Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

GIAO LƯU VỚI THƠ THẾ GIỚI VÀ SỰ TÍCH HỢP CÁC GIÁ TRỊ THƠ tác giả PHẠM QUỐC CA - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020




           




Điều oái oăm của lịch sử là với tiếng súng xâm lược và sự “cưỡng hôn văn hoá” thực dân Pháp đã góp phần mở toang cánh cửa phong bế ngàn năm. Trước đây ông cha ta chủ yếu giao lưu văn hóa với Trung Hoa và các nước “đồng văn”( cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán) ở khu vực Đông Á. Bây giờ người Việt Nam thấy  “trời Âu, bể Á”, thấy “tân vận hội”, thấy khả năng tự cường dân tộc và giành độc lập tự do cho đất nước theo những con đường mới. Chủ nghĩa tư bản với thị trường thế giới đã làm cho tiên đoán của Karl Marx về sự hình thành nền văn học thế giới trở nên hiện thực. Giao lưu với thơ thế giới đã có vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa thơ Việt Nam. Nhìn lại quá trình giao lưu với thơ thế giới chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau:
1. Giao lưu  với thơ thế giới đã góp phần  thay  đổi quan niệm thơ, làm  giàu cho thơ Việt Nam những yếu tố mới và đưa thơ Việt Nam vào quỹ đạo thơ hiện đại.
Trước hết là thay đổi quan niệm thơ. Sẽ không thực tế và khiên cưỡng nếu như nói rằng toàn bộ thơ Việt Nam trung đại là thơ “tải đạo”, “ngôn chí”. Thơ là thể loại gắn trực tiếp với tâm tư, cảm xúc của chủ thể thẩm mỹ. Các nhà thơ tài năng bao giờ cũng là những hiện tượng vượt khung thời đại. Song sự ràng buộc, qui định của thi pháp thời trung đại cũng là một thực tế. Do nhu cầu khẳng định một nhà nước độc lập theo mô hình phong kiến Trung Hoa và nhu cầu cổ vũ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhiều quan niệm thơ Trung đại Trung Hoa đã được ông cha ta tiếp nhận. Trong đó nổi bật là quan niệm “thi ngôn chí”.
Tiếp xúc với thơ phương Tây thi nhân Việt Nam ngộ ra rằng thơ còn có cuộc sống riêng với qui luật đặc trưng của cái đẹp. Bài thơ Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ có thể xem là tuyên ngôn của Thơ mới (1932-1945)- một cuộc cách mạng thi ca. Quan niệm duy mỹ này có phần thoát ly cuộc đấu tranh chung của dân tộc lúc ấy .
 Nhưng về góc độ mỹ học thì đây là một bước tiến vô cùng quan trọng của thơ. Nó giải phóng cho thơ khỏi tính chất giáo huấn, tính chất chức năng, công cụ đạo lý của thơ rung đại.
Thơ truyền thống Việt Nam còn là thơ thiên về tình cảm. Trong xã hội Nho giáo đầy tính chất khuôn mẫu với “tam cương, ngũ thường” thì tình cảm trong thơ cũng khó mà đa dạng, mới mẻ. Với ảnh hưởng của thơ phương Tây, thơ hiện đại Việt Nam kể từ Thơ mới hướng về cảm xúc. Cảm xúc là tên một bài thơ có tính tuyên ngôn của Xuân Diệu cũng là tuyên ngôn của Thơ mới. Tình cảm thì không nhiều loại nhưng cảm xúc thì vô cùng đa dạng. Với ảnh hưởng của thơ Tượng trưng Pháp ,Thơ mới còn đề cao yếu tố cảm giác. Cảm xúc, cảm giác gắn với con người cá nhân, ý thức chủ thể làm nên sự tươi tắn, sống động của Thơ mới. Đặc điểm này được tiếp tục trong thơ Cách mạng 1945-1975 và đặc biệt là trong thơ đương đại.
Một đặc điểm nổi bật khác của thơ trung đại Việt Nam là tính chất duy lý giáo điều. Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ phương Tây, thơ Việt Nam thế kỷ qua đã tăng cường yếu tố trí tuệ. Nghiên cứu Thơ mới các nhà văn học của chúng ta thường bỏ qua đặc điểm này. 
Với tư duy hiện đại Thơ mới ưa phát hiện và thể hiện sự thay đổi của cuộc sống, thể hiện sự phân vân, không rành mạch, nhiều đối cực, nghịch lý của con người. Mọi sự đều thay đổi kể cả lòng người ( Đi thuyền của Xuân Diệu là một bài thơ tiêu biểu). Thơ mới ở dạng duy lí có rất nhiều câu hay cô đúc như châm ngôn:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
                                             (Xuân Diệu)
Thơ Chế Lan Viên là một thí dụ đầy sức thuyết phục về vai trò của lý trí, trí tuệ trong thơ hiện đại . Trí tuệ trong thơ hiện đại là trí tuệ đúc kết, chiêm nghiệm từ đời sống và cảm nhận máu thịt của nhà thơ :
         Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
         Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
Nó khác với tính chất duy lý, giáo điều của thơ trung đại:
Hay tám vạn ngàn tư mặc kệ
Không quân thần phụ tử đếch ra người.
                                             (Nguyễn Công Trứ)
Với ảnh hưởng của thơ thế giới, thơ Việt Nam thế kỷ qua cũng đã có một bước chuyển quan trọng: Từ chỗ thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ hoặc của tầng lớp Nho sĩ hoặc của con người làng quê nông nghiệp, thơ chuyển sang thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ của con người đô thị hiện đại. Bước chuyển này thể hiện rõ rệt từ Thơ mới  và thơ sau 1975. Đô thị hóa là một quá trình tất yếu của thế giới hiện đại. Công chúng của thơ hiện đại cũng chủ yếu là công chúng ở đô thị. Cái gu thẩm mỹ mang tính chất nông thôn, nông nghiệp ngày càng tỏ ra không ăn nhịp cùng thời đại. Nó đòi hỏi phải được biến đổi, hiện đại hoá. Thơ thế giới hiện đại chủ yếu là thơ của con người đô thị đang chuyển biến hết sức mau lẹ. Cho dù yêu mến làng quê cổ truyền đến đâu cũng không thể “Van em em hãy giữ nguyên quê mùa” như Nguyễn Bính ở thập kỷ ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước. Hướng đi của thơ hiện đại không phải là hạ thấp trình độ thẩm mỹ xuống cho vừa với trình độ của số đông công chúng mà là nâng cao trình độ thụ cảm thơ của họ. Quá trình này không đơn giản mà và vấp phải những quan niệm cực đoan như đã diễn ra trong thời kháng chiến chống Pháp. Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bị phản ứng quyết liệt vì không nói được tâm tình và quan niệm thẩm mỹ của quần chúng công nông binh. Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên bị ngay một nhà thơ tài năng khác là Xuân Diệu  nhân danh sự trong sáng để phê bình là "rắc rối, rối rắm" [1; tr.349].
Công chúng nào văn học ấy. Thơ hiện đại Việt Nam hôm nay đang hướng về bạn đọc có văn hoá thơ hàng đầu. Nhà thơ phải vượt lên trước tầm đón nhận của công chúng, ít nhất là “nửa vành bánh xe”...

2. Giao lưu với thơ thế giới đã diễn ra theo quy luật đáp ứng nhu cầu của thơ Việt Nam từng bước hiện đại hóa.
Bàn về ảnh hưởng của thơ Pháp đối với phong trào Thơ mới 1932-1945, nhà nghiên cứu Phan Ngọc có nêu lên qui luật vế “tính đồng thời”. Thực tế đã không diễn ra như vậy. Vài thập niên đầu thế kỷ XX thơ phương Tây đã vào giai  đoạn tượng trưng, siêu thực, song các xu hướng thơ này hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến thế hệ các nhà thơ đương thời ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân. Trước hết các nhà thơ ta chỉ tiếp xúc một cách gián tiếp văn chương Pháp qua dịch thuật. Song, nguyên nhân chính phải được xác định bởi nhu cầu tiếp nhận. Độc lập quốc gia và tiến bộ xã hội là hai vấn đề cơ bản được đặt ra lúc bấy giờ khiến các nhà Nho hướng đến việc tiếp nhận tư tưởng cách mạng Dân chủ Tư sản, tiếp nhận văn chương triết lý xã hội của những Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu.. ở thế kỷ Ánh sáng, nghĩa là trước đó đến hai trăm năm. Không chỉ Phan Bội Châu mà Tản Đà cũng xác nhận ảnh hưởng văn chương triết lý của Pháp đến với ông trong khoảng thời gian trước 1920 qua sách dịch từ tiếng Pháp và đã viết trong Giấc mộng con: “ Phương Thái Tây được có pháp luật công chính là nhờ thiên lương ông Mạnh Đức Tư Cưu”. Lý do tầm đón nhận hạn chế đã đành, song bên cạnh đó còn là quan niệm thơ. Thơ đối với các cụ luôn gắn với trách nhiệm xã hội, gắn với con người. Ý thức mới về văn chương đã được Tản Đà phát biểu : “Có văn, có ích, có văn chơi”. Nhưng cho đến thời điểm này thơ chưa có đời sống độc lập của nó để có thể tính chuyện tiếp nhận những cái đương thời ở thơ Pháp.
Phong trào Thơ mới (1932-1945) đã “diễn ra trong mười năm lịch sử trăm năm của thơ Pháp”. Thơ Pháp lúc này đã vào giai đoạn siêu thực, hiện sinh nhưng do nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân các nhà Thơ mới chỉ tiếp nhận các trào lưu lãng mạn, Thi sơn, tượng trưng và một ít siêu thực. Các trào lưu về sau này của thơ phương Tây tương ứng với thời đại khủng hoảng sâu sắc về nhân cách, về tư tưởng thẩm mỹ. Nó phản ánh sự bất ổn, tan rã, vỡ mộng của cái tôi cá nhân. Xã hội và con người thành thị Việt Nam lúc bấy giờ chưa gặp những vấn đề như vậy của xã hội phương Tây.
Qui luật này cũng thể hiện trong thơ cách mạng 1945-1975 ở chỗ nó hướng đến những nền thơ Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thơ Xô viết vì tìm thấy ở đó những yếu tố có thể phát triển bằng kinh nghiệm của nền thơ đồng dạng đi trước và thực tế đã có những ảnh hưởng tích cực. Các thi hào của các dân tộc trên thế giới cũng đã đến với Việt Nam không phải như những vì sao giá lạnh mà như những nguồn năng lượng cổ vũ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong khi đó hầu như  toàn bộ thơ phương Tây hiện đại không được giới thiệu ở miền Bắc trong thời gian này.
Đặc điểm có tính qui luật này đặt ra vấn đề tiếp nhận những gì ở thơ thế giới đương đại trong thời kỳ Đổi mới? Giờ đây chúng ta đã có điều kiện hội nhập từng bước với thế giới trên tất cả các lĩnh vực. Với định hướng “xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” công việc đầu tiên là phải xác định trong những giá trị thơ ca thế giới hiện đại đâu là những cái cần cho chúng ta. Nền thơ Việt Nam thế kỷ XXI theo hình dung của chúng tôi sẽ phải là một nền thơ đa dạng như một vườn hoa nhiều màu sắc, có chỗ cho mọi xu hướng thơ phát triển. Sẽ tự làm nghèo nền thơ Việt Nan đương đại nếu nghĩ thơ chỉ có thể phát triển theo hướng tượng trưng, siêu thực và các xu hướng hậu hiện đại khác của phương Tây. Nền thơ Việt Nam tương lai sẽ là nền thơ tích hợp tất cả các giá trị thơ ca kim cổ, đông tây. Do nhiều nguyên nhân trong đó có qui luật phát triển không đều, mấy thế kỷ qua có một thực tế : trên nhiều lĩnh vực “ánh sáng là từ phương Tây tới”. Song văn học nói chung và thơ nói riêng có tính chất đặc thù dân tộc. Nền thơ Việt Nam đương đại phải tự trả lời được những câu hỏi “ta là ai?”, “ta muốn trở thành gì ?” thì mới chủ động trong giao lưu thơ được.
Giao lưu thơ do nhiều nguyên nhân còn phiến diện và chưa cập nhật với thơ hiện đại thế giới.
Giai đoạn đầu thế kỷ XX thơ Việt Nam chủ yếu tiếp nhận ảnh hưởng của tư tưởng, triết lý xã hội “Thái Tây”. Hệ quả là chỉ mới làm rạn nứt quan niệm thơ trung đại và đổi mới về nội dung thơ. Thơ vẫn ở tình trạng “bình cũ rượu mới”. Các nhà Thơ mới cũng chịu ảnh hưởng của thơ Pháp từ thế kỷ XVII  đến thế kỷ XIX là chủ yếu. Trong hoàn cảnh đất nước không có tự do, Thơ mới 1932-1945 tự khuôn vào thể tài đời tư, vào trữ tình cá nhân, tìm đến những trào lưu thơ tương ứng với nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ trong thơ Pháp. Những tiếng thơ vang vọng các sự kiện long trời lở đất như Cách mạng Tư sản Pháp và Công xã Paris còn ít ảnh hưởng đến thơ họ. Giọng thơ hùng tráng của Huy Thông, “Cây đàn ngàn phiếm” của thơ Thế Lữ có làm ta liên tưởng đến  Victo Hugo nhưng còn những thi hào, thi bá khác của phương Tây như Byron (Anh), Goethe (Đức) đã như không được biết đến. Ngẫu nhiên qua Baudelaire mà các nhà thơ ta biết đến Edgar Poe (Mỹ). Tầm đón nhận có vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa thơ. Hoài Thanh đã chỉ ra một trường hợp tiêu biểu trong Thơ mới: “Trong thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn. Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên. Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới. Với một nghệ thuật tinh vi đã học được của Baudelaire Xuân Diệu đã diễn tả lòng ham sống bồng bột trong thơ de Noailles, trong văn Gide. Lúc bấy giờ Thế Lữ  mới tìm đến Baudelaire nhưng nguồn thơ Thế Lữ đã cạn không sao đi kịp thời đại” [2; tr.35] .
Đến lượt mình Xuân Diệu dừng lại ở những quan điểm thẩm mỹ của thơ tượng trưng. Đối với những hiện tượng tiếp tục hiện đại hoá như Hàn Mặc Tử ông gần như bỉ báng. Trên báo “ Ngày nay” (7/8/38) trong bài Thơ của người ông viết : “Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên thì tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”.
Tính chất phiến diện trong việc tiếp nhận và tích hợp các giá trị thơ ca thế giới cũng đã thể hiện ngay trong nền thơ cách mạng 1945-1975. Với tính chất một nền thơ cách mạng, nó hướng sự quan tâm chủ yếu đến thơ các nước xã hội chủ nghĩa. Thơ hiện đại phương Tây nhìn chung là ngoài tầm mắt các nhà thơ cách mạng. Không những thế còn bị nhận định chung là “tư sản suy đồi”, “điên loạn”. Trong nhiều trường hợp đó là những nhận xét hàm hồ. Ngay đối với thơ Xô viết chúng ta cũng chỉ tiếp nhận những hiện tượng thơ “chính thống”. Bạn đọc Việt Nam đương thời không biết đến thơ B. Pasternak, A. Akhmatova, O.Mandelxtam… Thậm chí có xu hướng đối lập một cách phi lý và giả tạo thơ V. Mayacovsky với thơ S. Esenin
Trong lòng các đô thị miền Nam các nhà thơ và công chúng yêu thơ lại chỉ biết chủ yếu đến thơ hiện đại phương Tây. Chủ nghĩa hiện sinh có lúc trở thành một thứ mod trí thức. Thế giới chia làm hai phe hòng tiêu diệt lẫn nhau. Ranh giới chính trị một thời đã trở thành ranh giới nghệ thuật. Chính vì vậy thơ cách mạng Việt Nam chưa phải là đã tiếp nhận được những thành tựu nghệ thuật đa dạng và hiện đại nhất của thơ ca thế giới. Ngoài thơ Xô viết chúng ta chỉ say mê thơ A. Pushkin, M. Lermontov, H. Heine, S. Petofi, W. Whitman… là những nhà thơ thế kỷ XIX. Cũng như vậy trên lĩnh vực văn xuôi ta quen với H. Balzac, V. Hugo, G. Maupassant, W. Thakeray,Ch. Dickens mà ít biết về văn học hiện sinh, Tiểu thuyết mới… Tính chất phiến diện và thiếu cập nhật phần nào đã được khắc phục ở lĩnh vực văn xuôi bằng các ấn phẩm dịch từ cuối thập niên tám mươi đến nay. Những cách tân khá mạnh mẽ trong văn xuôi là hệ quả của giao lưu văn học thời kỳ Đổi mới. Các thủ pháp nghệ  thuật như đồng hiện, dòng ý thức, khai thác cõi vô thức, tiềm thức, bản năng… được áp dụng khá nhuần nhuyễn đã đem lại những giá trị mới lạ trong văn Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà…Riêng trên lĩnh vực thơ tình hình có khác. Khó có thể nói đến ảnh hưởng của thơ qua các bản dịch. Thơ dịch khó mà chuyển tải được cái hay của nguyên bản nhất là về mặt hình thức. Đó là chưa kể đa số trường hợp là dịch xổi, dịch người nào “giết” người ấy như Chế Lan Viên đã cay đắng viết trong trong bài thơ “Bị lừa” (Di cảo III).
Trước mắt chúng ta cần nhanh chóng có kế hoạch dịch tác phẩm và phân tích, giới thiệu một cách bài bản các tác giả thơ lớn của thế giới, lấp đầy các khoảng trống trên “bản đồ thơ thế giới” đương đại. “Khởi thủy là dịch”. Đó là khẩu hiệu của thời kỳ văn học Phục hưng ở Châu Âu. Tầm quan trọng của dịch thuật đã được thể hiện bằng việc mô phỏng một câu trong Kinh Thánh: “Khởi thủy là Lời”. Một khi chưa làm được điều này, việc tiếp nhận các giá trị thơ ca thế giới sẽ vẫn còn diễn ra một cách ngẫu nhiên, không tránh khỏi phiến diện và thiếu cập nhật.
3. Nâng cao hiểu biết, mở rộng tầm đón nhận là yêu cầu đối với thơ Việt Nam hôm nay
“Làm thơ  chỉ biết có thơ thôi không được. Làm thơ với trái tim, với chất sống không đủ. Phải có văn hoá nữa” (Chế Lan Viên, Bước đầu của tôi) [09;tr.710]. Thời hiện đại đang cấu trúc lại xã hội và đã làm đảo lộn vai trò nhiều lĩnh vực đời sống của loài người nói chung và ở Việt Nam ta nói riêng. Thơ không ở ngoài hoàn cảnh chung này. Một mặt thơ đang thu hẹp ảnh hưởng của mình đối với đời sống xã hội, mặt khác đang dần dần chuyển sang chuyên nghiệp hóa cao độ. Thơ tất yếu sẽ phân hóa thành thơ đại chúng và thơ cho lớp người đặc tuyển. Vai trò cách tân chủ yếu thuộc về loại thơ thứ hai. Để cách tân thì yếu tố chủ thể là quyết định nhưng vai trò của tiếp nhận các giá trị thơ thế giới vô cùng quan trọng. Ở đây tính dân tộc của thơ phải được hiểu thật khoa học trong thế vận động biến đổi theo hướng hiện đại hóa. Không thể nhân danh sự giản dị trong sáng được hiểu một cách giản đơn là gắn với truyền thống để kìm hãm sự phát triển của thơ . Bởi vì “có trong sáng động và trong sáng tĩnh, có trong sáng giàu và trong sáng nghèo”[1; tr.339]. Những lời bàn sau đây của Chế Lan Viên về ngôn ngữ cũng có thể xem như phương pháp luận khi nghĩ về giao lưu văn học và tích hợp các giá trị thơ ca: “Biết làm sao được khi dòng sông ngôn ngữ tiếp xúc với cái mới, cái lạ thì nó hãy tạm thời bị vẩn đục. Vấn đề là nó phải nhanh chóng chủ động giải quyết sự đục ấy để không những lặp lại sự trong sáng cũ mà tiến đến một sự trong sáng mới cao hơn, giàu hơn vì bấy giờ đã thêm yếu tố mới nhập vào” (Làm cho ngôn ngữ trong sáng, giàu và phát triển ) (1;tr.339).
Nền thơ Việt Nam trong thế kỷ mới sẽ là một nền thơ có điều kiện tiếp thu mọi giá trị tinh hoa của thơ thế giới. Từ thực tiễn sáng tác của nhà thơ tài năng Chế Lan Viên ta có thể thấy sự phủ nhận triệt để các xu hướng thơ hiện đại phương Tây là cực đoan. Bàn về thơ hiện đại, ông viết: “Trái tim và khối óc, cái cá nhân và cái xã hội, ý thức và vô thức. Đấy chỉ là hồng cầu, bạch cầu của một sức khỏe chung. Ngay một nhà thơ siêu thực cũng đã mơ một nền thơ siêu thực cộng với cực lý trí. Cực mê đòi cực tỉnh” [109; tr.678]. Thơ tượng trưng, siêu thực vẫn có nhiều điểm khả thủ. Nó chỉ hỏng khi được xem là mục đích, là chủ nghĩa, lấy phương pháp sáng tác thay cho giá trị thực chất của lao động sáng tạo. Có những nhà thơ đang đánh mất mình khi ngộ nhận qui luật phát triển của thơ nhân loại nói chung sẽ sớm muộn đi theo hình mẫu phương Tây. Kinh nghiệm của quá trình hiện đại thơ thế kỷ XX cho thấy vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo, của nội lực văn hoá Việt Nam. Và về điều này thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết từ 1946: “Gốc của văn hoá mới là dân tộc . Nếu dân tộc mà phát triển đến cực điểm thì tức là tới chỗ thế giới hóa đó ,vì lúc bấy giờ văn hoá thế giới sẽ phải chú ý tới văn hoá của mình và văn hoá của mình sẽ chiếm một địa vị ngang với văn hoá thế giới. Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ nước nào nhưng điều cốt yếu là sáng tác. Mình đã hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả” (dẫn theo Hoài Thanh trong Có một nền văn hoá Việt Nam) [3;tr.3].
 Chính vì vậy mà nhà thơ Nga Malđenxtam đã nhận xét về Người khi còn là chàng thanh niên yêu nước ngoài ba mươi tuổi: “Ở Nguyễn Ai Quốc toát lên ánh sáng của văn hoá, không phải là văn hoá của phương Tây mà là văn hoá của tương lai”.





Tài liệu trích dẫn
1. Nhiều tác giả,  Chế Lan Viên giữa chúng ta, Nxb Văn học - Trung tâm Quốc học, H. 2000.
2. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (tái bản), Nxb Văn học, H.1998.
3.     Tạp chí Sông Hương, số 147, Huế.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

HÌNH ẢNH NGƯỜI MẸ TRONG “HƠI THỞ THỜI GIAN” tác giả TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020




Trong những ngày đầu xuân năm mới, tôi theo đoàn của Hội VHNT Đắc Lắc đến thăm nhà giáo, nhà thơ Sơn Thúy. Mùa xuân này bà đã bước sang tuổi tám hai, trên cái ngưỡng xưa nay hiếm. Căn nhà nhỏ nằm giữa cánh đồng Hòa Khánh trù phú. Trước nhà có vườn hoa khoe sắc thơm lừng từ đầu con ngõ nhỏ, có ao cá vườn rau, phong cảnh thanh bình. Chúng tôi đến, bà giáo được cô con con gái đỡ dậy trong dáng vẻ bơ phờ, mệt mỏi. Bà than phiền: “Trước tết vẫn có thể dạo quanh vườn ngắm hoa, cây cảnh vậy mà chỉ sau một đêm, bệnh tật đã bắt bà phải nằm bó gối, chưa bao giờ ốm nặng như đợt này”. Chuyện văn, chuyện thơ khiến bà vui, ánh mắt trở nên sống động hơn, giọng nói của bà không như người già ốm bình thường mà rõ ràng mạch lạc, pha chút ngân nga luyến láy. Tôi có cảm giác ngày xưa có lẽ bà cũng là một người hát chèo “có nghề” của đất Thái Bình quê bà.
Tôi trở về với cuốn thơ Hơi thở thời gian bà tặng, cùng những chia sẻ của một con người đang bước trên chặng cuối của cuộc đời… thật vô cùng trân trọng. Hơi thở thời gian có 53 bài thơ, tôi đọc và thấy cả cuộc đời bà giáo hiền lành, chân chất trong đó, cả đời hết lòng với bao lớp học trò: Học trò bao lứa/ Ngần ấy năm tận lực tận tâm…(Nhìn Lại) nhưng bên cạnh luôn có người bạn thơ đồng hành với một tình bạn, tình yêu tuyệt đẹp, nâng bước nhau đi suốt cuộc đời: Những vần thơ từ tuổi dại khờ/ Con chuồn ớt, hoa mướp vàng rực rỡ/ Tâm hồn bật mở… Tôi tìm về những trang thơ đầy ắp nắng hồng/ Thời thiếu nữ vầng trăng trong vắt/ Lại thấy vị đời có mật/ Trái tim cỏ nhàu cất tiếng hót họa mi/…/ Hòa niềm vui vào thơ/ Để hy vọng mộng mơ/… Tôi làm thơ và tôi hạnh phúc (Tôi và thơ). Không hạnh phúc sao được khi nhà thơ tự nhận, từ thủa tập tọe làm thơ thì tuổi thơ, quê hương, đất nước và hình ảnh người mẹ luôn đầy ắp trong thơ của mình với một tình yêu lớn lao và sự biết ơn sâu nặng: Tôi tập tọe làm thơ/ Ngôn ngữ vần điệu lơ ngơ/ …/ Những bài thơ có nắng mộng trăng mơ/ Suối chảy lững lờ trời trong hoa thắm/ Cả chiếc áo tơi và tấm lưng cong trĩu nặng/ Mẹ cõng tôi đến trường… (Tôi làm thơ). Không chỉ dừng lại ở kí ức tuổi thơ, quê hương, đất nước và mẹ… nhà thơ Sơn Thúy còn viết về nhiều đề tài, song ấn tượng nhất trong tập vẫn là đề tài người phụ nữ, về người mẹ quê hương: Vô vàn giọt sao long lanh/ Nước mắt những người đàn bà/ Trên bầu trời số phận, đó là những câu mở đầu khá ám ảnh trong bài Giọt sao. Nhà thơ, nhà giáo thấu hiểu đến tận cùng những gian khổ, hy sinh, mất mát thầm lặng của những người mẹ: Của đá vọng phu là những giọt nào/ Chảy dọc chiều dài lịch sử? Bao hình hài dang dở/ Bất thành nhân vì chất độc da cam/ Những đôi mắt nào đang giọt giọt chứa chan? Nước mắt mẹ Việt Nam/ Đêm đêm âm thầm chảy/ Khắc khoải chờ tin… nơi con nằm lại/ Từ ngàn xưa, tới ngàn sau/ Hằng hà sa số giọt sao/ Tụ thành mênh mông dải ngân hà/ Dòng nước mắt đàn bà/ Đắng cay/ Soi sáng !  Những giọt nước mắt mẹ Việt Nam, phụ nữ Việt Nam trong đắng cay, đau khổ đã tích tụ thành dải ngân hà ngự trị trên bầu trời và đêm đêm soi sáng để đức hy sinh của những người mẹ mãi mãi trường tồn.
Còn nhiều bất ngờ từ những bài thơ về mẹ, xuyên suốt tập thơ. Nhà thơ Sơn Thúy với lối viết giản dị, câu chữ mộc mạc như bông lúa, củ khoai của người nông dân tạo nên hình, nên khối, tạc vào bầu trời thi ca hình ảnh người mẹ mang phong cách rất riêng: Bầu vú mẹ khum khum vòm trời/… Gió bấc luồn áo vá/ Cào xé thịt da/ Sữa mẹ ngọt ngào ấm dạ (Bầu vú mẹ). Có lẽ ai cũng phải bắt đầu từ bầu vú và những dòng sữa tinh cất từ máu thịt người mẹ để lớn khôn, nhưng ít ai lại có thể thấy sự vĩ đại và vẽ vào thơ bầu vú mẹ là cả bầu trời ơn đức sinh thành như vậy. Ở bài Bàn chân mẹ, nhà thơ cũng  tạo nên một bất ngờ lớn cho người đọc. Hình ảnh bàn chân mang tính đặc thù của người mẹ quê nông dân Việt Nam, nhưng đặc biệt hơn, đó là bàn chân của một thế hệ phụ nữ miền Bắc anh hùng, “tay cày tay súng” đảm đang để chồng, cha, anh ra chiến trường đánh giặc. Bàn chân mẹ hiện lên trong thơ to bè, sần chai trở nên phi thường, vô cùng nhân văn: Bàn chân mẹ to bè/ Năm ngón xòe hình chổi… Như Cửu Long giang xòe chín nhánh/ Mở xóm làng ra biển khơi/ Bàn chân mẹ xòe ra chìm xuống/ Để chúng con thẳng bước giữa đời.
Không biết bài thơ được nhà thơ Sơn Thúy viết vào thời điểm nào nhưng đã có tầm nhìn vượt thời gian và không gian để khẳng định vị thế to lớn của người mẹ, người phụ nữ Việt Nam hôm nay đã thực sự vượt lên không chỉ trong nước mà ngang tầm phụ nữ thế giới, đóng đinh hình ảnh Bàn chân mẹ như một hình tượng trong thơ ca, mang tính nhân văn cao cả...
Để có những vần thơ vụt sáng ấy, nhà giáo, nhà thơ Sơn Thúy đã phải lao động miệt mài, không ngừng tìm kiếm, có lúc “không nhớ mình là ai”: Khi làm thơ/ Ta như người đói cồn cào/ Thấy trái chín mà không hái được/ Như người đi trên sa mạc/ Gặp hồ nước thỏa thuê cơn khát/ Không nhớ mình là ai (Khi làm thơ). Trong bài thơ Nhìn Lại cũng là bài cuối trong tập thơ nhân sinh nhật lần thứ 70 nhà thơ viết: Thế sự trắng đen đã rõ/ Lưng còng mà lòng ngay/ Mắt mờ mà tâm sáng/ Đường đời khúc khuỷu cứ đi/ Thập thõm theo văn chương…Con cái chẳng hơn người/ Hai vai một đời ráng sức/ Học trò bao lứa/ Ngần ấy năm tận lực, tận tâm/ Bạn bè đồng nghiệp xa gần/ Vẫn còn kẻ thương người đợi/…/ Chỉ canh cánh bên lòng một nỗi/ Mẹ già vời vợi xa xăm/ Báo đền chưa được bao lăm/ Ừ thì sương treo đầu ngọn cỏ/ Sẽ bay về trời/ Vấp váp lỗi lầm không tránh khỏi/ Biết mình: Người tử tế/ Vẫn có thể mỉm cười.
Nhà giáo, nhà thơ Sơn Thúy thật sự là người tử tế, một đứa con hiếu thảo. Bà đã đi gần hết cuộc người mà vẫn canh cánh lo cho người mẹ ở quê xa, vẫn day dứt như chưa làm tròn bổn phận của một đứa con là luôn bên cạnh, chăm sóc đỡ đần cho mẹ lúc tuổi già…  Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh nhà thơ Sơn Thúy và 4 câu thơ bà đọc và cho rằng có lẽ là những câu thơ cuối của bà: Ờ đã 80 rồi đấy nhỉ?/ Sự nghiệp sau lưng chẳng đáng gì/ May còn vài vần thơ mộc mạc/ Làm hành trang cho lúc ra đi… Bà giáo Sơn Thúy đã chọn thơ làm bạn, làm hành trang vạn lý… thật xúc động! Tôi cầu chúc bà sẽ khỏe lại để tiếp tục viết tiếp những bài thơ hay về mẹ, về người phụ nữ Việt Nam.

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2020

THƠ NGUYỆT ÁNH - NIỀM YÊU MƠ VĨNH CỬU tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020






(Đọc “Gọi về miền nhớ” của Nguyệt Ánh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2019) 
  
Cầm bản thảo tập thơ Gọi về miền nhớ của tác giả Nguyệt Ánh, một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở thị xã Buôn Hồ, tôi đắn đo và suy nghĩ nhiều để viết mấy dòng cho đứa con tinh thần đầu lòng của chị. Không suy nghĩ, đắn đo sao được, khi xuyên suốt tập thơ là cả một thế giới thơ tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc nhớ thương, hờn giận, muộn phiền… trào dâng từ trái tim của một niềm yêu mơ vĩnh cửu. Hóa ra, chính cái chữ “Tình” rộng rinh mênh mông kia nên thơ ca viết ra tưởng dễ, song đọng lại hồn người một bài hoặc đôi câu thơ hay quả là khó vô cùng. Thấu hiểu điều đó, nên việc làm “bà mối” bắt nhịp cầu duyên giữa tác giả với trăm ngàn trái tim độc giả đã và đang yêu giữa cõi người thật khó lắm thay.
Xuyên suốt 54 bài thơ trong thi tập Gọi về miền nhớ của tác giả Nguyệt Ánh bao trùm một cung điệu tình yêu chứa chan vạn thuở. Trạng thái cảm xúc tình yêu trong thơ Nguyệt Ánh phần lớn là nỗi buồn vỡ tan không gì che chắn nổi. Dù không gian nghệ thuật phong phú, xê dịch đến đâu vẫn không ngăn được “niềm đau giông bão”. Một góc phố, một con đường, một biển lớn, một buồng riêng… hiện ra trong hiện thực hay huyễn mộng chập chờn vẫn không xua tan nỗi cô đơn, sầu thương khắc khoải. Ví như cái thi tứ gặp người yêu cũ đi với người khác đã được nhiều nhà thơ khai thác, nhất là các nữ sĩ: “Nếu anh đi với người yêu/ Xin anh hãy nhớ một điều nhỏ thôi/ Con đường ta đã dạo chơi/ Xin đừng đi với một người khác em” (Con đường - Phan Thị Thanh Nhàn). Đến tác giả Nguyệt Ánh, không quá tài hoa và sắc nét như thơ Phan Thị Thanh Nhàn, song cảm xúc thơ chị thành thật lắm, thành thật đến đáng thương; nó đau đớn, phũ phàng quá khiến ta dễ dàng sẻ chia và đồng cảm: “Em vùi mình giấu nước mắt trong mưa/ Xóa tan hết những điều vừa trông thấy/ Anh với người ta đẹp đôi đến vậy/ Em nhận về mình giông bão, người ơi!” (Lối riêng). Cũng chính từ khi thấu hiểu cái “lối riêng” nghiệt ngã ấy, Nguyệt Ánh nhận về mình là người “gánh đa đoan”, muốn bán nhưng lại “sợ trời trêu ngươi” nên đành vác lên thân phận cuộc đời mình nỗi buồn của tình yêu với khối u tình muôn thuở: “Nợ duyên một gánh tròng trành/ Trần gian còn lắm lênh đênh kiếp người” (Gánh đa đoan).
 Thơ Nguyệt Ánh thi thoảng cũng lấp lánh cái nhìn lạc quan, yêu đời nhưng dường như tác giả cố dỗ mình nhiều hơn thì phải. Vẻ đẹp của khu vườn mộng kia có lẽ cũng chỉ nằm trong cõi yêu mơ, nó dệt bằng ánh sáng của niềm khát khao đến cháy bỏng từ một nỗi lòng mơ tưởng: “Dát trăng vào những đêm trường/ Ru bờ vai lạnh, riết tương tư sầu/ Dìu vào giấc mộng tìm nhau/ Vườn yêu tràn ngập sắc màu ái ân” (Vườn mộng). Thảng hoặc, có được nụ cười trên mỗi bước đi giữa cõi đời, tô điểm cho cuộc đời niềm vui sống cũng đã ẩn giấu biết bao nỗi niềm yêu mơ trắc ẩn, nhọc nhằn: “Thêm một chút nụ cười/ Cho đời luôn tươi sáng/ Thêm một chút lãng mạn/ Cho vơi bớt nhọc nhằn” (Một chút cho đời). Có thế, Nguyệt Ánh mới tâm sự cùng người em sớm trở thành góa phụ bằng những câu thơ gan ruột, giàu lòng yêu thương, động viên: “Nếu mệt rồi hãy ngủ đi em/ Yêu dấu con thơ dù khuyết người chia sẻ/ Dù duyên nợ cuộc đời em trắc trở/ Hãy mở lòng đón nhận nửa về sau” (Gửi em).
Về nghệ thuật, qua thi tập Gọi về miền nhớ, phải công bằng thấy rằng, thơ Nguyệt Ánh chưa có nhiều bứt phá và sáng tạo. Phần lớn thơ chị được viết bằng các thể thơ truyền thống gần gũi: 5 chữ, 7 chữ, lục bát, nhất là thơ 8 chữ (chiếm số lượng nhiều nhất) đã phần nào chuyên chở được các trạng thái và cảm xúc trong tình yêu đến với độc giả. Ngôn ngữ thơ trong thi tập Gọi về miền nhớ mang trọn vẹn ý tình như chính tâm hồn tác giả muốn khơi tỏa, thành ra không xa lạ với người tiếp nhận. Dù vậy, chính cách biểu đạt trực tiếp cảm xúc qua ngôn ngữ đủ để cho trái tim người đọc bâng khuâng, nhất là những bài thơ có được ý tứ vững vàng: “Có thử thách nào nghiệt ngã thế không anh?/ Sao phải bắt em rạch ròi quên - nhớ/ Giữa nhớ và quên trong em điều không thể/ Càng cố quên người, nỗi nhớ lại đầy thêm…” (Thử thách). Nguyệt Ánh cũng có những câu thơ lục bát khá chững chạc, đáng khen: “Chị ngồi hong tóc mơ phai/ Nhặt hoa xoan rụng trải dài ngõ quê/ Đan tay chị vét lời thề/ Trăng vàng rớt đáy sông quê thuở nào” (Chờ)
Thơ Nguyệt Ánh đang ở giai đoạn bắt đầu. Cấu tứ, ngôn ngữ, giọng điệu nhìn chung hãy còn chịu ảnh hưởng của các lớp nhà thơ đi trước. Vẻ đẹp dấu ấn cá nhân trong thơ chị vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong từng “bóng mây thơ” nơi chân trời thi ca phía trước. Hi vọng rằng, sự trải nghiệm cuộc đời và thi ca sẽ  giúp cho Nguyệt Ánh có được những bài thơ mới lắng sâu thi tứ và cảm xúc nồng đượm hơn.                                                                                      

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2020

VỘI VÀNG – NIỀM YÊU ĐỜI, HAM SỐNG CUỒNG NHIỆT CỦA XUÂN DIỆU tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020





Tôi có cái may mắn là nhiều lần được gặp Xuân Diệu, được nghe ông đọc thơ, bình thơ, nói chuyện thơ, chuyện đời, chuyện yêu. Có lần hồi còn là sinh viên, lớp chúng tôi ra Hà Nội đã đến thăm nhà ông theo lời mời: “Nhà tôi hai bốn Cột Cờ/ Ai vui thì đến ai hững hờ thì thôi”. Ông vui lắm, trà nước, bánh kẹo, hoa quả, có thứ gì ông đem ra hết để mời chúng tôi. Hình như gặp sinh viên khoa Văn thì Xuân Diệu đặc biệt hứng khởi và nồng nàn, lại say mê với thơ ca. Gặp gỡ ông, thấy cảm giác gần gũi, ấm áp. Tôi cảm nhận được ở con người và thơ ông một niềm mến yêu cuộc sống hết sức cuồng nhiệt, “niềm khát khao giao cảm mãnh liệt với đời” (Nguyễn Đăng mạnh). Đúng như tác giả Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” (Hoài Thanh và Hoài Chân). Ông đọc và bình nhiều bài thơ, đặc biệt là các bài Nhị hồ, Nguyệt cầm và Vội vàng. Hồi đó, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu còn bị phê phán là “tư tưởng sống gấp” nhưng ông vẫn thường đọc, bình và lý giải những ý nghĩa tích cực của bài thơ. Sau này Vội vàng được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 11 THPT.
Bài thơ xuất phát từ một ý tưởng mà Xuân Diệu thường trăn trở, suy tư: Đời người với thời gian có hạn và tuổi trẻ lại càng ngắn ngủi hơn mà thời gian thì trôi chảy, một đi không trở lại nên con người phải tận hưởng gấp gáp, vội vàng những hương sắc, niềm vui của cuộc sống, của đất trời. Triết lý nhân sinh đó đã hoà lẫn trong cảm xúc trữ tình nồng nàn, sôi nổi, sống động, cuốn theo bao hình ảnh thi ca.
Bốn câu đầu, mỗi câu chỉ năm tiếng với nhịp điệu hối hả, khẩn trương:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
 Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Xuân Diệu đã diễn tả cái ý muốn có vẻ kỳ lạ và ngông cuồng: “muốn tắt nắng”, “muốn buộc gió”. “Nắng” và “gió” là những hình ảnh không gian nhưng lại tồn tại trong thời gian. Như vậy, “muốn tắt nắng”, “muốn buộc gió”, thực chất là muốn níu giữ thời gian. Tác giả đã thể hiện niềm khát khao giữ lại thời gian để giữ lại “màu” và “hương” của mùa xuân, hay chính là vẻ đẹp của thiên nhiên, của đất trời và cuộc đời.
Xuân Diệu rất yêu mến cuộc đời, đặc biệt là tuổi trẻ gắn với mùa xuân và tình yêu. Cuộc đời tươi đẹp hiện diện trong bài thơ bởi cảnh sắc và âm thanh của mùa xuân:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si,…”
Xuân Diệu đã sử dụng hàng loạt những hình ảnh mới mẻ, non tơ, sống động để diễn tả dồn dập trong những câu thơ tám chữ. Đó là “nắng”, “gió”, là “tuần tháng mật”, “hoa của đồng nội xanh rì”, “lá của cành tơ phơ phất”, là “khúc tình si”, “ánh sáng chớp hàng mi”, “cặp môi gần”. Ông đã sử dụng những hình ảnh so sánh sáng tạo, thiên về cảm giác:
“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”
“Ánh sáng chớp hàng mi” là ánh sáng được nhìn qua đôi mắt yêu thương, tình tứ của con người, “thần Vui” là niềm vui được hình tượng hoá, hằng ngày đến với mỗi nhà, mỗi người. Câu thơ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” là một hình ảnh so sánh thật táo bạo. Tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân – mùa đẹp nhất trong năm, mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa xuân tình của con người. Nhà thơ so sánh tháng giêng với “cặp môi gần” của người tình yêu thương mời gọi đầy cảm giác ái ân, tình tự, có yếu tố nhục cảm, giàu sức quyến rũ. Hình ảnh so sánh đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức sống, sức hấp dẫn của mùa xuân. Đây là cách so sánh rất đặc trưng trong thi pháp Xuân Diệu: Lấy cái đẹp của con người làm chuẩn mực để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên.
Nhịp điệu của đoạn thơ thay đổi đột ngột, dồn dập, từ “của” lặp lại nhiều lần cùng điệp ngữ “này đây” thay đổi vị trí liên tục trong các câu thơ tạo ra nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp như dâng hiến, như mời gọi một cách thiết tha.
Như vậy, chúng ta thấy, nếu Thế Lữ tìm thiên đường ở cõi tiên, Huy Cận đi tìm niềm vui trong vũ trụ bao la thì Xuân Diệu tìm thấy thiên đường giữa trần gian. Với Xuân Diệu, thiên nhiên, con người như một thiên đường trên mặt đất, như một khu vườn tình ái mà vạn vật đương lúc xuân tình, quyến rũ, khêu gợi ái ân.
Tuy nhiên, khi khám phá ra vẻ đẹp đích thực kia của cuộc đời cũng là lúc nhà thơ nhận ra điều tuyệt diệu ấy có số phận ngắn ngủi, mong manh, chóng phai tàn theo thời gian:
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
 Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Câu thơ ngắt làm đôi giữa dòng gợi tả được tâm trạng bàng hoàng, thoảng thốt của tác giả khi nhận ra điều ấy. Cảm hứng và tư tưởng chính của bài thơ được thể hiện tập trung ở câu thơ: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Xuân Diệu đã cảm nhận được phép biện chứng của mùa xuân: cùng một lúc, nhà thơ thấy “xuân đang tới”, “xuân đang qua”, “xuân còn non”, “xuân sẽ già”. Đây là cảm hứng về thời gian rất mới mẻ và hiện đại trong thơ Xuân Diệu. Đó là quan niệm thời gian tuyến tính (khác với thời gian tuần hoàn trong thơ cũ): thời gian là một dòng chảy, một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn.
Từ cảm hứng về mùa xuân, về thời gian đã dẫn đến cảm hứng về cuộc đời. Nhiều người đã nói đến sự ngắn ngủi của cuộc đời: “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô” (Mãn Giác Thiền Sư), cái mới của Xuân Diệu là nói được sự ngắn ngủi của tuổi trẻ:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
 Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”
Thiên nhiên, vũ trụ tồn tại vĩnh hằng, vô hạn mà con người thì hữu hạn. Mùa xuân thì tuần hoàn còn tuổi trẻ thì một đi không trở lại. Xuân Diệu đã diễn tả rất hay, rất mãnh liệt vẻ đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ, của cuộc đời. Bước đi của thời gian âm thầm nhưng quyết liệt, không gì có thể ngăn cản được. Vì vậy, nhà thơ thấy tiếc cuộc đời, tiếc cả đất trời rộng lớn:
“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
 Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;”
Nhà thơ thật tinh tế khi cảm nhận mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ là một cuộc ra đi vĩnh viễn, một cuộc chia tay giữa thời gian với con người, với cuộc đời:
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”
Cũng từ đây, thiên nhiên chuyển hóa từ hòa hợp sang chia lìa trong cái nhìn của thi sĩ:     
“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa”
Từ cảm nhận trên về thời gian, về tuổi trẻ và cuộc đời, Xuân Diệu đi đến một thái độ sống “Vội vàng” rất đặc biệt:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,…”
Cả đoạn thơ có giọng sôi nổi, bồng bột và những hình ảnh đầy sức lôi cuốn: “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa, gió lượn”, “cánh bướm với tình yêu”, “cái hôn nhiều”, “non nước, cây và cỏ rạng”. Xuân Diệu đã diễn tả được lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, niềm khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộc đời. Tác giả đã sử dụng những từ ngữ thiên về cảm giác mạnh: “ta muốn ôm”, “ta muốn say”, “ta muốn thâu”, “ta muốn riết”, “ta muốn cắn”. Điệp ngữ “Ta muốn” cùng từ “và” lặp lại nhiều lần trong đoạn thơ tạo nên giọng điệu sôi nổi, say đắm, rất đặc trưng của hồn thơ Xuân Diệu.
Tóm lại, thơ Xuân Diệu sống động như chính cuộc sống cũng như cuộc đời ông sôi nổi, nhiệt tình hết mình với nghệ thuật, với thơ ca, với tình yêu và cuộc sống. Bài thơ Vội vàng có nhiều hình ảnh và ngôn từ mới lạ, hấp dẫn, nhiều so sánh thú vị, thiên về cảm giác. Nhịp điệu thơ dồn dập, gấp gáp, khẩn trương như nhịp điệu của cuộc đời, của mùa xuân và tuổi trẻ.
Xuân Diệu chống trả lại thời gian bằng một thái độ can đảm “nhập cuộc”, dấn thân vào đời sống. Dạy học thi phẩm này, cần hướng dẫn để học sinh định hướng đúng đắn về quan niệm sống: “Vội vàng” không phải là sống buông thả, hưởng lạc mà là sống có ý thức, có trách nhiệm, biết trân quý từng phút giây, ngày tháng của đời mình, sống hết mình, tận hiến và tận hưởng. Qua bài thơ, chúng ta đồng cảm với một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống nồng nàn, sôi nổi của Xuân Diệu; từ đó, chúng ta phấn đấu cho cuộc sống và tuổi trẻ của chính mình có ý nghĩa phong phú hơn, tươi đẹp hơn.

                                              

(*) Hoài Thanh và Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam – NXB Văn học, Hà Nội, 1997, trang 106.