Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

NGƯỜI CHIẾN SĨ ẤY LÀ… BỐ TÔI! bút ký dự thi của TRÂM ANH - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020



Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề

“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”








Kí ức về bố thoắt ẩn thoắt hiện trong tôi về những ngày còn non dại với những suy nghĩ thơ trẻ. Những mảng màu sáng tối không rõ rệt.
Là những ngày bình thường, nghe tiếng nói cười vui vẻ, không khí ấm cúng toát ra từ gia đình hàng xóm trong bữa cơm tối. Bố tôi thì vẫn đi làm chưa về.
Là những cái hẹn bố phải đón đúng giờ tan trường. Chúng tôi cứ đứng thế, nhìn hết bạn này đến bạn khác ra về. Nước mắt chỉ chực trào khi thấy dáng mẹ tất tưởi chạy đến.
Là những buổi sáng bố chở ba chị em tôi đến trường trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Hai đứa ngồi sau còn một đứa vắt vẻo ngồi trước. Trời Ban Mê những lúc vào đông, chị em chúng tôi run run trong chiếc áo ấm còn bố thì lấm tấm mồ hôi trên chiếc áo đã sờn.
Là những miếng lương khô còn gói giấy thơm phức bố mang về sau mỗi đợt công tác. Lũ chúng tôi trầm trồ khen ngon và thấy bố thật sung sướng vì ngày nào cũng được ăn lương khô chứ không phải ăn cơm như chị em chúng tôi ở nhà.
Là những định nghĩa mơ hồ về công việc của bố. Vì ở lớp tôi, nhiều bạn có bố mẹ làm công việc buôn bán hoặc các công việc khác lại rất có điều kiện về kinh tế. Các bạn được bố mẹ đèo bằng xe máy còn tôi cứ được bố chở trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Rồi không hiểu lý do gì khi đi ngang những tiệm phở nghi ngút khói, bố đạp nhanh qua như không kịp để chị em tôi ngửi thấy mùi phở thơm lừng. Tôi đã tự nhủ rằng lớn lên sẽ không bao giờ làm công việc giống như bố đang làm.
Là những…
Giờ đây khi ngồi viết những dòng chữ này nếu không phải là qua lời kể rời rạc hoặc chắp vá từ những câu chuyện của bố và của những cô chú là đồng chí, đồng đội của bố khi ghé nhà chơi thì có lẽ tôi đã không thể biết cũng như hiểu thêm về công việc của bố. Gần 37 năm qua, bố tôi vẫn lặng lẽ với vùng đất Tây Nguyên nhiều nắng nhiều gió này. Và cái tên Lê Văn Sơn, nguyên Trưởng Công an huyện Ea H’leo hay Ama Anh là bố của tôi!
Mọi người vẫn hay nói rằng có lẽ do nhân duyên nên Đắk Lắk trở thành quê hương thứ hai của ông bởi bố tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo tỉnh Nghệ An. Năm 1981, tốt nghiệp trường Trung cấp An ninh nhân dân V và mang trong mình truyền thống của quê hương, mong muốn đưa những kiến thức nghề nghiệp đã dày công học tập vào thực tế nhiệm vụ ở những nơi khó khăn nhất, phức tạp nhất đã thôi thúc bố tôi vui vẻ nhận nhiệm vụ tại Phòng Bảo vệ chính trị Công an tỉnh Đắk Lắk. Các cô chú kể rằng nhiệm vụ đầu tiên khi vừa đặt chân đến với một vùng đất mới của bố là tăng cường xuống xã Chư M’ngạn thuộc địa bàn huyện Krông Năng. Đây là địa bàn hoạt động thường xuyên của nhiều đối tượng cầm đầu FULRO nên tình hình an ninh trật tự rất phức tạp và nhiều nguy hiểm rình rập. Chúng lôi kéo thanh niên trong buôn làng vào rừng tham gia FULRO, đưa qua Campuchia huấn luyện; có buôn làng gần như không còn phụ nữ, thanh niên. Bên cạnh tổ chức FULRO, chúng còn lập hệ thống mạng lưới cơ sở nằm vùng trong dân, ráo riết đẩy mạnh các hoạt động vũ trang chống phá chính quyền với nhiều hình thức như: phục kích, tập kích, đột ấp, rải truyền đơn, ám sát, cướp bóc, khống chế quần chúng… gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản cho đồng bào. Trước đó, một đồng chí Bí thư Chi bộ của xã đã bị chúng sát hại gây hoang mang lo lắng cho bà con trong buôn. Vì thế lực lượng trinh sát tăng cường xuống địa bàn phải nắm tình hình, phát hiện các cơ sở ngầm tiếp tay cho thế lực xấu và trực tiếp chiến đấu khi gặp phải sự tấn công của kẻ địch. Ban ngày, lực lượng trinh sát đến các gia đình gặp gỡ tiếp xúc với đồng bào, hỏi chuyện làm nương rẫy, hướng dẫn đồng bào kỹ thuật sản xuất, đồng thời tuyên truyền chính sách của Đảng, Nhà nước, giải thích cho đồng bào hiểu âm mưu của địch, vận động họ khuyên bảo con em mình trở về với con đường chính nghĩa. Nhắc lại những tháng ngày gian khổ ấy, cả bố tôi và các cô chú vẫn không giấu nổi nỗi xúc động. Đôi khi tôi thấy có những lúc ngập ngừng trong câu chuyện và thật chậm sau đó. Tôi có nghe nói rằng khó khăn nhất không phải là điều kiện ăn ở sinh hoạt mà là khó khăn khi bố và các cô chú đều không biết tiếng và chưa hiểu gì về phong tục tập quán cũng như nếp sống, suy nghĩ của đồng bào. Vì thế, làm gì cũng phải thông qua “người phiên dịch” là Amí H’Reo – một gia đình sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia phong trào quần chúng đấu tranh với bọn FULRO ở buôn. Amí H’Reo cũng là người đã cho cán bộ tá túc để đề phòng việc bọn FULRO phục biết nơi ngủ của cán bộ sẽ bất ngờ tấn công. Để có thể học nói, học viết tiếng nói – chữ viết của đồng bào, học ăn những món ăn không hợp khẩu vị, bố và các chú đã phải cùng ăn cùng uống cùng ở với bà con. Tất cả các món đều nấu rất cay (vì đồng bào có thói quen bỏ thật nhiều ớt ăn để chống sốt rét) vậy nhưng bố và các chú vẫn cố gắng ăn cùng như con cháu trong nhà. Nhờ vậy mà bố được đồng bào rất thương, rất quý, giúp đỡ nhiều trong công tác. Các chú kể sau chuyến công tác ấy, thấy bố là người thật thà chất phác, lại luôn tận tụy giúp bà con, gia đình Amí H’Reo đã nhận bố làm con nuôi. Qua những tháng ngày vất vả ấy, bố và đồng đội vận động được hàng chục đối tượng lầm lỡ ra đầu thú, từ bỏ tư tưởng xấu, trở về đoàn tụ với gia đình, chí thú làm nương rẫy. Và tôi đã từng nghe bố nhắc lại nhiều lần đây là chuyến công tác đầu tiên cũng là chuyến công tác đáng nhớ nhất…
Hàng chục năm liền, bố đã sống và gắn bó với đồng bào Êđê, M’nông, Gia Rai ở Đắk Lắk. Bố và mẹ lấy nhau sau 3 năm, bố công tác ở Đắk Lắk. Cả 3 lần mẹ vượt cạn thì hai lần không có bố bên cạnh và nhiều năm mẹ tôi một mình tần tảo nuôi ba chị em tôi ăn học. Mẹ vẫn thỉnh thoảng nhắc lại về cái lần mẹ sinh em thứ hai sau tôi mà mắt ngấn lệ: “Mẹ sinh em mà đến khi đầy tháng em bố mới về nhà thăm vì còn bận bịu với chuyên án…”. Nói là thế, nhưng tôi vẫn thấy mẹ lẳng lặng gói ghém hành trang cho bố khi nghe bố sắp đi công tác dài ngày về cơ sở.
Khi lớn hơn một chút, qua những bài học trên ghế nhà trường và trong những câu chuyện của bố, tôi hiểu được rằng, bao người con đất Việt ngã xuống, lấy máu của mình để tô thắm thêm truyền thống hào hùng của dân tộc, lấy tinh thần bất khuất, kiên cường đấu tranh đánh giặc, dựng nước và giữ nước, trong đó có công lao của những người chiến sỹ công an nhân dân lặng lẽ, âm thầm hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì bình yên cuộc sống của nhân dân... Tôi nhớ đó là vào năm 2001, năm tôi đang học phổ thông. Đang trên đường đi học về, tôi thấy rất nhiều người dân tụ tập quanh khu vực Ngã Sáu. Cố chen vào trong để xem có việc gì đang diễn ra, nhưng tôi đã bị chặn lại bởi vòng tay của các chú công an. “Cháu về nhà đi. Ở đây nguy hiểm lắm”. Tim tôi bỗng thắt lại. Đứng từ phía xa, tôi nhận thấy sự quá khích của những người dân đang ở mức cao trào. Tôi nghe loáng thoáng mọi người nói với nhau là các phần tử phản động FULRO đã kích động hàng chục ngàn người dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong đó có Đắk Lắk kéo lên các trung tâm hành chính trên địa bàn để biểu tình bạo loạn chính trị. Chưa bao giờ tôi thấy sợ hãi như lúc đó, chưa bao giờ tôi thấy trách nhiệm nặng nề mà bố mình đang gánh trên vai. Và giữa biển người bị ném đá, bị xô đẩy, tôi biết, có bố tôi.
Và chưa bao giờ tôi thấy hiểm nguy lại rình rập bố mình đến thế, cũng chưa bao giờ tôi tự hào về hình ảnh người chiến sĩ công an đến vậy. Các chú, các anh đã chấp nhận buông bỏ khí giới, rời bỏ nơi tập kết để tránh đối đầu trực tiếp với người dân; đã chấp nhận không cầm súng bắn vào đồng bào của mình. Đó là những hình ảnh thực sự khiến tôi xúc động, và tôi đã òa khóc nức nở khi ngày hôm sau thấy bố trở về, vẫn vẹn nguyên trong bộ quần áo sẫm màu ấy.
Với những thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, rèn luyện, bố tôi được tín nhiệm đề bạt là Trưởng phòng An ninh xã hội Công an tỉnh, sau đó được điều chuyển nhận nhiệm vụ Trưởng Công an huyện Ea H’Leo. Đây là nhiệm vụ nhiều gian nan, thử thách mà bố tôi được Lãnh đạo Công an tỉnh tin tưởng giao phó. Hôm nhận quyết định điều động bổ nhiệm, tôi thấy bố có vẻ trăn trở và suy nghĩ rất nhiều. Bố tâm sự với chị em tôi: “Bố làm công tác an ninh đã gần 30 năm. Giờ bắt đầu với một nhiệm vụ mới, bố không sợ khó khăn gian khổ, chỉ sợ không hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao”.
Huyện Ea H’Leo giáp ranh với tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên rộng với nhiều rừng sâu, rẫy vắng, khu vực hẻo lánh, dân cư đông đúc và nhiều thành phần, có Quốc lộ 14 đi qua… Một số trường hợp đã sử dụng trái phép chất ma túy, cờ bạc; một số có quan hệ với các đối tượng tội phạm… từ đó dẫn đến nhiều loại tội phạm khác như cố ý gây thương tích do nguyên nhân xã hội, trộm cắp tài sản, tàng trữ, mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy… Những năm ấy, Ea H’Leo trở thành một địa bàn trọng điểm về ma tuý của tỉnh Đắk Lắk – đứng thứ hai sau thành phố Buôn Ma Thuột. Ngoài thị trấn trung tâm Ea Drăng thì ở một số xã vùng sâu, vùng xa của huyện như: Ea H’Leo, Ea Hiao, Cư A Mung, số con nghiện cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Cá biệt là ở xã Ea Wy, số con nghiện còn nhiều hơn thị trấn Ea Drăng đến hơn 1,5 lần. Trong số các con nghiện ở huyện Ea H’Leo, có nhiều đối tượng đang ở tuổi lao động mua bán ma túy để có tiền ăn xài, hút, chích và hoạt động có sự câu móc với các đối tượng ngoài tỉnh. Một số con nghiện ma túy đã gây ra các vụ trọng án giết người, cướp tài sản gây bức xúc trong dư luận. Tuy vậy, với quyết tâm và những nỗ lực cao – mà chủ công là Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện Ea H’Leo đã phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Đắk Lắk và các đơn vị liên quan đẩy mạnh các biện pháp nghiệp vụ, rà soát, nắm số người nghiện, xác lập các kế hoạch, chuyên án để đấu tranh, bắt, xử lý các nhóm, đối tượng tàng trữ, vận chuyển, mua, bán, tổ chức sử dụng, trồng và, sơ chế ma túy.
Với những nỗ lực của tập thể, từ năm 2014 đến nay, Công an huyện Ea H’Leo phối hợp với các đơn vị đã triệt xóa gần 20 tụ điểm mua bán, chích, hít ma túy; bắt 24 vụ, 28 đối tượng; thu tang vật hơn 40 gam heroin, 636kg cây cần sa tươi, 11,5kg cần sa khô đã sơ chế, 1,5kg hạt giống cần sa, hơn 47 triệu đồng và hàng chục xe máy, điện thoại di động là các phương tiện vận chuyển, liên lạc của các đối tượng. Tôi biết đằng sau những chiến công của tập thể, là những đêm bố tôi thao thức… Vì tôi biết bố chẳng thể yên giấc nếu “chưa hoàn thành nhiệm vụ đã hứa với Đảng, với Lãnh đạo, với nhân dân”.
Đã nhiều năm, trong những đêm thao thức vì bài vở, tôi nghe có tiếng xe rì rầm đỗ xịch trước cổng rồi tiếng kéo cổng nhè nhẹ. Tôi biết lúc đó bố về… Sáng dậy những tưởng sẽ được gặp bố thì bố đã lại đi từ lúc nào rồi. Tôi biết rằng để có những buổi đêm tĩnh mịch và bình yên của Ban Mê, có bố tôi và các cô chú còn đang lặn lội ở một góc đường, một con hẻm hay một khoảnh rừng nào đó.
Cứ thế, những vùng đất đỏ bazan, những cánh rừng, con suối, những con đường tít tắp đầy bụi đỏ, những con người Tây Nguyên và hơn hết là hình ảnh về bố… đã bồi đắp trí tuệ và nhân cách giúp tôi trưởng thành; giúp tôi cũng trở thành một người chiến sĩ công an như bố tôi.
Và tôi tự hào khi là con của một chiến sĩ Công an nhân dân.


  





Thứ Tư, 15 tháng 1, 2020

TÂM TÌNH CỦA NHÀ GIÁO – NHÀ THƠ tác giả HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ 328 THÁNG 12 NĂM 2019






(Đọc Mây trắng vẫn bay về -
Thơ Nguyễn Trọng Đồng – NXB Hội Nhà văn – 2018)



Gắn bó với nghề, là một giáo viên mẫn cán, đã bước vào tuổi “lục thập nhĩ thuận”, Nguyễn Trọng Đồng trình làng tập thơ thứ sáu của mình. Mây trắng vẫn bay về - khoảng 70 bài thơ với 100 trang in. Đây là sự cố gắng lớn cả về công sức và kinh tế của một người chỉ biết gieo chữ ở buôn làng từ Krông Năng xa xôi.
Chẳng lẽ trời Krông Năng nhiều gió
Mà đất thâm trầm trổ lộc, đơm hoa
Mà nhà sàn vẫn sớm chiều đỏ lửa
Hạt lúa, củ khoai ngày ấy - bây giờ
                                                         Cảm xúc Krông Năng
Gắn bó, yêu thương miền quê này mới viết được như vậy. Thấy được nhịp thở của thời gian làm thay đổi cảnh sắc. Dù vật chất chưa đủ đầy vẫn vững tin vào sự đổi thay của quê hương trong sự bình yên của nhà sàn đỏ lửa.
Nguyễn Trọng Đồng có bài lục bát hiếm hoi, dù cố tình ngắt dòng nhưng hồn cốt lục bát vẫn rõ ràng và có câu thơ khá đắt:
Đợi em ở phía mùa xuân
Chắt chiu dòng nhựa trắng ngần quê hương
                                                         Đợi em ở phía mùa xuân
Đây là viết về nông trường cao su, công nhân cạo mủ cao su chịu nhiều độc hại vẫn gắn bó với nông trường, cần sự đồng cảm của mọi người, trong đó có Nguyễn Trọng Đồng nâng niu chia sẻ.
Thơ của anh không mang tính triết lý nhưng gắn với thời sự. Từ núi rừng Đắk Lắk nghĩ đến bia chủ quyền ở đảo Nam Yết, Song Tử Tây, khẳng định bờ cõi thiêng liêng, lòng anh nhiều lần reo lên, hát ca cùng biển cả:
Sóng bạc đầu trước biển bao la
Tàu ta lại ra khơi vào lộng
                                             Cột mốc chủ quyền ở Biển Đông
Đây là thơ của một công dân có trách nhiệm trước một kẻ thù hung hãn mấy ngàn năm.
Yêu nước thể hiện lòng biết ơn những thế hệ tiền nhân trao lại qua những  hình ảnh cụ thể:
Bốn mùa hương hoa là bốn mùa ngọn lửa
Tự đất cha ông nhen nhóm nghìn năm
Trái ngọt hôm nay từ nụ biếc đất ta nằm
                                                         Đất nước hình cánh chim
Được hưởng bốn mùa hương hoa là bởi giữ được ngọn lửa truyền thống. Có trái ngọt là từ nụ biếc trên mảnh đất này. Đạo lý ăn quả nhớ kẻ trồng cây thấm đẫm.
Sinh ra ở Can Lộc, Hà Tĩnh, yêu câu ví dặm quê hương xứ Nghệ (gồm cả Nghệ An, Hà Tĩnh) nên anh có bài thơ: Câu ví dặm mùa xuân xứ Nghệ. Bài thơ mang tâm trạng người xa quê hương vào Tây Nguyên lập nghiệp:
Để sông Lam chở màu xanh Hồng Lĩnh…
Cho ta về say câu hát dặm bổng trầm!
Đặc biệt là câu:
Ai hay đâu trong mỗi tấc đất quê hương
Có bóng mẹ tảo tần vịn về từ câu ví dặm ngàn năm!
Tha thiết và lay động tâm hồn bởi tình sâu nghĩa nặng với quê hương, với mẹ, nhìn quê hương thấy hình bóng mẹ. Câu hát bổng trầm trong tình mẹ tảo tần nuôi ta khôn lớn. Nhớ đến mẹ là nhớ sự lam lũ, nhưng mẹ mãi là mùa xuân, mang lại mùa xuân cho con:
Ngày của mẹ hay mùa xuân ngời ngợi
Bao sắc hồng còn gọi cánh ong bay.
                                                         Ngày của mẹ
Dù mẹ đã đi xa nhưng hình bóng vẫn hiện hữu trong cuộc đời như ánh sáng, như “muối mặn gừng cay dòng sữa ngọt ngào!” để ta đi tiếp trong cuộc đời:
Để bông lúa cánh đồng xanh biếc gió
Như con tàu lại chở nắng ra khơi.
                                             Người đã cho con dòng sữa ngọt ngào
Như phần đầu đã giới thiệu Nguyễn Trọng Đồng là nhà giáo, nhà giáo yêu thơ, nên tất nhiên phải có thơ về cái nghiệp của mình. Có một thời giáo viên còn khổ trong cái khổ chung. Thơ chân thực càng phơi bày nỗi khổ vì miếng cơm manh áo:
Có những tháng ngày bận rộn vô tư
Sáng lên lớp, chiều về lo cuốc ruộng.
                                                         Ký ức mái trường
Xào xạc rừng thông – thao thức dòng sông
Ba zan đỏ nuôi niềm tin xanh biếc
                                                         Nắng thu về từ cửa lớp lao xao
Trường quê nghèo nhưng không thiếu ước mơ và hy vọng để thầy trò mạnh bước để hứa hẹn quê hương ngày càng giàu đẹp.
Nói đến mái trường là nói đến mùa hoa phượng. Hoa chia tay để hẹn ngày gặp gỡ, nâng tầm cao cho mỗi tâm hồn. Hoa phượng là bài thơ đáng đọc của Nguyễn Trọng Đồng. Mùa phượng chia tay cũng là mùa gửi thương, gửi nhớ:
Lại sân trường thưa vắng bước chân em
Hoa phượng cháy những nỗi niềm dang dở
Từng đi qua xạc xào ngọn gió
Vẫn thấy lòng thao thức với bảng đen.
Gắn bó với nghề lâu dài mới có nỗi niềm trăn trở, mới thao thức với bảng đen để hạ câu kết bài thơ:
Cho ta sống tháng ngày thanh thản
Bạn bè ơi! Hoa phượng ấy chứng nhân.
Trên đây là mặt được của thơ Nguyễn Trọng Đồng. Vì quý anh hai lần đồng nghiệp: nhà giáo – nhà thơ, nên tôi gợi ý mấy điểm yếu để anh làm thơ hay hơn, đọng hơn trong lòng người đọc.
Đã in tới sáu tập nên trơn tay, dễ dãi, trùng lặp hình ảnh có sẵn, đặc biệt hình ảnh con cò: Như cánh cò bay lả bay la (trang 12); Trong cánh cò bay lả (trang 15); cánh đồng cò bay thẳng cánh (trang 17); trong cánh cò bay lả bay la (trang 20); Cánh cò bay lả dòng sông (trang 24); Cánh cò trắng hai sương một nắng (trang 29)… Thế là quá nhiều, không dẫn thêm nữa.
Sự dễ dãi ngay từ việc lựa chọn đầu đề cho mỗi bài thơ. Đành rằng mùa xuân là ước mơ, hy vọng nhưng không được lạm dụng: Câu ví dặm mùa xuân xứ Nghệ; Đường xuân đi tới; Mùa xuân khát vọng; Thắng lợi mùa xuân; Mùa xuân hội nhập; Ngày xuân cảm chuyện…; Mùa xuân gọi tên em; Mùa xuân lễ hội… Còn nhiều nữa.
Tôi cũng không thích đầu đề bài: Em có nghe thành phố gọi tên mình. Chỉ thay chữ “Tổ quốc” của bài hát rất phổ biến thành “thành phố” là không nên.
Có một chi tiết liên quan đến truyền thuyết mà ai cũng biết. Bài Tổ quốc tượng hình lên mặt trống đồng là bài thơ khá, nhưng câu: Từ lúc Lang Liêu tạo ra giống dưa thơm (trang 53) thì phải xem lại. Các tài liệu tôi đọc thì Lang Liêu trong sự tích bánh chưng, bày dày. Còn dưa là An Tiêm trồng, nay thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa.
Một vài nhận xét về thơ Nguyễn Trọng Đồng qua tập Mây trắng vẫn bay về, thấy đôi chỗ còn khiếm khuyết nhưng bù lại là cái tâm, cái tình, trách nhiệm công dân của nhà giáo – nhà thơ nên cũng đáng đọc.
                                                                                    Tháng 10-2019

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2020

ĐÀN NGỰA HOANG TRÊN THẢO NGUYÊN THI CA tác giả TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ 328 THÁNG 12 NĂM 2019




(Đọc Màu thổ cẩm của Bùi Minh Vũ -NXB Hội Nhà văn, 2019)



Tôi biết và gặp nhà thơ Bùi Minh Vũ chưa lâu, chưa nhiều. Rồi tình cờ tôi được cùng anh đi thực tế sáng tác tại Côn Đảo mấy ngày. Tôi thấy anh bộc trực, thẳng thắn và cũng rất sôi nổi gần gũi. Anh đến và chọn Tây Nguyên là quê hương thứ hai từ mấy mươi năm trước, nhưng từ anh vẫn toát ra bản chất vùng miền đặc sệt: Đó là con người của miền Trung hồn hậu, cần lao, anh dũng. Chuyện gian lao của mảnh đất, con người miền Trung có lẽ ai cũng biết, cũng hiểu. Riêng chuyện “dũng cảm”, điều đầu tiên tôi cảm nhận từ tập Màu thổ cẩm của anh, ấy là lối viết  kiểu như đạn súng máy xả ào ạt mà không màng đến nhận xét đánh giá của bất cứ ai. Đọc thơ Bùi Minh Vũ chắc nhiều người sẽ có chung cảm giác: Đó không phải là bức tranh thủy mạc, không phải vẽ chiều quan san với những áng mây lững lờ trôi để nhà thơ có thể làm lữ khách mà chậm bước bâng khuâng... Tôi đã tình cờ được đọc bài viết về thơ Bùi Minh Vũ của nhà thơ gạo cội Du Tử Lê. Ông cũng như biết trước nhiều bạn đọc cũng như tôi sẽ cảm thấy khó khăn khi tiếp cận thơ Bùi Minh Vũ, nên ông viết như là gợi ý: “Đọc thơ Bùi Minh Vũ như đứng trước bức tranh trừu tượng, ở vị trí người thưởng ngoạn chúng ta chỉ nên tự hỏi mình có cảm thấy cái đẹp của bức tranh, hoặc bài thơ ấy có làm ta rung động với những câu thơ lạ hay không mà thôi. Người đọc đừng bận tâm hay câu nệ với những câu thơ (bài thơ ấy) nhất là với những bài thơ siêu thực”.
Tập thơ Màu thổ cẩm không có nhiều bài “siêu thực” để đánh đố người đọc, nhưng nó cũng vẽ nên chân dung tác giả. Ấy là con người hồn nhiên, như đàn ngựa hoang trên thảo nguyên thi ca bát ngát, cứ tung bờm phi nước đại đến những nơi mà mình thích, chẳng biết đâu là chân trời… Tên những bài thơ trong tập cũng ngẫu hứng như kiểu cứ chọn đại một chủ thể, một cụm từ, một danh từ…nằm ở đầu, giữa, hoặc cuối bài rồi đưa lên; nội dung thì bâng quơ không nhất thiết làm sáng tỏ một điều gì: Hạt cà phê, Trong trái tim mẹ, Nghe cây hát, Đám lang sau nhà, Cặp đôi vừa đến, Lắng nghe…Và trong mỗi bài câu chữ cứ chảy tràn ra như văn nói, như kể chuyện, như vẽ phác họa, như lũ trẻ hát đồng dao, cũng có khi tự hát, tự sướng, giống như Hạt cà phê/ Sáng long lanh/ Trong lành/ Giữa nắng mai Buôn Ma Thuột (Hạt cà phê). Lối viết của Bùi Minh Vũ nhiều lúc là lạ, ngồ ngộ, ví như bài có cái tên rất thơ: Trong trái tim mẹ, nhà thơ vẽ bức tranh như kiểu vẩy mực lên giấy bắt đầu bằng hai chữ Quê hương/ Bạn hỏi ở đâu- Ngoài cánh đồng/ Em hỏi ở đâu- Ngoài biển và cha mải miết khơi xa/ Anh hỏi ở đâu- Em và bầu trời xanh giấc mơ đêm/ Tôi hỏi tôi - Nỗi nhớ và đường ra mặt trận/ Quê hương hỏi tôi - Tôi đi hỏi mặt trời trong trái tim của mẹ. Tất cả người đọc đều lướt qua và tôi nghĩ số đông cũng như tôi sẽ chưa ai thấy gì, chứ chưa nói là thấy đẹp, hay, rung động... Xin nhắc lại, đọc thơ Bùi Minh Vũ đừng nên câu nệ câu chữ và đừng đòi hỏi gì, hãy là người thưởng ngoạn và tự hỏi ta có thấy bức tranh đẹp không, hay bài thơ có làm ta rung động? (Du Tử Lê). Vậy nên tôi đọc “bức tranh” theo suy diễn của mình. Tên bài thơ là Trong trái tim mẹ nhà thơ đã thấy gì và vẽ bức tranh ấy thế nào? Quê hương là hai tiếng đầu tiên Trong trái tim mẹ. Như vậy là thơ rồi đấy chứ. Quê hương là cánh đồng, là biển cả mà cha đang chài lưới, là em và bầu trời xanh giấc mơ đêm, là nỗi nhớ và con đường ra mặt trận, là mặt trời trong trái tim của mẹ. Như vậy không cần suy luận, nhìn kĩ bức tranh cũng đã hiện nguyên hình: Trong trái tim mẹ có quê hương…hoặc quê hương có mặt trời, có biển, có em và có bạn, có tôi, có đường ra mặt trận và có tất cả Trong trái tim mẹ.
Cũng có thể cảm thấy đẹp và rung động khi đọc Màu thổ cẩm nếu không quá cầu toàn, như bài Nghe cây hát. Cả bài nghe như tiếng thần rừng khóc tru tréo bằng những ngôn từ như lời cúng của đồng bào: Khi làm chòi không được chặt cây kpang/ Khi làm nhà không được đốn cây hrên/ Khi vào rừng không chặt cây thẳng, cây to phát rẫy làm nương/ Ánh sáng khóc, bóng tối tru tréo/ Con chồn, con nhím, con voi… biết về đâu?.../ Ơ cái nước hát reo/ Cháu con phải biết trồng cây trên rẫy, trên đồi/ Đất trồng nên sông/ Sông trồng nên cá/ Suối hối hả/ Trổ hoa/ Nghe con chim hót… Không cần nhìn lâu ngắm kĩ đã thấy ngay Bùi Minh Vũ “vẽ bức tranh” chống phá rừng làm nương rẫy, chống lâm tặc, khuyến khích trồng rừng... “cho rẫy trổ hoa và chim về líu lo ca hát”. 
Chịu khó đọc Bùi Minh Vũ cũng sẽ bắt gặp cánh thơ bay, thơ hát đồng dao dí dỏm như Ôi/ Ăn trái bắp mẹ mua/ Nghe mẹ hát/ Như được tặng mặt trời… Ăn trái bắp mẹ mua, như được tặng mặt trời. Thơ đó chứ đâu nữa. Tôi đã đọc Đi tìm mật mã thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm. Ông ấy có quan niệm thơ khá độc đáo, ví dụ: nếu viết đưa tay gắp miếng thịt gà thì ai cũng viết được, ai cũng thành nhà thơ hết, còn nhà thơ đích thực sẽ không viết gắp thịt gà mà gắp tiếng chim… Quay trở lại trong khúc đồng dao trẻ thơ ấy lại có hình ảnh người con hiếu thảo thương nhớ mẹ khiến người nghe rung động: Tôi nhìn về khoảng xa/ Nơi ông mặt trời giấu bóng mẹ tôi/Chìm khuất những hàng dương xanh thẳm/ Hỏi sóng có cất linh hồn mẹ/ Mà suốt đời muối mặn/ Mà bạc đầu chung thủy / Mà vui hát tự do/ Hồn nhiên tôi khóc/ Mưa ngoài phố réo gọi/ Như tiếng mẹ ngoài khoảng xa (Tiếng Mẹ ngoài khoảng xa).Tôi chỉ cần hiểu mưa như tiếng mẹ, người mẹ đã khuất gọi con từ khoảng xa thì từ trong sâu thẳm mỗi đứa con hiếu thảo cũng bật khóc lên rồi…
Những bức tranh thơ của Bùi Minh Vũ như kiểu đổ mực ra giấy đôi khi lại rất giản đơn, dễ hiểu: Tôi muốn sống thêm một ngày, ngày nữa/ Vì cánh rừng xanh ríu rít chim gần/ Mỗi chiều ngồi bên hồ Ea Kao trong trẻo/ Ngắm bầu trời nhớ bến nước quen thân/ Tôi muốn sống thêm một lần nữa, nữa/ Nhấm một ngụm cà phê đen đầu ngày/ Cùng em lên nương chăm cà hái quả/ Nghe bài khan em kể, rượu no say (Cùng em lên nương). Đôi khi lại gợi nhớ buôn làng xưa, cuộc sống xưa gian khó mà trong trẻo hồn nhiên như mắt em Uống tiếng chiêng/ trườn trên lá cà phê/ Chùng lặng bên bến nước/ Nơi em tắm/ Phơi trần những hạt sương bám víu/ Uống tiếng chiêng/ Bò qua vách đá/ Chạm vào đụn cây/ nơi em tựa lưng/ Đẻ ra vầng trăng non (Từ mắt em). 
Đọc thơ Bùi Minh Vũ quen dần rồi cũng chẳng bất ngờ trong hàng loạt bức tranh vẽ mộc: Em thổi đing năm/ Những vì sao trên trời lung linh hát (Em thổi đing năm). Đặt bên cạnh bức tranh đẹp ấy lại là Những đêm mất ngủ nghe người già khóc: Ôi con người/ Hồn lạc về đâu trên ngọn tháp thời gian/ trong biệt phủ/ hay chòi rẫy xa xăm nơi buôn Atâu Yang/ Chào đón bằng những đêm mất ngủ/ Bằng tiếng chiêng hóa thạch giữa lòng đất đỏ/ Vọng lại từ đôi tay rung rung/ và cái miệng sử thi móm mém. Những tiếng thơ như đang thổn thức, buồn thương cho những tập tục truyền thống đang bị biến dạng, lãng quên; ngay cả tiếng chiêng vốn được xem là ngôn ngữ giao tiếp với thánh thần cũng chỉ còn là tiếng chiêng hóa thạch dưới lòng đất đỏ. Tiếng nói với đức tin đã chết thì cuộc sống sẽ còn lại gì…?
Cũng không thể nói Màu thổ cẩm tròn trịa và không có sạn. Nhiều bài trong tập ý tứ ngổn ngang, lung tung lang tang, lập dị, bất thường như bài Đường về nương rẫy: Chàng có nước da nâu/ Răng Măng vàng/ Bàn chân đá dăm/ Bước voi con Buôn Đôn/ Giọng nói tiếng chiêng ngân/ Từ buôn xuống bến nước/ Tựa lưng cây đa thiêng/ mắt sáng chùm sao tối/ Nhớ cái chòi rẫy xa/ nơi con mang làm tình/ Tiếng suối hát ngút ngát/ Chàng có nước da nâu/ Nắng trên đầu mưa rơi trên vai/ Có hề chi/ Mọi con đường cũng dẫn về nương rẫy ông bà. Ở bài Vườn em cũng khá bất ngờ với kiểu chữ nghĩa lung tung lang tang như vậy: Bước ra vườn cà phê/ Hoa trắng thơm phưng phức/ Cây chắn gió đứng chào/ Lá xanh mắt thiếu nữ/ Nhớ dáng em mang gùi/ Hái cà phê đỏ mọng/ Mùa đi như chim bay/ Ong vàng trên mái lá/ Gió mang hương buông thả/ Đâu đây tiếng thầm thì/ Chân không muốn bước đi/ Trong vườn cà xanh quá.
Tên những bài thơ của anh nhiều lúc cũng rất ...chưng hửng. Nhiều tên bài đẹp, như Trăng hoa hồng, Đất vàng… Người đọc mong chờ những vần thơ đẹp ở dưới, thì lại bắt gặp những đất cục, đá hòn … Có chỗ nhà thơ  lại như người nông dân cần mẫn dần sàng chọn những hạt mẩy để dành cho mùa sau: Cây đứng lặng/ Gió rụng rơi dưới núi/ Trăng mỉm cười/ Lá khúc khích đầu non/ Cây đứng đó/ Môt đời gìn giữ nước/ Đất vui thầm/ Sinh ra những chồi con (Những chồi con). Có khi lại như trẻ con chạy lang bang trên cánh đồng mùa hạn và hát đồng dao: Hối hả ngày nắng nóng/ Ra rẫy canh nước tưới cà/ Amí Thi không ngủ/ kéo ống đến từng bồn/ Nước chảy nghe bồn chồn/ Trăng hoa mướp ghé xuống/Amí Thi không ngủ/ ước mùa này bội thu/ Sao trên trời lắng nghe/ Lặng lẽ thả chùm trái (Amí Thi không ngủ). Nổi trội của sự hỗn loạn trong tâm trạng người thơ là ước mơ vươn tới, là sự dằn vặt trong những đêm không ngủ mơ giấc mơ thánh thiện, đẹp. Đơn độc trên con đường đá nhọn/ Chim hót/ Hoa nở bên bờ hoang/ Tiếng réo gọi/ Uống nước suối/ Ăn chuối rừng/ Nhìn cá trắng lội/ Tỉnh dậy, ngồi/ Tôi làm thơ/ Bút nhọn như thanh gươm/ Ghế là đá dăm/ Chữ là vàng, óng ánh những vì sao không ngủ (Óng ánh những vì sao).
Một điểm khá đặc biệt trong tập Màu thổ cẩm của Bùi Minh Vũ mà tôi đã phải dùng bút vẽ hình tượng mặt trời tỏa nắng và những mũi tên xuyên lá. Tôi đặt tên cho “tuyệt kỹ vẽ tranh” của anh là mặt trời xuyên lá. Vườn cà trái đỏ như môi/ Lặng lẽ giấu mình trong lá/ Gió từ đầu buôn buông thả/ Ánh mắt ai xuyên qua cành lá tần ngần (Vườn cà phê), hay trong bài Chiều Buôn Đôn anh viết: Chiều ngồi trên rễ/ Trời luồn qua lá mắt nhìn người…
Tôi đã viết quá dài… Mọi người có thể tìm ra nhiều điều đặc biệt, khác biệt, nhiều bức tranh đẹp khác trong tập Màu thổ cẩm của Bùi Minh Vũ. Tôi chỉ xin khép lại bài viết với góc nhìn của một người yêu thơ: Ở Bùi Minh Vũ có cái hồn nhiên của tuổi thơ, có đức tính hay lam hay làm, chịu khó cày sâu cuốc bẫm của người nông dân Đất Việt, có tình yêu thơ ca bất tận và một bản năng gốc: hoang dã. Nhờ vậy mà thơ anh cứ như đàn ngựa hoang trên thảo nguyên thi ca... 
   Buôn Ma Thuột 10/2019.



Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2020

TỐNG BIỆT HÀNH – khúc tiễn biệt đầy kịch tính tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ 328 THÁNG 12 NĂM 2019






Thâm Tâm(1917 - 1950) là một nhà thơ sáng tác không nhiều trong Phong trào Thơ mới trước Cách mạng Tháng Tám (sự nghiệp sáng tác thơ của ông chỉ có trên dưới 20 bài) nhưng đã để lại những bài thơ có sức ám ảnh lòng người. Thơ Thâm Tâm có sắc thái riêng “điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ gân guốc, rắn rỏi, không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ nhưng vẫn đượm chút bâng khâng, khó hiểu của thời đại” (Thi nhân Việt Nam). Tống biệt hành (Ngữ văn 11 nâng cao, tập II) là một bài thơ như vậy. Bài thơ được Thâm Tâm viết năm 1940 để ca ngợi một người bạn giã biệt gia đình đi theo chí lớn mà vẫn nặng lòng lưu luyến với người thân.
Tên bài thơ là Tống biệt hành cùng với việc sử dụng nhiều từ Hán Việt trong thi phẩm đã gợi lên không khí cổ kính, xa xưa, trang trọng của buổi đưa tiễn. Tác giả đã sử dụng thể hành - một thể thơ cổ phong có đặc điểm là tự do, phóng khoáng, rất phù hợp với cảm xúc trong bài thơ. Người đưa tiễn cũng là nhân vật trữ tình xưng “ta”, người ra đi được gọi là “li khách” (khách biệt li) phù hợp với không khí cổ kính để nói những lời khẳng khái, rắn rỏi một cách thích hợp.
Bốn câu thơ đầu rất đặc sắc, thường được dẫn trong các sách lý luận về thơ Việt Nam. Đây là cảm nhận xao xuyến, ngỡ ngàng của người đưa tiễn trong phút giây li biệt:
“Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”
Thơ xưa thường dùng hình ảnh “bến sông” để chỉ không gian chia li, dùng “hoàng hôn” của đất trời để gợi nỗi buồn của lòng người. Nhưng ở đây, tác giả đã sử dụng hình ảnh ước lệ theo lối phủ định với hai câu hỏi tu từ trùng điệp để phát hiện và tô đậm tâm trạng đang diễn ra trong cuộc đưa tiễn: “không đưa qua sông…”, “Bóng chiều không thắm…”. Phủ định ngoại cảnh, ước lệ là để khẳng định tâm trạng và cảm xúc: “Sao có tiếng sóng…”, “ Sao đầy hoàng hôn…”. Như vậy, Thâm Tâm đã chấp nhận và vượt qua một thách đố nghệ thuật: dùng đề tài cũ, hình ảnh ước lệ quen thuộc của quá khứ, vừa tiếp nối truyền thống mà không lặp lại, vừa tiếp thu lại vừa đổi mới, vượt lên.
Hình ảnh ẩn dụ “sóng lòng” gợi lên sự xao xuyến, xốn xang của cõi lòng người đưa tiễn. Hình ảnh “đầy hoàng hôn trong mắt” diễn tả nỗi buồn ngưng đọng trong ánh mắt của người ra đi. Câu thơ đầu toàn vần bằng “Đưa người, ta không đưa qua sông” gợi lên cảm giác xao xuyến, bâng khuâng lan toả trong không gian và thời gian. Câu thơ tiếp theo đột ngột nổi lên bốn vần trắc liền nhau “có tiếng sóng ở…” như những đợt sóng dằn nén nhớ thương tha thiết trong lòng người. Từ “không” điệp ba lần nhấn mạnh ý phủ định ngoại cảnh. Cụm từ “Sao có…”, “Sao đầy…” nhấn mạnh sự khẳng định nội tâm. Tác giả còn sử dụng hiện tượng điệp vần “ong” với mật độ dày đặc: “không”, “sông”, “sóng’, “trong”, “lòng” gợi tả những đợt sóng cảm xúc vỗ mãi vào lòng người.
Những câu thơ tài hoa của Thâm Tâm đầy hình ảnh và nhịp điệu, vừa hay về âm thanh vừa sâu về tình cảm. Nó đã diễn tả được tâm trạng đầy lưu luyến, nhớ thương của một cuộc chia tay giàu ý nghĩa đối với một người ra đi vì nghĩa lớn.
Đoạn thơ tiếp theo như một lời giải thích về người ra đi:
“Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
…Ba năm mẹ già cũng đừng mong…”
Đại từ chỉ định “người ấy” xác định một người kiên quyết ra đi theo chí lớn, dám dấn thân vào “con đường nhỏ”, sự nghiệp chưa thành thì không nói chuyện trở lại, “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Tác giả đã sử dụng những từ có ý nghĩa phủ định “chưa”, “không”, “đừng” liên tiếp trong đoạn thơ để nói lên cốt cách tráng sĩ: mạnh mẽ, kiên quyết, dứt khoát của li khách. Hình ảnh li khách qua sự cảm nhận của người đưa tiễn là một người kiên quyết ra đi theo “chí nhớn”, vì sự nghiệp chung. Chính vì vậy mà cuộc chia li thêm trang trọng và đầy lưu luyến.
Đoạn thơ tiếp theo, người đưa tiễn nhớ lại tâm trạng của người ra đi đã diễn ra trước đó:
“Ta biết người buồn chiều hôm trước
…Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…”
Gần như đã có một cuộc tiễn đưa đã diễn ra trong gia đình từ trước đó bịn rịn và đầy nước mắt. Qua đoạn thơ, ta thấy li khách còn có một gia đình phải chăm nom: một người mẹ già, hai chị gái như sen cuối hạ và “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc”. Tất cả đều yếu đuối, đa cảm và cần được chở che, cần có một người trai để nương tựa. Không xúc động sao được khi phải giã biệt những người thân yêu như thế. Điệp ngữ “Ta biết người buồn” lặp lại trong đoạn thơ khẳng định được tình cảm lưu luyến thiết tha của người ra đi và tình cảm tri kỷ của người đưa tiễn. Đúng là con người của thời hiện đại không còn công thức, đơn giản như người xưa. Cái “tôi” trữ tình trong Thơ mới đầy tâm trạng và nỗi niềm, đa sầu, đa cảm.
Tác giả không nói “hai chị” mà dùng phép đếm “Một chị, hai chị” vừa gợi lên cảm giác thưa thớt vắng lạnh lại vừa như xét đến tình cảm của từng người đã khóc nốt “dòng lệ sót” để khuyên ngăn em trai mình. Hiện tượng điệp vần “iếc” được dùng liên tiếp trong đoạn thơ: “biếc”, “chiếc”, “tiếc” gợi lên một chuỗi vướng mắc, bịn rịn, không nỡ dứt rời:
“Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay”
Khổ thơ cuối là hình ảnh li khách dứt áo ra đi:
“Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực”
Một câu hỏi nghi ngờ “Người đi?” đi liền với một câu khẳng định: “Ừ nhỉ, người đi thực” đã làm nổi bật tâm trạng ngỡ ngàng, bừng tỉnh của người đưa tiễn trước một sự thật: bản chất trượng phu quân tử đã trỗi dậy với tư thế kiên quyết dứt tình  của người tráng sĩ  như Kinh Kha trên sông Dịch năm xưa. Người ra đi đã biết vượt lên mình với một sự lựa chọn quyết liệt, đau đớn, đầy kịch tính mà cao cả đã diễn ra giữa chí lớn và tình riêng:
“Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
 Em thà coi như hơi rượu say”
Mỗi chữ “thà” trong những câu thơ trên: “Mẹ thà”, “Chị thà”, “Em thà” như một nhát dao sắc chặt đứt những ràng buộc tình cảm bịn rịn để ra đi. Trong giờ phút quyết định, li khách đã quyết tâm theo chí lớn, vượt nhớ thương để thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình. Nhưng bên trong những lời thơ gân guốc, rắn rỏi đầy cố gắng ấy, ta vẫn cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm, đầy xúc động, một nỗi niềm bâng khuâng khó hiểu của người ra đi, của con người thời đại Thơ mới.
Tóm lại, thể thơ, tên đề của bài thơ, ngôn ngữ và hình ảnh thơ không mới, tất cả đều cổ kính xa xưa nhưng lại được dùng rất mới mẻ và đầy sáng tạo. Tác giả đã sử dụng những câu hỏi tu từ trùng điệp, những câu thơ vần bằng xen lẫn ít vần trắc tạo nên một âm điệu đặc biệt ám ảnh cho bài thơ.
Tống biệt hành là một cuộc tiễn đưa đầy kịch tính trong mâu thuẫn giằng xé giữa chí lớn và tình riêng, một cuộc tiễn đưa dồn nén, đầy thử thách, gây được xúc động sâu xa trong lòng người.