Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

NGƯỜI THƯƠNG BINH LUÔN NẶNG NỖI TRI ÂN ghi chép của TRẦN ĐÌNH HẰNG - CHƯ YANG SIN SỐ 311 tháng 7 năm 2018




Dù gối mỏi chân chồn, dú sức đã gần về cội, nhưng may mắn đi qua cuộc chiến; còn sống thêm ngày nào thì sẵn lòng hiến dâng chút sức cùng lực kiệt cho những anh em không được hưởng niềm vui Nam Bắc một nhà, đang còn nằm lẻ loi, chưa có tên tuổi nơi mộ phần.
Thương binh ¾, Đại tá Trần Quốc Huy, đang nghỉ hưu tại số nhà 340, đường Phan Bội Châu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, là người luôn toàn tâm toàn ý tri ân đồng đội trong việc tìm hài cốt, trả lại danh tính cho Liệt sỹ, với tâm ý của những “hạt gạo trên sàng”, nên ông được nhiều người yêu mến, mệnh danh là: “Kho tư liệu sống, từ điển thông tin, triệu phú thông tin Liệt sỹ”… Ngay cả Chương trình “Trở về từ ký ức” của Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã gửi ảnh và thông tin đến để nhờ ông xác minh danh tính Liệt sỹ, thì đủ thấy uy tín của ông tới mức nào!
Vốn tính cẩn thận, mang nặng ý thức tâm linh nên chưa khi nào ông Huy cho phép mình đưa ra những kết luận hời hợt vô căn cứ, mà đều dựa vào nhân chứng, chứng lý và có đối chiếu, xác minh. Nhiều người mãi ghi nhớ chuyện thân nhân của hai Liệt sỹ Y T’Lam Byă và Y Hiên Niê đã nhiều lần gùi theo cơm đùm, cơm nắm cùng hai tấm bằng “Tổ quốc ghi công” tìm đến Tỉnh Đội; sở Lao động Thương binh & Xã hội; Ban quản lý nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Đắk Lắk, mong được chỉ dẫn phần mộ của con em mình. Xem ra việc này sánh ngang chuyện mò kim đáy bể.
Ông Huy thấy lòng mình rưng rức nỗi xót xa trước đề nghị của hai gia đình đồng bào dân tộc bản địa này và tự nguyện xắn tay vào cuộc “Phải tìm cho được thông tin chỉ đường mách lối”. Kết quả sưu tra tàng thư ở hai ban Quân lực và Chính sách thuộc Tỉnh Đội Đắk Lắk cho thấy: “Hai liệt sỹ  Y T’Lam Byă và Y Hiên Niê cùng hy sinh trong một trận phục kích chống càn, thuộc địa bàn giáp ranh giữa H1 và H8 (nay là hai huyện M’Drắk và Ea Kar).
Việc đầu tiên ông tìm gặp cho được Thượng uý Nguyễn Văn Đợi, nguyên Huyện Đội phó H1.
- Huy phải không? Đúng mày rồi! Hai mươi mấy năm “sếp mải lo việc nước”, nay cơn gió lành nào đưa rồng đến nhà tôm vậy?
- Anh giận tới mức nào thì tôi cũng phải chịu. Còn bữa nay  không phải nhờ gió mà do nước dẫn tôi tới đấy!
- Nước? Nước mưa hay nước mắt đây?
- Là nước mắt đấy anh ạ!
- Sao? Lại có đứa nào “quy tiên” nữa hả? Mà sao mày tìm được đến cái xó này!
- Dù anh có chui dưới chín tầng địa đạo hay trên chín tầng xanh thì tôi cũng moi ra được, dân trinh sát mà.
Nghe bạn trình bày vắn tắt sự việc, tuy đang tất bật với công việc của một lão nông, nhưng cựu chiến binh (CCB) Đợi vui vẻ bỏ việc ngang xương:
- Gì thì gì,chiều nay phải nhậu cái đã, đêm mày ngủ lại đây!
Huy biện lý:
- Tôi đang bận bù đầu, xin anh thư thả đến khi xong việc đã!
- Chỉ cần nhậu “tẹc ga”, ôm nhau ngủ tới sáng là mọi việc đâu vào đấy liền!
- Thôi đi cha nội! Chuyện nghiêm túc mà cứ dỡn.
- Sao dỡn? Có cả thằng Huỳnh Hoan ở Ea Quang, thằng Văn Vi Tiến ở Ea Sol, thằng Lê Văn Tín ở Ea Bút nữa, ba thằng đó mà tới được đây thì cũng phải tối mịt.
- Trời ơi! Lại còn gặp “năm trăm anh em” nữa thì tới khi nào tao mới dứt ra để lo công chuyện được.
- Cái rẹc! Một cái rẹc, mày hiểu chưa! Chỉ huy trận phục kích ấy chính là thằng tao đây này! Thằng Tiến là tổ trưởng ém quân bên bờ Đông và nó cùng thằng Hoan chôn cất Y T’lam Byă đấy! Còn thằng Tín là tổ trưởng với bốn tay súng trong đó có Y Hiên Niê ém quân mé bờ Tây con suối cạnh buôn Cam Rưng chứ còn ai khác. Bốn năm trước, chúng tao ghé thăm thì bà con cho biết là: “Hai ngôi mộ đã được đưa về nghĩa trang rồi mày ơi!”.
Huy xiết chặt tay từng người, mang biên bản và sơ đồ trận chiến có chữ ký của “năm trăm anh em” đến gặp Đại uý Nguyễn Xuân Mão, Đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sỹ (khi này chưa có đơn vị chuyên trách K51).
Anh Mão cho biết:
- Khi triển khai tìm kiếm ở địa bàn buôn Cam Rưng, chúng tôi tìm thấy và bốc cất được bộ hài cốt ở bờ phía Đông con suối thì phải dừng lại vì mưa to, nước suối lớn. Anh em đưa hài cốt về bàn giao cho Ban quản lý nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh và tạm nghỉ. Mười ngay sau mới “tập kích” qua suối để tiếp tục làm nhiệm vụ.
Căn cứ biên bản bàn giao và sơ đồ mộ chí tại nghĩa trang cùng biên bản làm việc có chứng nhận của các nhân chứng nên bia mộ Liệt sỹ Y T’Lam Byă (hy sinh bên bờ Đông) và Y Hiên Niê (hy sinh bên bờ Tây con suối) đã được xác lập đầy đủ thông tin.
Trường hợp khác nữa là thân nhân Liệt sỹ Nguyễn Quang Vinh – Phó chủ nhiệm Hậu cần Tỉnh Đội, đến nhờ chú Huy tìm hài cốt “nhạc phụ” hy sinh tại H4 (nay là huyện Krông Năng). Tìm kiếm trong “kho” của mình, ông Huy hiểu rằng: Thương binh đã được đưa về xưởng Quân giới của Tỉnh Đội để cứu chữa. Vậy là ông đã tìm gặp ông Hoan (Xưởng trưởng), ông Cần – Kỹ thuật và ông Bốn – Quân y. Các CCB này đều xác định: “Anh Vinh bị thương rất nặng khi vượt đường 21 (nay là quốc lộ 26). Anh ấy hy sinh lúc đang cấp cứu, chúng tôi đã chôn cất anh ấy rất chu đáo ngay ở mỏm đất nhô ra lòng suối Ea Dah, gần xưởng!”
Sẵn kinh nghiệm nghề rèn gia truyền tại quê Nam Trực, Nam Định, ông Huy xác định: “Dấu tích của xưởng Quân giới chính là rỉ sắt và sắt vụn”. Và chỉ cần có vậy, ông liền thông báo: “Đã xác định được toạ độ nơi bố cháu nằm” với chàng rể hiếu thảo của người đồng đội.
Theo phương án của ông Huy, Huyện Đội Krông Năng chỉ đạo cho dân quân xã Ea Dah truy tìm rỉ sắt. Thực tế thì những rỉ sắt – di vật của xưởng quân giới đã phát lộ từ rất sớm tại một rẫy cà phê, người chủ rẫy đã từng khổ sở với cái thứ cứt sắt chết tiệt có thể tồn lưu hàng trăm năm kia, chính nó cùng với các mẩu sắt vụn đầu thừa đuôi thẹo đã làm cho người nhà và người làm công cho ông bao phen khốn đốn. Nay nghe nói: “Ven suối Ea Dah, nơi nào có nhiều rỉ sắt, gần đấy có hài cốt liệt sỹ”, thì hiểu vai trò lịch sử của nó và lập tức báo tin. Thế là hài cốt Liệt sỹ Nguyễn Quang Vinh được tìm thấy khá mau lẹ.
Đầu năm 2001, với cương vị Tham mưu phó Tỉnh Đội Đắk Lắk, Trần Quốc Huy đã cùng với Bí thư huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện M’Drak, TrưởngCông an huyện K’rông Pak, cùng hai CCB từ Phú Yên lên (trừ ông Huy, số còn lại đều là bạn cùng chiến hào), đến H1 tìm hài cốt hai Liệt sỹ Lê Anh Phương và Huỳnh Thị Lài. Nhờ công tác dân vận tốt mà các nhân chứng là người địa phương đã chỉ giúp hố chôn chung (do lính Nguỵ vùi lấp khi xưa). Chẳng những thế, người dân còn mang hương, hoa, lễ vật, cuốc xẻng cùng các CCB lập bàn thờ và góp công đào bới.
Khi hai bộ hài cốt được phát lộ thì một trở ngại lớn thử thách trí tuệ của mọi người: “Làm sao phân tách được xương của từng người đây?” Trong làn khói hương nghi ngút, các đồng đội đều hình dung, cảm nhận được hình hài của hai liệt sỹ đang hiển hiển mà lẩn khuất đột nhiên ông Huy hỏi:
- Có ai còn nhớ được diện mạo của hai người không nhỉ?
- Nhớ chứ!
Các đồng đội đều lên tiếng. Anh Phương có khuôn mặt chữ điền, cao to lực lưỡng mà rất hay cười, còn cô Lài thì thấp bé, thường bẽn lẽn và hay hát một mình.
Lời nói vừa dứt, đột nhiên bát hương bốc cháy, ngọn lửa rần rật làm cho tâm trạng đang bần thần của mọi người trở nên rờn rợn. Sau giây lát bóp trán trầm ngâm, ông Huy đĩnh đạc lên tiếng:
- Theo tôi, chúng ta phân tất cả các loại xương từ xương sọ, xương chi, xương sườn v.v… làm hai bộ nhỏ riêng, lớn riêng, tuy nhiên chỉ có một chiếc xương chậu có hai hốc ở hai bên thì thuộc về bộ nhỏ, đấy là xương chậu của phụ nữ và chính là hài cốt chị Lài, bộ kia là anh Phương.
- Tạ ơn Trời Phật! Đúng là một chứng lý khoa học!
Mọi người đều ồ lên mừng rỡ sau lời nhận xét của ai đó.    
Người cựu chiến binh, thương binh - Đại tá Trần Quốc Huy hết lòng vì đồng đội; một tấm gương điển hình của người Đảng viên - thương bình trong Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là nét đẹp của “Anh bộ đội Cụ Hồ”.

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

CHUYỆN ÔNG SABATIER SƯU TẦM KHAN ĐAM SAN Ở BUÔN MA THUỘT - tác giả TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018




   



Các già làng buôn Kô Siêr, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột kể lại rằng: khoảng đầu năm 1922, ông Sabatier được Toàn quyền Đông Dương cử làm Công sứ Đắk Lắk tại Buôn Ma Thuột, với mục đích thực hiện âm mưu bình định Tây Nguyên lâu dài. Đến vùng cao nguyên rừng thiêng, nước độc này, nơi mà người bản xứ Êđê, M'nông, Jarai cư trú từ lâu đời, với nhiều phong tục tập quán vô cùng huyền bí, ông Xabachiê phải dựa vào các tù trưởng người bản xứ để nắm bắt tình hình dân chúng. Riêng ở địa bàn Buôn Ma Thuột và một số địa bàn phụ cận, ông phải dựa vào tù trưởng Ama Thuột để tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống canh tác, và văn hoá của người Êđê. Với cách làm này đã giúp ông dần dần tiếp cận với người dân bản xứ để tìm hiểu về phong tục tập quán, đời sống văn hoá và tinh thần dân tộc của họ, nhằm giúp chính phủ Pháp đề ra những biện pháp thích hợp để cai trị người bản xứ trên cao nguyên Đắk Lắk.
Đầu mùa khô năm 1923, vào "mùa ăn năm uống tháng” của người Êđê, ông Sabatier được tù trưởng Ama Thuột mời dự lễ ăn trâu cúng sức khoẻ của mình. Tối đến, ông được dự buổi sinh hoạt nghe kể khan "Đăm San" tại ngôi nhà dài của tù trưởng Ama Thuột. Ông được tận mắt chứng kiến người dân đến nghe kể khan ngồi chật cả gian gah (gian khách). Họ ngồi nghe kể khan say sưa suốt đêm cho đến sáng. Buổi tối họ đến ngồi nghe kể khan như thế nào thì sáng sớm vẫn thấy họ ngồi đông nguyên như thế. Còn người kể khan là một ông gìa mù cả hai mắt, nhưng có trí nhớ tuyệt vời, giọng kể trầm ấm ngân vang. Ông già mù kể say sưa, đưa người nghe vào thế giới huyền ảo của câu chuyện. Nhìn nét mặt ông già mù lúc buồn, lúc vui, lúc giận dữ, lúc mơ màng như nhập thân vào từng nhân vật trong câu chuyện. Còn giọng kể, lúc thì nói theo câu vần, lúc thì đối đáp tâm sự khá hấp dẫn, lúc thì hát theo những vần điệu dân ca của dân tộc mình. Lời khan cứ thế tiếp nối nhau ngân nga bay vút lên trời cao rồi lắng sâu xuống lan toả vào từng ngôi nhà dài, từng bến nước buôn làng, từng rẫy nương rồi bay xa tận bốn phương trời. Đầu hôm, nghệ nhân kể khan ngồi trên chiếu hoa cạnh bếp lửa, về khuya ông nằm xuống chiếu hoa, đầu kê lên khúc gỗ tròn, tay phải đặt lên trán, mắt lim dim như mời gọi các nhân vật về trong trí nhớ của mình. Ông ta kể say sưa, đến lúc nào thấy khát nước, thèm hút thuốc thì ngồi dậy, mời bà con tạm nghỉ để uống nước, hút thuốc. Lúc này, chủ nhà lấy rượu cần từ ché cúng yàng lúc đầu hôm cho pô khan (nghệ nhân) uống để tạo thêm sự hưng phấn. Sau giờ giải lao, pô khan lại kể tiếp. Giọng pô khan lại trầm ấm vang xa đưa người nghe vào thế giới của ông bà xưa. Cứ thế pô khan kể say sưa, cho đến lúc con gà trống bên hiên nhà gáy vang báo hiệu trời đã sáng. Lúc này, pô khan dừng lại và nói: Chuyện khan còn dài lắm, mời bà con ta nghỉ, chuẩn bị lên rẫy, tối lại đến đây nghe tiếp. Nghe pô khan nói vậy, mọi người đứng dậy chào chủ nhà rồi ra về.
Qua người thông ngôn dịch lại, Sabatier bước đầu hiểu được nội dung của câu chuyện. Trước khi ra về, ông ta nói với ông Ama Thuột: Bài ca này rất lạ và khá hay, ông cho tôi nghe tiếp các tối khác nữa, được không? Ama Thuột gật đầu và nói: Mời ông Công sứ đến nghe tự nhiên như người dân buôn làng mình mà.
Tối hôm sau, ông Sabatier đến nhà Tù trưởng Ama Thuột sớm hơn. Ông gặp một người già đến nghe kể khan và hỏi: Ông ơi, khan là gì? Ông già trả lời: Khan ư! Nó chính là Klei Khan, là những câu chuyện xa xưa rất dài kể về những người anh hùng của người Tây Nguyên chúng tôi. Lời khan hay lắm, không có gì đẹp hơn thế. Dân làng chúng tôi thường nói: "cuộc sống thiếu tiếng khan như bữa ăn thiếu cơm, nhạt muối". Mỗi khi trong nhà có người kể khan, chúng tôi cảm thấy vui lắm, đàn bà thôi kêu la, trẻ con ngừng khóc, người già thôi kể chuyện rẫy nương, không hề ai ngủ, không ai nói chuyện, tất cả mọi người đều chăm chú lắng nghe lời khan.
Nghe ông già nói vậy, ông Sabatier, phần nào hiểu được giá trị các buổi nghe kể khan của người dân Êđê ở nơi này.
Thế rồi, ông Sabatier liên tiếp đến dự nghe kể nghe kể khan suốt bảy đêm liền tại ngôi nhà dài của Ama Thuột. Nhờ thông ngôn dịch từng đêm nghe ông già mù kể khan "Đăm San", nên Sabatier bị lôi cuốn về bài khan này. Nghe hết bài khan "Đăm San" ông Sabatier vô cùng ngạc nhiên và nói với Ama Thuột: Tôi rất xúc động, khi nghe lần đầu tiên bài ca "Đăm San". Nó rất hấp dẫn, nhưng khá buồn đã gợi cho tôi về quá khứ của người dân bản xứ và nó làm cho tôi có sự nghi ngờ. Ôi, đây là một sự phát hiện! Nó là một bằng chứng không thể chối cãi được rằng, những bộ lạc ở Cao nguyên Đắk Lắk đã có cuộc sống khác với người "Mọi" khốn khổ hôm nay. Tôi muốn ghi chép lại bài ca này, để phổ biến cho mọi người biết rằng, ở xứ sở lạc hậu này mà có một bài ca về người anh hùng làm rung động lòng người. Tôi phải tiến hành làm ngay, nếu để chậm, ông già mù mất đi, mang theo nó về thế giới bên kia thì sẽ không tài nào tìm lại được nữa. 
Ba ngày sau, Xabachiê bảo người thông ngôn mời ông già mù đến toà Công sứ kể khan "Đăm San" cho riêng ông nghe để ghi chép toàn bộ bài khan này. Hôm ấy vào dịp đầu tháng hai dương lịch, trời Tây Nguyên se lạnh, ông già mù trong trang phục của người Êđê, đóng khố và khoác trên người một tấm vải thổ cẩm đã cũ, sờn rách nhiều chỗ. Ông theo người thông ngôn vào toà Công sứ Pháp. Ông Xabachiê đón ông già mù tại phòng khách, mời ông uống nước rồi hỏi: Ông tên là gì? Ông già mù trả lời: Mình tên là Y Ka.
Ông Sabatier hỏi tiếp: Ông năm nay bao nhiêu tuổi?
- Mình năm nay bảy mươi mùa rẫy rồi.
- Ông biết kể bao nhiêu khan?
- Mình biết kể khoảng hơn chục khan thôi.
- Ông biết kể từ lúc nào?
- Từ khi mới lên 5 mùa rẫy, mình đi chăn bò với ông nội mình, khi thả đàn bò ra bãi cỏ cho nó ăn là ông mình kể khan cho lũ trẻ con cùng đi chăn bò nghe. Cứ thế, hết mùa rẫy này sang mùa rẫy khác nghe ông mình kể khan rồi mình nhớ vào trong cái đầu. Sau mỗi mùa rẫy là mùa ăn năm uống tháng, mình theo ông mình đi nghe kể khan trong các đêm lễ hội của buôn làng. Nhiều lần như thế mình nhớ và thuộc các khan của ông mình kể. Đến năm lên 15 mùa rẫy, mình kể khan cho lũ trẻ chăn bò nghe, và từ đó mình bắt đầu biết kể khan. Khi ông mình qua đời, mình thay ông kể khan cho bà con buôn làng nghe.
- Ông có gia đình không?
- Mình có vợ và hai con gái. Năm vợ mình được 37 mùa rẫy, một hôm bà ấy cùng đi lấy củi với ba người bà con, thì bị một cơn mưa giông bất ngờ đổ ập xuống, nước suối dâng lên cuốn trôi cả ba người mất tăm tích. Vợ mình mất từ ngày đó. Mình thương vợ khóc suốt mấy ngày liền, thế rồi hai mắt mình nó sưng lên và mình bị mù từ dạo đó. Hai con gái của mình lúc mẹ nó mất, đứa vừa 20 mùa rẫy, đứa 18 mùa rẫy, chúng nó đã có chồng cả rồi. Theo tục Chuê nuê (nối dòng) của người Êđê, sau lễ bỏ mả cho vợ mình, bà trưởng họ mang đến cho mình một cháu gái mới được 12 mùa rẫy, bắt mình lấy làm vợ. Tuy bụng mình không muốn lấy vợ nữa, nhưng theo tục Chuê nuê, mình phải chấp nhận, nếu không sẽ bị phạt và đuổi về nhà mẹ đẻ. Từ đó mình phải lấy đứa cháu gái làm vợ. Rồi một hôm, cô vợ trẻ của mình đi làm rẫy bị gặp cơn mưa, về nhà bị lên cơn sốt, mấy ngày sau thì mất. Nhà gái hết người nối dòng, nên mình phải trở về nhà mẹ đẻ. Mẹ mình lúc ấy đã mất rồi, nên từ đó mình sống một mình. Từ khi mình bị mù, mình cảm thấy kể khan hay hơn và được bà con trong buôn làng mình và các buôn lân cận mời hát kể nhiều hơn.
Ông Sabatier ngồi nghe ông già mù kể về quá khứ của mình, mà cảm thấy thương hại. Rồi ông nói với ông già mù:
- Mấy hôm vừa rồi tôi được nghe ông kể khan "Đam San" ở nhà ông Ama Y Thuột trong dịp lễ cúng sức khoẻ. Ông kể hay lắm. Hôm nay tôi mời ông đến đây để kể khan "Đăm San" cho riêng tôi nghe thôi. Ông có giúp không ?
- Ồ, kể khan phải kể trong nhà dài, có nhiều người nghe, và phải kể vào ban đêm, trước khi kể phải có lễ cúng yàng thì nó mới đúng phong tục của người Êđê. Còn kể ở đây cho một mình ông nghe thì tôi không kể được đâu.
Nghe ông già mù nói vậy, ông Sabatier liền nói với người thông ngôn: Giao cho cậu tìm một địa điểm thích hợp như ông già mù này nói, kể cả mời người nghe và có nghi thức cúng yàng trước khi kể khan nữa đấy.
Ba ngày sau, mọi việc chuẩn bị cho ông già mù kể khan đã hoàn tất. Địa điểm tại nhà người thông ngôn ở buôn Ea Tam. Thế rồi cứ mỗi buổi tối dân làng kéo đến ngồi chật gian gah chờ nghe kể khan. Chủ nhà làm lễ cúng thần linh xin phép kể khan bằng một ché rượu và một con gà trống choai. Sau nghi lễ này, ông già mù bắt đầu kể khan "Đăm San" cho ông Sabatier và dân làng cùng nghe. Theo yêu cầu của ông Sabatier thì pô khan phải kể chậm hơn mọi lần để thông ngôn vừa dịch vừa ghi chép. Cứ thế, ông già mù kể liên tục một tháng liền mới kết thúc bài khan "Đăm San". Trong quá trình nghe kể khan, ông Sabatier mới tận mắt thấy được ông già mù mỗi khi vào chuyện là kể say sưa, không kề thấy mệt. Nét mặt ông lúc vui, lúc buồn, lúc giận dữ. Lời khan ông kể lúc khoan thai, lúc trầm lắng, lúc dồn dập bay bổng thiết tha làm cho người nghe bị lôi cuốn, không bao giờ bỏ lỡ một buổi nào.
Ông Sabatier thấy dân làng đến nghe kể khan" Đăm San" nhiều lần mà không biết chán, ông liền hỏi một người già trong buôn Ea Tam: Khan "Đam San" có gì hấp dẫn mà mọi người thích nghe đến thế?
- Ồ, khan "Đam San" được dân làng chúng tôi yêu thích, vì chúng tôi phục chàng Đam San có tài đánh tù trưởng nào cũng thắng. Người ta thích theo Đam San lên nói chuyện với Yàng Trời, đi chơi khắp rừng núi, đi bắt cá dưới sông suối, đi chơi đẩy cây, đi thả diều từ ngày này sang ngày khác vui lắm và còn theo chàng đi lên nhà Nữ thần mặt trời cầu hôn nàng về làm vợ nữa. Ở đây, từ pô khan là ông già mù cho đến dân làng chúng tôi, tất cả đều tin rằng mỗi lần nghe kể khan, các nhân vật trong bài khan đều hiện về sống với dân làng và dân làng được sống với các nhân vật anh hùng trong những giây phút rất linh thiêng.
Qua lời tâm sự này của người nghe kể khan, ông Sabatier càng khâm phục người dân bản xứ về sự cảm nhận tác phẩm khan "Đăm San" mà người Pháp gọi là "Mọi". Ông cho rằng cách gọi này là khinh miệt người dân bản địa. Với suy nghĩ này đã thúc dục ông bắt tay vào dịch tác phẩm này. Sau một năm sưu tầm khan "Đăm San", Sabatier và người thông dịch đã hoàn thành bản thảo tác phẩm này bằng song ngữ Êđê-Pháp. Ông đặt tên là "Bài ca chàng Đam San", rồi gửi về nước Pháp xuất bản và công bố vào năm 1927. Tác phẩm này đã gây dư luận trong các nhà nghiên cứu Folklore ở các nước phương Tây. Họ không ngờ một xứ sở cao nguyên trung phần của Việt Nam, dân chúng còn lạc hậu mà có một tác phẩm văn học dân gian khá độc đáo. Họ xếp tác phẩm này ngang hàng với tác phẩm anh hùng ca "Bài ca chàng Rô Lăng" của người Pháp và một số tác phẩm anh hùng ca của phương Tây như Iliat, Ô đixê của Hômerơ ở Hy Lạp.


Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

SƯU TẦM VĂN NGHỆ DÂN GIAN TÂY NGUYÊN ĐI TỪ KHÔNG ĐẾN CÓ - tác giả LINH NGA NIÊ KDAM - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018



                                              


Kho tàng văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên không chỉ đồ sộ mà còn vô cùng độc đáo. Đó  là những “Bảo tàng sống” về đời sống xã hội của một tập hợp phong phú các tộc người bản địa, của tín ngưỡng đa thần giáo; của hệ thống các phong tục tập quán riêng biệt; của những áng văn chương truyền miệng dài hơi mà các nghệ nhân hát kể “suốt ngày dài đêm thâu”; của nhịp điệu ching chêng và vòng suang quyến rũ những bàn chân trần, những đôi tay mềm nâu màu nắng; của những câu hát giao duyên ngọt ngào trong điệu sáo, tiếng ting ning những đêm trăng cao nguyên vời vợi....
Ngay từ khi người Pháp đặt chân đến miền đất Tây Nguyên, bề dày và tính độc đáo của văn hoá dân gian Tây Nguyên đã cuốn hút các ông bà Tây mắt xanh mũi lõ. Không phải ngẫu nhiên mà một nhà văn hoá lớn như Comdominas nhiều năm sau, sang tận thế kỷ XXI còn nặng lòng khát vọng trở lại với vùng văn hoá anh em Mnông Gar (Đắk Lắk). Hoặc một Sabatier đã gần như “lãng quên” cả vai trò công sứ, khi sưu tầm và dịch sang tiếng Pháp không chỉ trường ca Dam San,mà còn cả bộ luật tục hàng trăm câu bằng vần của người Êđê. Hay Anne De Mautecloque ăn dầm nằm dề để tìm hiểu và viết “Người Êđê, một chế độ mẫu quyền”. Hoặc một Đức Cha Jacques Dournes yêu đến chấp nhận từ bỏ tất cả, sống và chết với Tây Nguyên ....
Cũng từ những năm tháng ấy, bước chân các học giả, các nhà nghiên cứu các miền như Nguyễn Đổng Chi, Cửu Long Giang, Toan Ánh... đã lần lượt bước sau nối tiếp bước trước hành trình tìm đến Tây Nguyên, để có những “Mọi Kon Tum” (nay được xuất bản dưới tên gọi “Người Bâhnar ở kon Tum),  “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” cho đến hôm nay vẫn còn là những tác phẩm khiến người đọc phải lưu tâm bởi tính xác thực của những tư liệu gốc... Còn tại Hà Nội, khi đất nước đang bị tạm chia làm hai miền, những bản trường ca, sử thi bất hủ của Tây Nguyên ra mắt dưới dạng tác phẩm văn học (Đam San, Xing Nhã, Đam Phu...), những điệu múa, làn điệu dân ca độc đáo... đã được các nhà sưu tầm nghiên cứu giới thiệu với bạn yêu văn học nghệ thuật trong và ngoài nước.
Từ sau 1975, việc sưu tầm nghiên cứu văn hoá cổ truyền Tây Nguyên  được đặt thành trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều người, và dần trở thành đích đến không thể thiếu của những người làm công tác nghiên cứu  khoa học văn hoá xã hội, văn nghệ dân gian.
Năm 1982, ngành văn hoá các tỉnh Tây Nguyên, với sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu VHNT thành phố Hồ Chí Minh, đã tổ chức lớp KPVAC (khai thác, phát huy văn hoá âm nhạc cổ truyền) tại Đắk Lắk, đặt những dấu ấn đầu tiên cho công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá - văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên, ngay tại Tây Nguyên. Lần đầu tiên bài học vỡ lòng của phương pháp sưu tầm có “bài bản” qua đo đạc, ghi âm, ghi hình, ghi chép... được các thầy tỷ mỷ hướng dẫn, trò trân trọng tiếp thu. Lớp học ngày ấy có cả anh chị em yêu thích công tác sưu tầm văn hoá của không chỉ Tây Nguyên, mà còn ở các tỉnh Bình Định, Phú Khánh, Quảng Ngãi... tham gia. Đó có thể được coi là những hạt giống đầu tiên của công tác sưu tầm văn nghệ dân gian, được thế hệ đi trước nâng niu gieo xuống miền Trung và mảnh đất đỏ bazan màu mỡ.
Từ ngày hồi sinh, năm 1989, Tây Nguyên ngay lập tức trở thành một trong những địa chỉ được đặc biệt chú trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu của Hội VNDG Việt Nam. Hình ảnh các giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Phan Đăng Nhật... miệt mài, lặn lội ghi âm, chỉnh lý;  các Giáo sư Tô Vũ, Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Xuân Kính say sưa trên bục giảng ươm gieo không chỉ kiến thức mà còn cả sự tận tuỵ với nghề... như những tấm gương trên con đường dài vạn dặm dẫn đến với văn hoá cổ truyền Tây Nguyên.
Hạt giống các thày gieo xuống đất màu Ba Zan đã nên cây, mỗi ngày thêm xanh và ra hoa kết trái. Chi hội VNDG đầu tiên ở Tây Nguyên đã được thành lập ở Trường Cao đẳng sư phạm Đắk Lắk. Tiếp đó là chi hội Kon Tum, rồi chi hội Gia Lai, Lâm Đồng... lần lượt ra mắt. Đội ngũ rải rác khắp Tây Nguyên đã có nơi chốn tập hợp lại để hỗ trợ nhau cho cùng một mục đích: bảo tồn văn hoá truyền thống.
Tôi luôn nhớ về những người bạn đồng nghiệp, như tiến sỹ Tấn Vịnh: từ lúc chỉ là những bài viết vừa tròn một trang vở học trò, cho đến lúc là  tiến sỹ vẫn thuỷ chung với kho tàng văn hoá dân gian các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên. Hay nhà thơ Văn Công Hùng, từ chỗ chỉ tò mò kể lại một cách vô tư (thậm chí còn hơi ác cảm) những tập tục, đã dần chuyển sang tình cảm yêu mến và trân trọng những giá trị nhân bản của văn hoá phong tục Tây Nguyên. Hoặc NSƯT Vũ Lân, nhà sưu tầm Trương Bi (Đắk Lắk), hoạ sỹ Phùng Sơn, cố nhạc sỹ Phạm Cao Đạt (Kon Tum), cố nhạc sỹ Y Sơn Niê (Đăk Lăk), Nguyễn Quang Tuệ, Nguyễn Thị Kim Vân, nghệ sỹ Trần Phong (Gia Lai), K’Ra Zan Plin (Lâm Đồng)... mê mải tháng năm với những cây đàn, điệu múa, mảng hoa văn cổ, những bức tượng nhà mồ, từng trang sử thi... như người bới  tro tìm ngọc, đưa ra ánh sáng, cho di sản văn nghệ Tây Nguyên chói loà lên trong ánh nắng mặt trời rực rỡ của cao nguyên. Rồi những nghệ nhân già, các “báu vật dân gian” đắm say với việc “giữ hồn của rừng” như nghệ nhân Điểu Kâu, các cụ Điểu Klứt, Điểu Glung (Mnông), A Lựu, Gang, A Ya (Bâhnar), Âe Wưu, Y Yơn (Êđê), mà không ít cụ đã bay về cõi ông bà xưa... Kể không hết được những người đã sát cánh  trên con đường góp phần gìn giữ tinh hoa của đời sống văn hoá truyền thống trên mảnh đất cao nguyên. Chỉ tiếc, ngoài các nghệ nhân, số anh chị em người dân tộc bản địa thực sự gắn bó, đam mê công tác sưu tầm nghiên cứu để gìn giữ và bảo lưu văn hoá truyền thống của chính mình vẫn còn quá ít.
Đội ngũ những người làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian Tây Nguyên đã đi từ không đến có, không chỉ được tập hợp lại, mà còn ngày một trưởng thành về nghề nghiệp, đủ sức đứng vững trên nhiệm vụ công tác và niềm say mê của chính mình, mà các giải thưởng hàng năm của Hội VNDG Việt Nam trao cho Trương Bi, Tấn Vịnh, Linh Nga Niê Kdam, Nguyễn Quang Tuệ... nghiên cứu của các tiến sỹ Thu Nhung Mlô Dun Du, Tuyết Nhung Buôn Krông, các thạc sỹ, người sưu tầm trẻ các dân tộc bản địa dấn thân vào con đường nghiên cứu văn hoá dân gian Tây Nguyên như  Lý Vân Linh Niê Kdam, Y Chen Niê (Êđê), Nay Kỳ Hiệp, Kpă Tố Nga, Siu H’Ril, Siu Tâm (Jrai), Y Tuyn Binh (Mnông), Phạm Thị Trung, Phạm Văn Hoàng (Sê Đăng), Y Phương (Bâhnar), K’ra Zan Đick (K’Ho)... là những minh chứng sống động.
Bên cạnh con người là tác phẩm. Từ lúc chỉ là “cái bóng” của các nhà khoa học trung ương, cho đến lúc chuyển từ những người sưu tầm sang nghiên cứu chuyên sâu. Như Tuyết Nhung Buôn Krông với vai trò mẫu hệ trong sử thi. Linh Nga Niê Kdam với đặc tính âm nhạc trong trường ca, sử thi. Phạm Thị Trung, Nay Kỳ Hiệp với tâm linh của người Sê Đăng và Jrai. Y Tuynh Bing, Kpă Tố Nga, Y Phương… với các lễ bỏ mả Mnông, Jrai, Bâhnar. Lý Vân Linh Niê Kdam với nhạc cụ dân gian của người Êđê Kpă. Lý Sol, Mang Linh Nga với nghệ thuật múa dân gian, Nga Ri vê với văn hoá dân gian Ka Dong, Hrê… Không chỉ đào sâu, minh chứng sự phong phú, độc đáo mà còn cả vai trò, vị trí, lẫn hiện trạng, giải pháp bảo tồn của nghệ thuật diễn xướng trong đời sống của các tộc người Tây Nguyên… kể sao hết được.
Mừng đội ngũ mỗi ngày mỗi đông. Vui lắm với những tác phẩm, những công trình nghiên cứu giới thiệu vẻ đẹp của văn nghệ dân gian Tây Nguyên ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên văn đàn. Tiếc lắm những nghệ nhân – Báu Vật Dân Gian đã mang theo cả kho tri thức Tây Nguyên khổng lồ đi về cõi Mang Lung. Thương lắm tấm lòng những con người ngày đêm lặng lẽ gạn đục khơi trong, làm sống lại cả một nền văn minh nương rẫy Tây Nguyên, trong đó có “Không gian văn hoá cồng chiêng” đã được thế giới công nhận là “Di sản văn hoá đại diện của nhân loại”.


Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018

NGƯỜI “THẦM THỨC CÙNG TIẾNG CHIM” - lời bình của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018





Một người ít khi thấy ồn ào. Có lẽ anh thuộc típ người hướng nội. Những người như thế thường có đời sống tình cảm phong phú nhưng cũng đầy phức tạp luôn được giấu kín. Giả dụ có ai đó trách cứ, thậm chí dùng những lời nói hơi quá quắt anh cũng mặc kệ, chỉ cười, cùng lắm mặt hơi đỏ một chút. Anh ít tham gia nêu ý kiến trực diện, nếu có phát biểu thường chỉ tìm lời khen, những lời chẳng động chạm, ảnh hưởng gì tới người giao tiếp. Sống như thế nên anh hiếm khi làm mất lòng ai. Với bất kì một đối tượng nào anh đều có thể làm vừa lòng, kể ra sống như thế là rất khó chứ chẳng dễ dàng chút nào. Người cho anh là mưu mô, tính toán nhưng cũng không ít người cho anh là khiêm tốn, nhã nhặn. Thôi thì mặc kệ, biết làm sao, ở đời mà! Còn tôi, tôi chỉ quan tâm tới đời sống sáng tạo của anh. Đến nay anh đã ra mắt bạn đọc các tập thơ sau: “Hoa trong cỏ” và “Thầm thức cùng tiếng chim” Đủng đỉnh trăng về.
Anh là nhà thơ Trần Phố, sinh năm 1950, vào Hội VHNT Đắk Lắk từ năm 1992. Quê anh nổi tiếng với danh thần Trương Đăng Quế, từng giữ chức Thượng thư bộ Lễ, bộ Lại, bộ Công, bộ Binh, là đại thần của viện Cơ mật, được thăng Hiệp điện Đại học sĩ thời nhà Nguyễn. Mảnh đất Quảng Ngãi ấy đã sinh nhiều văn nhân mà đến nay danh tiếng của họ người đời còn ngưỡng mộ như Bích Khê, Tế Hanh... Dù muốn hay không, có ý thức hay vô tình ngẫu nhiên, anh may mắn sinh ra ở nơi đất có linh khí của núi sông thì ít nhiều hơi hướng ấy cũng ám ảnh vào suy nghĩ, tình cảm. Đó là điều không thể khác được. Còn điều đó có phát sáng hay không thì lại là một vấn đề khác vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nữa như: năng khiếu, ý chí, nghị lực, văn hoá, xã hội, trình độ...
Cuộc sống hàng ngày dường như không ảnh hưởng tới công việc làm thơ của anh. Bởi anh tham gia vào rất nhiều công việc khác nhau, thậm chí có công việc trái ngược hẳn với việc làm thơ (nhìn theo một khía cạnh nào đó). Như vậy khi làm thơ, anh đã gột bỏ hoàn toàn những tính toán so đo này nọ sang một bên. Có người đọc thơ anh cho rằng con người ngoài cuộc sống mưu sinh của anh trái ngược hẳn với con người trong thơ. Đó cũng là một dạng biến hình con người trong muôn mặt cuộc sống này mà thôi có gì lạ. Lại có người cho rằng nếu nhìn nghiêng một chiều thuần tuý về đời sống mưu sinh hàng ngày của anh thì không thể làm thơ được vì bụi bặm cuộc sống nhiều quá, bám chặt quá, còn đâu giây phút tĩnh lặng với thơ. Ấy vậy mà không phải với riêng anh, anh vẫn “thầm thức cùng tiếng chim” và vui cùng “hoa trong cỏ” đấy thôi.
Sinh ra trên cõi nhân gian này là một hạnh phúc, hạnh phúc ấy có được là nhờ mẹ của ta. Mẹ ta đau đáu nuôi ta khi còn lẫm chẫm, lại đau đáu ngóng mong khi ta nơi xứ lạ. Hình ảnh mẹ trong thơ anh vừa thực vừa ảo, buồn mênh mang bao thương nhớ: “Vời trông mây núi bay màu nhớ/ Vóc mẹ hao gầy tóc trắng phau” (Nhớ mẹ). Viết, nói về mẹ chẳng khi nào đầy chỉ có vơi thôi trong tâm tưởng. Anh đã lách ngòi bút mà vẽ lên hư không hình ảnh mẹ dù có một vài chữ đã nhiều người dùng nhưng ở cặp câu thơ này vẫn xôn xao một tâm trạng, tâm trạng ấy khiến người đọc cảm động và yêu mẹ ngày một đượm thấm hơn. Trong đường đời, thời gian có khi cảm thấy chóng vánh lạ lùng, có khi lại thấy chậm chạp vô cùng. Ấy là vì tâm của ta thường quay về quá khứ. Thường thì quá khứ bao giờ chẳng đẹp, bao giờ chẳng lung linh sắc màu. Và anh nhớ về tuổi thơ của mình: “Mải mê theo cánh chuồn kim/ Bước chân nhè nhẹ con tim phập phồng” (Một thời cổ tích). Thơ của anh mới chỉ dừng lại ở tả nhưng hình ảnh chú bé tinh nghịch, say mê, thích chí với thú chơi muôn đời của trẻ thơ hiện ra sinh động, đầy phấn khích và đáng yêu vô  cùng. Cuộc sống ồn ã hôm nay, những cánh chuồn chuồn mỏng manh kia có bao giờ trở lại? Cánh chuồn chuồn đã mất hút trong xa vời thương nhớ rồi phải không? Con người khi ở một độ tuổi nào đó, thường hay nhớ nghĩ về thời quá vãng dù nó có đẹp hay chưa đẹp nhưng những gì nó hiện ra trong dòng quá vãng nhớ thương kia bao giờ cũng lấp lánh sáng hẳn lên. Anh nhớ về cái xóm nhỏ Gò Mạ nơi anh thoát thai cất tiếng khóc chào đời, xóm nhỏ ấy hiện ra thanh bình, yên ả, đáng yêu: “Như con thuyền xanh/ Xóm tôi Gò Mạ/ Ruộng đồng vây quanh” (Xóm tôi). Cái xóm Gò Mạ ấy được anh vẽ lên với đủ đầy sắc màu, có vị ngọt của nước giếng khơi, có màu xám của mây chiều khi đông về, có thanh âm buồn day dứt của tiếng quốc kêu chiều chiều ngoài rặng tre đầu xóm, tiếng mẹ ru vây quanh làn khói bếp đùn lên mái tranh trong một chiều xa xưa nào đó.
 Thơ anh có một mảng ghi dấu những nơi bước chân anh đã đi qua. Nó chỉ thoảng qua nhưng cũng kịp lưu lại cái giây phút khó quên ấy: “Lên Bản Đôn cưỡi voi/ Dạo chơi miền cổ tích/ Rời nhà cổ, mộ xưa/ Giật mình: Đời gang tấc!” (Bản Đôn). Với bài thơ bốn câu này rất dễ bỏ qua, ba câu đầu chỉ là hành động kể mà giọng kể dường như trung tính chưa có cảm xúc nhưng câu thứ tư mang đến cho người đọc một chút suy tư tuy cái suy tư ấy nhiều người đã nói. Với cố đô Huế, anh có cái nhìn khá ấn tượng: “Vắt ngang Huế, tà áo dài thơ mộng/ Hương Giang trôi êm ả, yên bình/ Khuya khoắt gọi rắc màu u tịch/ Con thuyền về đánh giấc bến Vân Lâu.” (Đêm cố đô). Viết về Huế rất khó vì rất nhiều người đã viết, nếu không khéo người viết sau sẽ bị trùng lặp và điều này không tránh khỏi ở khổ thơ này. Song khổ thơ này, anh đã phát hiện ra chiều sâu của hồi quang quá khứ luôn luôn hiện hữu trong không gian thời gian hiện tại. Ra Hạ Long, anh để lại cho người đọc một hình ảnh đáng nhớ: “Tung rèm mây hang Trinh Nữ êm đềm” (Với Hạ Long). Lên Tây Bắc, anh bắt được câu thơ mang tính khái quát cao: “Khói sương đâu đó về đây cả” (Tây Bắc), những câu thơ như thế trong thơ anh hơi hiếm.
Trong các sáng tác của Trần Phố có nhiều bài thơ mang tính suy tư, ngẫm nghĩ  về đời, về người. Anh ước ao: “Nụ chồi lên cho nắng chuyển mùa.” (Quẳng  gánh vô thường). Đó là một cái nhìn tươi trẻ có tính chuyển lưu sự sống. Anh tự răn mình: “Góc gai đời tráo quên quên hết” (Tuổi năm mươi). Giọng hơi lên gân một chút nhưng không sao, anh tự nhủ đấy thôi vì khi tuổi đã năm mươi mà vẫn: “Giọng hót say mùa thở/ Xôn xao khắp đất trời” (Ngày mới). Giọng thơ “xôn xao” này hình như anh mượn tạm của nhà thơ Thanh Hải thì phải? Dẫu sao nó cũng bổ sung nhựa sống cho: “60 tuổi cháy vèo như điếu thuốc”. Chúng ta cảm thông cùng nỗi niềm nuối tiếc với anh. Người đọc có lẽ sẽ rất quý sự suy nghĩ này của anh: “Vó ngựa đã chồn theo bụi đỏ/ Buông cần... câu một chút lãng quên” (Đi câu). Tâm trạng này là tâm trạng thực của anh và có lẽ cũng là tâm trạng của nhiều người. Bước chân của anh đã in dấu trên đường đời bao nhiêu rồi nhỉ, cuối cùng anh nhận ra: “Và hạnh phúc không đầu không cuối/ Giữa dòng/ Trong đục, ngẩn ngơ.” (Tạ ơn). Anh thương người hay thương chính mình: “Thương thân đại thụ giữa rừng cô đơn” (Lên đỉnh Chư Yang Sin). Nhiều khi anh có cái nhìn khá ấn tượng: “Phía trước em mượt mà xinh đẹp/ Phía sau em gian dối lọc lừa” (Phía sau em). Anh đã phần nào nêu bật bản chất của đối tượng. Bao giờ chả thế, sự vật – con người bao giờ và lúc nào cũng tồn tại đồng hành hai mặt đối lập, cái quan trọng ở chỗ hành xử mà thôi.
Thú thực rằng thơ của anh hơi ít phát hiện những điều mới lạ và độc đáo. Có bài còn sơ lược về cấu tứ và cảm xúc chưa sâu. Đọc thơ anh có cảm giác những điều anh biểu hiện chỉ dừng lại ở bề mặt bên ngoài mà chưa thực sự đi sâu vào vỉa tầng của suy tư, chính vì thế thơ anh lúc có cảm xúc dồi dào thì nhẹ về tìm tòi, lúc ánh lên chiều sâu tâm trạng lại dàn trải hình ảnh, cảm xúc. Nói vậy để chúng ta càng trân trọng hơn những gì anh đã đem lại cho người đọc. Anh từng nói: “Văn chương ngẫu hứng mấy dòng chơi”. Vâng, anh ngẫu hứng để chơi mà được như thế cũng đáng nể rồi. Rất mong anh có nhiều lần ngẫu hứng để bạn đọc được “thầm thức” cùng với anh.