấp tỉnh, và đạt giải ba toàn quốc, anh còn là điển hình về tinh thần học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nghe vậy thôi, tôi đã muốn về Ea Ô ngay. Ngồi đối diện với Bùi Trọng Lực, trong gian phòng treo biển Trưởng công an xã, một người có vóc dáng chắc chắn, nhanh nhẹn, thấy tôi nheo mắt nhìn những tấm giấy khen treo trên tường ghi chép thành tích, cấp khen và năm khen thưởng, anh nói “lát nữa tôi in cho anh bản thành tích, có tất cả trong đấy, anh uống nước đã”. Không phải để ghi chép mà tôi đang ngắm những hàng bằng khen được treo trân trọng theo từng hàng, thể hiện từng cấp khen thưởng, đáng nể thành tích của tập thể công an xã; từ 2008 đến 2016 công an xã liên tục nhận bằng khen của Bộ Công an về thành tích xuất sắc trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Năm 2016 nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ khen về thành tích phong trào bảo vệ An ninh Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Tuyệt nhiên những thành tích cá nhân của Trưởng Công an không thể hiện ở phòng làm việc như từng thấy một số nơi.
Trưởng công an xã Bùi Trọng Lực đang ngồi đối diện với tôi, trong mỗi câu nói không tỏ ra viên mãn, thậm chí còn có nhiều trăn trở lo toan trách nhiệm ở một xã  vùng sâu vùng xa được tỉnh công nhận “Xã Nông thôn mới”, tôi hiểu thêm về nhân cách của anh, một người đứng đầu ngành công an ở một xã còn len lỏi đâu đó những  hiện tượng tiêu cực trong đời sống và nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Bùi Trọng Lực điềm đạm, không phô trương, mà anh tự hào vì công việc mình đã làm được, làm đúng, được lãnh đạo và nhân dân ủng hộ, anh chia sẻ: Nếu không có trách nhiệm với công việc, không có cái tâm của con người thì làm sao xây dựng xã Ea Ô, một xã có địa bàn phức tạp nhiều tệ nạn trước đây trở thành đơn vị được ngành công an các cấp đánh giá mô hình mẫu, giới thiệu để các nơi học hỏi rút kinh nghiệm về tổ chức thành phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Qua tiếp xúc được biết, để người dân hoàn toàn tin tưởng vào đường lối của Đảng, về hình ảnh người công an gần gũi với dân, Trưởng công an xã Bùi Trọng Lực trăn trở tìm hiểu cách làm của nhiều nơi khác góp lại, nghiên cứu cách xây dựng hương ước của cha ông xưa mà đúc kết và vận dụng sáng tạo ra “Tiếng kẻng an ninh”. Bản đề án họat động an ninh được Đảng ủy, chính quyền và lãnh đạo Công an huyện đồng tình. Khi Đề án được cấp trên chấp thuận, anh lập tức xây dựng phương án triển khai ngay xuống dân, anh rất vui mừng được người dân hưởng ứng đồng tình, vậy là công tác bảo vệ an ninh trật tự làng xã thôn xóm đã có toàn dân cùng tham gia thực hiện. Trưởng công an Bùi Trọng Lực soạn thành quy chế: Quy định sử dụng tiếng kẻng an ninh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký mang tính Pháp quy. Tiếng kẻng do Công an xã duy trì, có 5 loại kẻng được soạn và in thành văn bản quy định gửi về các thôn buôn. Hiệu lệnh kẻng quy định như sau:
1 – Kẻng báo động: Khi trong làng xã có trộm cắp, đánh nhau, hỏa hoạn thì kẻng báo động đánh nhiều hồi, mỗi hồi ba tiếng liền nhau, liên tục; Mọi người dân phải có trách nhiệm mang theo đèn pin, gậy tre, gỗ để tham gia truy bắt người vi phạm pháp luật hoặc có mặt kịp thời nơi xảy ra cháy để tham gia công tác chữa cháy, cứu thương, cấp cứu người bị tai nạn…
2- Kẻng khuyến học: 19 giờ từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần trong năm học thì có hiệu lệnh 1 hồi 3 tiếng, thông báo các gia đình mở nhỏ ti vi, loa đài, không gây ồn ào và nhắc nhở con cháu ngồi vào bạn học bài, không tụ tập đi chơi ngoài đường;
3- Kẻng báo yên: 22 giờ là tiếng kẻng báo yên quy định hai hồi dài để người dân nghỉ ngơi. Mọi gia đình kiểm tra lại cửa nhà, tài sản trước khi đi ngủ, mọi hoạt động vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng, nơi tụ tập đông người phải dừng hoạt động.
4– Kẻng báo thức: 5 giờ sáng nghe tiếng kẻng báo thức, ba hồi dài, để người dân thức dậy tập thể dục nâng cao sức khỏe cộng đồng.
5- Kẻng họp: Mỗi lần họp dân, ngoài thông báo trực tiếp của các thôn xóm thì có tiếng kẻng thông báo cho dân bằng hiệu lệnh ba hồi dài chín tiếng….
Mô hình “Tiếng kẻng an ninh” ở xã Ea Ô được tổ chức thành 21 thôn theo hướng khép kín, có Chi bộ Đảng lãnh đạo, Ban Tự quản thôn quản lý, Ban Công tác Mặt trận, các đoàn thể phối hợp vận động nhân dân tham gia thực hiện. Với mô hình  “Tiếng kẻng an ninh” ở xã Ea Ô thực sự đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc. Tình hình an ninh ổn định hơn hẳn, không còn tình trạng thanh niên tụ tập uống rượu khuya, đi xe rồ ga gây mất trật tự diễn ra thường xuyên hàng đêm như trước đây, nhất là trong làng xã có đám cưới thu hút nhiều thanh thiếu niên mở nhạc hát hò thâu đêm gây mất trật tự ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Cả cộng đồng  đoàn kết bảo vệ thôn xóm, không còn tình trạng “nhà ai nấy lo” như trước. Vậy nhưng Trưởng công an xã vẫn chưa yên, Bùi Trọng Lực đã xây dựng chương trình tuyên truyền lưu động, Trưởng công an soạn thảo nội dung dựa theo các điểm quy định của pháp luật, trích các điều khoản pháp luật ngăn ngừa tội phạm và xử lý người phạm tội, nhờ một người có giọng đọc truyền cảm đọc sẵn vào băng ghi âm. Buổi chiểu từ 17 giờ đến 19 giờ, buổi sáng từ 4 giờ đến 6 giờ, công an viên buộc loa nén sau xe Hon đa, bộ âm li gọn nhẹ đi khắp các đường làng, ngõ xóm, khu dân cư mở đài phát loa tuyên truyền. Theo trưởng công an xã Bùi Trọng Lực cho biết thì những khoảng thời gian đó người dân chưa đi làm hoặc đã đi làm về, tác dụng tuyên truyền rộng hơn. Say sưa với việc làm của Trưởng công an tâm huyết quên thời gian, vừa lúc đồng chí công an viên đến văn phòng nhận băng ghi âm để đi tuyên truyền buổi chiều, anh Bùi Trọng Lực liền mở cho tôi nghe một đoạn nội dung tuyên truyền. Tôi thật sự ngạc nhiên nghe giọng nói được ghi âm không kém gì phát thanh viên của Đài Tiếng nói Việt Nam, sau đó thì được biết giọng đó là của một cán bộ phụ nữ xã từng được đào tạo tại trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình nhưng chị theo gia đình vào xây dựng kinh tế trên đất Tây Nguyên này, nên không có điều kiện theo nghề được đào tạo. Được công an xã mời đọc ghi âm, đúng sở trường, hèn chi giọng ngọt ngào truyền cảm ngấm vào lòng người đến thế.
Phương án “Tiếng kẻng an ninh” “Tiếng loa tuyên truyền lưu động” thành công, Bùi Trọng Lực nhận thấy trong địa bàn còn có những người một thời lầm lỗi trở về vẫn còn mặc cảm chưa hòa nhập cộng đồng, để xóa bỏ được sự kỳ thị của người dân thì trước hết người lầm lỗi phải có công ăn việc làm ổn định, biết được nguyện vọng của họ là gì? Bùi Trọng Lực đã đến từng nhà gặp từng đối tượng đi cải tạo, đi trường giáo dưỡng trở về địa phương lắng nghe tâm tư nguyện vọng trước khi anh đề xuất đối thoại tập trung. Anh phối hợp với cán bộ Phòng Xây dựng phong trào (Công an huyện) tham mưu cho cấp ủy, chính quyền sau đó xây dựng đề án “Doanh nghiệp với an ninh trật tự”, được lãnh đạo Đảng ủy xã thống nhất, anh xin ý kiến lãnh đạo Công an huyện về việc tập trung những người lầm lỗi, đối thoại với họ để cùng tìm cách tháo gỡ tạo việc làm, cho họ nhận thấy đây là một sáng kiến tốt, không những người lầm lỗi bỏ được mặc cảm với cộng đồng mà còn thay đổi tư duy của cán bộ địa phương không còn tư tưởng chính quyền với người thi hành án. Trong buổi đối thoại giữa người lầm lỗi với chính quyền có sự tham gia của đại diện Công an huyện, Công an xã, các đoàn thể và đại diện hai ngân hàng đóng trên địa bàn huyện. Buổi tiếp xúc cởi mở, đại diện ngành ngân hàng nhận ra đây là một chủ trương rất tốt, nhưng làm nghề kinh doanh đồng tiền ai dám đứng ra chịu trách nhiệm về việc rủi ro. Trong lúc ngân hàng còn cân nhắc thì những người lầm lỗi hy vọng làm lại cuộc đời ngày càng có nhu cầu cấp bách, vay vốn xây dựng kinh tế gia đình. May sao lúc đó xã được phân bổ số vốn của Trung ương dành cho các hộ nghèo sản xuất. Đảng ủy xã thống nhất giao cho Hội Nông dân quản lý, các đối tượng lầm lỗi buộc phải là hội viên nông dân để được nhận vốn vay. Toàn xã Ea Ô có hơn 60 đối tượng lầm lỗi từng đi cải tạo giam giữ và các trại giáo dưỡng trở về, dựa vào số vốn phân bổ để người vay có điều kiện làm sao sử dụng vốn làm ra tấm ra món cần phải cân nhắc, trong năm 2013 giải quyết được 11 người vay vốn. Người được vay nhiều 50 triệu, người ít cũng 20 triệu đồng. Hội Nông dân xã đã thành lập tổ hợp tác chăn nuôi cho những người vay vốn tham gia, hầu như các cá nhân vay vốn được tư vấn mua bò chăn nuôi, và thực tế họ đã hoạt động rất hiệu quả, chỉ trong 3 năm, từ 2013 đến 2016 những người vay đã hoàn vốn. Trong số đó có ông Phạm Văn Đính đi cải tạo giam giữ 6 năm vì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, là đối tượng được xét vay 50 triệu để phát triển chăn nuôi, là thành viên của tổ hợp tác chăn nuôi do Hội Nông dân xã quản lý, do tích cực hoàn lương, ông Đính đã tận tụy trong việc chăm sóc bò ăn ngon, ăn no, tối về uống nước cám pha muối, những con bò do ông Đính chăm sóc béo tốt, sinh nở những con bê xinh xắn tăng số lượng đàn, từ việc bán bê gom góp, trong 3 năm ông đã hoàn đủ vốn vay. Những người một thời lầm lỗi phấn khởi vì có việc làm góp phần ổn định kinh tế gia đình, cái được hơn là họ được hòa nhập không còn sự kỳ thị của cộng đồng, chính quyền nhận thấy hiệu quả trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, và có tính giáo dục, đảm bảo an ninh trật tự địa phương, không có người tái phạm tội. Từ đó Trưởng công an xã nảy ra sáng kiến phát động các doanh nghiệp, doanh nhân cùng tham gia phong trào an ninh trật tự, tiếp tục được lãnh đạo Công an huyện, cấp ủy chính quyền địa phương ủng hộ. Trưởng công an xã Bùi Trọng Lực cùng với Trưởng phòng Xây dựng phong trào Công an huyện Ngũ Văn Cảnh trực tiếp đi vận động các doanh nhân doanh nghiệp trên địa bàn kèm thư kêu gọi ủng hộ địa phương phục vụ công tác an ninh. Năm đầu xã thu từ đóng góp của các doanh nghiệp được 70 triệu, năm sau hơn 80 triệu… Khi tổng số vốn huy động địa phương đã có hơn 215 triệu đồng. Đảng ủy, chính quyền tổ chức công bố và biểu dương các doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục mời những người lầm lỗi lên đối thoại, qua đối thoại có hơn 30 người có nhu cầu vay vốn, nhu cầu thì nhiều, vốn lại có hạn nên xã chỉ xét giải quyết cho 25 người được vay, ngoài ra mua 3 con bò trị giá 49 triệu đồng hỗ trợ hai hội viên nông dân thuộc diện nghèo để có điều kiện phát triển kinh tế.
Công an tỉnh Đắk Lắk mở Hội thi Công an xã giỏi, Trưởng công an xã Bùi Trọng Lực đạt giải nhất toàn tỉnh, và anh tiếp tục đem về giải ba trong Hội thi Công an giỏi toàn quốc. Bùi Trọng Lực là một tấm gương điển hình về tinh thần học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; năm 2016 được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk chọn biểu dương điển hình tiên tiến dự giao lưu những điển hình Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Trong 5 năm liền, từ 2013 đến 2017, Bùi Trọng lực liên tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó hai năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Bùi Trọng Lực được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen 5 năm thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị.
Một người năng động sáng tạo, không ngại khó, tận tâm tận lực trọng trách được giao là người đứng đầu ngành công an xã đã tạo dựng được lòng tin với Đảng, về hình ảnh người chiến sĩ công an trong lòng nhân dân, theo tôi, đó là niềm hạnh phúc và phần thưởng lớn lao hơn cả.


Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

ẤN TƯỢNG EA KAR Bút ký của HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018



 Tác phảm dự thi viết bút ký chủ đề: “Công an Đắk Lắk bản lĩnh nhân văn vì nhân dân phục vụ”







Xe rời Buôn Ma Thuột, nhằm hướng Đông thẳng tiến khoảng 60 km là đến trung tâm huyện Ea Kar, một huyện đang phát triển nhiều mặt nhưng cũng đầy thử thách. Muốn phát triển thì trước hết phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điều này huy động cả hệ thống chính trị nhưng lực lượng tiên phong là công an nhân dân. Chỉ xin nêu một con số: Trong năm đã điều tra và làm rõ 90/97 vụ với 124 đối tượng phạm pháp hình sự, trong đó có 16/17 vụ với 16 đối tượng phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Thị trấn Ea Kar là trung tâm của huyện, kinh tế phát triển, tập trung đông người nên càng phức tạp.
Chuyến đi thực tế sáng tác lần này gồm 10 văn nghệ sĩ, báo chí, con số tròn và đẹp. Tôi là người cao tuổi nhất đoàn nên được ưu tiên làm việc với Công an thị trấn Ea Kar.
Biên chế Công an thị trấn có 12 người, đã có 8 đồng chí là cảnh sát khu vực, được phân công nắm các địa bàn dân cư. Trung tá Đinh Công Tuấn – Trưởng Công an thị trấn, Thiếu tá Vi Ngọc Thành – Phó trưởng Công an thị trấn, giới thiệu một gương điển hình là Đại úy Đặng Văn Báu, từ cảnh sát cơ động chuyển sang cảnh sát khu vực được 3 năm. Dáng người chắc, khỏe, da nâu bóng, đủ nói lên một chiến sĩ công an gắn bó với phong trào, lăn lộn với dân. Tôi rất thích khi anh trả lời các câu hỏi của tôi mà không cần mở sổ sách, cứ vanh vách thuộc lòng bởi đã nhập tâm công việc được phân công. Địa bàn anh phụ trách kéo dài 6 km, hơn 2.000 dân, thuộc từng hộ với số khẩu mỗi gia đình, nghề nghiệp và thu nhập từng người, đặc biệt là mối quan hệ xã hội. Nắm chắc số dân cùng độ tuổi trên 14 và giới tính để tiện công việc phân loại.
Anh Báu sinh năm 1980 tại thành phố Hưng Yên, đã học Đại học An ninh, đầu quân vào Đắk Lắk. Ngày đêm bám địa bàn, thường để lại cô vợ trẻ là Trần Thị Hà sinh năm 1984 phải một mình chăm sóc hai con trai sinh năm 2011 và 2017. Chị Hà là nhân viên bán hàng của VNPT nên ban ngày cũng bận rộn, còn mình 2/3 thời gian bám cơ sở, khi ở tổ dân phố 4, khi ở thôn 9.
Không kể các vụ án lẻ tẻ, chưa phải trọng án, một vụ án xôn xao dư luận ở Ea Kar mà công an đã phá được chỉ sau 4 giờ, công đầu thuộc về Đặng Văn Báu.
Năm 2016 được quần chúng báo tin: Có cô gái chết trên giường nhà nghỉ Bình Minh trong tình trạng lõa thể, tài sản không còn. Rõ ràng đây là trọng án hình sự, hung thủ hãm hiếp, giết người rồi cướp của. Tìm nhân thân cô gái, biết được cô là Hà Thị Hoàng, sinh năm 1993, quê ở miền núi phía Bắc, làm nhân viên phục vụ và hát karaoke cùng khách.
Chưa xác định được đối tượng gây án vì chỉ đăng ký tên một người vào nghỉ vừa bị hại, còn kẻ thủ ác ở nhà nghỉ nào không rõ. Thị trấn có tới 36 nhà nghỉ nên khó tìm ra manh mối. Bằng biện pháp nghiệp vụ, được quần chúng hỗ trợ nên biết được đối tượng đã đi cùng Hà Thị Hoàng là Lương Văn Trang quê ở Yên Thành, Nghệ An, làm ở Ea Đa. Xác định được rồi nên chỉ sau 4 giờ đã bắt được tên Trang đang ở Khu công nghiệp Ea Đa. Hắn biết tội của mình nên không dám chống cự. Phá vụ án nhanh, gọn, thần tốc, không phụ lòng tin của nhân dân và đồng nghiệp.
Thị trấn có 8 tổ dân phố, 6 buôn, 2 thôn, rộng tới 2.444 ha, dân số trên 16.000 người nên khá phức tạp. Ngoài đồng bào dân tộc bản địa, còn có đồng bào dân tộc phía Bắc vào lập nghiệp nên lực lượng Công an thị trấn có Trung tá Y Tuk Niê người Êđê ở bộ phận tiếp dân; Thượng úy Lý Minh Kiên người Tày là cảnh sát khu vực. Một nữ cảnh sát duy nhất là Đại úy Vũ Thị Vân Anh ở bộ phận tiếp dân.
Buổi làm việc chân tình nhưng các anh chị rất khiêm tốn, không ai chịu nói về mình – kể cả Đặng Văn Báu cũng nói là công của tập thể, làm cho tôi phải dùng nghiệp vụ báo chí, hỏi vòng vo để khai thác tư liệu.
Một điều tôi không ngờ, trụ sở làm việc của Công an thị trấn lại là của Chi cục Thuế mới chuyển đi. Lần này đã là lần thứ tư chuyển địa điểm làm việc. Tôi băn khoăn thì được trấn an từ chính các anh thốt lên: Làm việc ở đâu cũng được, miễn là phục vụ tốt nhân dân. Các anh cho biết: Đã được cấp đất xây trụ sở, chắc là chuyển lần thứ năm sẽ ở lâu dài. Tôi nói vui: Khi nào khánh thành nhớ báo cho tôi nhé, để tôi về mừng cùng các anh.
Cuối buổi làm việc, Trưởng và Phó Công an thị trấn dành cho tôi sự ưu ái là cử Thiếu úy Nguyễn Anh Tuấn, cảnh sát khu vực chở tôi dạo một vòng quanh thị trấn. Ở đây có 3 người có tên là Tuấn. Ngoài Trung tá Đồn trưởng Đinh Công Tuấn, còn Trung úy Trần Xuân Tuấn, cảnh sát khu vực. Tuấn trẻ nhất là Thiếu úy, chở tôi dọc đường Nguyễn Tất Thành, dọc trung tâm thị trấn. Tay ga kéo nhẹ, máy êm cho tôi chiêm ngưỡng hàng cây sao vừa năm tuổi, đủ tán tròn xòe bóng mát xanh cho người đi bộ lề đường. Các đường khác như Trần Phú, Ngô Gia Tự… cũng trồng cây sao nhưng mới được một hai năm, còn thấp nên nhìn rõ búp non tơ trên ngọn.
Dạo vài đường nữa thì Nguyễn Anh Tuấn chở tôi đến hồ Ea Kar. Đứng ở phía đông của hồ, phóng tầm mắt sang phía tây thấy dải đồi nhấp nhô uốn lượn, thật sơn thủy hữu tình. Xung quanh hồ là cả công trường nhộn nhịp. Xe chờ cát đá, xe chở đất làm đường cuốn bụi mù trời. Cả những xe chở nguyên vật liệu xây dựng nhà cửa để tương lai không xa sẽ thành nhà nghỉ, nhà hàng lý tưởng của các đại gia. Rồi sẽ đến lúc dập dìu tài tử giai nhân vào nhà nghỉ bên hồ ngắm gió mát trăng thanh, lướt trên mặt hồ bằng xuồng cao tốc hay dập dềnh thuyền thiên nga đạp chân nhẹ nhàng.
Tôi chú ý tới một loài cây ven hồ, có cây chìm trong nước vẫn có hoa đỏ ngoi lên quyến rũ, màu sắc bắt mắt. Ấy chớ, đừng đụng tay vào vì chúng có gai. Đây là cây mai dương, chúng phát triển nhanh, lấn át dần cây ven bờ và cả thủy sinh dưới nước. Nếu để chúng phát triển tràn lan sẽ ảnh hưởng các loài cây khác. Tôi lại liên hệ đến công việc của chiến sĩ công an mà nghĩ rằng: Khi bờ hồ đã thành khu dân cư đông đúc, cái xấu, cái ác rình rập, chờ sẵn như cây mai dương kia, nhiệm vụ các anh thêm nặng nề.
Rời bờ đông sang bờ tây, nhìn bao quát mặt hồ rộng trên 200 ha, mênh mông bát ngát như chiếc gương khổng lồ mà trời ban tặng. Chòi canh cống xả nước như người lính gác kiên trung. Phía dưới đường bao là những vuông tôm, vuông cá, những thửa ruộng lúa xanh yên bình gọi cánh cò về chớp trắng. Bức tranh thủy mặc nào đây thu vào tầm mắt. Chiều dần buông, mặt trời lấp ló sau đồi, thả ra những rẻ quạt màu hồng, làm mặt hồ cũng ửng hồng như má, môi sơn nữ.
Thiếu úy Tuấn đưa tôi về lại nhà nghỉ Thành Thắng, tại phòng 306 có ông bạn già – nhạc sĩ lãng tử Sĩ Hùng đang chờ vì tôi ham chơi nên về muộn. Tôi khoe việc rong ruổi của mình, Sĩ Hùng bảo: Đẹp đấy! Cố gắng đưa vào thơ từ đồng âm: Vì sao trên trời và cây sao dưới đất để tôi làm nhạc. Tứ thơ đêm Ea Kar xuất hiện với đoạn mở đầu:
                     Mặt trời đã khép mắt ngủ yên
                     Mặt hồ cũng khép sóng lặng yên
                     Chỉ còn anh thức
                     Thi cùng những vì sao khuya
                     Dưới tán hàng sao
                     Tâm sự rì rào…
Miên man suy tư, gương mặt 12 chiến sĩ Công an thị trấn lại hiện lên trước mắt. Bình lặng giữa đời thường, trầm lặng trong công việc để làm tốt nhiệm vụ. Năm 2015 và 2016, tập thể này đã đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng; năm 2017 đạt danh hiệu Đơn vị Tiên tiến. Ấn tượng về Ea Kar là sự bình an nhưng vẫn lấp ló “cây mai dương” đâu đó nên nhân dân cần các anh lắm lắm.
Tháng 1-2018


Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

CHUYỆN “NÓN BÀI THƠ VÀ HƯƠNG ĐẤT CAO NGUYÊN” Bút ký của NGÔ MINH - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018




                                                   


Đợt đi sáng tác cuối năm 2017 tại Buôn Ma Thuột, tôi được nhà thơ Võ Quê rủ đi thăm xã Phú Xuân của người Huế ở huyện Krông Năng, Đắk Lắk. Mặc dù đang bị gút, đi nhắc, nhưng đi Phú Xuân là tôi theo liền. Vì 40 năm trước, dù chưa đến Đăk Lăk, Tây Nguyên bao giờ, tôi đã có kỷ niệm khó quên về vùng đất này.
Đó là những ngày đầu xuân 1977, hai năm sau ngày thống nhất đất nước, diễn ra cuộc tiễn đưa đoàn xe chở 700 thanh niên xung kích TP. Huế rời Đại Nội đi lên vùng đất mới Tây Nguyên. Tôi đứng lẫn trong hàng ngàn người dân bên đường Hà Nội tiễn biệt đoàn quân xung kích. Nhiều người khóc, nhiều người chấm nước mắt. Cuộc tiễn biệt đó đã gây chấn động trong tôi niềm xúc cảm lớn lao. Xúc cảm trước những người đi mở đất. Huế đã từng chứng kiến những đoàn dân binh thời Chúa Nguyễn theo tướng Nguyễn Hữu Cảnh đi mở cõi phương Nam. Đêm đó tôi về không ngủ được, trằn trọc và vùng dậy thức tới sáng làm được bài thơ “ Nón bài thơ và hương đất cao nguyên”. Bài thơ là ao ước của tôi về Huế trên Cao nguyên chưa có trong hiện thực với cái tứ là chiếc nón bài thơ của cô gái Huế trên vùng đất đỏ bazan ngát hương cà phê thơ mộng: Ngỡ ngàng giữa đất Tây Nguyên/ bồng bềnh nón trắng trôi trên nương đồi/ nhấp nhô như sóng ngoài khơi/ mà riêng vành vạnh khoảng trời riêng em/ khoảng trời mười tám xanh êm/ thơm mùi bồ kết bay viền bờ mây…Không chỉ hư cấu về vẻ đẹp của nét Huế mới trên Tây Nguyên, tôi còn vẽ ra cả cuộc sống mới lúc ấy chưa hề có:
đất Buôn Hồ đã xanh rồi
mùa hoa quỳ nở nụ cười thời gian
…ươm bao nhiêu nắng mặt trời
nón bài thơ dệt nên lời đêm trăng
nón nghiêng xuống đất cao nguyên
mùa cà phê dậy hương lên trắng  ngần…
Ngày 14/1/1979, báo Nhân Dân công bố “Trang thơ hay năm 1978” được giải thưởng gồm 16 bài thơ của các tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Lữ Huy Nguyên, Thanh Thảo, Trần Hòa Bình, Lê Hoài Minh…Trong đó có bài thơ của tôi với lời nhận xét rất sang trọng: “Cuộc sống lớn làm nảy mầm nhiều tứ thơ tươi mới và quý nhất là sự khẳng định bước đầu của nhiều giọng thơ chân thực thiết tha trong rụng động”. Đó là lần đầu tiên thơ Ngô Minh được đánh giá trên văn đàn.
Nhưng, một vài năm sau đó, trong số hơn 10.000 người dân 11 phường và 6 xã vùng ven thành phố Huế đến khai phá vùng núi rừng hoang vu Krông Buk , đã có rất nhiều người bỏ về. Có rất nhiều người đã trốn về với phận nghèo con đò lênh đênh trên đầm phá, về với hai bàn tay trắng vì nhà cửa, ruộng vường đã không còn. Không ít người đã oán trách số phận. Lúc đó có nhiều bạn bè trí thức đã nói thẳng với tôi: “Bài thơ của ông chữ nghĩa hay, nhưng ông đã góp phần đẩy những người dân Huế vào nơi rừng thiêng nước độc với cuộc sống bấp bênh không có tương lai!”. Trong nhiều năm, mỗi lần nghĩ đến bài thơ , tôi buồn và ân hận trí tưởng tượng, hư cấu của mình. 
Vì lý do đó, mà khi sắp được về xã Phú Xuân, Krông Năng tôi rất háo hức. Tôi muốn kiểm nghiệm lại những ao ước, tưởng tượng của mình trong thơ về cuộc sống của người dân Huế trên Tây Nguyên bây giờ như thế nào. Và hai ngày về huyện Krông Năng, về xã Phú Xuân, Đắk Lắk, tôi đã nhận ra những chi tiết cuộc sống của người Phú Xuân trong thơ mình tưởng tưởng 40 năm trước, hôm nay đã thành hiện thực. Một hiện thực đẹp hơn cả sự hư cấu của tôi!
Ngồi bên tôi trong cuộc vui bạn bè, anh Văn Khả Hùng, bí thư Đảng ủy xã Phú Xuân kể rằng, cuộc sống ban đầu trên vùng đất mới còn tạm bợ lắm anh ạ. Nhà tranh tre, nứa lá, bà con phải phát dọn cây rừng để mở đường sá đi lại giữa các khu dân cư. Mùa mưa đất bazan, dính chặt dép, hầu như không đi lại được. Những vụ mùa đầu tiên không có kinh nghiệm nên thu hoạch không bao nhiêu. Bệnh tật, chủ yêu là sốt rét, đói kém diễn ra liên tiếp. Rồi bọn Fulro đe dọa, quấy phá làm dân sợ, không yên tâm sản xuất. Nhiều người đã bỏ về quê cũ… Du kích đi tuần suốt đêm để ngăn chặn người dân bỏ trốn về lại Huế!
Xin nhặt lại đây mấy còn số của xã Phú Xuân trong báo cáo “kỷ niệm 40 năm…”. 10 năm sau, 1987, huyện Krông Năng được tách ra từ Krông Buk, xã Phú Xuân, Phú Lộc, Tam Giang được thành lập. Đây là những xã phần lớn là bà con người Thừa Thiên Huế, cộng thêm bà con dân di cư từ 10 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa và đồng báo các dân tộc thiểu số ở phía bắc. Cuộc sống bây giờ thì khấm khá rồi, no ấm rồi! Tăng trưởng kinh tế của xã hàng năm đạt từ 7-8%. Xã Phú Xuân nay có 4.964 hộ ( 17.716 khẩu), có 32 thôn với diện tích 4.512 ha (hơn 2.365ha cà phê, 380ha tiêu), cách trung tâm huyện lỵ Krông Năng 5 km. Năm 2010 xã có 311 hộ nghèo, năm 2016, hộ nghèo còn 5,83%. Đến năm 2016, xã Phú Xuân đạt 17/19 chỉ tiêu “nông thôn mới”. Có 32/32 thôn có hội trường, 27/32 thôn có cổng chào thôn…. Trên địa bàn xã có gần 40 doanh nghiệp. Phú Xuân phát triển nhờ kinh tế tư nhân. Đường nhựa qua xã ( QL29), ô tô  có thể ra Huế, vào Thành phố Hồ Chí Minh… Từ đầu năm 2017 đến nay, nhân dân xã Phú Xuân (huyện Krông Năng) đã đóng góp gần 1,1 tỷ đồng để xây dựng 1,5 km đường giao thông nông thôn, nhà nước chỉ hỗ trợ 200 triệu đồng. Ở Phú Xuân có gia đình có taxi, có xe bán tải…Bà con Huế ở Phú Xuân đã biết chuyển đổi cây trồng bằng hình thức trồng xen các loại cây có giá trị kinh tế cao vào vườn cà phê như bơ, sầu riêng , tiêu…nên thu nhập cao hơn!
Nhưng, Phú Xuân không  chỉ là những con số thống kê thành tựu đó. Điều quan trọng nhất Phú Xuân phát triển là văn hóa! Văn hóa Huế đã ăn sâu trong tâm thức và nếp sống của các thế hệ người dân Phú Xuân. Nhà thơ Trần Chi, Trưởng Đài Phát thanh & Truyền hình Krông Năng, người có mặt trong đoàn thanh niên xung kích vào đây lứa đầu tiên,  bám trụ với đất này cho đến tận hôm nay, anh nhiệt tình dẫn chúng tôi đi dọc xã Phú Xuân thăm một số bạn bè và về tận sông Krông Năng. Theo Trần Chi, các thế hệ Huế sinh ra ở Phú Xuân đều nói tiếng Huế. Bí thư Đảng ủy Văn Khả Hùng, chỉ tịch xã Lê Đình Chủng sinh ra ở Phú Xuân đều nói tiếng Huế rặt. Có lẽ vì các anh học  các trường do các thầy cô giáo Huế dạy, mà tiểu biểu là thầy giáo Lê Đình Thượng ( bố chủ tịch Lê Đình Chủng) vào đây từ năm 1977 mở trường dạy học. Nhiều lứa con em Phú Xuân ra học sư phạm ở Huế trở về xã dạy học. Đi khắp nơi, tôi gặp nhiều cô gái trẻ nói tiếng Huế ngọt lịm. Nhờ đầu tư lâu dài về văn hóa, nên kinh tế Phú Xuân là một trong  ba xã hàng đầu của huyện. Đây là cách thức phát triển bền vững. Trần Chi phân tích: “Đất bazan Phú Xuân, trồng cây gì cũng tốt, nhưng trong xã, các hộ ít chăm lo học hành cho con, thì kinh tế gia đình họ kém phát triển vì làm ăn thiếu tính toán!”. Trần Chi cho hay, dân Huế là dân học. Nên ngay sau khi làm xong lán ở là phải làm ngay trường học . Người Huế chấp nhận cực khổ nhưng không chấp nhận con cái thất học, vì dốt thì nghèo. Lúc vào vào đây, xã chỉ mới có trường cấp I, dân phải đưa con ra ở trọ phố huyện Buôn Hồ để học tiếp cấp II, III. Những đứa trẻ ở trọ học ngày ấy giờ đã trở thành bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân thành đạt tận Sài Gòn, Buôn Ma Thuột. Con trai của Trần Chi vừa nhận bằng tiến sĩ toán ở Nga. Bí thư xã Văn Khả Hùng khoe, xã Phú Xuân có đến 10 trường học đủ các cấp!
Ở Phú Xuân nhà nào sau nhà cũng có vườn bốn năm sào cà phê xen   tiêu, bơ. Phía trước là ngôi nhà vườn Huế, có cây cảnh, bonsai, có bình phong che chắn. Ngôi nhà vườn anh Trần Văn Khiển đối diện con đường từ chúa Kim Quang đi vào là ngôi nhà như thế . Ở Phú Xuân và cả trị trấn Krông Năng nhiều gia đình người Huế rước thợ từ Huế vào làm nhà rường. Ngôi nhà rường hai tầng hoành tráng của nông dân Quang Văn Lai không thua gì những nhà rường đẹp nhất ở Huế. Quang Văn Lai kể rằng, trước khi vào đây, anh là “thanh niên hư hỏng”, dân chuyên móc túi ở bến xe Nguyễn Hoàng. Thế mà bây giờ là Bí thư chi bộ thôn! Anh nông dân kiêm thi sĩ Trần Tương năm 2014 đã xuất bản tập thơ Giọt trăng khuyết. Anh là Hội viên Chi hội Văn học Nghệ thuật Krông Năng, thuộc Hội VHNT Đăk Lắk. Trong bài thơ “Tìm em vàng lối cúc quỳ”, Tương có câu thơ có cánh: Tìm em vít ngọn cần sang / bỗng nghe con nước Krông Năng vọng về…Ngoài thời gian chăm sóc vườn cà phê, tiêu, Tương bù khú chơi đàn, hát và đọc thơ cùng các bạn Trần Chi và cả chủ tịch Lê Đình Chủng.
Ở xã Phú Xuân bây giờ, không chỉ có chi bộ, chính quyền, mà tôi thấy có cả chùa Phật lẫn thánh đường Công giáo, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của người dân . Chùa Kim Quang với chiếc cổng tam quan trông cứ ngỡ chùa Từ Đàm ở Huế. Ngôi chùa này tiền thân là “niệm phật đường” do dân lập nên từ buổi đầu mở đất. Điều đặc biệt là ở đây sư trụ trì chùa là đại đức Thích Nguyên Thắng và bốn vị sư  ở chùa này đều là người Huế. Thầy Thắng cho biết 90% dân Phú Xuân theo Phật giáo,  trụ trì chùa ở đây, tôi thấy như là đang ở Huế.
Đúng như tên gọi, người dân Huế đến lập nghiệp trên vùng đất mới Krông Năng đã mang theo trong máu mình cái tên địa danh 700 năm trước của Kinh Thành Phú Xuân Huế  để khai hoang, lập làng, xây dựng và phát triển, và đặt tên mảnh đất mang tên Phú Xuân đến hôm nay. Cái chất văn hóa Huế ở Phú Xuân đậm đặc đã tạo nên bản sắc của một vùng quê  chân chất, trong cộng đồng văn hóa các dân tộc ở Đăk Lắc.  Và tôi lại cảm kích kể lại câu chuyện với bài thơ xưa của mình. Bây giờ thì tôi lên Phú Xuân thật rồi. Lên để hát, để mừng cuộc sống mới hôm nay.
Chân tôi lấm đất ba zan
Để lên hát với Phú Xuân, với người…
Phú Xuân- Huế, tháng 12/2017




Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

TÓC DÀI truyện ngắn của NGUYỄN ANH ĐÀO - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018




 

Giỗ cha, Hiến ở nhà hẳn, anh tìm một việc làm online mà không đi ra thành phố nữa. Hiến ở lì trong phòng của mình sinh hoạt và làm việc, có khi cả nửa tháng anh mới nhìn thấy mặt trời. Tóc Hiến ngày càng dài, thỉnh thoảng dì bảo:
- Hiến ra ngoài cắt tóc, không ấy... tui cắt cho!
Hiến lắc đầu:
- Tui hổng cần, dì đừng để ý tới tui!
Rồi, Hiến nghe như tim mình nhói đi một nhịp khi người đàn bà đó quay lưng đi vào bếp. Trời nóng cũng như lạnh, trên đầu dì là chiếc mũ len và những cơn ho không hẹn trước.
Có những đêm, Hiến ra trước hiên nhà, cầm gói thuốc lá xoay tròn trong tay rồi đốt lên, dì hoảng hốt:
- Hiến à, đừng!
Hiến tức giận ném mạnh điếu thuốc xuống chân:
- Tại sao dì không nói câu đó với ba tôi?
Người đàn bà đó lại quay lưng bước đi một cách yếu ớt. Hiến ôm đầu mình hối lỗi. Hiến và cả cha mình, là những gã đàn ông cứng đầu không ai có thể lay chuyển được.
Tóc Hiến dài ngang lưng, anh hay đứng trước gương chải và búi các kiểu với ánh mắt vui vẻ. Thỉnh thoảng dì bắt gặp ánh mắt đó, thảng thốt nhìn Hiến rồi tránh né và quay đi. Có bữa cơm, dì chống đũa thở dài: 
- Hiến không định lấy vợ hay sao?
Hiến bực dọc:
- Dì thúc tui lấy vợ hoài vậy? Dì thử tui có phải đàn ông không chớ gì?
Dì lúng túng, ấp úng “không, không phải...”, nhưng Hiến chưa nghe hết câu thì bỏ ra ngoài. Hiến đi biệt luôn mấy ngày, điện thoại dì gọi cho Hiến mấy chục cuộc gọi nhỡ.
Dì tên Hương, ngày chưa trở thành dì của Hiến, dì còn là cô gái tên Hương ngoan hiền, đẹp nhất trong nhóm bạn của Hiến. Trong những lần bạn bè về nhà Hiến chơi, không biết bằng cách nào mà cha Hiến có thể biến Hương thành “dì”, Hương không vào đại học mà ở nhà làm vợ cha từ đó. Nỗi ghen tức và bực dọc trong Hiến suốt những tháng năm đó không thể nào mất đi, bởi một đứa con trai mới lớn đang cố gắng hết sức vẫn chưa dám nói một câu tỏ tình với Hương, thì đã bị chính cha mình cướp mất.
Cha nghiện thuốc lá rất nặng, nhưng cha không bỏ, ai nói gì cũng không bỏ. Sau mười lăm năm sống cùng Hương, khi Hương ở tuổi ba mươi lăm, ông rời bỏ cô ấy với căn bệnh ung thư phổi. Gia tài để lại cho Hương là một khoản nợ mà không biết đến bao giờ Hương mới trả được.
Ngày giỗ đầu của cha, dì nói với Hiến:
- Hiến cho tui bán căn nhà này, được không? Tiền lãi mẹ đẻ lãi con, tui sợ để lâu bán nhà trả cũng không nổi?
Nói rồi dì khóc “tui xin lỗi, nếu tui còn cái gì khác để bán, tui cũng không nghĩ tới căn nhà đâu, vì nó là của Hiến!”. Tim Hiến đau như có ai cắm ngàn mũi kim vào đó. Cô gái tên Hương ngày nào trong lòng Hiến, đâu có ngờ sau mười lăm năm trở nên thảm hại đến thế này? Giá như ngày đó người giữ Hương ở lại nhà không phải là cha, mà là một người khác thì có thể Hiến đã tìm mọi cách mà đưa Hương đi. Dì khóc xong thì cúi xuống quệt nước mắt vào tay áo, chiếc mũ len rơi lệch một bên, dì hoảng hốt chụp lấy và sửa lại ngay ngắn, với dì, chiếc mũ cũng quan trọng như cái quần cái áo, chưa bao giờ Hiến nhìn thấy dì để trần mái tóc mình.
Hiến đặt lên bàn dì một cọc tiền:
- Của tui dành dụm bao nhiêu năm, nếu đủ để trả nợ, thì dì lấy đó mà trả, nếu không, dì bán căn nhà này đi, còn dư bao nhiêu, dì cứ giữ lấy!
Dì sửng sốt nhìn Hiến:
- Hiến không để cưới vợ hay sao?
Hiến đứng dậy, lắc đầu, bước đến trước gương soi mái tóc dài của mình. Dì rùng mình khó chịu đứng sau lưng Hiến. Có lẽ, dì vẫn không hiểu được tại sao thằng đàn ông ba mươi lăm tuổi lại ve vuốt mái tóc dài của chính mình như một đứa con gái dậy thì?
Những cơn ho của dì ngày một dày hơn, chiếc mũ len trên đầu dì trùm xuống kín hơn. Hiến vẫn ngồi trong phòng mình làm việc, những bữa cơm vẫn đủ đầy. Thi thoảng dì đi đâu đó dăm bảy ngày, thức ăn dì để sẵn hết trong tủ lạnh, món nào nên làm gì để có thể ăn được, dì viết kỹ càng trên từng tờ giấy note vàng. Hiến vừa ăn vừa khóc: “Hương biết không, Hương là đồ ngốc!”. Rồi, xong bữa cơm, Hiến lại tự hỏi, người ngốc là ai, là mình hay dì?
Dì về đưa lại cho Hiến một ít tiền:
- Tui trả nợ xong rồi, vẫn còn dư một ít, tui sẽ cố gắng tìm cách trả lại, nếu tui còn sống....
- Còn bệnh của dì...
- Bệnh viện nói có chương trình từ thiện nào đó tui hổng biết, tui được chữa miễn phí, nên, từ nay tui hổng cần tiền này nữa!
Nước mắt Hiến rơi không thể kìm chế:
- Dì phải biết người hút thuốc lá thụ động có khả năng mắc bệnh cao hơn người hút trực tiếp chớ! Sao cái kiến thức sơ đẳng như vậy dì cũng không biết mà tránh hả?
- Là vợ chồng, tránh sao hả Hiến, ở với nhau từng đó năm hạnh phúc... là đủ rồi mà!
- Nhưng tui không thấy đủ, tui muốn dì... à không, tui muốn Hương phải sống khỏe mạnh và vui vẻ tới già kìa, tới bảy mươi tám mươi tuổi như người ta kìa! 
Hiến khóc như một đứa trẻ con kiềm chế lâu ngày không được phép khóc. Dì buồn bã:
- Tui hạnh phúc mà! Ai rồi không phải chết, hả?
Rồi cơn ho dài hơn kéo đến, dì không còn đủ sức ngồi an ủi vỗ về Hiến, dì mệt mỏi trở về phòng mình. Hiến khóc xong thì đứng dậy bỏ đi ra khỏi nhà. Khác lần trước, Hiến nhìn điện thoại bao nhiêu lần, không có cuộc gọi nhỡ nào của dì. Hiến sốt ruột làm cho xong việc rồi vội vã về nhà. Chuông điện thoại của bác sĩ từ bệnh viện mà dì đang chữa bệnh “Bệnh của Hương không ổn, cậu à! Tôi xin lỗi, có lẽ Hương không đủ thời gian để hoàn thành các liệu trình như tôi dự tính!”.
Bàn thờ của cha vừa tàn cây nhang, trong nhà còn thoảng mùi trầm. Dì nằm trong phòng, và ... dì đã ngủ. Giấc ngủ của dì đang đưa dì về bên cha. Hiến đổ sụp, trên tay Hiến là gói quà sinh nhật, trong đó là mái tóc giả Hiến kết để tặng cho dì, nó được làm từ chính mái tóc của mình.
Hiến từng mơ rằng mái tóc dài ngang lưng của dì, mỗi sáng dì chải nó trước gương, nó ôm lấy đôi vai yếu ớt của dì như chính vòng tay Hiến đang khao khát làm điều đó. Hiến tự tay trang điểm và đội mái tóc của Hiến đã làm lên đầu cho dì, trả dì về tuổi thanh xuân của ngày mà Hiến đã yêu say đắm, trả dì về cái ngày chưa bị những cơn ho từ khói thuốc lá của cha đã hút. Hiến nhìn lên di ảnh cha mình trên bàn thờ, nửa oán trách nửa thương xót:
- Hương lại tiếp tục về bên cạnh ba mà không phải là con! Kiếp sau, ba sống tốt với cô ấy hơn, được không ba?
Bần thần trong đám tang, trong đầu của Hiến chỉ có một câu hỏi, “liệu rằng có kiếp sau không?”. Dì còn nằm đó, với mái tóc dài của Hiến phủ qua vai.
2.2018