Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

VƯỢT MIỀN KÝ ỨC bút ký của PHAN MAI HƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 314 - THÁNG 11 NĂM 2018


Nhà văn Phan Mai Hương

Trở lại Tây Nguyên lần này đối với tôi như được trở về ngôi nhà thân thuộc. Nhớ có lần bạn gọi rủ rê hãy vào Tây Nguyên mùa khô, sẽ thấy cao nguyên đất đỏ thắm chan cùng trời xanh mây trắng nắng vàng. Bạn sẽ được thoả thuê nhìn tận mắt và  đi trong thảm vàng dã quỳ miên man.
Chẳng biết tự khi nào, dã quỳ mang trọn linh hồn Tây Nguyên như một điều đương nhiên. Cứ càng nắng gắt khô khát, màu dã quỳ càng vàng tươi rực rỡ. Dường như bao nhiêu mầu mỡ của đất đỏ ba-zan tình tự với hạt mưa rừng Tây Nguyên mà dồn hết cả vào bông dã quỳ  vàng tươi tắn. Hoa dã quỳ Tây Nguyên khiến cho liên tưởng đến những con người di cư đến miền cao nguyên và đơm hoa kết trái sâu rễ bền gốc ở nơi có hạt đất đỏ núi lửa mầu mỡ kết tinh của hai mùa mưa nắng.
 Bây giờ đang tháng Tư, là đỉnh điểm mùa khô, hoa dã quỳ cũng đã hết. Tôi không gặp dã quỳ, mà chìm luôn trong nắng chang chang như thể không gắt gay được hơn thế nữa. Nhưng cuộc gặp gỡ với đồng hương Tây Bắc trên vùng Tây Nguyên lại chan chứa nhiều ngọt ngào, háo hức, mừng vui như cơn mưa sớm trước mùa mưa.
 Trên hành trình mưu sinh, con người luôn tiến hành những cuộc di cư vĩ đại  qua các miền đất để  chọn cho mình nơi sinh sống tốt nhất. Cũng nhờ những cuộc di cư mà những miền đất hoang vu được khai phá và thấm đẫm giọt mồ hôi nước mắt của con người. Lịch sử xã hội và con người Việt Nam cũng để lại những cuộc di cư khác nhau. Tôi dầm chân trong cái nắng gắt gay của Tây Nguyên mùa khô để hình dung những âu lo héo hon trong cuộc di cư của những con người đi tìm kế sinh nhai trên miền đất mới. Vì rất nhiều lí do khác nhau mà bà con các dân tộc thiểu số Tây Bắc di cư đến Tây Nguyên.
Có cuộc di cư do lịch sử để lại vào năm 1954. Tôi đã đọc tài liệu ở đâu đó rằng đây là thời điểm diễn ra cuộc di cư khổng lồ, có quy mô lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Cái ngày diễn ra cuộc di cư đó, tôi vẫn đang còn là hạt bụi trôi nổi vô định đâu đó trong vũ trụ này. Nên bây giờ, tôi chỉ hình dung cái quy mô lớn của nó diễn ra bằng vài dòng mà lịch sử kể lại, đó là những kiến thức hạn hẹp được học trong nhà trường. Tôi  chỉ phần nào thấu hiểu thân phận của những con người bỗng chốc phải rời bỏ quê hương mà không hẹn ngày trở lại. Cuộc chuẩn bị để xa biệt nơi chôn rau cắt rốn, nơi có mồ mả tổ tiên ông bà đâu có phải dễ dàng gì? Chắc chắn họ ra đi mà mang trong lòng nỗi niềm đau đáu về nơi chôn nhau mà không biết bao giờ trở lại.
Vậy người dân di cư đã làm được gì cho mảnh đất đã cưu mang họ? Quê hương mới có mang đến cho ngươi di cư một cuộc sống như mong muốn không? Người dân di cư đã gặp những khó khăn gì? Thế hệ tiếp nối đã đón nhận hiện tại và tương lai như thế nào? họ đã và đang cư xử với quá khứ ra sao? Sau hơn nửa thế kỷ rời xa nơi chôn rau cắt rốn để xây dựng cuộc sống nơi quê mới, người  dân di cư  đã có thể có cuộc sống an cư lạc nghiệp hay không? Miền cao nguyên là nơi sinh sống chính của các dân tộc Bana, Jalai, Êđê,  nay tiếp nhận đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Bắc, và cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên vẫn ẩn chứa biết bao điều cần phải khám phá.
Tôi  xúc động và có cảm giác như được trở về nhà, khi nhà văn Nguyễn Liên, người ra đón tôi ở sân bay Buôn Ma Thuột, kể rằng sân bay Buôn Ma Thuột có tên là sân bay Hoà Bình. Khu dân cư ở liền kề sân bay cũng mang tên Hoà Bình. Lý do rất đơn giản, đây là khu cư dân của người Mường Hoà Bình di cư từ  năm 1954. Hầu hết, người Mường Hoà Bình đều tập trung sinh sống ở nơi này, làm nên một cộng đồng quan trọng trong ngôi nhà chung các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Bạn sẽ ngỡ ngàng khi gặp rừng cây sao đen hàng trăm tuổi, xanh tươi lừng lững trải dọc con đường dẫn vào sân bay. Tôi nghĩ những cánh rừng cây sao đen được giữ gìn và chăm sóc rất tốt, kể như từng cọng lá xanh cũng được nâng niu, đã làm nên vẻ đẹp khó quên của thành phố cao nguyên. Phải chăng những tán cây sao đen xanh tốt kia như nhân chứng đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và cuộc sống của cộng đồng người Mường Hoà Bình di cư đến nơi đây.
Bây giờ, sân bay Hoà Bình đã đổi tên là sân bay Buôn Ma Thuột, và khu dân cư đổi tên là xã Hoà Thắng. Chúng tôi có cuộc gặp ngắn ngủi với lãnh đạo xã, và đón chúng tôi là chị Nguyễn Thị Loan, Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã Hoà Thắng.  Chị Loan vui vẻ kể rằng chị cũng là dân di cư, từ quê Hải Dương vào đây lập nghiệp ngót 30 năm rồi. Chị đưa ra cho chúng tôi những số liệu cơ bản về cộng đồng người Mường, gồm có 3 thôn: Thịnh Lang, Cao Phong, Mường Bi, chủ yếu là dân di cư từ 1954. Ở xã Hoà Thắng, văn hoá truyền thống của người Mường được bảo tồn rất tốt. Những lễ nghi như lễ Lúa Mới vào tháng 10, lễ Khai Hạ vào tháng Giêng đều được đồng bào Mường ở Hoà Thắng tổ chức trọng thể và linh đình. Tôi nhớ, có lần vào dịp Tết Nguyên Đán 2017, chị Linh Nga Niê Kdam, là nhạc sĩ dân tộc Êđê và là người có nhiều đam mê và nghiên cứu rất sâu sắc về văn hoá dân gian của tỉnh Đắk Lắk có gọi điện thoại và kể về cảm xúc thú vị và háo hức của chị khi đang dự lễ Khai Hạ của người Mường ở Hoà Thắng. Chị  Linh Nga đã làm cho tôi cứ ước ao một lần được tham dự một trong lễ nghi truyền thống quan trọng bậc nhất, đón một mùa trồng cấy mới của dân tộc Mường ở miền đất cao nguyên xa xôi. Thì hôm nay đây, tôi đã mang niềm mong ước ấy vào với Buôn Mê Thuột như đất khát đợi cơn mưa.
  Chị Loan cho biết, xã Hoà Thắng đã giữ gìn và bảo tồn rất tốt nền văn hoá truyền thống của dân tộc Mường, đặc biệt là phong tục tập quán của người Mường Hoà Bình. Trong đó bộ môn nghệ thuật cồng chiêng Mường được chú trọng lưu giữ và có kế hoạch phát triển rất chu đáo. Công tác xây dựng đội nghệ thuật cồng chiêng được Đoàn thanh niên tổ chức rất quy củ và bài bản, nghiêm túc. Các bạn trẻ được tuyển chọn đều có tâm hồn yêu nhạc cụ truyền thống dân tộc Mường. Các buổi tập luyện đánh cồng chiêng được những cụ già nghệ nhân tận tình hướng dẫn, chỉ dạy cho người trẻ. Đội nghệ thuật cồng chiêng Hoà Thắng luôn có mặt tham dự hầu hết các sự kiện văn hoá của thành phố Buôn Ma Thuột. Trong ngày Hội Văn hoá Thể thao các dân tộc năm 2017, tiết mục biểu diễn cồng chiêng Mường của xã Hoà Thắng được trao giải nhì. Nếu so sánh với cộng đồng người Mường sống ở  huyện Buôn Đôn, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ truyền thống gần như bị lãng quên, hoặc không thể khôi phục thành nề nếp như ở Hoà Thắng. Phải thừa nhận rằng việc giữ gìn nét văn hoá truyền thống ở Hoà Thắng đã tạo nên một cộng đồng người Mường rất đoàn kết ở Tây Nguyên, góp phần làm phong phú thêm màu sắc cho bản đồ sắc tộc của vùng Tây Nguyên.
Trong đời sống tinh thần của người Mường, tín ngưỡng thờ thần linh cũng là một mặt quan trọng của đời sống văn hoá truyền thống. Người Mường ở Hoà Thắng rất có ý thức bảo tồn đời sống tâm linh của cộng đồng. Chính quyền xã Hoà Thắng  rất ủng hộ trong công tác bảo tồn văn hoá tâm linh dân tộc Mường. Các thôn Mường đều có đình làng dùng làm nơi tế lễ và sinh hoạt văn hoá tâm linh. Các ngôi đình Cao Phong, đình Thịnh Lang, đình Mường Bi, đều được xây dưng và tu bổ khang trang. Đình là biểu tượng tinh thần cho mỗi thôn Mường và do các thôn đó tự quản lí. Các ngôi đình được dùng làm nơi tổ chức các sự kiện, các nghi lễ quan trọng của cộng đồng Mường ở xã Hoà Thắng.
Tôi đến ngôi đình của thôn Mường Bi, thấy có khuôn viên rất rộng rãi và được xây cất khang trang. Nhà thờ chính nối liền nhà hội họp nép dưới bóng rợp của cây đa xoè tán che mát một vùng rộng lớn, trước mặt là cánh đồng mênh mông. Cũng phải đợi một lát thì ông chủ tế Đinh Thế Đổng mới vội vã chạy đến mở cổng, thắp hương trên ban thờ và cẩn trọng mời vào lễ. Ông Đổng nói vì không được báo trước nên đã  không kịp chuẩn bị chu đáo hơn.
Ông Đinh Thế Đổng thuộc dòng dõi nhà quan lang ở Mường Bi (Hoà Bình). Năm 1954 cha mẹ ông di cư vào Buôn Ma Thuột và cắm chốt ở mảnh đất Hoà Thắng, khi ấy còn là rừng rậm um tùm. Ông kể, hồi nhỏ còn thấy cha bắt được cầy cáo và heo rừng nhiều vô kể. Được sinh ra ở  Buôn Ma Thuột - năm 1960 -  nghĩa là ông Đổng là thế hệ đầu tiên ở đây trưởng thành trên đất Tây Nguyên. Qua hai thế hệ lập nghiệp, đến nay cuộc sống gia đình ông Đổng đã rất ổn định và chắc chắn. Các con của ông Đổng đều đã trưởng thành. Con gái học đại học sư phạm và hiện đang là cô giáo trường tiểu học gần nhà. Thu nhập của gia đình chủ yếu từ rẫy cà phê. Khi tôi hỏi về số thu nhập cụ thể, ông Đổng hơi ngập ngừng, cũng ít thôi, thì cỡ khoảng chừng trăm triệu gì đó. Có lẽ ông Đổng không biết đấy là con số trong mơ của những người nông dân? Ông Đổng vui vẻ kể về công việc tự nguyện làm  thủ từ ở đình Mường Bi. Đây là công việc ông nhận làm tự nguyện vì việc mưu sinh cũng đã không còn vất vả nữa. Ông vui vẻ khoe, sau hơn 60 năm sống ở Tây Nguyên, đại gia đình với các con và các cháu cũng đã trưởng thành, có cuộc sống sung túc, an yên. Ông chỉ nói nhiều về cộng đồng Mường và ngôi đình mà ông hết lòng chăm sóc.
 Ở ngôi đình này, ông Đổng cùng với cư dân thôn Mường Bi tổ chức những lễ nghi hằng năm, lễ Khai Hạ mùng Bẩy tháng Giêng, lễ rằm Tháng Bẩy, lễ Cơm mới tháng Mười, lễ đón Năm Mới. Kinh phí hoạt động nhờ vào sự đóng góp tự nguyện của các hộ dân trong thôn. Có thể tuỳ theo khả năng kinh tế của từng hộ, nhưng ít nhất là 100 ngàn đồng cho một năm.
Người Mường thôn Mường Bi vẫn giữ nguyên tập quán dân tộc Mường khi xây dựng ngôi đình. Tập quán người Mường vốn sinh sống nơi vùng thấp ruộng nước, nhất định phải là cây đa bến nước. Ông Đổng dẫn tôi xuống phía bờ tre um tùm, che khuất con suối chảy ngang hướng đông nam của  đình. Nếu không xuống tận nơi, tôi cũng không biết đó là con suối. Mùa khô này, con suối cạn sạch nước nhưng mùa mưa sắp đến rồi, sẽ đủ tưới nước cho cả cánh đồng lúa mênh mông trước mặt.
Ông Đổng nói rất yêu thích công việc này. Vào ngày mùng Một và ngày Rằm, ông Đổng vẫn qua lại thắp hương trên ban thờ và quét dọn lá rơi rụng. Tuỳ theo vùng miền, nhưng về cơ bản thì người Mường không có tục lệ thắp hương thường xuyên ngày rằm và mùng một. Nhưng theo tâm lý thì phải chăng giữ gìn nơi thờ cúng cho sạch sẽ gọn gàng thì tâm linh thanh thản nhẹ nhõm hơn. Ông Đổng yêu thích công việc và găn bó thực sự với ngôi đình. Việc chăm sóc lễ nghi truyền thống khiến cho cộng đồng người Mường Hoà Thắng vơi bớt nỗi nhớ quê hương. Đồng thời, như một sợi dây kết nối khăng khít với ông bà tổ tiên ngoài quê cũ. Ông Đổng kể rằng ngoài quê cũ vẫn còn có họ hàng, và ông cũng mới về Bắc thăm người thân. Nhưng bây giờ quê mới lại là nơi có quá nhiều gắn bó khiến cho không thể xa lâu được. Tự nguyện bỏ thời gian và tâm sức ra phục vụ cộng đồng, mỗi cá nhân sẽ làm cho cuộc sống cộng đồng người Mường nơi đây ngày càng được kết nối khăng khít bởi đời sống văn hoá tâm linh lành mạnh.
 Nếu đất nước phải đi qua những trang sử thăng trầm vì những cuộc chiến tranh tiếp nối. Thì số phận con người thực sự là những người khổng lồ khi phải mang vác những gánh nặng éo le và bất ngờ mà lịch sử mang lại. Chị Bùi Thị Hạnh đã vào tuổi lục tuần nhưng vẫn giữ được dáng hình mảnh mai với khuôn mặt xinh xắn, mỏng mày hay hạt, với giọng nói nhỏ nhẹ gần như giữ nguyên âm sắc Mường Bi. Chị Hạnh thủ thỉ kể với tôi về những thăng trầm mà bản thân chị và gia đình đã trải qua trong chiến tranh, tính từ thời điểm 1954, khi cha mẹ di cư vào Buôn Ma Thuột.
Người cha Bùi Văn Diên, ở ngoài Bắc từng theo hầu nhà Lang Mương Bi, đã từng đi lính thay cho nhà Lang, đóng quân ở Hà Nội 2 năm.  Ông mang cả gia đình vào Đắk Lắk năm 1954. Cho đến  năm 1961 tham gia đội lính của Lang Đinh Công Tuân, nuôi dưỡng mục tiêu lý tưởng là thành lập quân đội riêng, giành chiếm đất dựng ấp, lập cơ nghiệp nhà Lang trên Tây Nguyên. Hồi đó, đội lính Mường của các quan nhà Lang Mường khá đông và mạnh, nổi lên ở nhiều nơi, trong đó tiêu biểu là đội lính Mường của Quách Công Liên ở Đồng Nai, đội lính Hà Công Tố ở Buôn Trấp là của người Mường Phú Thọ. Sau này,  khi đội lính của lang Mường bị dẹp yên, thì ông Bùi Văn Diên đăng lính. Ông đã từng là gián điệp, được đưa ra ra miền Bắc nhảy dù ở Thanh Hoá thì bị bắt. Từ năm 1964 tới năm 1983 ông Diên sống ở trong các trại cải tạo trên miền Bắc, nhưng gia đình không hề biết. Năm 1984, ông Diên trở về Hoà Thắng sống cùng gia đình. Ông Diên mất năm 2001, thọ 70 tuổi
Sự mất tích của ông Diên đã khiến gia đình làm đám ma hai lần, trong đó có làm ma khô theo phong tục Mường để cho người vợ có thể tự do đi lấy chồng. Chị Hạnh kể về người cha với giọng xót xa nhớ thương, vì tuổi thơ của ba chị em Hạnh vắng bặt bóng cha. Đến khi cha trở về, thì thời gian sống cùng gia đình lại quá ngắn ngủi. Phải hiểu sâu sắc những thiệt thòi, mất mát ấy là do bi kịch lịch sử mang lại. Thế nên, khi kể chuyện, chị Hạnh vẫn giữ nét an nhiên như  đời người phải nương bóng số phận mà men theo.
Người mẹ là Nguyễn Thị Sen, năm nay 92 tuổi, hiện đang sống cùng gia đình chị Hạnh. Theo lời chị Hạnh kể thì mẹ chị rất xinh đẹp. Khi cha bị mất tích thì có nhiều người ngỏ lời cầu hôn với bà. Đặc biệt là lang Đinh Công Tuân đã từng công khai theo đuổi và dùng mọi cách ép buộc cô Sen về làm vợ. Khi ấy, cô Sen buộc phải đóng giả làm đàn ông để tránh sự ép gả cho nhà Lang. Để nuôi ba đứa con khôn lớn, bà Sen đã làm rất nhiều nghề, làm ruộng rẫy, bán bánh ở chợ. Hồi chiến tranh, xã Hoà Thắng vốn là vùng giáp ranh, ban ngày là của chính quyền Cộng Hoà, nhưng ban đêm lại là của bộ đội và du kích kháng chiến. Chị Hạnh chỉ tay ra phía đường quốc lộ, trước mặt chỗ chúng tôi trò chuyện và nói đằng kia là ấp chiến lược và hàng rào dây thép gai. Nhưng chỗ mình đang đứng đây – cách đường quốc lộ khoảng 500m – là rừng rú rậm rạp, nơi bộ đội và du kích về với dân. Sống ở vùng đất giáp gianh cài răng lược, người đàn bà Mường khéo léo và đảm đang ấy vừa bán bánh nuôi con, vừa làm giao liên cho bộ đội du kích. Thư từ, súng đạn, đồ tiếp tế cho bộ đội du kích được khéo léo giấu dưới mẹt bánh. Bà Sen làm giao liên suốt những năm chiến tranh mà không bị lộ là nhờ vào nhan sắc xinh đẹp, sự thông minh và khéo léo.
Khi kể về mẹ, chị Hạnh không giấu được niềm cảm phục mẹ, xen lẫn ngậm ngùi khi nhắc lại ký ức khủng khiếp, người ngoài khó mà tưởng tượng được nỗi đau khổ  khi cuộc đời người đàn bà 92 tuổi mà có tới hai lần làm đám ma cho chồng. Tôi cũng cố gắng mà cũng không thể hình dung hết nỗi vất vả cay đắng mà bà Sen đã mang trên đôi vai mảnh khảnh, đã đi qua số phận bằng nghị lực mạnh mẽ khác thường. Mới hiểu và ngẫm ra, lịch sử thường được thiết lập từ những cuộc đời người dân bình thường vô danh, những người dân cần cù sống trên miền đất họ từng gắn bó. Mặc dù số phận éo le hay suôn sẻ, họ đều ghi dấu ấn vào trang lịch sử bi tráng và hào hùng của dân tộc.
Chúng ta thường nói về những bi kịch đời người rằng đó là số phận phải mang. Như những suy nghĩ quá quen thuộc như lối mòn trong suy nghĩ. Chúng ta lại  thường nói ra những điều to tát như số phận dân tộc, vận mệnh đất nước. Nhưng giờ thì tôi nghĩ khác, phải chăng những điều hay được nói bằng những lời đao to búa lớn kia vẫn đang tồn tại một cách giản dị trong những gia đinh có đứa con buộc phải  lìa xa quê hương.
  Trong không gian bản làng của người Mường, bên bờ ao hoặc lối đi xuống suối, người Mường không thể thiếu những cây sung mật quả bám trĩu trịt quanh gốc cổ thụ sần sùi vệt múi thời gian. Nếu như có thể ví những đứa con lưu lạc xa quê ấy đã bị những éo le của khoảnh khắc lịch sử rứt ra khỏi dòng họ như trái sung mật bị rứt ra khỏi gốc cây. Nhưng ở nơi quê mới, họ vẫn sinh sống một cách can trường để vượt lên trên số phận. Phải chăng, chính những người dân bình thường vất vả và lam lũ mới làm nên sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S yêu dấu này.
 Thì bây giờ, ở tuổi 92, cụ Sen đã có thể hưởng phúc an yên cùng con cháu. Cuộc đời cụ Sen khiến tôi thấu hiểu hơn về miền đất cao nguyên đã từng thấm máu và mồ hôi công sức của nhiều thế hệ người Việt Nam đi qua chiến tranh.
 Phải chăng ngày nay, chúng ta cần có cách nhìn nhiều góc độ hơn, toàn diện hơn về quá khứ. Bất cứ cuộc chiến tranh nào thì người dân cũng phải mang vác những bi kịch éo le. Nếu ai đó có nhắc lại thì cũng là để nhớ rằng chiến tranh gây chia lìa ly tán biết bao gia đình. Nhớ lại để cho lòng người biết sống bao dung và biết chia sẻ hơn. Nhắc nhớ quá khứ bi kịch eo le như một cách để chúng ta thanh thản hơn, để nhìn về cuộc sống tương lai chỉ đơm hái những mùa hoa trái ngọt ngào.
Kể về bản thân chị Hạnh lại rất  bình thản, là cái an nhiên của người đã từng đi qua núi cao vực sâu. Nếu từ hồi nhỏ, chị Hạnh đã cùng mẹ làm ruộng làm rẫy và phụ mẹ buôn bán nuôi các em, thì hiện giờ chị vẫn làm từng ấy công việc nuôi con và chăm sóc mẹ già. Có chăng là thêm việc trông coi cửa hàng photocpy thêm thắt vào cuộc sống hàng ngày. Thu nhập từ rẫy cà phê cũng được khoảng từ 80 đến trăm triệu một năm, đủ cho chi phí vào những việc lớn trong gia đình.
 Vào tuổi học hành, chị Hạnh cũng được mẹ cho đi học hết phổ thông trung học. Chị nói vẻ đầy nuối tiếc, tuy học rất khá nhưng lí lịch gia đình phức tạp thì làm sao vào được trường đại học? Bây giờ, những đứa con của chị Hạnh đã học bù lại cho phần của mẹ. Cô con gái học xong đại học và đang làm ngành ngân hàng. Cậu con trai đang học đại học dưới thành phố. Chị rất tích cực tham gia công tác ở xã, hiện đang đảm nhiệm phụ trách đoàn thể phụ nữ của thôn Mường Bi. Chị nói, cuộc sống hiện tại như thế là tốt lắm rồi, và không mong ước gì hơn. Hai vợ chồng chị vẫn khoẻ mạnh để chăm sóc mẹ già, để nuôi dạy các con trưởng thành trên quê mới.
Dù không sinh ra ở quê gốc Mương Bi, nhưng chị Hạnh vẫn đau đáu nỗi nhớ quê. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, chị Hạnh đã viết thư về quê tìm họ hàng, và chị  đã được gặp lại hai người chú và một người bác. Đôi mắt nâu ngời sáng, thể hiện niềm vui của chị Hạnh khi kể về Mường Bi quê gốc vẫn là nơi chốn cho chị đi về thăm hỏi. Ngẫm ra, thế hệ thứ hai như chị Hạnh đã có cách nhìn và cách nghĩ năng động với tư duy rộng rãi hơn, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất dân Mường, hiền lành chân chất mộc mạc như  đất đồi sau nhà, con suối trước ruộng.
 Dường như mỗi thời khắc biến động của lịch sử đều in dấu lên số phận đời người. Chấp nhận và kiên cường vượt lên trên số phận là bản chất của những người nông dân miền núi Tây Bắc nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Từ vùng núi đá, người Mường Tây Bắc mang thói quen lao động cần cù trung thực để sống với miền đất đỏ cao nguyên. Những người con xa quê Mường lại làm nên một vùng Mường đậm bản sắc văn hoá, làm cho quê mới trở nên ấm áp hơn, và nhất là không thể rời xa vì đã gắn bó như phần máu thịt của quê hương. Lại ước mong có một dịp Tết Nguyên Đán nào đó được nếm ngụm rượu cần ngọt ngào mà dễ say lòng người ở đình Mường Bi trong lễ Khai Hạ trên miền cao nguyên. Tôi tạm biệt Hoà Thắng với nhiều lưu luyến vì biết rằng không dễ để trở lại.


Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

CHUYỆN THẦY Y DHANG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN đăng trên tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số: 526 - ra ngày 29 tháng 11 năm 2018



Trong một lần về thăm buôn Krông Pa dưới chân dãy núi Krông Á xanh ngắt, cao chọc trời, giống như một bức tường thiên nhiên phân định ranh giới của của hai tỉnh Đắk Lắk - Khánh Hòa, tôi có dịp ngồi uống rượu cần bên bếp lửa nhà ông giáo già Y Đhăng.
Dãy nhà sàn dài gần trăm mét, trong đó một phần ba làm phòng khách, nơi sưởi ấm, tiếp khách và uống rươu; phần còn lại từng gian một được ngăn ra làm phòng ngủ cho các gia đình thuộc dòng họ bên vợ chung sống. Ông Y Đhăng có khuôn mặt cương nghị, tuổi ngoài bảy mươi, cao, gầy; đặc biệt đôi mắt có gì đó như ẩn chứa một nét u buồn. Ông cời đống than đỏ rực đặt mấy miếng thịt khô, lật qua lật lại… mùi thơm tỏ ra ngào ngạt.
- Thịt nai à thầy? - Tôi hỏi
- Thịt heo của buôn chia phần đấy.
Ông nói giọng buồn buồn. Ma(1) Hen cán bộ Phòng giáo dục Huyện đi cùng tôi cười xòa nói với ông Y Đhăng.
-Đây là anh Vân Trang – nhà báo về huyện ta công tác, tiện đường đi tôi dẫn ghé thăm anh.
      Ma Hen quay sang tôi:
- Anh biết không, thầy Y Đhăng thời thanh niên không chỉ là một thầy giáo dạy giỏi mà còn là tay võ sĩ cừ khôi của cả vùng này đó.      
- Thật  thế sao?
Như đoán đuợc suy nghĩ của tôi về người thầy giáo gầy gò ngồi trước mặt đã từng nổi tiếng một thời, ama Hen nói:
- Trước đây, vào khoảng năm 1977-1978 trở về trước, cả vùng phía đông huyện này chỉ có rừng là rừng, đi mỏi chân mới thấy một buôn nằm lọt thỏm giữa rừng. Thú rừng nhiều vô kể, ngoài hổ, báo, voi, gấu, bò rừng, min… thường kéo về theo một chu kỳ nhất định của vòng quay kiếm ăn; còn heo, nai, khỉ, dọc… thì cứ đàn này đi, đàn khác kéo về quấy phá thường xuyên. Cuối năm 1978 thầy Y Đhăng về phụ trách lao động trường nội trú huyện, thường dùng tài lẻ của mình kiếm thức ăn cho cả trường. Thời ấy, kinh tế còn khó khăn, thực phẩm khan hiếm, vận động được các em học sinh rời buôn làng, xa ama amí(2) đến trường học là cả một vấn đề. Nhưng thầy Y Đhăng đã làm được và làm tốt là nhờ một phần vào tài giỏi võ nữa đấy. Chuyện thầy đi đón học sinh chiều chủ nhật, tay không đánh gục gấu ở dốc Cổng Trời hay tiếng thét của thầy làm chúa sơn lâm phải cụp đuôi bỏ chạy ở đèo 519 đã trở thành truyền thuyết của vùng này…
*
**
Vào chiều chủ nhật đầu tháng, thầy Y Dhăng thường đạp xe đạp đến dốc Cổng trời đón các em học sinh từ vùng căn cứ cách mạng ra học. Gọi dốc Cổng Trời, vì nó rất cao so với khu vực xung quang, một bên rừng già, một bên suối sâu, cách xa khu dân cư, thú dữ lại nhiều. Mỗi tháng các em được về nghỉ chiều thứ bảy tuần đầu của tháng, qua chiều chủ nhật phải trở lại trường. Ami ama đưa các em đến đỉnh dốc quay về, còn từ đỉnh dốc xuôi về trường hơn chục cây số ra gần đường quốc lộ là đồi cỏ gianh ít nguy hiểm và được các thầy cô thay nhau đến đón. Hôm đó khoảng bốn giờ chiều, thầy Y Dhăng đến chân dốc dựng xe đạp bên đường rồi leo lên dốc đón học sinh.
Thầy Y Dhăng mới leo lên lưng chừng dốc đã nghe tiếng học sinh la hét hoảng loạn trên đỉnh dốc. Chạy lên một chút thấy các em hốt hoảng lao xuống dốc, nhiều em ngã lăn lông lốc như hòn đá. Phía sau các em, một con gấu cao hơn mét, đen thui, chỉ có một vệt trắng hình chữ V trên cổ nhãy chồm chồm phía sau. Thầy vội thét lên, lao đến trước mặt gấu đứng thủ thế. Thấy người lớn đến, con gấu đứng bật dậy bằng hai chân sau, hai chân trước khua khua trong không khí, lừ lừ tiến lại. Chờ con gấu lại đúng tầm, thầy Y Dhăng vung tay ném hòn đá to như cái chén ăn cơm trúng ngay mõm con gấu. Con gấu hãi quá đứng khựng lại, rồi đổ mình xuống đi bằng bốn chân. Thầy Y Dhăng lại vung tay choảng cho nó một hoàn đá nữa trúng vào đầu; chắc bị đau, con gấu sợ chạy biến vào rưng.
Chuyện của thầy trị thú dữ bảo vệ học trò nhiều như lá rừng, kể hoài không hết; nhưng rồi một tai nạn khủng khiếp giáng xuống thầy vào đúng thời điểm bất ngờ nhất, đau đớn nhất trước sự chứng kiến của thầy cô và học sinh toàn trường...
Giọng ama Hen chợt chùng xuống, anh vít cần uống một hơi dài, rồi chuyển cần cho ông Y Dhăng:
- Để tôi kể tai nạn của thầy Y Dhăng cho anh nghe.
Thầy Y Dhăng không nói gì, đôi mắt buồn buồn nhìn chăm chăm vào đống lửa. Tiếng ama Hen rì rầm, rì rầm . . .

*
*     *
  
Hôm ấy mấy thầy trò trường Dân tộc nội trú huyện tổ chức lao động phát cánh đồng sậy rộng chừng một héc ta sát ngay chân núi Krông Á. Đám sậy mọc khá tốt, cao lút đầu người. Ở giữa đám sậy có con suối chảy qua, quanh năm nước màu riêu cua, váng vàng nổi lên từng đám lững lờ trôi theo dòng nước. Chính đây là nơi lí tưởng cho bầy heo rừng ẩn nấp trước khi về phá hoại hoa màu. Học sinh tham gia lao động khá đông vì không chỉ để có đất tăng gia, sản xuất, mà còn giúp dân bảo vệ hoa màu và đuổi lũ heo vào rừng sâu. Hơn hai chục thầy cô và gần bốn trăm em học sinh tuổi mười ba đến  mười bảy, dàn hàng ngang từ cuối đám sậy phát ngược suối lên phía chân núi cao. Từ sáng đến gần trưa phát được khoảng một nửa.
Thầy Y Dhăng bận họp nên gần trưa mới vào thăm các em lao động. Đến bên đám lau sậy học sinh đang phát, con xám đi theo thầy Y Dhăng bỗng đứng bằng hai chân sau, hai chân trước khua khua trong không khí như con gấu đuổi ong mật rồi lao thẳng xuống mặt sình, nhãy chồm chồm qua đám lau sậy vừa bị chặt đổ. Thầy Y Đhăng vội kêu lên:
-         Thầy cô và các em lên triền đồi ngay, có heo rừng đấy.
Thầy cô giáo và học trò vội vã dừng phát, kéo nhau lại chỗ thầy Y Dhăng đang đứng. Bỗng tiếng con chó xám cất tiếng sủa ông ổng từng tiếng một như đếm, sau gào lên dữ dội hơn.
Mấy em học sinh lớn nhanh chân đạp lau sậy lên trước, còn cô bé H’Trang Bya học sinh lớp bảy từ chân đồi đối diện lội sình băng qua bên này với các bạn, mới vượt qua được một nửa đám sình phát dở đã nghe tiếng chó sủa cuống quýt vừa chạy vài bước, ngã dúi xuống sình. Thầy Y Dhăng vội cầm cây xà gạc(3) nhảy ngay xuống sình chạy lại phía H’Trang để giúp.
R…ầm r…ầm, đám sậy như có đàn trâu rừng đuổi nhau làm cây gãy, tiếng lội nước vang lên. Tiếng sủa của con xám im bặt, nhưng đám sậy rung lên bần bật như có trận gió lướt qua xuôi theo dòng suối về phía đám sình mới phát. Con xám lao vút ra, nhảy thoăn thoắt trên đám sậy vừa phát, phía sau cách độ chục mét, một con heo rừng to đùng, dài bằng sải tay người lớn có hai chiếc răng nanh màu vàng như hai quả chuối bên mép, nhảy chồm chồm đuổi theo phía sau. Có lẽ vì sình lầy, nước ngập đến nửa bụng nên heo chạy không nhanh. Trong khi ấy, H’Trang cũng đang cố chạy, nhưng hình như quýnh quá, cứ bước vài bước lại trượt chân xuống sình, ngã úp mặt xuống đám sậy mới phát.
Con heo nhìn thấy người liền bỏ con chó quay ngoắt sang phía H’Trang lao đến như con trâu điên lồng trong bùn. Thầy Y Đhăng thét lên:
-         Huầy, huầy, huầy!
Trên bờ, thầy cô và học trò thi nhau hò hét, có mấy em còn nhanh tay vớ luôn nắp xoong nồi nấu nước gõ liên hồi mong con heo sợ bỏ đi. Mặc người hò hét, mặc tiếng gõ ầm ĩ của nắp xoong, con heo vẫn nhằm H’Trang lao đến. Cũng vừa lúc thầy Y Đhăng băng đến, nắm lấy tay H’Trang kéo mạnh về phía mình rồi đẩy ra phía sau. Con heo rừng lao xộc đến, đôi mắt trắng dã long lên. Một thầy giáo đứng bên mép sình thấy thế cũng vội vã lao xuống, đạp lên đám lau lách vừa phát, băng qua đám sình, lại kéo H’Trang lên bờ.
Con heo nhắm thẳng thầy Y Dhăng lao đến, cái mõm dài ngoằng, cái đầu to như cái chậu lớn đen bóng, riêng cái lưng heo lông mọc dựng ngược lên dài gần gang tay trông rất dữ tợn. Chờ con heo lao gần đến nơi, thầy Y Dhăng vung cây xà gạc trên tay chặt một nhát thật mạnh vào trúng vai trước con heo làm rách một miếng lớn lòi cả một khúc xương vai, rồi nhảy qua bên tránh cái mồm há to đầy răng nhọn của con heo xộc đến. Con heo hụt mồi, quay ngoắt lại làm nước bùn bắn tung tóe rồi nhằm thầy Y Dhăng lao lại. Con chó xám nhảy chồm chồm qua đám sậy mới phát nhắm đít con heo lao tới, cắn vào chiếc đuôi heo đang cong lên, giật mạnh. Con heo quay đầu định cắn con xám nhưng con xám đã nhanh nhẹn nhảy tránh qua bên rồi bỏ chạy ra xa. Không đuổi theo chó, con heo quay lại nhằm thầy Y Dhăng lao tới, thầy vung xà gạc chặt một nhát thật mạnh vào đầu con heo, nhưng do đám sậy dưới chân không chịu được sức nặng bất ngờ tụt xuống làm lỡ đà nên lưỡi dao chỉ phạt được một mảng da bên mõm lại trúng ngay chiếc răng nanh con heo làm xà gạc văng lên trời, tuột khỏi tay bay đi mất. Thầy ngã chúi xuối, hai tay chống xuống mặt sình; khi đứng lên được, bùn ngập đến ngang bụng vừa lúc con heo ập đến…
Trên bờ, nhiều tiếng thét hãi hùng vang lên, có em đã bật khóc quay lại ôm chặt lấy nhau không dám nhìn xuống sình; mấy thầy giáo vội vã vác xà gạc lao xuống tiếp sức, nhưng từ trên mép sình xuống đến chỗ con heo phải trên năm chục mét, làm sao kịp. Con heo mắt trợn ngược, chân trước còn lại đạp lên ngực, giơ chiếc mõm dài, hai bên chìa ra hai chiếc răng nanh to như quả chuối định cắm vào mặt thầy Y Dhăng. Thầy Y Dhăng lấy hết sức lực dồn vào đôi tay rắn chắc của mình bóp chặt hàm dưới đẩy mõm con heo lên. Con heo rừng muốn ghì chết kẻ thù của nó; còn con người vì sự sinh tồn cũng cố móc tay vào yết hầu đẩy mõm nó lên. Không biết thầy Y Dhăng cầm cự được thêm bao lâu, khi cánh tay tê dại dần, cái chết đã lơ lửng trên đầu. Đúng lúc đó con xám xuất hiện, nó cắn vào cán dao xà gạc kéo lại sát bên chủ, ngay dưới mõm con heo. Làm xong cái việc phi thường đó, nó lấy hết sức lao vào chiếc chân trước bị chém, nhằm miếng xương bả vai của con heo lòi xương ra,  gặm một miếng rõ to, giật mạnh. Con heo đau đớn hộc lên một tiếng, quay ngang táp vào chân sau con xám. Một tiếng rắc khô khan vang lên, con heo đã cắn đúng chân sau con xám, lắc mạnh. Con xám kêu lên một tiếng thảm thiết, văng ra xa. Thầy Y Dhăng cố hết sức cầm cây xà gạc con xám vừa kéo đến thọc thẳng lưỡi dao vào mồm con heo vừa há ra định cắn vào mặt thầy. Cây xà gạc xuyên vào mồm con heo, thọc xuống cổ họng cũng vừa lúc ấy mấy thầy giáo chạy xuống đến nơi tiếp ứng...
*
**
Thầy Y Đhăng được đưa vào bệnh viện điều trị gần ba tháng mới lành vết thương. Khi kéo xác con heo rừng lên bờ, mọi người phát hiện ra chân sau của nó bị mới dính bẫy, mất một bàn chân; có lẽ vì thế nó mới trở nên hung dữ khủng khiếp đến vậy. Còn con xám cũng được mấy em học trò đưa về chăm sóc, đắp thuốc chữa trị, tuy thoát chết, nhưng cụt mất một chân.

CHƯƠNG 5 - LY RƯƠïU CÔ NHẮC trích tiểu thuyết "Thủ lĩnh N'Trang Lơng" của ĐỖ TRỌNG PHỤNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 314 - THÁNG 11 NĂM 2018





Hăng-ri-mét trầm tư đi lại trong phòng, ly rượu Na-pô-lê-ông màu nâu đặc sánh, thứ rượu hắn thích kề sát môi mà vẫn chưa muốn uống. Hương vị Cô nhắc ủ lâu năm trong thùng gỗ sồi, thứ gỗ ở vùng núi Li-mô-sin thuộc tỉnh Cô-nhắc (miền nam nước Pháp), làm nên hương vị đặc biệt không lẫn vào đâu được. Hắn có thú thưởng thức Cô-nhắc theo kiểu riêng, nhấp môi, để rượu thấm dần lan toả khắp cơ thể. 
Ngoài sân, mấy tên lính người bản địa đi đi lại lại khuân vác súng đạn (những thứ mà hắn vừa đưa ra trộ lũ dân đen) cất vào kho vũ khí. Lũ chúng mặc quần soọc, mình trần trùi trũi phơi nắng, mồ hôi nhễ nhại nhấp nhoáng dưới ánh trời oi ả.
Hắn thấy khó chịu vì thứ thời tiết thất thường. Buổi sáng trời trong xanh gió mát, gần trưa nắng hầm hập, oi nồng; giống cái ngày hắn và cô bạn gái Ma-ri đến Cô-nhắc, buổi trưa cũng nắng đổ mồ hôi, sang chiều bão tuyết sầm sập đổ. Điều khác biệt hoàn toàn với Cô-nhắc, xứ rừng Mọi này lấy đâu ra bão tuyết, nắng đổ lửa thiêu đốt liền sáu tháng, trời đất khô rang, chọc trời cũng không ra giọt nước.  
Hắn giật mình. Mới đó mà đã bốn mùa đông, ngày hắn cùng Ma-ri cô gái tóc vàng xinh đẹp đến rừng Cô-nhắc. 
Hôm ấy là ngày tuyết rơi. Ban đầu còn rơi nhẹ. Những bông tuyết tơi xốp lay phay dính trên mũ Ma-ri lấp lánh ánh kim cương. 
Ma-ri phủi tuyết vương trên mũ.
- Ấy đừng!- Hắn giơ tay ngăn lại.
- Sao thế anh?- Ma-ri mỉm cười, nụ cười ẩn chứa tình yêu nồng cháy. 
Nàng đẹp như ngọc. Cả tâm hồn nàng cũng tinh khôi, chưa hề vương bận.
Hắn nhớ đôi tay ngọc ngà của nàng, nhớ đôi môi đỏ mọng như đoá phù dung, cùng đôi mắt huyền nói nhiều điều, mà mọi ngôn ngữ trên thế gian đều bất lực! 
Ma-ri giơ tay hứng tuyết, phủi nhẹ những bông tuyết vương trên ngực, rồi cài khuy áo Măng-tô cho hắn. Hắn cảm nhận được mọi điều từ cử chỉ ân cần chăm sóc ấy, có cả hương thơm dịu ngọt của cánh rừng phong mùa lộc biếc. 
Hương vị thần tiên ấy, theo hắn những lúc rong ruổi trên lưng voi trèo đèo lội suối, điền dã trên mọi nẻo đường Cao nguyên nam Đông Dương kỳ thú, khi xuống Cà Tum, lúc ngược lên Đắc Lắc, Kon Tum chốn rừng sâu heo hút, gian nan vất vả mấy hắn cũng cam lòng.
Một bên là Ma-ri xinh đẹp thánh thiện, một bên là nước Đại Pháp thân yêu, người ta cho phép hắn chọn một; chọn một, không được chọn hai? Ai hiểu con tim hắn nghĩ gì? Với hắn, càng yêu Ma-ri nồng cháy, thì tình yêu mẫu quốc càng lớn, bởi trong nước Đại Pháp có Ma-ri xinh đẹp!
Ma-ri biết, trong ngực “người đá” này có hai con tim: một cho nàng, rộn rã nồng cháy lúc đôi môi tìm nhau trong băng tuyết; một đang hừng hực vì Tổ quốc, với tinh thần thượng võ của vị Hoàng đế Na-pô-lê-ông Bô na pác sáng giá, thứ lửa đam mê hút hồn mỗi công dân nước Đại Pháp. Đó là khát vọng: Mặt trời không tắt trên nước mẹ thân yêu.
Hắn không hề hấn, dồn hết trí lực cho sự nghiệp vì đất nước. 
Mãi sau này, cả những lúc vui buồn nơi xứ người, hắn không sao cắt nghĩa nổi cho sự dấn thân vô vọng đó?
Tuyết rơi mỗi lúc một dày. Bầu trời trăng trắng, đùng đục màu nước gạo. Dường như khối băng tuyết khổng lồ nặng trĩu đang sập xuống đầu hai đứa. 
Gió giật mạnh, trời nổi giông bẻ gãy một nhánh sồi. Ma-ri giật mình co rúm lại. Hắn giang tay ôm chặt nàng, che chở cho con tim nàng đang đập ình ịch hối hả vượt bão giông. Hắn biết bụng nàng muốn gì? Gió quật ầm ầm. “Ào ào!..Rắc rắc!..” 
Cây thông gần đó không chịu nổi sức gió gãy gục, chẻ đôi tới ngọn, bật tanh tách lên lên xuống xuống theo chiều gió. Bất giác, nỗi buồn uất ức vô cớ xâm chiếm. Hắn dắt tay Ma-ri lao xuống dốc. Hai đứa chạy tút vào ngôi nhà dành cho thợ gác rừng. 
Ngôi nhà nhỏ liêu xiêu mái tôn cũ nát, có chỗ nhìn thấu trời, thưng ván bao quanh bằng bìa gỗ sồi lâu năm lở lói, long tróc vì lũ mối và chuột đục khoét. Căn nhà ẩm thấp, mốc thếch, chứng tỏ lâu ngày không có người ở, mỗi chiều vài ba mét, cho người ta trú tạm, vừa đủ đặt cái giường và ba cục đá trên tấm sắt làm bếp nấu ăn và sưởi ấm. Cạnh bếp còn mấy thanh củi mục. Cái giường nhỏ cũng tạm bợ bằng gỗ sồi, bốn chân là bốn cái chạc cây chôn xuống đất. Mặt giường ghép bốn miếng gỗ, còn nguyên vết răng cưa, đóng trực tiếp vào thanh ngang bằng thứ đinh to mười phân, nhưng được cái bằng phẳng và vững chãi.  
- May quá! Lúc trời sập có nơi nghỉ tạm - Hắn mừng rỡ nói - Có chỗ trú vào lúc này còn quí hơn ngôi nhà.
Với hắn, dầm mưa dãi nắng là thường, còn cục cưng nõn nà xinh đẹp không thể dầm tuyết được. Bông phù dung không thể đứng trước bão! 
Bây giờ trời có sập thì hắn cũng mặc, đã có chỗ ôm nhau, đứng hay ngồi cũng được.
Ma-ri không nói. Cô ôm hắn ghì xiết, níu giữ, như sợ thế lực thần quyền nào đó cướp mất người yêu. Hắn cũng bện chặt Ma-ri. Hai đứa quyện vào nhau như dây rừng quấn quít dựa vào cột góc nhà, ở chỗ ấy mái tôn kín, không nhìn thấy trời.
Gió rít lên từng chập, mưa xối xả quất ràn rạt xuống mái nhà, từng miếng tuyết lọt thỏm qua lỗ thủng rơi thọp xuống nền ván lát cũ kỹ. Cánh rừng đắm chìm trong màu trắng dịu dàng.
Hắn nhìn ra ngoài. Cái màu trắng hiền dịu của tuyết đang giết chết màu đỏ rực yêu thương của thảm lá dưới rừng sồi. Rừng sồi đang chết lịm. Hắn nhăn nhó căm giận trận bão tuyết vô lý xoá toẹt bức tranh quyến rũ.           
Buổi sáng hôm ấy, Ma-ri chợt xuất hiện. Nàng tươi cười: 
- Tặng anh điều bất ngờ trước lúc lên đường tại thảm hoa rừng mùa trút lá.- Nàng nói và lôi hắn đi sềnh sệch. Hắn ngoan ngoãn bước theo nàng.
Hai đứa lên xe đến Cô-nhắc đúng vào lúc bức tranh rừng sồi khổng lồ đẹp lộng lẫy như cảnh tiên. 
Rừng rộng đến vô cùng vừa rũ hết lá. Xe lướt nhẹ trên đường. Những cây sồi màu xam xám đen đen loang loáng qua cửa kính. Ma-ri tíu tít nói với hắn nhiều điều về cảnh đẹp khu rừng vào độ cuối thu đầu đông. Hắn nhìn ra ngoài, thấy rừng sồi trơ cành lên trời. Dường như thế giới sinh vật cũng dự cảm được cuồng bạo của thiên nhiên, có bước chuẩn bị và chờ đợi? 
Ma-ri nói nhỏ với người tài xế: “Xin phép cho dừng xe ở chỗ cây sồi chín trăm năm tuổi.” Người lái xe cười ý tứ, rồi cho xe từ từ dừng lại. 
Hắn dắt tay Ma-ri, gật đầu chào người lái xe, bước nhẹ xuống ven đường. Trước mắt hắn, chỉ có màu bừng cháy của lá sồi trải kín mặt đất chạy xuống lũng sâu, băng qua bên kia núi, xa hơn nữa là những ngọn núi điệp trùng ngả sang màu đỏ sậm huyết dụ, điểm xuyết vài đám mây trắng bồng bềnh trôi. Nắng chiều rắc vàng đều tăm tắp trên nền đỏ thắm, tựa hồ như người ta trải tấm lụa vàng. Hắn ngạc nhiên trước cảnh thiên nhiên huy hoàng, không quên tặng Ma-ri xinh đẹp nụ hôn nồng cháy đến ngộp thở. 
Hai đứa thích mê mẩn cảnh rực rỡ ma quái lúc rừng chiều bừng sắc nắng. 
Vài chiếc lá sồi trôi le te trên mặt suối, gặp cành cây gãy chặn lối, ứ lại một mảng lá
đỏ bập bềnh trên mặt nước xanh ngắt gợn sóng lăn tăn. Hắn mê đắm cái màu tươi thắm của lá sồi, sửng sốt nhìn Ma-ri tung tăng trên thảm đỏ, lộng lẫy như nàng Ma-ri a Lui-dơ, Công chúa nước Áo, người đàn bà nổi tiếng hớp hồn vị hoàng đế Na-pô-lê-ông Bô-na-pác. 
Ma-ri bước nhẹ như bay, cỏ hoa lùi bước dưới chân nàng. Hắn thốt nhiên kêu trời, không thể tưởng tượng được đó lại là Ma-ri đẹp lung linh kỳ ảo như nàng tiên trong vở diễn nào đó! Nàng nói. Nàng cười, lùi vài bước diễn tả sự sung sướng tột đỉnh trước vẻ đẹp thiên đường. Mỗi bước nàng đi, mỗi lời nàng nói, mỗi nụ cười của nàng toả hương thơm ngát cánh rừng. Ánh mắt nàng thiêu đốt thiên nhiên hoang dã. Nàng rực cháy trước thảm hoa đỏ rừng rực. Dường như tinh tuý của trời đất dồn hết cho nàng, để nàng đẹp như mơ. Vẻ đẹp thuyết phục của nàng đánh gục mọi cái ác trên thế gian, chỉ còn lại yêu thương nồng cháy! 
Hắn không ngờ M- ri – người con gái đẹp ấy lại mê đắm mình?! Hắn lại càng đắm đuối mê muội nàng, ngàn vạn lần gục ngã trước vẻ đẹp kiêu sa của toà thiên nhiên, lao vào tận hưởng lạc thú yêu thương, choáng ngợp trong cơn lốc tình yêu nồng nàn giữa thiên nhiên rực cháy. Ma-ri cũng bốc lửa cuồng bạo. Nụ hôn nửa chừng thì bão tuyết ập xuống. Rừng sồi đang mạnh mẽ với âm thanh của gió, của chim chóc muông thú, bỗng chết lặng hoang vu, quạnh quẽ. 
Hắn nghe rõ tiếng rừng cựa quậy dưới chân. Từng chùm rễ nhỏ li ti nhẫn nại cắm sâu trong lòng đất, chịu đựng cái lớn hơn, khủng khiếp hơn cả mùa đông tuyết giá, là sự nghiệt ngã của thiên nhiên, xoá toẹt mọi thứ sinh sôi trên mặt đất. 
Vài chú gấu xứ lạnh kịp tìm hang vượt mùa chết chóc. Đằng kia, vợ chồng nhà cáo bông đang lúc túc lục tục rủ nhau tìm hốc cây làm tổ trú đông. 
Dưới lớp tuyết dày, những khóm địa lan lụi tàn, ẩn dưới lòng đất, nhú chồi đơm hoa mỗi khi giai điệu mùa xuân đến. 
Muôn vật cỏ cây ẩn mình, nhường chỗ cho mùa đông lạnh lẽo chỉ có mưa và bão tuyết hoành hành. Thiên nhiên độc ác phơi bày mỗi lúc một trắng trợn. Hắn quá rõ sự ác quỷ cuồng bạo của trời đất, sự bức tử lặng lẽ của thiên nhiên. Hắn muốn thời gian ngừng trôi, muốn níu giữ tất cả, để cái ác không chiếm mất sự sống mãnh liệt của khu rừng, trả lại sức sống vĩnh hằng cho muôn vật; để Ma-ri mãi mãi bên mình, mãi mãi hoà quyện dưới rừng sồi. 
Cây sồi đã chín trăm năm tuổi, là nơi hò hẹn của bao cặp tình nhân. Lúc còn tuổi học trò, hắn và nàng đã từng đến đây, hai đứa từng có kỷ niệm đẹp dưới gốc cây sồi già. Tán của nó phủ kín bãi đất rộng, người ta kịp treo biển bảo vệ, cấm thợ rừng chặt hạ. 
Gốc sồi su xi xù xì như bức tượng phật già nua, gồng sức vượt qua mùa đông dài đằng đẵng. Để có sức tồn tại, nó phải trút bỏ bộ lá xanh thắm, phải nói là đẹp, gánh những chùm tuyết nặng trĩu bẻ oặt cành. Thật đáng thương cho sức chịu đựng vô cùng của rừng sồi, tới mức sống khó hơn là chết đến muôn lần!
Hắn thích cây sồi vì lý do sâu đậm hơn mọi thứ tình yêu người ta nói trong sách, ngoài đời. Ở đó, có người tiên cho hắn phút giây tiên, cho hắn cái đẹp thiêng liêng nhất. Và rồi, chính người tiên – người đưa hắn đến miền cực lạc, cũng không thể lường trước rằng, hắn có thể phũ phàng quyết ra đi không hề hấn gì (mặc dù nhiệm vụ ấy hắn đã hoàn thành ba năm trước, trong cuộc nghiên cứu vùng Tây Nguyên huyền bí), với một mớ lý thuyết vì cái nọ cái kia rỗng tuếch!
Bất giác, có cái gì đó trào lên nghèn nghẹn, hắn cố nuốt, nhưng rất khó trôi.
Hắn lặng lẽ nhìn rừng khộp trước đồn Pu Sơ Ra lưa thưa trên trảng cỏ úa vàng đang chuyển sang màu khô cháy; một cảm giác lạ về cánh rừng này. Nó không phải rừng khộp xứ Mọi, mà là rừng sồi quê hắn mùa trút lá. Cảnh rừng xanh mướt lá non chồi biếc, đột ngột chuyển màu đỏ ối vào mấy ngày cuối thu. Những chiếc lá đỏ bay xao xác xào xạc trên cỏ như tấm thảm hoa xa tắp cuối trời. 
Lần đầu đến đây, hắn nhận ra sự gần gũi thân thương ấy qua những cội dầu trà beng già hốc hác. Dưới tán rừng là những mảng địa lan trổ hoa vàng rực mỗi độ mưa về. 
Điều khác biệt, Cô-nhắc của hắn là xứ lạnh, mùa đông những cây sồi chôn chân bốn tháng trong tuyết giá; còn vùng Cao nguyên nam Đông Dương là xứ nóng, không có mùa đông. Cách chịu đựng vượt thời gian của rừng khộp cũng khác biệt hoàn toàn; mùa khô buộc phải trút lá phơi cành dưới nắng bỏng rát vào giữa trưa, rét buốt tê tái vào lúc nửa đêm. Giờ, hắn thích có trận bão tuyết giống như mùa đông năm ấy!   
Hắn biết, nước Đại Pháp có sức mạnh ghê gớm làm nên những điều kỳ diệu, nhưng không thể làm được trận mưa tuyết ở xứ sở nhiệt đới, cách xa mẫu quốc vạn dặm.
Cái ngày mưa tuyết ấy, cũng là ngày bão giông cuộc đời hắn. Hai đứa đứng lặng ôm nhau đến gần tối thì đột ngột Ma-ri khóc thảm thiết:
- Mét ơi Mét! Em không muốn xa anh. Hắn bàng hoàng:
- Sao thế Maaaá riiii?
Ma-ri khóc ấm ức:
- Anh đi rồi. Ba năm trước anh đã đi rồi. Sao lại đi?
- Nước Pháp cần người hiểu xứ Đông Dương. 
- Nhưng em yêu anh. Em cần anh hơn đất nước.- Ma-ri vừa khóc vừa đấm thùm thụp vào lưng hắn: Tại sao anh phải dấn thân? Tại sao anh phải vì những thứ này nọ xa xôi. 
- Ma-ri à! Ma-ri yêu ơi! Em nghĩ gần quá. Chẳng nghĩ xa một chút. Anh đi cũng vì em, vì hạnh phúc của chúng mình. 
Ma-ri càng khóc càng điên dại:
- Không. Không. Em không cần gì hết. Chỉ cần anh thôi. Bản nghiên cứu Rừng Mọi cũng đủ để anh làm luận án tốt nghiệp đại học rồi. 
- Rừng Mọi mới chỉ là bước đầu. Anh muốn lớn hơn thế nữa kia.
- Anh muốn công danh quyền quý. Không muốn em?
- Anh muốn cả. Muốn tất cả - Hắn cười - Muốn cả nàng Maria Luidơ và muốn cả công thành danh toại như hoàng đế Na-pô-lê-ông Bô-na-pác. Muốn cả thế giới này của nước Đại Pháp! Đến lúc Ma-ri không chịu được, cô thét tướng lên giọng lanh lảnh đến chói tai:
- Thế thì anh hãy đi với Tổ quốc của anh. Anh biết không? Na-pô-lê-ông rồi cũng kết cục bằng đại bại ở Wa-tec-lô. Rồi  cũng chết rục xương trên đảo Sa-in-Sê-lê-na trong bàn tay của đế chế Anh. Hiểu chưa? Anh hiểu chưa?- Ma-ri khóc tru tréo, nàng chạy một mạch ra đường trong lúc bão tuyết quất ràn rạt vào mặt. Cô chạy liêu xiêu trong màu trắng phớ của tuyết, mặc cho hắn đuổi theo van nài.
Hắn đau đớn chia tay Ma-ri trong nỗi buồn thương day dứt. “Mình mất Ma-ri. Nhưng nước Pháp không thể mất Đông Dương”. Hắn nghĩ. 
Thế là hắn ra đi! Quyết dứt áo với người đẹp, dù đó là đi không trở lại!  
Hắn biết, tình yêu ấy đã mất. Mất hoàn toàn trên thế gian ồn ào, nghiệt ngã và cay đắng, đồng nghĩa với một lần chết; có chăng, chỉ còn đeo đẳng những nhung nhớ vấn vương trên vùng đất Cao nguyên đầy nắng gió. 
Giờ thì hắn nhớ Ma-ri lắm! Nhớ điên dại! 
Ma-ri nói ít nhưng dịu dàng, ngọt ngào sâu lắng. Nhớ đôi môi đỏ mọng như trái dâu chín, lúc nào cũng chỉ muốn cắn thôi; nhớ cả hơi thở nồng ấm, thơm tho gấp gáp nhấn chìm hắn trong những trận cuồng giông tình ái.  
Hắn hiểu, mọi cảnh đẹp, dù là chim sa cá lặn, thiếu Ma-ri, đều hoang vắng như sa mạc bão cát mênh mông. Kể cả lúc đăng quang với tấm Huân chương Bắc đẩu bội tinh lấp lánh, thiếu bóng nàng đều vô nghĩa. Ma-ri là tấm Huân chương Bắc đẩu bội tinh lung linh rực rỡ, quý hơn mọi hư danh trên cõi đời. 
Bỗng nhiên, hắn thấy cô đơn giữa rừng thẳm, lạnh lẽo giữa những tộc người cách biệt với nền văn minh nước Pháp có đến vài ngàn năm. Họ thích tự do giữa đại ngàn, săn bắn, hái lượm những thứ Giàng cho, mọi thứ ánh sáng văn minh từ nơi khác đến đều vô nghĩa!
Hắn không thể đem tâm sự chia sẻ cùng ai nơi khỉ ho cò gáy, lại càng không thể nói gì với lũ người này, vì sự khác biệt ngôn ngữ, cách biệt lối sống, quan niệm, tình cảm…
Mãi sau này, hắn mới nhận ra: Khai hoá văn minh cho xứ sở này là không thể mang xe cộ, máy móc khoa học kỹ thuật tiến bộ từ mẫu quốc sang cày xới tung mảnh đất rừng hoang dã. Công cuộc hoán đổi những cái đầu còn nguyên sơ, có thói quen sống bản năng tự nhiên, sang lối sống có ý thức và trách nhiệm, điều ấy cũng vô cùng khó khăn, “nước Pháp không làm được điều đó!”- Hắn khẳng định. Mặc dù, chỉ cần nghĩ vậy thôi, cũng đã có tội với mẫu quốc rồi. Cho dù công cuộc khai hoá văn minh của nước Đại Pháp có dài dài nửa thế kỷ cũng khó mà thực hiện; bởi nước Pháp cần khai thác nhanh tài nguyên, biến vùng đất này thành nơi cung cấp nhân tài vật lực phục vụ cho chiến tranh mở rộng và bảo vệ thuộc địa. 
Nói tóm lại, nước Đại Pháp đang thực hiện chân lý giản đơn: Lấy tài nguyên nước người, phục vụ cho chiến tranh. Điều muôn đời nhân loại nguyền rủa lên án!
Ngoài rừng, tiếng chim hót thật trong trẻo. Hăng-ri-mét không có thời gian để nhận biết tiếng các loài chim. Nhưng hắn đủ biết, đó là lời yêu thương hót lên từ đáy lòng, một khi yêu thương tột đỉnh mới thốt lên những cung bậc cảm xúc ấy. Chúng đang hoà tấu bản tình ca tuyệt vời của thế giới tự nhiên. Chúng không hận hắn – kẻ vừa bắn vào chúng mấy giờ trước! 
Lòng hắn bỏng rát như xát muối. 
“Giờ, Ma-ri ở đâu, nàng sống ra sao? Có đợi người nơi chiến tuyến?”. Trả lời câu hỏi đơn giản này phải mất cả đời người?! Hắn hiểu, trong hoàn cảnh của hắn thật không dễ dàng gì khi mà giao thương còn ở trình độ thấp. Người ta có thể chuyển đến cho hắn những thùng súng đạn đầy ắp, những cỗ xe tăng, đại pháo nặng nề, những chiếc máy bay chở đầy bom và thùng rượu Cô-nhắc, không ai dễ gì đưa tin yêu thương đến vùng chiến địa?!  
Rất có thể, không bao giờ hắn được nghe câu trả lời! Bởi đây không phải chuyện chơi, mà là chiến tranh – cuộc chơi giữa con người với con người bằng súng đạn; phải mất hàng trăm năm người ta mới hiểu cái giá phải trả của chiến tranh, không chỉ chết chóc đau thương, mà còn giết chết cả tình yêu và khát vọng!..