Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

THỨC DẬY KÝ ỨC MỘT THỜI tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020








(Nhân xem Triển lãm tranh “Ban Mê ngày cũ” của họa sĩ của Lê Vấn tại
Đường Sách - Cà phê, Tp. Buôn Ma Thuột, từ 12 - 15/12/2019)



Cách đây 5 năm (2014) họa sĩ Lê Vấn đã có triển lãm riêng mang tên “Hồi ức Buôn Ma Thuột”. Cái tên của triển lãm đã thể hiện khá rõ nội dung những bức tranh của anh. Lần này với triển lãm mi-ni “Ban Mê ngày cũ” Lê Vấn tiếp tục chèo con thuyền cảm xúc bơi ngược về ký ức, để lại sinh hạ tiếp 20 bức tranh màu nước (khổ 56cm x 76 cm), khiến người xem không thể không ngẫm ngợi và không thể không thích thú!
Điều khiến cho người xem phải ngẫm ngợi, ấy chính là ký ức về một thời của Ban Mê. Ký ức đó phải chăng như mạch ngầm luôn luôn tuôn chảy trong tâm thức của người họa sĩ này và đã cho anh những kỷ niệm êm đềm về Ban Mê một thời; đồng thời cũng đã khiến anh nhiều đêm day dứt buồn, nhớ, tiếc, thương về một thời đã và đang chìm dần sau bao lớp bụi thời gian... Riêng tôi, tôi như thấy nhiều đêm anh đã không thể ngon giấc, bởi sự buồn, nhớ, tiếc, thương ấy. Tóc anh bạc đi một phần bởi canh trường thao thức nghĩ suy và những thúc giục từ cõi vô hình: Phải làm gì để giữ lại cho chính mình, cho con cháu mình, cho mọi người về một thời của Ban Mê, một thời đầy khó khăn, gian khổ, đầy gió hú, bụi mù, một thời phá rừng dựng phố, một thời đào đất tìm hạt bắp, củ mì... Một thời, dù gian khổ, dù nhuốm lên cả không gian và thời gian biết bao mồ hôi, có khi cả máu, nhưng đó cũng chính là “hồi môn tinh thần” của ông cha cần giữ lại cho con cháu, giữ lại để con cháu hôm nay, ngày mai và những ngày xa hơn nữa được thấy, được biết về “một thời như thế”; từ đó, biết yêu thêm mảnh đất này, biết trân trọng mồ hôi và máu ông cha đã đổ xuống dựng xây, tô điểm cho Ban Mê bề thế, khang trang mà chúng đang được ân hưởng. Đó hẳn cũng là lý do, là nguồn cảm hứng thôi thúc anh cầm cọ làm sống lại một thời của xứ sở này, xứ sở mà anh đã chọn làm quê hương thứ hai và gắn bó trọn đời với nó.
Với những ai đã ở tuổi trung niên trở lên, đã có khoảng ba chục năm sống trên mảnh đất Ban Mê này, đến xem triển lãm, bước chầm chậm dọc lối bày tranh của Lê Vấn, được thấy lại những hình ảnh quen thuộc của một thời, tôi dám chắc trái tim sẽ bị “mắc bùa” bởi “hồn cốt” của những bức tranh ấy và rồi tâm hồn người xem sẽ bị dẫn lối bay về vùng trời ký ức với tràn ngập những liên tưởng miên man... Ấy là những Ngày đầu trên quê mới: Nơi có căn nhà gỗ xộc xệch vừa dựng tạm, đất mới vỡ còn tươi nguyên sắc đỏ, cây vừa trồng đang lấp ló màu xanh. Là Chiều về trên buôn: Có hình ảnh người đàn bà bước nghiêng nghiêng bởi gùi nặng trên lưng, là mấy con bò vàng như đang ngó nắng, đợi hoàng hôn buông, là đàn gà con chiếp chiếp quẩn chân mấy đứa bé áo mặc phong phanh lầm bụi đỏ. Là cảnh Đi giữa mùa khô: Cánh rừng trụi lá, màu đất đỏ biết trèo tới nửa thân cây, là người đàn bà như lọt thỏm giữa cánh rừng, hình như chị đang trên đường từ rẫy về nhà với chiếc xe đạp thồ mấy buồng chuối, những quả chín bói vàng hươm, xếp cạnh những quả xanh, hẳn là sản phẩm từ chính tay chị gieo trồng; dù có vất vả nhưng chắc lòng chị đang vui, vui vì chị biết đất đỏ ở đây màu mỡ, không phụ người tần tảo, siêng năng. Ấy là Xóm lau tím: Với mấy ngôi nhà gỗ, mái tranh xơ xác vì nắng gió, vách gỗ xẻ, lớp nọ chồng lớp kia cong vênh, không thấy bóng dáng con người đâu cả, nhưng bức tranh lại cho thấy con người mới nhập cư nơi đây đang “tranh chấp” với cỏ lau để khẳng định lãnh địa, khẳng định sự tồn tại của mình, con người ở đây đang vượt qua mọi trở lực của thiên nhiên khắc nghiệt để vươn lên xây dựng cuộc sống mới văn minh, hiện đại hơn. Hình ảnh đoạn dây điện vắt trên cái trụ làm bằng cây rừng nhỏ, xiêu xiêu, phải chăng là một tín hiệu của văn minh, của điện khí hóa bắt đầu tìm đến xóm lau?
Mỗi bức tranh của Lê Vấn đều như ẩn chứa một câu chuyện về một thời. Nếu ta xem tranh không vội vàng và chịu để cho hồn lắng lại giữa khuôn tranh, thì những đường nét run rẩy đầy cảm xúc, những gam màu nâu, đỏ, xám, những nhấn nhá, đậm nhạt của đầu cọ sẽ dần dà cất lời kể cho ta/ nhắc lại với ta những câu chuyện thực ra đã có sẵn trong tâm thức, trong máu thịt ta tự bao giờ mà bấy lâu ta không còn nhớ/ không còn để tâm!
Tôi vào định cư ở Ban Mê cuối năm 1987, thời điểm Ban Mê đang ngập tràn khó khăn, phố xá còn bộn bề, đường đi nhiều nơi còn đất đỏ nguyên sơ... và vì thế ngắm chùm tranh Nhìn về phố, Phố nhà gỗ, Chợ Km3, Hẻm Suối Đốc Học... lòng bao cảm xúc ùa về. Ôi, cái con hẻm Suối Đốc Học bé teo, ẩm ướt thời ấy, nhà gỗ, nhà xây cấp bốn, mái tôn cũ xộc xệch như muốn nhô ra, cài vào nhau để che cho con hẻm nghèo, che cho những người lao động ở đây sớm tối đi/về mà không thể nào “đủ sức”; những bức tường gỗ, hoặc xi măng xám đen, nâu đỏ lem nhem, như được quệt từ mồ hôi/ thấm đầy mồ hôi và cả nước mắt của bao người lao động đang trú trong con hẻm ấy. Trước bức tranh Nhìn về phố, tôi như thấy bóng dáng ông chú họ của tôi năm 1988 di cư từ xứ Nghệ vào Ban Mê, ông vỡ cả một vạt đồi ở Ea Kao để dựng nhà, làm vườn. Chiều chiều ông lại đứng chống cuốc nhìn về phố, nơi có những ngôi nhà xây cao, thấp, nhấp nhô, khá đầy đủ tiện nghi, nơi ấy có những đường phố đang đông đúc người qua lại, tiếng nhạc, tiếng xe huyên náo, rộn ràng... và tôi từng nghe ông nói: Rồi đây Ea Kao cũng sẽ là phố xá! Bức tranh của Lê Vấn như nói hộ ông chú tôi và bao người dân di cư tới Ban Mê thời ấy về niềm tin vào ngày mai, về sự thay đổi mà mảnh đất này sẽ mang lại cho họ, nếu họ biết tin, yêu và biết đổ mồ hôi, trí lực vì nó.
Là người “ngoại giới” mĩ thuật, nhưng xem bức tranh Cơn mưa đất đỏ, một bức tranh mà nội dung theo tôi không có nhiều điều nổi trội so với các bức tranh khác, nhưng tài hoa vẽ màu nước của Lê Vấn thì hình như được thể hiện tất cả ở đây. Cái màu xám của cơn giông sầm sập kéo tới trên bầu trời, những người dân lưng mang gùi mặc áo mưa không màu, mỏng mảnh, bình thản rảo bước trong mưa (bởi họ đã quá quen với những cơn mưa bất chợt của Tây Nguyên). Mưa chảy loang loáng ánh nước bạc trên đường, bắt đầu làm đất ba zan tan chảy, sắc đỏ lởn vởn lẫn vào dòng nước mưa màu bạc... Dưới bàn tay của họa sĩ, những gam màu nhòe mờ, nhấn nhá đậm nhạt như đã chạm tới giới hạn của sự tinh tế, bắt đầu chuyển sang trạng thái thăng hoa, để ta được thấy sự run rẩy, lung linh của bức tranh, thấy được cảm xúc và tài hoa của người họa sĩ này. Đấy là chỗ khiến tôi thích thú và như bị mê hoặc.
Có thể nói: Triển lãm “Ban Mê ngày cũ” là sự chuyển tải lịch sử, văn hóa của Buôn Ma Thuột một thời tới người xem hôm nay bằng những rung động thực sự của một trái tim đã thuộc về mảnh đất Ban Mê này và từ một bàn tay tuyệt vời mà bà mẹ nghệ thuật đã sủng ái ban tặng cho Lê Vấn...
Ban Mê 17.12.2019

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

MỘT BỘ SÁCH THIẾT THỰC VÀ BỔ ÍCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC tác giả BÙI MINH VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020








(Đọc “Cảm bình thơ chương trình tiểu học”
 của Lê Thành Văn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2019) 



Trong một vài năm trở lại đây, nhà thơ Lê Thành Văn - một thầy giáo ở thị xã Buôn Hồ - đã liên tục xuất bản các tập sách bình thơ, biên soạn văn học trong nhà trường được bạn đọc gần xa yêu mến và trân trọng: “Miền thơ thao thức” (2017), “Bộ đề ôn thi trung học phổ thông Quốc gia” (2018); và năm 2019 là bộ sách “Cảm bình thơ chương trình tiểu học” (2 tập) vừa mới ra mắt độc giả. Qua tác phẩm này, không những thầy cô, học sinh trong ngành giáo dục của tỉnh Đắk Lắk hoan nghênh đón nhận mà các nhà văn, nhà thơ của Hội Văn học - Nghệ thuật Đắk Lắk cũng cảm phục sức lao động bền bỉ và ghi nhận sự cố gắng tìm tòi của tác giả.
Bộ sách “Cảm bình thơ chương trình tiểu học” được Lê Thành Văn chia thành hai tập, các bài được sắp xếp theo thứ tự A, B, C và đánh dấu lớp (từ lớp 1 đến lớp 5) in ở phần Mục lục để dễ dàng tra cứu. Tập 1, tác giả cảm bình 48 bài thơ sắp xếp từ vần A đến vần L. Tập 2, gồm 47 bài từ vần M đến đến vần V. Toàn bộ 95 bài thơ của phân môn Tập đọc trong sách Tiếng Việt cấp tiểu học đều được tác giả cảm nhận, bình phẩm trên cơ sở bám sát các câu hỏi của sách giáo khoa nhưng diễn đạt bằng một văn phong trôi chảy, gãy gọn, dễ hiểu và tràn đầy cảm xúc, nhờ đó giúp các em học sinh, giáo viên cũng như các bậc phụ huynh tiếp thu khá thuận lợi và dễ dàng các bài thơ trong chương trình tiểu học.
Qua bộ sách “Cảm bình thơ chương trình tiểu học”, người đọc nhận thấy ở nhà thơ Lê Thành Văn khả năng cảm bình thơ với một giọng điệu riêng, không trộn lẫn. Bởi lẽ, vốn là người làm thơ có nhiều thi phẩm đăng đàn trên cả nước, do đó những trải nghiệm trong sáng tác thơ ca dễ giúp anh thấu suốt và nắm bắt tác phẩm của người khác một cách nhanh nhạy. Đặc biệt, với hai mươi năm làm thầy giáo giảng dạy môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông, điều đó đã giúp tác giả có được một lối trình bày thể văn phê bình khá khoa học, gần gũi tư duy học trò, dù rằng đây là bộ sách dành cho tiểu học. Chính vì vậy, “Cảm bình thơ chương trình tiểu học” vừa có được cảm xúc tự nhiên của một tư duy thơ, vừa có cái nhìn khoa học, khách quan, phù hợp với đối tượng hướng đến mà thầy giáo Lê Thành Văn đã chắt chiu suốt một thời gian dài sáng tạo tác phẩm đầy tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc nhất.
Trong 95 bài bình thơ của bộ sách, tôi đã đọc nhiều lần và nhận thấy văn phong phê bình của tác giả Lê Thành Văn rất phù hợp với đối tượng là học sinh tiểu học. Không dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ cao siêu nặng tính lý luận, vượt quá khả năng tiếp nhận của học sinh cũng như giáo viên bậc tiểu học, phần lớn lời bình thơ của tác giả tập trung và xoáy sâu vào chính văn bản thơ. Chẳng hạn, trong phần kết luận bài thơ “Đàn gà mới nở” của nhà thơ Phạm Hổ, Lê Thành Văn đã có những lời văn cảm nhận vừa khái quát, vừa giàu cảm xúc nên rất thích thú: “Bài thơ miêu tả đàn gà mà loang phủ một tình cảm yêu thương, chở che ấm áp. Tấm lòng mẫu tử, hạnh phúc gia đình, sự sống bình yên, những mầm sống long lanh trên mặt đất…, dường như bao nhiêu điều tốt đẹp, mến yêu đều có thể soi chiếu ở bài thơ nhỏ nhắn, dễ thương này. Có lẽ sức sống của “Đàn gà mới nở” qua thời gian đã phần nào minh chứng cho điều đó”. Ở lời bình đoạn thơ: “Cô dạy em tập viết/ Gió đưa thoảng hương nhài/ Nắng ghé ngoài cửa lớp/ Xem chúng em học bài” trong bài thơ “Cô giáo lớp em” của Nguyễn Xuân Sanh, tác giả Lê Thành Văn cũng có những cảm nhận thú vị và đầy khơi gợi: “Vẻ đẹp của bài thơ thực sự lan tỏa khi cả không gian sáng bừng lên màu nắng hồng tươi và hương hoa nhài thoảng thơm theo gió nhẹ đưa vào. Đó là mỗi lúc cô giáo dạy các em tập viết, mọi vật xung quanh dường như cũng lắng lại, bâng khuâng và tràn ngập yêu thương. Thích nhất là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã dùng từ “ghé” làm cho ánh nắng vô tri bỗng trở thành người bạn nhỏ thân thiết, dịu dàng, luôn quan tâm đến việc học hành của các bé…”. Bình như thế là vừa đủ nội dung, đồng thời dễ làm cho học sinh xúc động và hiểu được ý thơ nhẹ nhàng, sâu lắng của một khổ thơ được xem là hay nhất trong bài. Đến đây, có thể nói rằng, vẫn còn nhiều đoạn văn cảm bình trong hai tập sách “Cảm bình thơ chương trình tiểu học” mà tôi muốn dẫn ra để minh họa cho tư duy khoa học và tính cảm xúc kết hợp hài hòa trong lối phê bình thơ của tác giả Lê Thành Văn, nhưng thấy rằng cũng đã vừa đủ, phần còn lại dành cho học sinh, thầy cô giáo và độc giả đánh giá, chia sẻ thêm.
Từ một thầy giáo dạy môn Ngữ văn, làm thơ đến tác giả viết phê bình thơ được bạn đọc yêu mến, trân trọng là cả quá trình phấn đấu, lao động chữ nghĩa không mệt mỏi của tác giả Lê Thành Văn những năm gần đây. Với bộ sách “Cảm bình thơ chương trình tiểu học”, một lần nữa khẳng định thể văn phê bình, nhất là bình thơ, đã trở thành sở trường mà nhà thơ Lê Thành Văn đang theo đuổi, phát huy mỗi ngày trên con đường lao động văn chương còn nhiều gập ghềnh nhưng luôn vẫy gọi phía trước.

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

TÌNH HUỐNG ĐỘC ĐÁO TRONG TRUYỆN NGẮN BẾN QUÊ CỦA NGUYỄN MINH CHÂU tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020

                                                                                


 
                                                          


Từ sau năm 1975, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã sớm đổi mới mạnh mẽ trong ý thức nghệ thuật và thể hiện trực tiếp trong hàng loạt các sáng tác. Đó là sự đổi mới quan niệm về hiện thực, đổi mới cách nhìn và khám khá về con người và sự đổi mới về bút pháp tự sự. Đối với truyện ngắn, ông ngày càng có ý thức sâu sắc hơn về vai trò của tình huống truyện và đã xây dựng được nhiều tình huống truyện độc đáo, có hàm lượng thẩm mỹ cao. Một trong những biểu hiện đó là tình huống truyện trong truyện ngắn Bến quê (Ngữ văn 9), sáng tác năm 1985, in trong tập truyện cùng tên, đây là một tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự ở giai đoạn sáng tác thứ hai của Nguyễn Minh Châu.
Trong truyện ngắn, tình huống truyện có vai trò hết sức quan trọng việc thể hiện nhân vật và chủ đề tác phẩm. “Tình huống truyện là những sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm, chứa đựng một tương quan bất thường giữa người với người hoặc giữa người với ngoại cảnh. Tại sự kiện đó, tính cách con người được bộc lộ sắc nét và thông điệp của nhà văn gửi gắm được hiện hình trọn vẹn” (Dẫn theo bài giảng: Chuyên đề truyện ngắn của TS Chu Văn Sơn). Theo tính chất của tình huống truyện, người ta phân tình huống truyện thành các kiểu: tình huống hành động, tình huống tâm trạng, tình huống nhận thức.
Tình huống truyện trong truyện ngắn Bến quê được xác định là tình huống nhận thức và có thể gọi đó là “SỰ BỪNG NGỘ CỦA MỘT CON NGƯỜI”.
Truyện kể về nhân vật Nhĩ với một hoàn cảnh rất đáng thương: Trước đây, Nhĩ là người đã đi rất nhiều nơi trên thế giới nhưng trong những ngày cuối đời, anh bị buộc chặt vào giường bệnh, bị liệt nửa người, mọi sinh hoạt của anh đều dựa vào người thân. Nhĩ khao khát đến cái bãi bồi bên kia sông nhưng không thể đến được. Anh nhờ con trai là Tuấn thay anh đến đấy nhưng Tuấn đâu hiểu được khao khát ấy của cha. Trên đường đi, Tuấn lại mải mê vào ván cờ phá thế như cách người ta vướng phải những cám dỗ trong cuộc sống và lỡ mất chuyến đò sang bên kia sông. Trong tuyệt vọng, Nhĩ thu hết mọi sức tàn, bíu chặt mười đầu ngón tay vào cái bậu cửa sổ, đưa bàn tay vẫy vẫy về phía cái bãi bồi bên kia sông ấy như một nỗ lực cuối cùng trong cuộc đời.
Tình huống truyện đã tạo ra hai nghịch lý: Nghịch lý thứ nhất là “Suốt cuộc đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, vậy mà gần một năm nay, căn bệnh quái ác đã cột chặt lấy anh vào giường bệnh. Liệt toàn thân, tự nhích người di chuyển vài chục phân trên tấm nệm khó bằng bay nửa vòng trái đất, sinh hoạt chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ của Liên”. Nghịch lý thứ hai đó là Nhĩ đã từng đi khắp năm châu mà chưa từng một lần đặt chân lên cái bãi bồi bên kia sông, ngay trước mắt mình. Như một định mệnh, miền đất ấy cuộc đời anh mãi mãi không thể đặt chân lên được, ngay cả khi Nhĩ nhờ con trai đến đấy thay anh.
Từ tình huống trên, tác giả đã đưa đến một thông điệp: Trong cuộc đời có những điều giản dị, bình thường nhưng không phải lúc nào cũng sớm nhận ra mà phải qua bao trải nghiệm, có khi đến cuối đời mới nhận ra được. Con người ta bước trên con đường đời khó tránh khỏi những vòng vèo, chùng chình mà cuộc sống giăng ra trước lối. Chỉ có những vẻ đẹp gần gũi, thiêng liêng là nơi có thể cho ta chỗ dựa, nâng bước cho ta trên cuộc đời. Với Nhĩ, đó là cái bãi bồi bên kia sông, là người vợ tần tảo, giàu đức hy sinh mà đến lúc này anh mới thấm thía.
Qua tình huống truyện, tác giả đã thể hiện sinh động diễn biến tâm trạng của nhân vật Nhĩ. Những ngày cuối đời, Nhĩ cảm thấy thiên nhiên như đẹp hơn với cái nhìn gần gũi và thân thiết hơn những gì anh đã biết. Sáng đầu thu hiện lên như một bức tranh trên cái nền của cảnh sắc. Đó là những bông hoa bằng lăng nở muộn, sắc đang phai giữa không gian vời vợi của bầu trời. Nắng soi dòng sông uốn lượn mềm mại, đỏ nhàn nhạt màu nước phù sa soi lên cái chiều rộng, chiều sâu của cái bãi bồi ngay trước cửa sổ. Anh thấy nó đẹp đến kỳ lạ bởi vì đó là lần đầu tiên anh say sưa chiêm ngưỡng nó, say sưa khám phá cái ẩn mình bên trong lớp vỏ hiền lành, gần gũi, đã quen thuộc bấy lâu nay. Anh cay đắng nhận ra cảnh vật kia mãi mãi là miền đất xa lắc, đến với nó chỉ là một giấc mơ xa rời tầm tay.
Hình ảnh người vợ hiện lên trong anh nỗi buồn xen lẫn những mặc cảm xót xa, tê tái: “Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá” và đôi tay gầy gò. Anh thấu hiểu sự vất vả, hy sinh thầm lặng của người vợ hiền thảo: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm…mà em vẫn nính thinh”. Nhĩ xúc động, thương cảm với cuộc đời tần tảo, lặng lẽ của vợ. Đó là niềm xúc động khi anh tìm được cho mình nơi nương tựa là gia đình. Anh đã ân hận, xót xa vì là trụ cột của gia đình mà chưa bao giờ làm cho gia đình ấy được sung sướng.
Dường như bằng trực giác, Nhĩ đã nhận ra thời gian của đời mình chẳng còn bao lâu nữa. Cảm giác về cái chết treo lơ lửng dường như đã thôi thúc cái khát khao trong anh cháy bỏng hơn, trước khi những đốm tàn của sự sống tắt lịm hẳn. Đó là khát khao được đặt chân lên cái bãi bồi bên kia sông, một miền đất trù phú và mơ ước. Cái bờ bên kia không dừng lại ở ý nghĩa hiện thực nữa, nó mang những giá trị biểu tượng vô cùng thiêng liêng. Bờ đất ấy cũng là phần cuộc đời chưa đi tới, phần cuộc đời mà mỗi người đều muốn khám phá dù biết rằng nó là không giới hạn. Bến bờ ấy cũng có thể là bến đậu quê hương, bến đậu cuộc đời, bến đậu của những giá trị tinh thần gần gũi mà ý nghĩa. Hành động cuối cùng của Nhĩ “giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ, khoát khoát - y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó” như một cố gắng cuối cùng để gửi đến mọi người lời nhắn nhủ thức tỉnh, thoát khỏi sự vòng vèo, chùng chình, chung tay vào để hướng tới những giá trị đích thực mà gần gũi trong cuộc sống. Đó cũng là thông điệp đầy tính nhân văn của Nguyễn Minh Châu qua tình huống truyện và nhân vật ở tác phẩm này.
Dạy - học tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn nói chung cũng như truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu cần chú ý phân tích tình huống truyện, từ đó mà tìm hiểu tâm trạng và cốt cách của nhân vật thể hiện qua tình huống. Có như thế chúng ta mới thấy rõ được ý đồ nghệ thuật và thông điệp của nhà văn cũng như những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm. Trên cơ sở đó mà giáo dục cho học sinh biết trân quý, mến yêu quê hương đất nước, những giá trị gần gũi, bình dị mà rất chân thật trong cuộc sống.


Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

RƯNG RƯNG NHỚ TẾT QUÊ NHÀ tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020



Sổ tay Thơ:



NHỚ TẾT



Tủi thân khói bếp ngày xưa
Mẹ nhen cho tối giao thừa bớt suông
Tiếng reo củi ướt đỡ buồn
Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy

Đầu làng nghê đất ngây ngây
Tuổi thơ pháo tẹt pháo dây đì đùng
Rạ rơm vây ấm một vùng
Bọc con vào giữa tận cùng làng quê

Nén hương cắm gốc bồ đề
Mẹ xin bóng mát tỏa về cái no
Con xin chiếc lá làm trò
Lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm

Tết nghèo bánh lá thay cơm
Đồng xu mừng tuổi còn thơm mùi bùn
Con nằm thương khói run run
Muốn đem khoe cả mưa phùn mẹ ơi !

Con lem lấm của một thời
Để khi khôn lớn nên người lại xa
Mỗi lần nhìn khói bay qua
Mắt rưng rưng nhớ quê nhà ... lại cay !
                                                            TRƯƠNG NAM HƯƠNG
LỜI BÌNH:
RƯNG RƯNG NHỚ TẾT QUÊ NHÀ

Ký ức tuổi thơ luôn là một vùng sáng đẹp đẽ và ấm áp giữa hồn người. Trong muôn vàn nỗi nhớ, có lẽ hình ảnh mùa xuân - mùa tết hiện lên bao giờ cũng thật đặc biệt. Trong trẻo, hồn hậu bằng thể thơ lục bát, nhà thơ Trương Nam Hương đã thể hiện nỗi niềm nhớ thương về một không gian ngày tết quê xưa qua bài thơ "Nhớ tết" vô cùng da diết. Đó là tiếng lòng của đứa con tha hương bồi hồi nhớ về chốn cũ, mẹ xưa để tưởng tiếc những mùa xuân tuổi thơ không còn nữa.
"Nhớ Tết" có 5 khổ thơ, được chia thành hai dòng cảm xúc. Cảm xúc hoài niệm về một tết xưa được tác giả thể hiện ở 4 khổ thơ đầu với nhiều hình tượng thơ chân thực, giàu sắc thái biểu cảm và mang đậm dấu ấn của sự trải nghiệm cá nhân. Đến khổ thơ kết bài, Trương Nam Hương bày tỏ nỗi ngậm ngùi, tiếc nuối về khung trời kỷ niệm tuổi thơ gắn với những cái tết xưa nghèo khó mà vô cùng thơm thảo. Nhìn chung cấu tứ không mới, song bài thơ hấp dẫn nhờ cách viết sáng tạo qua nhiều thi ảnh độc đáo và được kết hợp với thể thơ dân tộc thuộc sở trường của tác giả nên rất nhuần nhuyễn và dễ đi vào lòng người đọc.
Có lẽ ám ảnh và khó quên nhất đối với Trương Nam Hương là những cái tết nghèo khó nơi quê nghèo xưa cũ. Đất nước Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh li loạn triền miên, mùa màng thất bát, người lao động mấy khi có được một cái tết đủ đầy, dư dả. Hoài niệm về tuổi thơ trong trẻo ấy, nhà thơ vẫn không quên được hình ảnh người mẹ nghèo ngồi bên bếp lửa "nhen cho tối giao thừa bớt suông". Tiếng củi lách tách nghe sao mà chạnh niềm thương cảm:
Tủi thân khói bếp ngày xưa
Mẹ nhen cho tối giao thừa bớt suông
Tiếng reo củi ướt đỡ buồn
Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy
Tết xưa trong hồi ức của nhà thơ là thế đấy. Hình ảnh người mẹ nghèo hiện lên cơ khổ và tội nghiệp "bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy". Làng quê ngày tết xinh đẹp, nên thơ nhưng bốn bề nghèo khó, xung quanh chỉ toàn "rạ rơm vây ấm một vùng". Tuổi thơ nghịch ngợm chạy chơi đầu làng ngõ xóm sống động, vô tư với những trái pháo tẹt, pháo dây mà vẫn ấm lòng đến thế:
Đầu làng nghê đất ngây ngây
Tuổi thơ pháo tẹt pháo dây đì đùng
Rạ rơm vây ấm một vùng
Bọc con vào giữa tận cùng làng quê
Tết quê nghèo nên nhang khói tâm linh cũng được mẹ khấn vái sao cho có "cái no" từ linh thiêng cây bồ đề tỏa bóng. "Nhớ Tết" của Trương Nam Hương nhờ thế sâu sắc và cảm động lắm, nó không những là hồi ức kỷ niệm về tuổi thơ ngây ngô mà còn là tấm lòng thấu hiểu và cảm thông của nhà thơ với quá khứ. Mẹ lo toan cho cái ăn cái mặc hàng ngày bao nhiêu, đứa trẻ ham chơi của tuổi thơ tác giả lại vô tư "lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm" bấy nhiêu. Hình tượng thơ hiện lên nhờ thế sống động như một cảnh quay chân thực, hấp dẫn:
Nén hương cắm gốc bồ đề
Mẹ xin bóng mát tỏa về cái no
Con xin chiếc lá làm trò
Lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm
Chưa hết, "tết nghèo bánh lá thay cơm" cho đến những đồng tiền mừng tuổi "còn thơm mùi bùn" vẫn ám ảnh cuộc đời tác giả. Xúc động đến nghẹn lòng là những câu thơ đẫm tràn nước mắt. Lòng đứa trẻ ngây thơ muốn khoe tất cả để cảm tạ những cái tết quê nghèo khó mà nhân hậu, yêu thương:
Tết nghèo bánh lá thay cơm
Đồng xu mừng tủi còn thơm mùi bùn
Con nằm thương khói run run
Muốn đem khoe cả mưa phùn mẹ ơi!
Khổ thơ cuối bài khép lại đã làm nổi bật tứ thơ mà cũng chính là thông điệp của tác giả muốn nhắn gửi đến người đọc. Cái quy luật khắc nghiệt của cuộc đời dễ mấy ai thoát được. Tuổi thơ lấm lem, khó nhọc "được rạ rơm vây ấm" giữa làng quê yêu dấu, được tận hưởng những cái tết dù còn nghèo khó nhưng hạnh phúc, thanh bình sao giờ này mãi mãi rời xa. Càng lớn khôn và khát khao tìm về chốn cũ càng cảm thấy bất lực. Chính bi kịch "bao giờ trở lại ngày xưa" ấy đã khiến trái tim nhà thơ thổn thức, rưng rưng trong nỗi nhớ nhà, nhớ tết:
Con lem lấm của một thời
Để khi khôn lớn nên người lại xa
Mỗi lần nhìn khói bay qua
Mắt rưng rưng nhớ quê nhà... lại cay!
Viết về mùa xuân - mùa tết xưa nay có hàng vạn bài thơ của nhiều thế hệ thi nhân gửi gắm, giãi bày. Dù vậy, đọc "Nhớ tết" của Trương Nam Hương, ta vẫn thấy xao lòng, bồi hồi tưởng tiếc những mùa xuân tuổi thơ đi qua mãi mãi. Xuất phát từ cảm hứng hoài niệm thiết tha cùng với một tài năng thơ lục bát sắc sảo, bài thơ đã nói hộ cùng ta biết bao điều đáng nhớ và trân quý trong cuộc đời này, nhất là đối với người thân và những mùa tết yêu thương.
        LÊ THÀNH VĂN




Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

HOA DÃ QUỲ VÀ THƠ ĐẶNG BÁ TIẾN tác giả NGÔ MINH - CHƯ YANG SIN SỐ: 329+330 tháng 1&2 năm 2020

Nhà thơ Đặng Bá Tiến



Chỉ riêng em Cúc Quỳ màu nắng
Chiều nay vẫn vàng đến bỏng tim ai…

Hai câu thơ da diết về hoa dã quỳ của Đặng Bá Tiến làm tôi cứ lan man nhớ những ngày ở Buôn Ma Thuột cuối năm 2017. Nhớ những ngày uống rượu Ma-kông say cùng Đặng Bá Tiến, Lê Vĩnh Tài, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Nguyên Quân , Võ Quê… Nhớ rồi vui. Nhớ rồi buồn. Lần đầu tiên tôi được dự trại viết của Hội Nhà văn Huế ở Khu du lịch Đầu Nguồn, Đăk Lắk thật đẹp, đến 20 ngày. Hai mươi ngày chỉ uống rượu, viết và đi . Bảy mươi rồi vẫn thèm đi. Từ lâu, trong tâm khảm tôi, một đứa con của miệt biển Quảng Bình, Tây Nguyên là rừng đại ngàn nguyên sinh, là hổ gầm, vượn hú, là từng đàn voi rừng, là bè lao thác dữ; Tây Nguyên là cồng chiêng lửa múa, là nghiêng ché rượu cần, là Bài ca Đam San kể đêm nhà dài dài năm tháng, Tây Nguyên là bí ẩn cội nguồn….Và mấy chục ngày tôi quyết đi tìm hình ảnh Tây Nguyên mà tôi hằng ngưỡng vọng! Thơ Đặng Bá Tiến như hoa dã quỳ Tây Nguyên gọi tôi đi…
Từ Buôn Ma tôi đã đi cả trăm cây số đến bên sông Krông Năng, bên các bản làng người Ê Đê, Gia Rai nhưng không hề thấy bóng dáng đại ngàn. Chỉ điệp trùng những đồi đất đỏ ba zan cây cối lúp xúp cùng lau sậy và những nương cà phê bạt ngàn và hoa quỳ vàng rói rói. Hoa quỳ như nụ cười thời gian động viên tôi.  Tôi chỉ gặp chục cây cổ thụ rừng xưa còn sót lại bên đường cái quan ở xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, Nghe nói ngày xưa khu rừng nhỏ này là nơi ở của nhà thơ Thái Ngọc San từ Huế đi “kinh tế mới” cùng dân vào đây khai hoang dựng làng, nên không ai nỡ chặt. Tôi chăm chú ngắm mấy cây rừng đứng cô đơn trong gió như một nỗi niềm.
Không tìm thấy rừng tôi về đọc thơ Đặng Bá Tiến. Và đây, mùi rừng , sắc rừng thơ vào trang sách : Còn đâu những tháng ba trời đất thơm lừng/ trăm thứ hoa rừng đua nhau khoe sắc/ ong đập cánh cho ngợp trời phấn rắc/ mật ngọt như mưa dưới tán biếc ròng ròng ( Tiếng tù và và Ma-Kông) . Cái anh chàng nhà báo dân Hà Tĩnh này không biết thành Người Tây Nguyên từ bao giờ mà nghe được tiếng dòng sông Se-rê-poc từ ngàn xưa âm vọng giấc mơ còn ấm: Sê-rê-pốk ơi, tôi nhớ những cánh rừng xanh soi bóng trên dòng sông trôi/ những bầy công trong nắng mai xòe xiêm y ngũ sắc lượn bay với bạn tình/ tôi nhớ những thảm cỏ xanh trưa vàng có chú nai con nằm  day vú mẹ/ nhớ tiếng ra rừng chiều lung linh  dập dờn trong khóm lá/ ai hú gọi ai đến uống mật ong rừng….. Bài thơ lục bát Trở lại rừng xưa của Đăng Bá Tiến viết về rừng Bản Đôn đọc nghẹn như một vết thương đang mưng mủ: Ngàn lau xao xác u sầu/ Rừng xưa đã hóa nỗi đau nhân tình . Và tôi tìm được rừng xưa trong thơ : Cái thời công múa cùng nai/ Lá xanh giăng tán thành hai từng trời/ Tôi như đứa trẻ trong nôi/ Nằm nghe cây hát những lời đung đưa / Thấy trong hoa lá chuyển mùa/ hồn rừng xao xuyến như vừa viết yêu…

Hồn tôi bỗng vang lên tấu khúc. Trăm cây số không gặp đại ngàn, chỉ gặp bạt ngàn cà phê và Hoa Quỳ vàng đang cười trong nắng. Âu đó cũng là niềm an ủi! Tây Nguyên ơi. Nỗi nhớ hóa vàng .. Nỗi đau hóa vàng.  Nỗi nhớ hóa thơ. Hồn đại ngàn xưa thương người hóa dã quỳ ngùn ngụt dâng vàng!
                  Chỉ riêng em Cúc Quỳ màu nắng
                  Chiều nay vẫn vàng đến bỏng tim ai… ( Cúc Quỳ- ĐBT)
***
Dọc dài Tây Nguyên ngút ngàn đồi lau như mộ rừng nhấp nhô trùng điệp. Tôi về Bản Đôn, sông Sê-rê-póc cạn nước. Tôi về xã Phú Xuân, đứng bên sông Sông Krông Năng khô mắt nhớ . Nước cạn, những hòn đá trọc đầu nhấp nhô như con của thủy thần ngoi lên tìm nước. Những mùa khô Tây Nguyên và nạn khai thác rừng, khai thác mạch nước ngầm bừa bãi đã làm cho các dòng sông lớn như sông Ba, sông Sê-rê-pốc, sông Sê San đều đang chết dần vì khô kiệt. Rừng nguyên sinh liên tục bị tàn phá, các dòng sông khát nước và vì thế, đương nhiên các hồ nước không còn nhận được nước từ bất cứ nguồn nào. Tôi đã về ngồi thuyền chạy vòng quang Hồ Lắk. Bà con dân làng kể rằng, mực nước hồ Lắk vào thời điểm này đã rút xuống thấp hơn mấy năm trước. Một nhà báo đã viết: “Hồ Lắk trông mỏng quẹt như một miếng gương”. Không ai còn dám khẳng định, biển nước trời ban cho Tây Nguyên lớn thứ hai sau hồ Ba Bể  tồn tại đến bao giờ.  Một phụ nữ M’nông đang phơi lúa ở con đường bên hồ cho biết : “Nói hồ Lắk cạn kiệt là nói thiệt đó! Vài năm trước, xuống mép hồ là phải đi thuyền. Bây giờ, đáy hồ bị bùn bồi lên, có nơi lội ra được”.
Chỉ còn sông, chỉ còn nước trời chảy trong câu chuyện miên man cúa dân bản và trong thơ Đặng Bá Tiến thôi. Nhà thơ như sinh ra đã là đứa trẻ Ê đê, M’Nông, Gia rai, Ba Na mẹ địu trên lưng . Nên dòng sông Sê-rê-póc thức dậy sống động  từng hơi thở trong thơ Đặng Bá Tiến, Con sông trong cho chiều Bản Đôn em khỏa thân bơi giữa dòng nước mát/ để đêm đến em ngồi bên tôi ngắm trăng cũng mát rượi cánh tay mềm/ con sông của mùa cá anh vũ, cá lăng, cá rô cờ/ nướng trui trên than hồng thơm ba ngọn núi/ nấu canh chua lá me ăn thì nhớ suốt đời… (Sê-rê-pốk mơ và thực). …Có giấc mơ, nụ cười của đứa con mỗi chiều ngồi trên cầu thang đợi mẹ /…/ có giấc mơ về bến nước một thời con gái tắm truồng khoe vú cười ran như bồ chao vỡ tổ / giấc mơ về một thời rừng xanh đầu ngõ làm bạn với công xanh làm bạn với nai vàng…( Người đàn bà mang gùi).

Hồn tôi bỗng vang lên tấu khúc. Trăm cây số không gặp đại ngàn, chỉ gặp bạt ngàn cà phê và Hoa Quỳ vàng đang cười trong nắng. Âu đó cũng là niềm an ủi! Tây Nguyên ơi. Nỗi nhớ hóa vàng .. Nỗi đau hóa vàng.  Nỗi nhớ hóa thơ. Hồn đại ngàn xưa thương người hóa dã quỳ ngùn ngụt dâng vàng!
                  Chỉ riêng em Cúc Quỳ màu nắng
                  Chiều nay vẫn vàng đến bỏng tim ai… ( Cúc Quỳ- ĐBT)
***  
Đăk Lăk, Tây Nguyên là xứ sở của voi. Voi là loài thú lớn nhất của rừng đại ngàn. Chúng tôi đến Hồ Lak, đi thuyền, thưởng thức ẩm thức và đợi xem voi. Đợi mãi đến chiều mới có hai chú voi lội qua hồ. Anh em đua nhau chụp ảnh, vì sợ không thấy voi ở đâu nữa!. Sao voi giờ hiếm vậy? Buôn Đôn là Buôn voi. Nơi nổi tiếng nhiều voi nhất nước ta. Nhưng “buôn voi” còn là chuyện săn voi, mua bán voi từ bao đời nay rất kỳ thú ở xứ Tây Nguyên huyền thoại này. Hơn 10 năm trước, tôi đã ngồi uống rượu với cụ May Phăl, một người săn voi giỏi ở Buôn Đôn. Cụ May Phăl trong đời mình đã bắt được 200 chú voi rừng, cho đến khi săn voi bị cấm. Nhưng cụ bảo cụ chưa phải Kru. Thợ săn voi giỏi ở Buôn Đôn đều được xếp thứ hạng. Lừng danh như người anh hùng, dũng sĩ gọi là Kru.  Ở Buôn Đôn tới nay, có khoảng 30 Kru lừng danh. Còn loại thợ săn bắt được từ 14 con voi rừng trở xuống gọi là Păcsai thì ở Buôn Đôn nhiều lắm.
Kru nổi tiếng phải kể đến Vua săn voi Khun-zu Nốp (N' Thu K'Nul) lừng danh, là một ông Vua không ngai! Bây giờ còn có cả khu mộ vua săn voi Khun-zu Nốp bên dòng sông Sêrepốk. Ama Kông tên thật là Y Prông Êban, là cháu ruột của vua săn voi Khun-zu Nốp, ông  sinh năm 1909. Ông đã săn được 298 con voi. Mùa xuân 1996, 90 tuổi ông vẫn đi săn được voi rừng. A Ma Công đã tìm ra một thang thuốc rừng Tây Nguyên mang tên ông gọi là thang A Ma Công. Thang thuốc này giúp ông có sức khỏe để săn voi và để mang lại hạnh phúc cho mấy đời vợ….
Tôi hơi miên man về các Kru săn voi Buôn Đôn xưa, mà quên mất câu nói của cụ May Phăl mười năm trước :” Bây giờ rừng bị chặt hết rồi, voi không có chỗ sống, không có cái ăn, nó đi theo Giàng hết rồi! Voi rừng đi theo Giàng còn voi nhà Buôn Đôn thì chết dần chết mòn do khai thác chúng quá sức. Nguy cơ voi Tây Nguyên chỉ còn trong phim ảnh là điều đã được báo động từ lâu! Thôi thì ta về với voi trong thơ Đăng Bá Tiến . Ta là voi đã mất bạn tình/ Một mình đứng trong chiều nhai nắng/ mắt hoen lệ nhớ thời xa vắng/ thời rừng già huyền bí thiêng liêng/ Thời đại ngàn là xứ sở thần tiên/ Là xứ sở cho những cuộc tình động đất…/.../…Ôi cái thời rừng trùng điệp vây quanh/ Ta là đế vương giữa đại ngàn giàu có/ Là lãnh chúa của đàn đàn muông thú/ Là tất cả những gì ta muốn ta mê… (Lời con voi Bản Đôn). Năm năm Bản Đôn vắng tiếng ông cười/ con voi già thường dẫm chân hỏi đất…( Nhớ Ma-kông) . Bằng tài hoa của mình, thi sĩ đã giữ cho bây giờ, và cho muôn đời sau những thi ảnh, những voi hình tượng Tây Nguyên đang dần mất. Rồi cuộc sống sẽ làm nên những sắc màu Tây Nguyên khác. Giàu có hơn. Sang trọng hơn. Hiện đại hơn! Nhưng những gì đã mất là vô cùng quý giá, những mùa săn voi, mùa cồng chiêng nơi bản xưa, những bức tượng nhà mồ truyền thống, những trường ca Đan San, Xing Nhã già làng kể bên bếp lửa nhà rông đêm đêm.v.v..sẽ không tìm thấy nếu không có những bảo tàng, những trang thơ như thơ Hồn Cẩm Hương  của Đặng Bá Tiến ! Cám ơn nhà thơ!

Hồn tôi bỗng vang lên tấu khúc. Trăm cây số không gặp đại ngàn, chỉ gặp bạt ngàn cà phê và Hoa Quỳ vàng đang cười trong nắng. Âu đó cũng là niềm an ủi! Tây Nguyên ơi. Nỗi nhớ hóa vàng .. Nỗi đau hóa vàng.  Nỗi nhớ hóa thơ. Hồn đại ngàn xưa thương người hóa dã quỳ ngùn ngụt dâng vàng!
                  Chỉ riêng em Cúc Quỳ màu nắng
                  Chiều nay vẫn vàng đến bỏng tim ai… ( Cúc Quỳ- ĐBT)      
                                                                     Đăk Lak- Huế 2017 - 2018