Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

TỰ DO TRONG THẢO LUẬN VÀ PHÊ BÌNH ĐẠI HỘI ĐẢNG tác giả NGUYỄN VĂN THANH - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020




Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là khối liên minh tự nguyện của những người Cộng sản có cùng mục đích và lý tưởng. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mãi mãi là một Đảng đạo đức và văn minh. Trong đó, Người đặc biệt coi trọng vấn đề tự do trong thảo luận và tự do trong phê bình trong sinh hoạt Đảng và đại hội Đảng.
Thảo luận tự do trong tổ chức Đảng là quyền không ai được ngăn cấm. Song tự do trong thảo luận, tranh luận phải trên tinh tinh thần xây dựng Đảng, vì lợi ích của công việc, lợi ích của Đảng, của nhân dân tuyệt đối không được lợi dụng quyền tự do để tuyên truyền những tư tưởng chống lại Đảng, chống lại chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gây chia rẽ bè phái trong Đảng. Việc thảo luận tự do trong Đảng không thể vô giới hạn; giới hạn nó được quy định trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, xuất phát từ sự cần thiết phải hành động, đấu tranh, thực hiện những gì mà sau khi thảo luận tập thể, được những người tham gia thảo luận đã nhất trí trở thành nghị quyết chung, cương lĩnh và hành động chung. Tháng 9/1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được triệu tập tại Thủ đô Hà Nội. Trong bài "Một cách thảo luận đã dự thảo Điều lệ Đảng", Bác viết: "Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết, càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa, cho nên toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để bảo đảm đại hội thành công tốt đẹp. Đại hội Đảng là một dịp rèn luyện chính trị rất quan trọng và rộng khắp cho toàn Đảng, cho nên tất cả đảng viên cần phải hăng hái tham gia thảo luận"(1). Trong công tác lãnh đạo, Người chỉ rõ: “Để các chi bộ thảo luận tốt, thì cấp trên phải lãnh đạo giúp đỡ theo dõi, rút kinh nghiệm. Có khi các chi bộ nêu các câu hỏi khó, nên chưa chắc chắn thì nên hỏi Trung ương, không nên giải thích hoặc trả lời một cách miễn cưỡng. Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả các đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình, phải gom hết ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị đại hội Đảng cho thật tốt. Trong dịp chuẩn bị đại hội Đảng các đảng viên và chi bộ cần phải kết hợp chặt chẽ với công tác của mình"(2).
Tự do trong thảo luận phải gắn với việc phê bình. Quyền phê bình đã trở thành một tiêu chuẩn của đảng viên được ghi trong Điều lệ Đảng. Quyền đó vừa được xem như quyền hạn, vừa được xem là nghĩa vụ của đảng viên. Tự phê bình và phê bình đó là vũ khí để rèn luyện đảng viên giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng ngày càng tiến bộ hơn, biết phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, từ đó tăng cường đoàn kết nội bộ. Tự phê bình và phê bình là nhu cầu nội tại của tổ chức Đảng và đảng viên. Song sử dụng nó phải đúng mục đích thì mới có tác dụng, hiệu quả cao. Nếu sử dụng không đúng mục đích thì dù đó là vũ khí sắc bén cũng không tiêu diệt được kẻ thù, là "thần dược" cũng không trị được bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:  “Khi thảo luận ở mỗi chi bộ thì mỗi đồng chí phải liên hệ đúng đắn Điều lệ Đảng với công tác của chi bộ và của mình để góp ý đầy đủ ý kiến, phải thành khẩn tự phê bình tư tưởng và công tác của mình, sửa chữa những khuyết điểm để củng cố tốt chi bộ và để rèn luyện mình thành người đảng viên tốt. Ví dụ: Phần cương lĩnh nói chung về tính chất Đảng thì phải liên hệ mình đã đứng thật vững trên lập trường giai cấp công nhân chưa? Mình đã thật sự gương mẫu trong mọi việc chưa? Phần nhiệm vụ của chi bộ thì phải liên hệ chi bộ đã thực hiện những nhiệm vụ ấy như thế nào? Có thiếu sót gì và cần sửa chữa như thế nào? Trong những hoạt động chính trị của mình trước kia và hiện nay, việc đúng và việc sai mình đã thật thà nói hết với Đảng chưa hay còn giấu giếm phần nào"(3). Cuối cùng Bác tổng kết: "Nói tóm lại, phải lấy 10 nhiệm vụ của đảng viên mà đối chiếu một cách thật thà vớt tư tưởng và hành động của mình"(4). Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng” (5).
Những chỉ dẫn của chủ tịch Hồ Chí Minh về tự do trong thảo luận và trong phê bình là những nguyên tắc cơ bản và nề nếp trong xây dựng Đảng. Đồng thời, có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi chúng ta đang thực hiện Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Mỗi cấp ủy Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tích cực đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng các văn kiện, góp phần tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.



Tài liệu tham khảo:
(1, 2,3,4 )-Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXBCTQG, 2002, t.10, tr. 117 đến 119.
(5)-Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, năm 2007 tr. 58.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2020

NGƯỜI TÌNH VÀ CON CHÓ tác giả Zdravka Evtimova - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020



Vào buổi tối, con chó của nàng đợi ở cửa trước. Tên nó là Rain, những bước đi của nó vang lên nghe như mưa lăn xuống ô kính cửa sổ sau nửa đêm. Francois nghĩ chàng còn ở lại thành phố này là vì con vật. Nếu chàng bỏ đi thì Rain sẽ đói. Anna quên cho nó ăn và không tắm cho nó. Nàng làm việc cả ngày đêm với những truyện ngắn hay những bản dịch của nàng, và trong những cuốn sách nàng dịch sang tiếng Pháp đầy những chuyện tình yêu và căm hận. Ở nhà không có thức ăn, nàng nhìn vào máy tính của nàng như một con dơi, tóc nàng rối, những quyển tự điển của nàng vung vãi dưới bàn, trên nền nhà, trong hành lang.
Rain nằm ở góc nhà trên cái gối sờn nhìn nàng. Nàng nguyền rủa những câu văn dài và uống liên tục: hoặc là sữa trong chai hoặc  bia đen là thứ làm cho mắt nàng long lên giống như mắt của một người bệnh. Nàng không để ý đến việc Francoise đã về nhà; nàng rót sữa vào một cái đĩa cho Rain. Con chó ngửi đĩa, và bất chợt mắt nàng ánh lên vẻ nồng ấm. Thỉnh thoảng nàng cũng cho Rain bia, nó sủa, răng nó sáng bóng, hoang dã và bén.
Francois vào bếp làm xăng uých cho nàng. Còn nhiều cái đĩa dơ trong bồn rửa, giày và vớ của nàng thì vương vãi khắp nơi trong hành lang. Nàng đi những đôi vớ khác màu và nàng đã mặc một trong mấy cái áo sơ mi của chàng, cái mà nàng thấy trước tiên. Thỉnh thoảng nàng cũng mặc cái áo da của chàng nữa.
Hôm đó nàng đã không thông gió cho căn phòng, và vào buổi trưa những bức màn được kéo lại mặc dù cửa sổ không lớn. Francois thích nhìn ra ngoài cửa sổ. Chàng nhìn cái nhà kho đầy những chiếc xe đã qua sử dụng và cảm thấy sự căng thẳng rời bỏ cơ thể chàng. Chàng lại nói chuyện với ông Grandjean, chủ cửa hàng “Voiture – Vente et Achat” là người đã cam đoan với chàng hàng ngàn lần rằng người ta có thể mua những chiếc xe đã qua sử dụng rẻ nhất ở Brussels tại cửa hàng trung thực dù xoàng xĩnh của ông. Nàng dịch những cuốn sách của nàng và thở mùi không khí ủ ê. Lần này thậm chí nàng không thèm nhìn lên. Khi chàng đem cho nàng những cái bánh xăng uých, nàng ngấu nghiến chúng, hầu như quên cả chàng, và Francois đi ngủ, tưởng tượng nàng lầm bầm gì đó qua hơi thở của nàng.
Rain đã quen với giọng nói của nàng và đợi bên cạnh nàng, nhìn vào những quyển tự điển của nàng, nhìn khi nàng chửi và nhìn cái máy vi tính cũ. Francois ngủ trên tấm nệm chung quanh là những đĩa CD, những tờ giấy và những quyển sách của nàng vương vãi. Quá nửa đêm, trong giấc ngủ mơ màng, chàng cảm thấy nàng nằm cạnh chàng. Nàng không đợi chàng thức tỉnh. Nàng hôn chàng dữ dội như thể trừng phạt chàng. Nàng yêu chàng mà không nói một lời rồi bất chợt gọi những tên của chàng tệ như những cơn mưa tháng mười một. Francois không thể sống như thế nữa. Chàng không chịu đựng nổi mùi không khí ẩm mốc đợi chàng mỗi đêm. Chàng ghét con chó của nàng và tình yêu của nàng: đó chỉ là một chút ánh nắng ló ra sau đám mây, để mặc chàng khao khát trong sương mù Brussels.
Chàng đã thử bỏ đi nhiều lần, nhưng Rain đi theo chàng, những bước chân của nó như tiếng mưa rơi trên vỉa hè. Francois sợ rằng một ngày nào đó con chó sẽ chết giữa những cuốn tự điển và những nhân vật trong các truyện của nàng. Nhiều lần, Rain chạy theo chàng từ xa sau vũng nước chung quanh nhà kho, phía sau những chiếc xe đã qua sử dụng nơi mà Anna đã đi dạo để kích thích cảm hứng trong không khí lạnh, ẩm. Nàng là một người ăn ít. Mặt nàng tái hơn và trơ hơn khi nàng lòng vòng giữa những chiếc xe cũ, không bận tâm trả lời câu hỏi của ông Grandjean tử tế - đó là ông già cao gầy người Bỉ mặc áo khoác màu xanh – là người muốn biết những gì ông có thể làm cho “cô nàng bé nhỏ của tôi”. Con chó mang mùa thu theo bước đi của nó và hầu như trời luôn luôn bắt đầu mưa lất phất khi Rain ra ngoài.
Francois ngờ rằng nếu chàng rời bỏ nơi đó, Anna sẽ không trở lại với cửa sổ ở hướng bắc đó, và ánh sáng máy tính của nàng sẽ đốt hết mọi nhân vật mà nàng đã sáng tạo.
Sẽ không có ai ở đó để mở cửa sổ và tống khứ không khí nặng nề những thành ngữ mà nàng ngưỡng mộ. Francois mệt mỏi vì tình yêu kỳ cục của nàng. Nàng ngủ trên ngực chàng, da nàng mỏng như gió, Rain nhìn họ, yên lặng, ngày càng khốn khổ, lông nó mỏng và rụng vì tuổi già.
Một hôm Francoise bỏ nhà đi hẳn. Rain đi theo chàng, mắt nó long lanh trong màn sương. Thậm chí sau khi Francois lên xe buýt con chó vẫn chạy theo chàng, lông nó dơ và sờn. Francois sẽ ân hận nếu một người lái xe tải hay một người chạy xe mô tô cán qua con chó: con vật đã cảm thấy được hôm nay là ngày Francois sẽ ra đi. Hôm đó, Rain chạy theo xe buýt đến ga đường sắt. Francois lên chuyến tàu đầu tiên trên sân ga số 1 để đi Oostende, khu cảng ồn ào nhất của Bỉ mà chàng chưa bao giờ thích. Con chó tru lên và phóng theo đoàn tàu, nhưng chẳng mấy chốc thì bỏ cuộc và nằm thịch lên đường ray, yếu đuối và khốn khổ trong bộ lông thưa của nó. Francois thở hắt ra nhẹ nhõm khi con tàu chạy vào đường hầm và Rain biến khỏi tầm mắt, tiếng tru của nó hòa tan trong mưa. Hy vọng là nó sẽ không bị xe lửa cán, Francois nghĩ.
Về sau chàng thường gạt bỏ ý nghĩ về gian phòng lạnh lẽo đó, về khung cửa sổ nhìn ra dãy xe đã qua sử dụng và về vũng nước đen lớn chung quanh nhà kho. Chàng thấy máy tính của nàng phun ra những con chữ trong đêm, và không muốn nghĩ rằng bây giờ ở đó không ai làm những cái bánh xăng uých cho nàng.
Nhiều lần, chàng muốn chạy về nhà, về chỗ những chiếc xe đã qua sử dụng nơi nàng có thể nói chuyện với ông Grandjean gầy guộc. Khi Francois nghĩ về người đàn ông đó chàng mừng rằng chàng sống ở một thành phố lớn ồn ào xa cách những truyện ngắn của nàng. Khu West Vlandren đơn điệu, những chiếc xe trên đường cao tốc, mùa đông và những đường hầm ngăn cách chàng với những cuốn tự điển của nàng. Francois ghét những cây cầu đưa đến con đường của nàng. Chàng cố ngăn chận hồi ức về nơi đó, vì thế chàng mua một con chó và cũng gọi nó là Rain, nhưng con chó của chàng không có những mùa thu và màn sương yên bình trong mắt nó, và không có vẻ xác xơ như con chó của nàng.
Thỉnh thoảng Francois tự hỏi những gì xảy ra cho nàng, nhưng cuộc đời chàng đâu có nhiều để mà lãng phí. Dĩ nhiên, chàng tìm một người con gái khác khỏe mạnh và tươi vui. Nàng yêu chàng và không làm chàng nghĩ đến những cái máy tính cũ, những vũng nước đen và những dãy xe đã qua sử dụng. Điều lạ lùng là thỉnh thoảng chàng nghe được những hạt mưa rơi lặng lẽ trong những giấc mơ của chàng, rất lạ.
Đầu mùa hè, chàng vượt qua khu West Vlanderen trải dài giữa chàng và dãy xe cũ. Chàng không đi vì công việc, thậm chí chàng không muốn gặp Anna. Có lẽ, sâu trong trí óc chàng chàng hy vọng có thể thoáng thấy nàng, thế thôi, không hơn.
Hôm đó, Francois ra khỏi xe tắc xi, bình thản và dè dặt. Chàng đã có một việc làm tốt ở Oostende, chàng kiếm được nhiều tiền. Chàng hy vọng chàng đã quên con đường vắng vẻ nghèo nàn. Không thể được. Chàng biết rõ từng phân của con đường.
Chàng cảm thấy muốn chạy về tòa nhà nơi nàng cư trú nhưng thay vì vậy chàng đi uống một ly. Một ly brandy luôn luôn giúp ích cho chàng. Con đường cao tốc và những chiếc xe biến mất, cũng không có những con đường hầm. Ngôi nhà chờ đợi và vũng nước ở đó, lớn và đen như mùa thu. Đột nhiên chàng nghe tiếng mưa rơi sau lưng chàng. Trời đang mưa, thực sự trời đang mưa! Không có những trưa yên bình và những cơn mưa bạc nơi thành phố ở North See nơi chàng sống. Chỉ có những tấm thảm sạch, những món đồ điện mới, những quyển sách xếp gọn gàng và những bức tranh trong nhà chàng. Chẳng có quyển tự điển nào ở đó. Chàng đã nói với vợ chàng rằng, nhiều năm trước, chàng biết một cô gái, một dịch giả, và chàng đã nói về những nhân vật trong những truyện ngắn của nàng. Vợ chàng ném tất cả những quyển tự điển ra khỏi nhà họ. Nàng yêu chàng và chăm sóc chàng rất tốt.
Chàng thấy một dáng người. Một người đàn bà xuất hiện. Nàng quá gầy và trắng đến mức Francois nghẹn thở. Nhà kho yên lặng. Đột nhiên mưa ngừng rơi. Nàng là cô gái đẹp nhất chàng đã từng thấy.
Chàng chợt nghĩ đến ngôi nhà sạch sẽ của chàng với những tấm thảm, những quyển sách và tranh trên tường. Chàng nghĩ đến chuyến tàu sẽ đưa chàng về nhà. Chàng đã băng qua khu West Vlanderen để nói với tòa nhà có nàng ở trong đó.
Francois nghe được tiếng mưa rơi. Chàng không thể di chuyển và chàng biết đã có gì đó vỡ ra trong chàng. Khu vực rộng lớn West Vlanderen đã không giúp được gì. Rượu brandy cũng không. Những đường hầm đã mất. Chàng quay lại. Một con chó, gầy và yếu đi theo chàng. Người đàn ông cảm thấy muốn la lên. Lông con chó xơ xác và thảm thương nhưng chàng yêu nó. Con chó, có những bước chân đi như tiếng mưa rơi, đứng yên nhìn chàng. Có những buổi chiều nước Bỉ màu bạc trong mắt nó. Đôi mắt lóng lánh niềm vui, đôi mắt hạnh phúc vì Francois trở lại. Nhiều mùa thu và mùa đông Francois đã yêu con chó đó.
“Rain, Rain!”, Francois thì thầm.
Con chó run run đến gần chàng và để cho chàng sờ lên tấm lưng xơ xác của nó.
“Anna ra sao?”, Francois hỏi.
        
                                                VÕ HOÀNG MINH dịch
                                                   (Từ “Anna and the Rain”)

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

NHỚ THƯƠNG TRƯỜNG LÀNG tác giả TRẦN VĂN THIÊN - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020

 





Đã bao lâu rồi tôi không về lại ngôi trường làng mái ngói thâm trầm, tường in rêu biếc? Bao lâu rồi tôi không ngồi dưới tán phi lao rì rào giữa sân trường, đắm mình vào những trang sách thơm mùi thời gian? Tháng ngày cứ trôi như dòng sông bốn mùa phẳng lặng, để rồi ngỡ ngàng nhận ra bước chân đã neo lại ở một bến lạ xa xôi, lòng lại quay quắt nhớ. Sóng nhớ dạt dào thôi thúc bước chân quay về ru lại một thời tuổi hoa. Lòng vỡ òa rưng rưng khi bắt gặp bóng dáng thân thương của những người thầy cũ, một đời miệt mài ngược xuôi bao chuyến đò tri thức. Ngôi trường làng bình dị của tôi nay đã khoác màu áo mới, nhưng ký ức vẫn luôn là ngọn lửa ngầm cháy trong tim, để ngày về chợt bùng lên thổn thức…
Đó là những tháng ngày hồn nhiên, trong trẻo như hoa lá, tiếng chim ngọt lành. Dù màu áo đến trường có ngả vàng vì mặc lại nhiều năm học, dù đôi dép quai hậu có cũ mòn vì đường xa khúc khuỷu, nhưng nụ cười của những đứa học trò quê vẫn trong veo, lấp lánh, ấm lòng thầy cô trường làng đơn sơ. Tôi nhớ về ngôi trường ấy như nhớ một khoảng trời gói ghém bao buồn vui tuổi dại, đong đầy những mơ ước ngây ngô tựa trang vở mới tinh khôi. Trường ở gần con dốc xanh ngút ngàn phi lao che chở làng xóm, là nơi tôi cùng bè bạn rộn rã những trò chơi thơ ấu sau mỗi buổi tan trường. Cây phượng già bao năm rồi vẫn trầm mặc trước những đổi dời thời gian, chứng kiến từng thế hệ học trò lớn lên dưới mái trường thân thuộc, rồi một ngày bay xa như cánh chim di trú.
Ngôi trường ấy tuy nhỏ, nhưng đã gieo vào tâm hồn tôi vô vàn hạt mầm biếc xanh màu kỷ niệm, màu ước mơ. Mỗi khối vỏn vẹn hai lớp học với sĩ số cộng lại chỉ vài chục đứa. Nhưng có lẽ cũng từ đó mà chúng tôi càng gắn bó, thân thiết với nhau hơn. Quê hương tôi là một xóm nghèo xa thành phố, nhưng ngôi trường làng chưa khi nào nghèo về tình nghĩa thầy trò, bè bạn. Tôi luôn hàm ơn những người thầy của mình, đã lặng thầm vượt một quãng đường dài để gieo mầm chữ ở nơi này, với một tấm lòng tận tụy son sắt. Tuổi học trò tựa một cơn mưa thoáng qua mà chất chứa nhiều dư âm xao xuyến. Tôi ngây ngô bước qua thời mơ mộng, ngoái đầu nhìn lại chợt thấy lòng bình yên.
Tất cả ngỡ đã phai phôi theo bao cuốn xoay dòng đời, vậy mà giờ đây, tôi đang đứng rưng rưng trước từng phân cảnh ký ức. Kia là khung cửa sổ nhìn về con dốc phi lao xanh trập trùng, là nơi tôi thường hướng mắt xa xăm nghĩ về những vần thơ tập tành, non nớt. Dưới chân tôi là chiếc lá bàng ứa đỏ nỗi niềm sâu kín, tôi nhận ra cây bàng còi cọc trước cửa lớp năm xưa nay đã tỏa tán rộng, gọi bầy chim về xôn xao. Đứng từ xa lặng nhìn bục giảng vấn vương bụi phấn, tôi chợt nhớ dáng người nhỏ gầy, giọng nói như xa vắng nỗi buồn của cô giáo dạy Văn. Cô gửi gắm những yêu thương chân thành vào từng bài giảng, dắt tôi vào khung trời ăm ắp nghĩa tình bao dung. Có lần, cô đã không giấu được nước mắt khi đọc một bài văn ngắn viết về mẹ, trong khoảnh khắc xúc động ấy, cô kể về người mẹ đã khuất của mình cùng những tháng năm ấu thơ khó nhọc. Tôi đã yêu những lời văn, câu thơ tha thiết tình người cũng từ ngày hôm đó. Trái tim bỗng hẫng một nhịp nghẹn ngào đầu tiên.
Từ ngôi trường làng bình yên, tôi xa quê, bước vào trường đời với những bài học thấm thía mà tôi không thể nào quên. Những lời dạy da diết yêu thương nơi trường làng vẫn vọng vang trong tiềm thức, làm hành trang để tôi vững vàng đứng dậy trước bao vấp ngã. Về lại trường xưa ngồi dưới tán phượng già, dòng thời gian vẫn không ngừng trôi, chỉ có tuổi học trò hồn nhiên đã mãi ở lại dưới mái ngói bàng bạc mưa nắng, với phấn trắng, bảng đen lưu dấu hoài niệm. Tất cả ngỡ rằng chỉ mới hôm qua, giọng thầy trầm ấm, tiếng đọc bài râm ran, nhịp gõ thước thân thuộc,…giờ đây cùng lắng lại trong lòng người bâng khuâng.

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

VOI - NGƯỜI BẠN LỚN Ở TÂY NGUYÊN tác giả BUÔN KRÔNG TUYẾT NHUNG - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020

 





“Nào con gái! Nữ Thần Mặt trời đã trở mình, con hãy khơi ngọn lửa trong gian khách ngôi nhà dài để cha cùng anh trai đi bắt cá ở hồ Nâm Kar! Khi ngọn lửa đã khêu, bước chân của già làng và đứa con trai dũng mãnh như con tê giác của ông cùng lũ làng tiến về hồ Nâm Kar. Sức trai làng đã khiến nước hồ Nâm Kar cạn dần, cá to cá nhỏ nhi nhúc được vớt đầy gùi. Những con cá nướng béo ngậy của các cô gái đem lại nguồn năng lượng cho các chàng trai. Sau khi ăn cá, con trai của già làng bỗng mắt lồi ra, thân hình khổng lồ, bụng phình, mũi dài, tai to, tay chân biến thành tứ trụ. Một hiện tượng kỳ lạ chưa từng có. Chàng vẫn ăn cơm, uống nước, ăn rau, vẫn hiểu được tiếng người nhưng không nói được. Từ đó lũ làng gọi chàng là chàng voi và ứng xử với chàng như một thành viên trong cộng đồng vậy”.
Không biết từ thủa nào huyền thoại người hóa voi được lưu truyền trong dân gian ở vùng đất Nâm Kar của tỉnh Đắk Lắk lại trở thành mạch nguồn cho câu chuyện yêu thương đầy nhân tình giữa con người với những con vật khổng lồ trong thiên nhiên. Voi – một loài động vật hoang dã trong rừng xanh trở thành người bạn thân thân thiết với cộng đồng Tây Nguyên từ ngàn đời.
Khi sương mù bàng bạc còn phủ dày đặc trên những nóc nhà dài đầy huyền thoại, hơi lửa ấm ấp của gian khách được nhóm lên bởi những người đàn bà giàu kinh nghiệm, người ta có thể nghe được tiếng trở mình đập muỗi hay hơi thở đều đều của những người bạn voi khổng lồ, hiền lành như không bao giờ ngủ trước những ngôi nhà dài đầy quyền lực ở huyện Buôn Đôn, Ea Sup, Lăk, Dăk Min hay ở huyện Dăk Song… tại Tây Nguyên. Voi không những là biểu tượng cho sức mạnh, cho quyền lực và đẳng cấp của những gia đình giàu có mà voi còn là người bạn thân thiết gắn bó với con người. Những ứng xử nhân văn của cộng đồng đối với voi tạo thành hệ tri thức liên quan đến tập tính, cách thuần dưỡng, chăm sóc, bảo vệ, tạo sự sinh sản, các nghi thức cúng sức khỏe, cưới vợ, cưới chồng cho voi, kể cả những giọt nước mắt của con người trong nghi lễ tiễn đưa khi một thành viên voi trút hơi thở cuối cùng.
Trước kia, sau tháng 12 dương lịch, những cơm mưa rừng đi ngủ, những chiếc lá vàng ở những khu rừng khộp rơi rụng cũng là mùa lên rừng của những người đàn ông tài ba. Sự sát phạt sẽ không được phép thực hiện vô tội vạ đối với loài cây cỏ và con vật khi họ đi lên rừng hay xuống suối, đó là một nguyên tắc. Kể cả việc muốn sở hữu một chú voi con đi lạc khi vừa mới rời vú mẹ. Những sợi dây thừng được bện từ da của nhiều con trâu sẽ được quàng vào chân voi con phần nào hạn chế tối đa việc làm tổn thương đến nó. Sức mạnh của những con voi nhà và đôi tay khéo léo của các gru (nài voi) sẽ khiến một chú voi lạc lối chùng bước. Chất hoang dã của nó sẽ dần biến mất sau khi được các gru thuần dưỡng. Không cần phải soi mói đặc điểm cơ thể để nhận diện voi cái hay voi đực, người ta sẽ dễ dàng nhận ra giới tính của chúng thông qua tên gọi thật đáng yêu như Y Khăm Sen, Thông Khăm… Sau nghi lễ đặt tên, voi trở thành một thành viên mới trong gia đình, được công nhận, được tôn trọng và được bảo vệ. Thỉnh thoảng các gru thả chúng về với rừng sâu một tháng hoặc hơn thế. Chỉ cần nghe tiếng tù và của chủ, tự khắc voi lại quay về với người. Hậu duệ của dòng họ voi sẽ được nhân lên sau nghi lễ cưới vợ, cưới chồng cho chúng. Ở xứ sở mẫu hệ này, cộng đồng đã từng bỏ ra hàng chục con trâu hoặc những bộ chiêng cổ để đổi một chú voi từ các nước bạn trong khu vực để về chăm sóc, nuôi dưỡng.
Dấu chân những người bạn khổng lồ ấy được in đậm qua những lần tham gia lễ hội, xuyên qua những cánh rừng già vào mùa nông nhàn khi các gru đi hái thảo dược hay xác định vùng đất mới  làm nương rẫy... Khi cần thiết, voi hỗ trợ kéo gỗ làm cột nhà, làm trống, độc mộc, ghế kpan, hoặc rong ruổi cùng các gru đến nước bạn Lào, Kur (Campuchia) trong các chuyến trao đổi chiêng quý, ché cổ, trang sức, trang phục đẹp trong các dịp “ăn năm uống tháng”. Vòng đời của voi cũng tương tự như con người vậy. Bao tháng năm rong ruổi cũng cần ngơi nghỉ và kết nối. Tình yêu của cộng đồng đối với voi không chỉ thể hiện qua việc chăm sóc, đặt tên hay tính mùa tuổi cho voi mà còn qua lễ cúng sức khỏe, lễ cưới vợ, cưới chồng và tổ chức tang lễ khi voi chết. Khoái khẩu ăn thịt voi không bao giờ được phép trong xã hội Tây Nguyên. Sẽ là trọng tội nếu ai đó xâm phạm bộ phận nào đó của voi cho dù nó tồn tại hay đã chết. Khi tang lễ cho voi kết thúc, chiếc đuôi voi được xem là di vật cuối cùng được gia đình mang về cất giữ. Không chỉ để tưởng nhớ về người bạn lớn ấy, người thân và vợ các gru cho rằng: linh hồn của người bạn khổng lồ ấy tạo nên sức mạnh cho các gru và gia đình của họ.
Tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” đã tạo nên những ứng xử khá thú vị và nhân văn giữa người với voi ở Tây Nguyên. Một sự trải nghiệm thật sự sâu sắc nếu như tôi, bạn và tất cả chúng ta hiểu về tình yêu thương từ sâu thẳm trái tim của người đối với voi. Những chuyến xuyên rừng để bảo vệ những chú voi con lạc đàn đã lùi xa, nhưng những câu chuyện hoài niệm giữa người với voi sẽ là chiếc cầu nối để chúng ta tiếp tục đối thoại, bảo vệ và nuôi dưỡng các cá thể voi còn lại trên mảnh đất đầy huyền thoại ở Nam Đông Dương hôm nay và mai sau.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

GIAO LƯU VỚI THƠ THẾ GIỚI VÀ SỰ TÍCH HỢP CÁC GIÁ TRỊ THƠ tác giả PHẠM QUỐC CA - CHƯ YANG SIN SỐ 331 THÁNG 3 NĂM 2020




           




Điều oái oăm của lịch sử là với tiếng súng xâm lược và sự “cưỡng hôn văn hoá” thực dân Pháp đã góp phần mở toang cánh cửa phong bế ngàn năm. Trước đây ông cha ta chủ yếu giao lưu văn hóa với Trung Hoa và các nước “đồng văn”( cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán) ở khu vực Đông Á. Bây giờ người Việt Nam thấy  “trời Âu, bể Á”, thấy “tân vận hội”, thấy khả năng tự cường dân tộc và giành độc lập tự do cho đất nước theo những con đường mới. Chủ nghĩa tư bản với thị trường thế giới đã làm cho tiên đoán của Karl Marx về sự hình thành nền văn học thế giới trở nên hiện thực. Giao lưu với thơ thế giới đã có vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa thơ Việt Nam. Nhìn lại quá trình giao lưu với thơ thế giới chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau:
1. Giao lưu  với thơ thế giới đã góp phần  thay  đổi quan niệm thơ, làm  giàu cho thơ Việt Nam những yếu tố mới và đưa thơ Việt Nam vào quỹ đạo thơ hiện đại.
Trước hết là thay đổi quan niệm thơ. Sẽ không thực tế và khiên cưỡng nếu như nói rằng toàn bộ thơ Việt Nam trung đại là thơ “tải đạo”, “ngôn chí”. Thơ là thể loại gắn trực tiếp với tâm tư, cảm xúc của chủ thể thẩm mỹ. Các nhà thơ tài năng bao giờ cũng là những hiện tượng vượt khung thời đại. Song sự ràng buộc, qui định của thi pháp thời trung đại cũng là một thực tế. Do nhu cầu khẳng định một nhà nước độc lập theo mô hình phong kiến Trung Hoa và nhu cầu cổ vũ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhiều quan niệm thơ Trung đại Trung Hoa đã được ông cha ta tiếp nhận. Trong đó nổi bật là quan niệm “thi ngôn chí”.
Tiếp xúc với thơ phương Tây thi nhân Việt Nam ngộ ra rằng thơ còn có cuộc sống riêng với qui luật đặc trưng của cái đẹp. Bài thơ Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ có thể xem là tuyên ngôn của Thơ mới (1932-1945)- một cuộc cách mạng thi ca. Quan niệm duy mỹ này có phần thoát ly cuộc đấu tranh chung của dân tộc lúc ấy .
 Nhưng về góc độ mỹ học thì đây là một bước tiến vô cùng quan trọng của thơ. Nó giải phóng cho thơ khỏi tính chất giáo huấn, tính chất chức năng, công cụ đạo lý của thơ rung đại.
Thơ truyền thống Việt Nam còn là thơ thiên về tình cảm. Trong xã hội Nho giáo đầy tính chất khuôn mẫu với “tam cương, ngũ thường” thì tình cảm trong thơ cũng khó mà đa dạng, mới mẻ. Với ảnh hưởng của thơ phương Tây, thơ hiện đại Việt Nam kể từ Thơ mới hướng về cảm xúc. Cảm xúc là tên một bài thơ có tính tuyên ngôn của Xuân Diệu cũng là tuyên ngôn của Thơ mới. Tình cảm thì không nhiều loại nhưng cảm xúc thì vô cùng đa dạng. Với ảnh hưởng của thơ Tượng trưng Pháp ,Thơ mới còn đề cao yếu tố cảm giác. Cảm xúc, cảm giác gắn với con người cá nhân, ý thức chủ thể làm nên sự tươi tắn, sống động của Thơ mới. Đặc điểm này được tiếp tục trong thơ Cách mạng 1945-1975 và đặc biệt là trong thơ đương đại.
Một đặc điểm nổi bật khác của thơ trung đại Việt Nam là tính chất duy lý giáo điều. Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ phương Tây, thơ Việt Nam thế kỷ qua đã tăng cường yếu tố trí tuệ. Nghiên cứu Thơ mới các nhà văn học của chúng ta thường bỏ qua đặc điểm này. 
Với tư duy hiện đại Thơ mới ưa phát hiện và thể hiện sự thay đổi của cuộc sống, thể hiện sự phân vân, không rành mạch, nhiều đối cực, nghịch lý của con người. Mọi sự đều thay đổi kể cả lòng người ( Đi thuyền của Xuân Diệu là một bài thơ tiêu biểu). Thơ mới ở dạng duy lí có rất nhiều câu hay cô đúc như châm ngôn:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
                                             (Xuân Diệu)
Thơ Chế Lan Viên là một thí dụ đầy sức thuyết phục về vai trò của lý trí, trí tuệ trong thơ hiện đại . Trí tuệ trong thơ hiện đại là trí tuệ đúc kết, chiêm nghiệm từ đời sống và cảm nhận máu thịt của nhà thơ :
         Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
         Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
Nó khác với tính chất duy lý, giáo điều của thơ trung đại:
Hay tám vạn ngàn tư mặc kệ
Không quân thần phụ tử đếch ra người.
                                             (Nguyễn Công Trứ)
Với ảnh hưởng của thơ thế giới, thơ Việt Nam thế kỷ qua cũng đã có một bước chuyển quan trọng: Từ chỗ thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ hoặc của tầng lớp Nho sĩ hoặc của con người làng quê nông nghiệp, thơ chuyển sang thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ của con người đô thị hiện đại. Bước chuyển này thể hiện rõ rệt từ Thơ mới  và thơ sau 1975. Đô thị hóa là một quá trình tất yếu của thế giới hiện đại. Công chúng của thơ hiện đại cũng chủ yếu là công chúng ở đô thị. Cái gu thẩm mỹ mang tính chất nông thôn, nông nghiệp ngày càng tỏ ra không ăn nhịp cùng thời đại. Nó đòi hỏi phải được biến đổi, hiện đại hoá. Thơ thế giới hiện đại chủ yếu là thơ của con người đô thị đang chuyển biến hết sức mau lẹ. Cho dù yêu mến làng quê cổ truyền đến đâu cũng không thể “Van em em hãy giữ nguyên quê mùa” như Nguyễn Bính ở thập kỷ ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước. Hướng đi của thơ hiện đại không phải là hạ thấp trình độ thẩm mỹ xuống cho vừa với trình độ của số đông công chúng mà là nâng cao trình độ thụ cảm thơ của họ. Quá trình này không đơn giản mà và vấp phải những quan niệm cực đoan như đã diễn ra trong thời kháng chiến chống Pháp. Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bị phản ứng quyết liệt vì không nói được tâm tình và quan niệm thẩm mỹ của quần chúng công nông binh. Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên bị ngay một nhà thơ tài năng khác là Xuân Diệu  nhân danh sự trong sáng để phê bình là "rắc rối, rối rắm" [1; tr.349].
Công chúng nào văn học ấy. Thơ hiện đại Việt Nam hôm nay đang hướng về bạn đọc có văn hoá thơ hàng đầu. Nhà thơ phải vượt lên trước tầm đón nhận của công chúng, ít nhất là “nửa vành bánh xe”...

2. Giao lưu với thơ thế giới đã diễn ra theo quy luật đáp ứng nhu cầu của thơ Việt Nam từng bước hiện đại hóa.
Bàn về ảnh hưởng của thơ Pháp đối với phong trào Thơ mới 1932-1945, nhà nghiên cứu Phan Ngọc có nêu lên qui luật vế “tính đồng thời”. Thực tế đã không diễn ra như vậy. Vài thập niên đầu thế kỷ XX thơ phương Tây đã vào giai  đoạn tượng trưng, siêu thực, song các xu hướng thơ này hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến thế hệ các nhà thơ đương thời ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân. Trước hết các nhà thơ ta chỉ tiếp xúc một cách gián tiếp văn chương Pháp qua dịch thuật. Song, nguyên nhân chính phải được xác định bởi nhu cầu tiếp nhận. Độc lập quốc gia và tiến bộ xã hội là hai vấn đề cơ bản được đặt ra lúc bấy giờ khiến các nhà Nho hướng đến việc tiếp nhận tư tưởng cách mạng Dân chủ Tư sản, tiếp nhận văn chương triết lý xã hội của những Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu.. ở thế kỷ Ánh sáng, nghĩa là trước đó đến hai trăm năm. Không chỉ Phan Bội Châu mà Tản Đà cũng xác nhận ảnh hưởng văn chương triết lý của Pháp đến với ông trong khoảng thời gian trước 1920 qua sách dịch từ tiếng Pháp và đã viết trong Giấc mộng con: “ Phương Thái Tây được có pháp luật công chính là nhờ thiên lương ông Mạnh Đức Tư Cưu”. Lý do tầm đón nhận hạn chế đã đành, song bên cạnh đó còn là quan niệm thơ. Thơ đối với các cụ luôn gắn với trách nhiệm xã hội, gắn với con người. Ý thức mới về văn chương đã được Tản Đà phát biểu : “Có văn, có ích, có văn chơi”. Nhưng cho đến thời điểm này thơ chưa có đời sống độc lập của nó để có thể tính chuyện tiếp nhận những cái đương thời ở thơ Pháp.
Phong trào Thơ mới (1932-1945) đã “diễn ra trong mười năm lịch sử trăm năm của thơ Pháp”. Thơ Pháp lúc này đã vào giai đoạn siêu thực, hiện sinh nhưng do nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân các nhà Thơ mới chỉ tiếp nhận các trào lưu lãng mạn, Thi sơn, tượng trưng và một ít siêu thực. Các trào lưu về sau này của thơ phương Tây tương ứng với thời đại khủng hoảng sâu sắc về nhân cách, về tư tưởng thẩm mỹ. Nó phản ánh sự bất ổn, tan rã, vỡ mộng của cái tôi cá nhân. Xã hội và con người thành thị Việt Nam lúc bấy giờ chưa gặp những vấn đề như vậy của xã hội phương Tây.
Qui luật này cũng thể hiện trong thơ cách mạng 1945-1975 ở chỗ nó hướng đến những nền thơ Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thơ Xô viết vì tìm thấy ở đó những yếu tố có thể phát triển bằng kinh nghiệm của nền thơ đồng dạng đi trước và thực tế đã có những ảnh hưởng tích cực. Các thi hào của các dân tộc trên thế giới cũng đã đến với Việt Nam không phải như những vì sao giá lạnh mà như những nguồn năng lượng cổ vũ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong khi đó hầu như  toàn bộ thơ phương Tây hiện đại không được giới thiệu ở miền Bắc trong thời gian này.
Đặc điểm có tính qui luật này đặt ra vấn đề tiếp nhận những gì ở thơ thế giới đương đại trong thời kỳ Đổi mới? Giờ đây chúng ta đã có điều kiện hội nhập từng bước với thế giới trên tất cả các lĩnh vực. Với định hướng “xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” công việc đầu tiên là phải xác định trong những giá trị thơ ca thế giới hiện đại đâu là những cái cần cho chúng ta. Nền thơ Việt Nam thế kỷ XXI theo hình dung của chúng tôi sẽ phải là một nền thơ đa dạng như một vườn hoa nhiều màu sắc, có chỗ cho mọi xu hướng thơ phát triển. Sẽ tự làm nghèo nền thơ Việt Nan đương đại nếu nghĩ thơ chỉ có thể phát triển theo hướng tượng trưng, siêu thực và các xu hướng hậu hiện đại khác của phương Tây. Nền thơ Việt Nam tương lai sẽ là nền thơ tích hợp tất cả các giá trị thơ ca kim cổ, đông tây. Do nhiều nguyên nhân trong đó có qui luật phát triển không đều, mấy thế kỷ qua có một thực tế : trên nhiều lĩnh vực “ánh sáng là từ phương Tây tới”. Song văn học nói chung và thơ nói riêng có tính chất đặc thù dân tộc. Nền thơ Việt Nam đương đại phải tự trả lời được những câu hỏi “ta là ai?”, “ta muốn trở thành gì ?” thì mới chủ động trong giao lưu thơ được.
Giao lưu thơ do nhiều nguyên nhân còn phiến diện và chưa cập nhật với thơ hiện đại thế giới.
Giai đoạn đầu thế kỷ XX thơ Việt Nam chủ yếu tiếp nhận ảnh hưởng của tư tưởng, triết lý xã hội “Thái Tây”. Hệ quả là chỉ mới làm rạn nứt quan niệm thơ trung đại và đổi mới về nội dung thơ. Thơ vẫn ở tình trạng “bình cũ rượu mới”. Các nhà Thơ mới cũng chịu ảnh hưởng của thơ Pháp từ thế kỷ XVII  đến thế kỷ XIX là chủ yếu. Trong hoàn cảnh đất nước không có tự do, Thơ mới 1932-1945 tự khuôn vào thể tài đời tư, vào trữ tình cá nhân, tìm đến những trào lưu thơ tương ứng với nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ trong thơ Pháp. Những tiếng thơ vang vọng các sự kiện long trời lở đất như Cách mạng Tư sản Pháp và Công xã Paris còn ít ảnh hưởng đến thơ họ. Giọng thơ hùng tráng của Huy Thông, “Cây đàn ngàn phiếm” của thơ Thế Lữ có làm ta liên tưởng đến  Victo Hugo nhưng còn những thi hào, thi bá khác của phương Tây như Byron (Anh), Goethe (Đức) đã như không được biết đến. Ngẫu nhiên qua Baudelaire mà các nhà thơ ta biết đến Edgar Poe (Mỹ). Tầm đón nhận có vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa thơ. Hoài Thanh đã chỉ ra một trường hợp tiêu biểu trong Thơ mới: “Trong thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn. Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên. Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới. Với một nghệ thuật tinh vi đã học được của Baudelaire Xuân Diệu đã diễn tả lòng ham sống bồng bột trong thơ de Noailles, trong văn Gide. Lúc bấy giờ Thế Lữ  mới tìm đến Baudelaire nhưng nguồn thơ Thế Lữ đã cạn không sao đi kịp thời đại” [2; tr.35] .
Đến lượt mình Xuân Diệu dừng lại ở những quan điểm thẩm mỹ của thơ tượng trưng. Đối với những hiện tượng tiếp tục hiện đại hoá như Hàn Mặc Tử ông gần như bỉ báng. Trên báo “ Ngày nay” (7/8/38) trong bài Thơ của người ông viết : “Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên thì tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”.
Tính chất phiến diện trong việc tiếp nhận và tích hợp các giá trị thơ ca thế giới cũng đã thể hiện ngay trong nền thơ cách mạng 1945-1975. Với tính chất một nền thơ cách mạng, nó hướng sự quan tâm chủ yếu đến thơ các nước xã hội chủ nghĩa. Thơ hiện đại phương Tây nhìn chung là ngoài tầm mắt các nhà thơ cách mạng. Không những thế còn bị nhận định chung là “tư sản suy đồi”, “điên loạn”. Trong nhiều trường hợp đó là những nhận xét hàm hồ. Ngay đối với thơ Xô viết chúng ta cũng chỉ tiếp nhận những hiện tượng thơ “chính thống”. Bạn đọc Việt Nam đương thời không biết đến thơ B. Pasternak, A. Akhmatova, O.Mandelxtam… Thậm chí có xu hướng đối lập một cách phi lý và giả tạo thơ V. Mayacovsky với thơ S. Esenin
Trong lòng các đô thị miền Nam các nhà thơ và công chúng yêu thơ lại chỉ biết chủ yếu đến thơ hiện đại phương Tây. Chủ nghĩa hiện sinh có lúc trở thành một thứ mod trí thức. Thế giới chia làm hai phe hòng tiêu diệt lẫn nhau. Ranh giới chính trị một thời đã trở thành ranh giới nghệ thuật. Chính vì vậy thơ cách mạng Việt Nam chưa phải là đã tiếp nhận được những thành tựu nghệ thuật đa dạng và hiện đại nhất của thơ ca thế giới. Ngoài thơ Xô viết chúng ta chỉ say mê thơ A. Pushkin, M. Lermontov, H. Heine, S. Petofi, W. Whitman… là những nhà thơ thế kỷ XIX. Cũng như vậy trên lĩnh vực văn xuôi ta quen với H. Balzac, V. Hugo, G. Maupassant, W. Thakeray,Ch. Dickens mà ít biết về văn học hiện sinh, Tiểu thuyết mới… Tính chất phiến diện và thiếu cập nhật phần nào đã được khắc phục ở lĩnh vực văn xuôi bằng các ấn phẩm dịch từ cuối thập niên tám mươi đến nay. Những cách tân khá mạnh mẽ trong văn xuôi là hệ quả của giao lưu văn học thời kỳ Đổi mới. Các thủ pháp nghệ  thuật như đồng hiện, dòng ý thức, khai thác cõi vô thức, tiềm thức, bản năng… được áp dụng khá nhuần nhuyễn đã đem lại những giá trị mới lạ trong văn Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà…Riêng trên lĩnh vực thơ tình hình có khác. Khó có thể nói đến ảnh hưởng của thơ qua các bản dịch. Thơ dịch khó mà chuyển tải được cái hay của nguyên bản nhất là về mặt hình thức. Đó là chưa kể đa số trường hợp là dịch xổi, dịch người nào “giết” người ấy như Chế Lan Viên đã cay đắng viết trong trong bài thơ “Bị lừa” (Di cảo III).
Trước mắt chúng ta cần nhanh chóng có kế hoạch dịch tác phẩm và phân tích, giới thiệu một cách bài bản các tác giả thơ lớn của thế giới, lấp đầy các khoảng trống trên “bản đồ thơ thế giới” đương đại. “Khởi thủy là dịch”. Đó là khẩu hiệu của thời kỳ văn học Phục hưng ở Châu Âu. Tầm quan trọng của dịch thuật đã được thể hiện bằng việc mô phỏng một câu trong Kinh Thánh: “Khởi thủy là Lời”. Một khi chưa làm được điều này, việc tiếp nhận các giá trị thơ ca thế giới sẽ vẫn còn diễn ra một cách ngẫu nhiên, không tránh khỏi phiến diện và thiếu cập nhật.
3. Nâng cao hiểu biết, mở rộng tầm đón nhận là yêu cầu đối với thơ Việt Nam hôm nay
“Làm thơ  chỉ biết có thơ thôi không được. Làm thơ với trái tim, với chất sống không đủ. Phải có văn hoá nữa” (Chế Lan Viên, Bước đầu của tôi) [09;tr.710]. Thời hiện đại đang cấu trúc lại xã hội và đã làm đảo lộn vai trò nhiều lĩnh vực đời sống của loài người nói chung và ở Việt Nam ta nói riêng. Thơ không ở ngoài hoàn cảnh chung này. Một mặt thơ đang thu hẹp ảnh hưởng của mình đối với đời sống xã hội, mặt khác đang dần dần chuyển sang chuyên nghiệp hóa cao độ. Thơ tất yếu sẽ phân hóa thành thơ đại chúng và thơ cho lớp người đặc tuyển. Vai trò cách tân chủ yếu thuộc về loại thơ thứ hai. Để cách tân thì yếu tố chủ thể là quyết định nhưng vai trò của tiếp nhận các giá trị thơ thế giới vô cùng quan trọng. Ở đây tính dân tộc của thơ phải được hiểu thật khoa học trong thế vận động biến đổi theo hướng hiện đại hóa. Không thể nhân danh sự giản dị trong sáng được hiểu một cách giản đơn là gắn với truyền thống để kìm hãm sự phát triển của thơ . Bởi vì “có trong sáng động và trong sáng tĩnh, có trong sáng giàu và trong sáng nghèo”[1; tr.339]. Những lời bàn sau đây của Chế Lan Viên về ngôn ngữ cũng có thể xem như phương pháp luận khi nghĩ về giao lưu văn học và tích hợp các giá trị thơ ca: “Biết làm sao được khi dòng sông ngôn ngữ tiếp xúc với cái mới, cái lạ thì nó hãy tạm thời bị vẩn đục. Vấn đề là nó phải nhanh chóng chủ động giải quyết sự đục ấy để không những lặp lại sự trong sáng cũ mà tiến đến một sự trong sáng mới cao hơn, giàu hơn vì bấy giờ đã thêm yếu tố mới nhập vào” (Làm cho ngôn ngữ trong sáng, giàu và phát triển ) (1;tr.339).
Nền thơ Việt Nam trong thế kỷ mới sẽ là một nền thơ có điều kiện tiếp thu mọi giá trị tinh hoa của thơ thế giới. Từ thực tiễn sáng tác của nhà thơ tài năng Chế Lan Viên ta có thể thấy sự phủ nhận triệt để các xu hướng thơ hiện đại phương Tây là cực đoan. Bàn về thơ hiện đại, ông viết: “Trái tim và khối óc, cái cá nhân và cái xã hội, ý thức và vô thức. Đấy chỉ là hồng cầu, bạch cầu của một sức khỏe chung. Ngay một nhà thơ siêu thực cũng đã mơ một nền thơ siêu thực cộng với cực lý trí. Cực mê đòi cực tỉnh” [109; tr.678]. Thơ tượng trưng, siêu thực vẫn có nhiều điểm khả thủ. Nó chỉ hỏng khi được xem là mục đích, là chủ nghĩa, lấy phương pháp sáng tác thay cho giá trị thực chất của lao động sáng tạo. Có những nhà thơ đang đánh mất mình khi ngộ nhận qui luật phát triển của thơ nhân loại nói chung sẽ sớm muộn đi theo hình mẫu phương Tây. Kinh nghiệm của quá trình hiện đại thơ thế kỷ XX cho thấy vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo, của nội lực văn hoá Việt Nam. Và về điều này thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết từ 1946: “Gốc của văn hoá mới là dân tộc . Nếu dân tộc mà phát triển đến cực điểm thì tức là tới chỗ thế giới hóa đó ,vì lúc bấy giờ văn hoá thế giới sẽ phải chú ý tới văn hoá của mình và văn hoá của mình sẽ chiếm một địa vị ngang với văn hoá thế giới. Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ nước nào nhưng điều cốt yếu là sáng tác. Mình đã hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả” (dẫn theo Hoài Thanh trong Có một nền văn hoá Việt Nam) [3;tr.3].
 Chính vì vậy mà nhà thơ Nga Malđenxtam đã nhận xét về Người khi còn là chàng thanh niên yêu nước ngoài ba mươi tuổi: “Ở Nguyễn Ai Quốc toát lên ánh sáng của văn hoá, không phải là văn hoá của phương Tây mà là văn hoá của tương lai”.





Tài liệu trích dẫn
1. Nhiều tác giả,  Chế Lan Viên giữa chúng ta, Nxb Văn học - Trung tâm Quốc học, H. 2000.
2. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (tái bản), Nxb Văn học, H.1998.
3.     Tạp chí Sông Hương, số 147, Huế.