Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

NGHỆ NHÂN ƯU TÚ A NOL NGƯỜI GIỮ HỒN CHIÊNG HLING tác giả Y MANG - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

Ông A Nol sinh năm 1941, dân tộc Xê Đăng, ở buôn Kon H’ring, xã Êa H’đing, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Sinh ra từ gia đình truyền thống biết đánh cồng chiêng, sáng tác bài cồng chiêng, chỉnh cồng chiêng, chế tác các loại nhạc cụ dân tộc, hát dân ca…

Ông là Đội trưởng đội chiêng của ở buôn Kon H’ring.  Đã từng có thời trong buôn không nhà nào có chiêng tốt để đánh và phải đi thuê chiêng về đánh khi có việc quan trọng. Năm 1987, ông A Nol lặn lội sang Kon Tum để tìm mua lại bộ chiêng cổ (chiêng Hling) phục vụ các dịp lễ, ngày hội quan trọng.

Không chỉ có tài đánh chiêng, dạy chiêng, sáng tác bài chiêng cho dân làng, biết truyện cổ, sử thi, ông A Nol còn là thợ chỉnh chiêng giỏi nhiều người biết đến, ông đã tham gia trình diễn chỉnh chiêng tại Plei Ku năm 2010. Trong những ngày tập luyện hay lưu diễn, ông đều là người đưa đội chiêng đi, để hướng dẫn, sắp xếp đội hình đánh chiêng sao cho phù hợp với không gian diễn xướng. Nếu chiêng có bị lạc tiếng trong lúc ra trình diễn, ông sẽ có mặt kịp thời để chỉnh chiêng.

Ông đã chế tác được nhạc cụ dân tộc như: Ting ning ( đàn goong), kloong put, t’rưng… được sự dụng trong các lễ hội và tham gia liên hoan tại huyện và tỉnh. Ông đến từng nhà dạy đánh cồng chiêng và múa xoang cho trẻ em, nên thanh niên trong buôn ai cũng biết đánh chiêng, múa xoang. Ông đã truyền dạy trên 100 thanh niên trong buôn biết đánh cồng chiêng. Trong năm 2014, nhóm chiêng trẻ của ông tham gia liên hoan đội chiêng trẻ toàn tỉnh Đắk Lắk đã đạt giải nhất toàn đoàn.

Ông A Nol sống trong không gian văn hóa cồng chiêng từ thuở nhỏ, tiếng cồng, tiếng chiêng đã trở thành máu thịt của nghệ nhân A Nol. Cha ông cũng là một nghệ nhân cồng chiêng có tiếng trong buôn. Từ khi lên 8 tuổi ông đã theo cha đi biểu diễn cồng chiêng vào các dịp lễ mừng lúa mới, đám cưới, đâm trâu, lên nhà mới... Tối về, người cha thường đem chiêng ra lau chùi, ông A Nol ngồi bên được người cha kể về lịch sử, ý nghĩa của mỗi loại chiêng. Lớn hơn thì ông được cha hướng dẫn cho cách đánh cồng chiêng, trống, đàn t’rưng, hát kể sử thi…và các loại nhạc cụ khác.

Gần mấy chục năm kinh nghiệm đánh cồng chiêng, đánh đàn t’rưng, đến bây giờ nghệ nhân A Nol luôn tự hào là một trong số ít nghệ nhân có thể thẩm âm cho  chiêng. Cứ sau mùa lễ hội hoặc hội diễn, liên hoan chiêng nào bị lạc tiếng là ông A Nol tự tay chỉnh lại. Muốn cho chiêng có thang âm chuẩn đòi hỏi cái tai phải biết phân biệt tiếng cao, tiếng thấp khi chiêng ngân vang là đúng hay sai. Khi đã bắt được “bệnh” của chiêng thì dùng búa gõ nhẹ vào chiêng xem âm thanh phát ra để đoán định phần nào trên thân chiêng bị phồng, bị dẹp. Sau đó, dùng búa tán nhẹ theo vòng tròn đồng tâm cho đến khi nào tiếng chiêng đánh lên nghe đúng âm, đúng điệu là được. Nghe thì đơn giản vậy, chứ để biết chuẩn xác vị trí trên chiêng mà gõ nhịp nặng nhẹ… đòi hỏi người nghệ nhân phải có kinh nghiệm, kỹ thuật được đúc rút cả một đời.

Còn nhớ, cách đây chưa lâu, ông được người bạn ở xã Diên Bình, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mời đến chỉnh âm thanh cho bộ chiêng Hling của gia đình người bạn. Chỉ mất một buổi nghệ nhân A Nol đã “gọi tiếng hồn nhập chiêng”, ông đã chỉnh chiêng phù hợp với âm sắc cho người bạn. Theo nghệ nhân A Nol kể lại thì hiện tại, lớp nghệ nhân chỉnh được chiêng ở buôn này không còn ai nữa. Dù chiêng được lưu truyền hay mua mới thì qua mấy mùa lễ hội đều bị “lạc âm”. Muốn chỉnh âm phải có chiếc búa loại nhỏ. Khi chỉnh âm cần lật ngửa chiêng ra rồi dùng búa nhỏ tán một đường lồi nhẹ ở mép bên trong chiêng. Sau đó, lật úp chiêng tán thêm một đường lõm nhẹ bên ngoài. Cứ tán đều tay và đúng kỹ thuật… Và kỹ thuật chỉnh âm cho chiêng là cả một nghệ thuật bởi nó dựa vào khả năng cảm nhận, am hiểu về nguyên lý dao động, lan truyền của âm thanh trên bề mặt chiêng trong không gian.

Ngoài ra, ông đã sáng tác cồng chiêng Xê Đăng và được cộng đồng sử dụng rộng rãi, không chỉ tại tỉnh Đắk Lắk mà cả dân tộc Xê Đăng ở tỉnh Kon Tum, bài chiêng của ông A Nol không chỉ khép kín trong các buôn làng của mình, mà đã bay khắp núi rừng Tây Nguyên, đã gắn liền với các lễ thức của nền văn hoá lúa rẫy ẩn chứa tư tưởng, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn, lòng yêu thương, căm giận, tinh thần đoàn kết, thượng võ và chiến thắng của dân tộc Xê Đăng ở Tây Nguyên. Nghệ nhân A Nol có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hoá truyền thống của Xê Đăng.

Tháng 9 năm 2019 ông được Chủ tịch Nước tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú”. Bây giờ, vì tuổi già, sức yếu cộng với căn bệnh hiểm nghèo ông A Nol đã về với tổ tiên, núi rừng. Chắc ông đã yên tâm, thanh thản bởi vốn quý về nghệ thuật cồng chiêng Hling cùng các loại nhạc cụ, làn điệu dân ca Xê Đăng đã được trao truyền trọn vẹn lại cho lớp trẻ.

 

 


Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

KÈN RLET-NHẠC CỤ THIÊNG TRONG NGHI LỄ CỦA NGƯỜI M’NÔNG tác giả TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 


 

Theo các già làng M’nông ở Dak Rung kể lại: Xưa kia kèn Rlet được làm nên từ những người dân giữ rẫy. Họ dùng kèn Rlet để thổi đuổi chim thú, giữ lúa rẫy, thổi vui trên rẫy, thổi giao lưu giữa những người giữ rẫy trong những đêm thanh vắng giữa núi rừng thanh tịch, thổi trong dịp tuốt lúa rẫy, tạo không khí vui tươi trong mùa thu hoạch. Dần dần các nghệ nhân dùng kèn Rlet thổi trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong một số lễ hội, trong giao lưu tìm bạn, trong khi ru con ngủ, trong các lễ cúng đuổi thần ác, thần ma ra khỏi bon làng. Đặc biệt kèn Rlet trở thành nhạc cụ thiêng trong các lễ lớn có hiến trâu của người M’nông.

Kèn Rlet của người M’nông có bốn loại: Một là kèn Rlet dùng thổi trong lễ cúng tẩy uế rẫy. Hai là để thổi đuổi thú bảo vệ rẫy. Ba là thổi cúng trừ đau ốm. Bốn là thổi gọi mời thần lúa trong lễ Tâm Ngêt mừng được mùa rẫy.

Kèn Rlet dùng thổi trong lễ cúng tẩy uế rẫy:

Người M’nông quan niệm rằng: rẫy bị ô uế là vì đất rừng chủ rẫy vừa phát, trước đây đã có người làm, họ đã cúng lợn, cúng chó, cúng dê; đám rẫy này xưa kia có tranh chấp chửi rủa nhau; hoặc đám rẫy này xưa kia có con mang, con trăn, con chồn chết. Nếu chủ rẫy để vậy mà trỉa lúa, khi lúa vừa chín chưa kịp thu hoạch thì trong nhà có người đau ốm, hoặc tai nạn, chết chóc.

Vì vậy mà chủ rẫy phải cúng tẩy uế. Trước khi làm lễ cúng tẩy uế, chủ rẫy nhờ nghệ nhân làm kèn Rlet để thổi, và cúng bằng tiết con lợn, con chó. Sau khi cúng xong, chủ rẫy phải dùng kèn Rlet thổi trên rẫy suốt từ khi trỉa cho đến khi tuốt, đưa lúa về kho nhà mình mới thôi. Đến ngày cúng tắm lúa, chủ nhà phải cúng bằng tiết con trâu để tạ ơn thần lúa, tạ ơn thần kèn Rlet. Cúng xong, chủ nhà mang kèn Rlet lên rẫy treo lên cành cây bên rẫy rồi để vậy không quan tâm đến nữa.

Kèn Rlet thổi trong lễ cúng bảo vệ rẫy:

Nếu lúa rẫy bị các con thú, như: khỉ, heo, nai, chim công, chim cu, chồn, sóc... kéo về ăn lúa, phá rẫy, thì chủ rẫy nhờ nghệ nhân làm kèn Rlet để thổi trên rẫy đuổi chim thú. Làm kèn Rlet này không cúng tiết lợn, tiết dê, tiết gà và không cúng rượu cần. Kèn Rlet này chỉ dùng thổi bình thường trên rẫy, giống như thổi chơi các nhạc cụ sáo, kèn môi, m’buăt, r’nung (tù và). Nhạc cụ này chỉ thổi trên rẫy để đuổi chim thú, không được mang về nhà. Nếu mang kèn Rlet này về nhà thì bị chủ bon phạt cúng trâu hiến thần linh để tạ lỗi, nếu không sẽ bị mất mùa, dịch bệnh. Cúng xong chủ nhà phải mang kèn Rlet lên rẫy treo vào cành cây bên rẫy và để vậy không quan tâm đến nữa.

Kèn Rlet thổi cúng trừ bệnh tật:

Theo quan niệm của người người M’nông, khi trong nhà có người ốm lâu ngày không khỏi thì gia chủ phải nhờ nghệ nhân làm kèn Rlet để cúng trừ bệnh tật. Bắt đầu làm kèn Rlet phải cúng tiết lợn với nước đầu rượu ché Rlung, cầu xin thần kèn Rlet bảo vệ hồn người ốm không cho con ma xứ Phan, con ma Ác, con ma Biăng (coi giữ linh hồn) bắt người ốm đi. Gia chủ dùng Rlet này cúng xong treo trong nhà, đến khi người nhà khỏi bệnh thì chủ nhà làm trâu cúng tạ ơn thần kèn Rlet. Cúng xong chủ nhà mang kèn Rlet ra rẫy treo trên cây và để vậy cho đến khi kèn mục.

Kèn Rlet thổi cúng thần lúa:

Người M’nông có phong tục: Nếu năm ấy cả bon được mùa lúa (trung bình mỗi nhà thu được 100 gùi lúa trở lên thì chủ bon tổ chức lễ Tâm Ngêt - mừng được mùa. Trong lễ này người ta làm kèn Rlet cúng tiết trâu với nước đầu ché rượu Rlung để gọi mời  thần Lúa về uống rượu cùng với dân làng, giúp cho mọi nhà mùa rẫy mới lúa đầy kho, đầy bồ. Làm kèn Rlet trong lễ này chỉ để được bốn hoặc lâu nhất là tám nắng (tám ngày).

Ngày cuối cùng làm lễ hiến trâu cho thần linh, người ta hiến luôn cho thần lúa kèn Rlet cùng một ché rượu Rlung và một tô đầy gạo lúa mới. Cúng xong, chủ lễ treo kèn Rlet vào cây nêu N’gâng và để vậy, không cho trẻ con lấy chơi. Nếu có trẻ con nào lỡ nghịch lấy chơi, thì cha mẹ đứa trẻ phải làm lễ cúng tạ lỗi thần Rlet một con lợn, một ché rượu Rlung. Làm như vậy đứa trẻ mới khỏi bị bênh hoặc tai nạn. Do vậy, người M’nông thường căn dặn con trẻ không nên lấy chơi kèn Rlet khi đã cúng xong.

Kiêng cữ trong thời gian thổi kèn Rlet: 

Người M’nông có tục lệ: Trong thời gian làm kèn và thổi kèn Rlet cúng thần linh, chủ nhà không được xuất lúa, của cải, tài sản cho con cháu hoặc bán cho người ngoài; hoặc người nhà lên rẫy, đi rừng săn thú, ra sông suối suối đánh bắt cá.

Nếu gia chủ đã lỡ xuất lúa và của cải trong nhà cho con cháu và bán cho người ngoài, hoặc trong nhà có người đi rẫy, đi rừng, đi đánh cá thì chủ nhà phải cúng thần kèn Rlet với tiết con lợn cùng nước đầu rượu ché Rlung. Nếu không cúng thì người xuất của cải và người nhận của của cải, người di rẫy, đi rừng sẽ bị đau ốm, hoặc bị tai nạn.

Người M’nông còn kiêng cữ: sau khi cúng thần linh xong, kèn Rlet đang treo trên cây nêu trong bon, hoặc treo trên cành cây ở rẫy, trẻ con không được nghịch ngợm lấy chơi. Nếu không sẽ bị thần quở xẩy ra đau ốm hoặc tai nạn.

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tính thiêng của kèn Rlet, chúng tôi được các nghệ nhân M’nông kể rằng: Một lễ cúng của gia đình, hay của bon làng, bên cạnh dựng cây nêu, nếu không có kèn Rlet thì lễ cúng ấy không  thiêng. Nên bất kỳ làm lễ gì hễ có dựng nêu, thì phải làm kèn Rlet thì lễ ấy mới thiêng, có như vậy người già mới yên cái bụng.

Qua đây, có thể khẳng định rằng, nhạc cụ Rlet là một trong những nhạc cụ không giống các nhạc cụ thiêng khác của người M’nông, như: cồng chiêng, tù và. Ở đây nhạc cụ Rlet khi làm xong phải cúng tiết con vật hiến tế như: lợn, gà, dê, cao hơn nữa là trâu bò… thì nhạc cụ này trở thành linh thiêng, thành thần Rlet. Khi được thổi lên, có thể làm cho con chim, con thú lánh xa, con ma xứ Phan, con ma Ác sợ bỏ đi, người bệnh có thể khỏe mạnh trở lại bình thường. Đặc biệt, kèn Rlet khi thổi lên, các vị thần (thần Lúa, thần Núi, thần Sông…) đều về dự lễ hội cùng uống rượu cần với dân làng. Vì vậy, chúng tôi gọi kèn Rlet là một biểu tượng Thiêng trong kho tàng nhạc cụ của người M’nông.


Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

MỘT TRĂM NĂM KHÔNG CÔ ĐƠN CỦA PHỐ NÚI... (2) tác giả LÊ VĨNH TÀI - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

 

TAC-LAC VÀ DARLAC?

Cao nguyên Darlac được gọi tên vào năm 1892 khi BS Yersin thực hiện cuộc thám hiểm lần thứ hai của ông. Vĩ nhân Yersin trong chuyến này đã đi từ Nha Trang sang Stung Treng, và băng ngang qua cao nguyên Darlac ở vùng Hồ Lak bây giờ. "Người bản địa" lúc đầu mà ông gặp có lẽ là người M' Nông chứ không phải người Rhadé?

Những huyền thoại tên gọi…

Người M'Nông Gar sống chủ yếu ở vùng Huyện Lăk, xung quanh hồ Lăk thuộc tỉnh Đăk Lăk và vùng Tây Bắc của tỉnh Lâm Đồng. Tiếng M'Nông Gar là ngôn ngữ gốc của dân tộc M'Nông vì ít bị "hòa" bởi các ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Đắk Lắk hay Darlac (theo tiếng M'nông = Dak Lak [da#k la#k] (kéo dài, mềm đi và phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với Dak nghĩa là "nước" hay "hồ", như trong tiếng Việt là nước/nác.)

Từ DAK có những từ tương đồng như Dar, đạ, đà... Các từ này tương ứng với các từ chỉ "nơi chốn" như Đà Nẵng, Đà Lạt, Đạ Tẻn, Đak Hà .v..v... Từ Dak = Dar = Đạ = Đà... còn có nghĩa như "một vùng đất" là do có nguồn gốc xuất phát từ cách gọi của quốc gia Chăm Pa cổ xưa. Và bản thân từ Dar = dak = Đạ = Đà cũng còn có thêm một nghĩa khác là "nước". Do đó "nước" ở đây không chỉ để nói về "nước để uống" hay "nước dùng sinh hoạt", mà "nước" ở đây còn để nói về một "đất nước", một "vùng lãnh thổ", một dạng tiểu quốc. Vì các nhà nghiên cứu cũng cho rằng Champa xưa đã quản lí đất nước mình bằng các tiểu quốc như các bang trong các liên bang thời nay.

Mở ngoặc một chút:

Trong tiếng Việt hiện nay cũng hay dùng "nước" (nước Anh, nước Pháp...) để nói về "đất nước", trong khi tiếng Anh lại dùng "land/đất" để nói về "đất nước", ví dụ như my native land = đất nước / quê hương tôi.

Do đó mà từng đã có lần người ta cãi nhau về “Sông núi trên vai” và “Mountains and rivers on the shoulder”, vì thực ra dịch vậy không có gì sai, nhưng có điều bên Âu Mỹ người ta không dùng "sông núi" hay "núi sông" chỉ về Đất Nước mà dùng "land/đất, và có chữ “đất” thì người ta mới hiểu đó là tổ quốc, quê hương... Do đó, nếu ở Việt Nam thì sông núi (là tổ quốc) đang oằn lên vai các nhà thơ, theo kiểu "gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” thì bên Âu Mỹ phải là “motherland / homeland / fatherland” thì các nhà thơ mới biết mà đưa vai ra gánh.

Từ LAK thì từ tương đồng là LAC. Theo các già làng ở vùng cao nguyên cũng cho rằng từ LAC là phiên âm của từ LẠCH. (Theo đó thì người Lạch là các nhà buôn và trao đổi hàng hóa gốm sứ ở vùng cao nguyên (thương gia người dân tộc Lạch) từ thời Chăm Pa cổ. Các sử thi như sử thi Đăm Săn cũng nói về người Lạch.)

Và theo “văn bản”

Vào năm 1892 khi đặt chân đến vùng hồ Tak-Lak trong chuyến du hành thứ hai của mình, BS A. Yersin nghe dân địa phương nói về cái hồ lớn đó có tên là Tak-Lak (Tak = nước? Lak = ứ đọng, ngập lụt?) Nhưng Yersin đã ký âm là Darlac, và vào ngày 06-4-1894 ông công bố điều này trong các ghi chép của mình. Các tác giả Pháp sau đó như Tournier (1901) hay Henri Maitre (1912), A. Monfleur (1931)... đều xác nhận rằng A. Yersin đã ký âm nhầm chữ Tak-Lak thành Darlac (chắc như nay ta hay ký âm nhầm chữ #ư M’Blim thành Chu Liêm/Chư Lim, buôn Ko M’leo thành buôn KomLeo vậy). Để đến ngày 02-11-1899, khi chọn tên để đặt cho 1 tỉnh mới được thành lập, Toàn quyền Paul Doumer đã sử dụng ngay cái tên “Darlac” do Yersin gọi từ 5 năm trước để đặt cho cả cái vùng đất có cái hồ Tak Lak này vì chữ “Darlac” quen thuộc với người Pháp, dễ đọc, dễ nhớ, dễ ký âm hơn là chữ Tak Lak hay Dak Lak.

Từ 1904 – 1913, Darlac thuộc Phú Yên

Từ 1913 – 1923, Darlac thuộc Kontum.

Ngày 02.07.1923 Darlac mới chính thức tách thành một tỉnh riêng, và nghị định ngày ngày 06/09/1923 do Toàn quyền Rene Robin ký, sát nhập luôn M’ Drak nhập về Darlac, và Ban Mê Thuột lúc này chính thức trở thành thủ phủ.

BAN MÊ THUỘT VÀ BUÔN MA THUỘT 

Ngay từ đầu những năm 1900s, chúng ta đã thấy trên bản đồ người Pháp vẽ đã có tên Ban Don, Ban méthuot, Ban Mésao, Medrac… Thậm chí, vùng đất này (Ban Mé-thuot) lúc đầu còn được Cupet (1893) và Yersin (1894) gọi là Buôn MePleut (Buôn Mé-Plơi, Ama B’Lơi, người được coi là cha vợ Ama Thuột?)

Từ năm 1897, trong các báo cáo, và từ 1902 trên các bản đồ vẽ Đông Dương, người Pháp đã ghi chú địa danh Ban Mé Thuot. Đến 1905 thì đã có bản đồ vẽ riêng cho cái vùng đất Ban Mé Thuot.

Vì sao Ban Mé-thuot?

Tuy vùng đất của người Rhadé này đã biết từ thời An Nam, nhưng khi người Pháp, cụ thể là Đại úy Cupet thám hiểm lại cần sự hỗ trợ của người bản địa dẫn đường, và “người dẫn đường” đó không ai khác chính là vua săn voi Khunjonob (N’Thu, Y-Thu) một người Lào-M’nông, và cũng vì thời ấy vùng đất này còn thuộc tỉnh Stung Treng (lúc ấy thuộc Lào), nên các địa danh được người Pháp gọi theo cách phát âm của người Lào như Mé-Sao, Mé-Wal, Mé- Kheune… (Mé nghĩa là thủ lĩnh)

Đến năm 1921, dưới thời của viên công sứ Sabatier vùng đất này mới có tên gọi là Buôn Ma Thuột như một lẽ tự nhiên, vì người Rhade là sắc dân chính và có nhiều công lao ở đây. Hai tên gọi Ban Mê Thuột và Buôn Ma Thuột cùng song song tồn tại với nhau trong giai đoạn này. Ngay từ khi tách tỉnh (1923) Darlac đã được nhiều lần phân chia thành các tổng, lúc đầu có 20 tổng và đến lần chia ngày 30-5-1930 thì địa bàn tỉnh Dak Lak được chia thành 22 tổng (secteurs), trong đó có tổng trung tâm (tỉnh lỵ) chính thức là Ban Mé Thuột (nhưng vẫn có tài liệu, văn bản ghi là Buon Ma Thuot). Cho đến ngày 7/5/1931 Khâm sứ Trung kỳ ký ban hành Nghị định thành lập làng người Kinh tại Ban Mé Thuot (văn bản chính thức), và lấy tên làng là làng Lạc Giao, lúc này Darlac có 27 tổng.

Đến ngày 2-7-1958, tên gọi Ban Mê Thuột tiếp tục được sử dụng chính thức, Dak Lak lúc này có 5 quận gồm quận lỵ Ban Mê Thuột, Lạc Thiện, M’Drak, Dak Song, Buôn Hồ. Đến trước năm 1975, Dak Lak gồm có 4 quận Buôn Ma Thuột, Lạc Thiện, Buôn Hồ, Phước An. Tỉnh lỵ là thị xã Buôn Ma Thuột. (M’Drak là Khánh Dương, lúc này đang thuộc Khánh Hòa.)

Từ 1975 đến nay vùng đất này mới chính thức mang tên Buôn Ma Thuột, tên gọi của một ngôi làng xưa của Ama Y Thuột, làng của cha Y Thuột, vùng đất mang tên của một con người mà tiểu sử của ông vẫn còn sương khói…


Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

ẤN TƯỢNG THỊ GIÁC TRONG BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG CỦA TẾ HANH tác giả TRỊNH BÍCH THÙY - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

 

Từ rất sớm, người xưa đã đề cập đến vấn đề “thi trung hữu họa”của thơ ca. Bởi so với các thể tài khác, thơ mang tính tạo hình rất cao. Tính tạo hình vừa là đặc trưng vừa là yêu cầu sáng tạo của thơ. Thơ Tế Hanh tiêu biểu cho điều này. Thơ ông giàu tính tạo hình, mỗi tác phẩm như từng bức vẽ mà ở đó hình ảnh hiện lên hết sức sống động, gợi cảm. Một trong những thủ pháp tạo hình mà Tế Hanh thường xuyên sử dụng là ấn tượng thị giác. Điều này thể hiện rõ trong Quê hương, thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ ông, in trong tập Nghẹn ngào (1939), sau in lại trong tập Hoa niên (1945).

Mở đầu bài thơ, nhà thơ tự giới thiệu:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

Quê nhà của Tế Hanh là “một hòn cù lao trên sông Trà Bồng trước khi đổ ra biển”. Tuổi thơ của tác giả chắc hẳn gắn liền với những hình ảnh con thuyền, tấm lưới, những thanh âm của câu hát điệu hò chèo ghe… Trong bài viết “Kỷ niệm về một điệu hò trên sông Trà Bồng”, nhà thơ thổ lộ: “Trước khi tôi vào đời để làm thơ, tôi đã yêu thơ qua tiếng hát câu hò của những người đánh cá quê tôi” (Hồi nhỏ các nhà văn học văn, Nxb TP.Hồ Chí Minh). Không phải ngẫu nhiên mà Tế Hanh có những bài thơ rất hay về đề tài quê hương, đồng thời được xem là một trong những thi sĩ thành công nhất ở mảng đề tài này. Quê hương với cảnh sắc thanh bình, tươi đẹp chính là mạch nguồn cảm hứng sáng tạo, đồng thời là kho chất liệu nghệ thuật quý giá trong thơ ông.

Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người được thể hiện trong thơ Tế Hanh rất đỗi cụ thể, chân thực nhưng sinh động, đầy thanh âm, sắc màu. Ở Quê hương, bức tranh ấy được thể hiện từ đầu tác phẩm. Cả vùng trời tươi sáng hiện ra trước mắt người đọc chỉ với một dòng thơ: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng. Thiên nhiên được thể hiện bằng những gam màu sáng “trong”, “hồng”. Với gam màu này, đặc biệt là sắc “hồng” ở cuối dòng quy tụ sức gợi của cả câu thơ, ngay lập tức đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với thị giác tiếp nhận. Trước mắt người đọc như hiện lên cả một bầu trời trong veo với sắc ửng hồng phía mặt trời ló dạng. Hình ảnh thiên nhiên nhờ đó trở nên thi vị hơn, đồng thời gây được nhiều hiệu ứng thẩm mĩ hơn.

Khung cảnh thiên nhiên không chỉ đẹp vì vẻ trong trẻo, lãng mạn vốn có mà còn bởi hình ảnh con người với những hoạt động thường nhật. Tác giả chỉ dùng vài dòng thơ đầu để gợi tả cảnh sắc thiên nhiên nhưng lại dùng đến gần như toàn bộ phần còn lại của tác phẩm để khắc họa cuộc sống của con người vùng sông biển.

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

[…]

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Nếu như trong bức tranh thiên nhiên tác giả sử dụng từ chỉ màu sắc thuộc gam màu sáng thì với bức trang làng quê miền biển trong lao động, tác giả khắc họa với sự hòa hợp giữa cả hai gam màu sáng và tối. Gam sáng là màu trắng của “cánh buồm”, của “những con cá tươi ngon”. Màu trắng với cường độ mạnh đã gây kích thích trực tiếp thị giác người đọc. Hình ảnh cánh buồm trắng căng gió đưa thuyền “vượt trường giang”, những con cá thân bạc trắng tươi rói trên những chuyến thuyền đầy ắp trở về chắc chắn để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc về cuộc sống lao động đặc thù miền biển. Đây cũng là gam màu ám ảnh hồn thơ Tế Hanh. Vì mãi đến sau này, dù đi đến đâu, những hình ảnh ấy cứ luôn thường trực trong tâm trí nhà thơ: Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi.

Trên phông nền tươi sáng ấy, nổi bật lên là hình ảnh của con người lao động. Nhà thơ dùng gam màu tối để khắc họa hình ảnh người dân chài lười quê mình. Đó là các màu “ngăm”, “rám” của nước da người miền biển. Sau Cách mạng, trong bài Tiếng sóng, Tế Hanh cũng sử dụng lại gam màu này để miêu tả người dân chài lưới quê mình:

Da ngăm ngăm như một làn nước mặn

Miệng cười vui mặt biển ánh trăng nghiêng

Có chàng trai vai ngang như bến rộng

Có cô gái mày thanh như làn nước ven sông

Không phải ngẫu nhiên mà khi đặc tả hình ảnh con người miền biển, nhà thơ lại chọn chi tiết màu da. Có lẽ nước da rám màu nắng gió biển khơi và mặn mòi chất muối là một đặc trưng của người miền sông biển. Gam màu tối không gợi buồn mà ngược lại, đã làm nổi bật lên sự săn chắc, khỏe khoắn, can trường. Hình ảnh con người lao động hiện lên một cách chân thực, sống động hơn. Cũng như màu trắng, màu ngăm với cường độ mạnh đã gây nên ấn tượng thị giác mạnh, từ đó tăng cường hiệu ứng khắc họa hình tượng. Hơn nữa, hai gam màu sáng - tối được thể hiện một cách hợp lí đã triệt tiêu tính tương phản, gia tăng hiệu ứng bổ sung. Bức tranh thiên nhiên và con người nhờ đó trở nên thật hài hòa, sinh động.

Miêu tả phương tiện lao động là những chiếc thuyền ra khơi đánh cá, cùng với trường từ vựng chỉ màu sắc, nhà thơ còn sử dụng trường từ chỉ kích thước: “to”, “bao la”. Đi kèm với chúng là những tính từ, động từ mạnh: “hăng”, “phăng” “giương”, “rướn”. Tác giả còn sử dụng biện pháp so sánh, trong đó, đối tượng để so sánh là những hình ảnh hết sức độc đáo: “con tuấn mã”, “mảnh hồn làng”. Nếu “con tuấn mã” là biểu tượng của sức mạnh và vẻ đẹp kiêu hãnh thì “mảnh hồn làng” lại là hình ảnh thiêng liêng biểu trưng cho hồn cốt, truyền thống văn hóa của quê hương. Hình ảnh so sánh cùng từ ngữ ấn tượng đã gây nên những ấn tượng thị giác đặc biệt. Hình tượng cánh buồm, con thuyền vì thế cũng trở nên nổi bật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong sự liên tưởng, cảm nhận của độc giả.

Bên cạnh sử dụng trường từ vựng chỉ màu sắc, kích thước, biện pháp tu từ so sánh, tác giả còn sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Nói về thành quả lao động của dân chài lưới quê mình, nhà thơ viết: Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe/ Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ở đây, “ngon” đã được chuyển đổi cảm giác từ vị giác (ngon miệng) sang thị giác (ngon mắt). Ấn tượng thị giác nhờ thế được gia tăng. Ta còn nhớ, trước Tế Hanh hàng trăm năm, thi hào Nguyễn Gia Thiều cũng từng dùng biện pháp này khi tả người cung nữ qua cái nhìn của đấng quân vương: Đóa lê ngon mắt cửu trùng/ Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu (Cung oán ngâm khúc). Nếu “ngon” trong thơ cụ Nguyễn đã chuyển sang cả cảm xúc nhục thể thì “ngon” của Tế Hanh chỉ dừng lại ở xúc cảm thị giác. Cả hai chữ “ngon” đều là nhãn tự, được dùng hết sức tài tình. Trong câu thơ của Tế Hanh, cùng với “tươi”, “ngon” đã thể hiện được tối đa độ tươi, độ ngon của cá được đánh bắt về. Đó cũng là cách thể hiện ấn tượng về thành quả lao động biển cả của dân chài lưới quê hương nhà thơ.

Có thể nói, Quê hương là một đỉnh cao của thơ Tế Hanh. Bài thơ tràn ngập sắc màu và nhộn nhịp hình ảnh con người. Bằng ngôn ngữ của sắc màu, đường nét, hình khối và so sánh, nhân hóa, ẩn dụ có tác dụng gây liên tưởng thị giác, tác giả đã đem đến cho người đọc những ấn tượng khó quên về bức tranh thiên nhiên và đời sống lao động của con người miền sông biển. Với Quê hương, Tế Hanh đã góp vào gia tài thơ Việt Nam hiện đại một bài thơ hay, độc đáo, giàu hình ảnh về đề tài quê hương nói chung, miền sông biển nói riêng.