Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

CÂU HÁT DÂNG NGƯỜI “LẶNG LẼ BƯỚC TIÊN” tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 



CÂU HÁT TRƯỚC LÚC NGƯỜI ĐI XA

 

 

 

Lòng con sao cứ nghẹn ngào

Cái chiều hôm ấy được vào thăm cha

Được mang câu hát quê nhà

Hát cho Người lúc đi xa đỡ buồn

 

Trong câu hát có suối nguồn

Sông Lam thấp thoáng cánh buồm lá sen

Trong câu hát có ngọn đèn

Soi cho con bước những đêm vắng Người

 

Bác đi khắp bốn phương trời

Nghe bao khúc hát không nguôi nhớ làng

Trong câu hát có Nam Đàn

Có làng Sen với muôn vàn bông sen

 

Cát thì trắng, đêm thì đen

Một câu ví giặm mà nên xứ mình

Mà thêm sâu nặng nghĩa tình

Trước khi nhắm mắt Người dành cho con

 

Trong câu hát có nước non

Chiều nay như Bác vẫn còn đang nghe

Vẫn mong con với bạn bè

Hát câu ví giặm giọng quê Nam Đàn.

                                                    NGUYỄN HƯNG HẢI

LỜI BÌNH:

CÂU HÁT DÂNG NGƯỜI “LẶNG LẼ BƯỚC TIÊN”

 

Đề tài Bác Hồ trở thành mạch nguồn cảm hứng thiêng liêng không bao giờ vơi cạn trong văn chương nghệ thuật. Từ âm nhạc, hội họa, sân khấu… cho đến thơ ca, hình tượng Bác hiện lên vô cùng đẹp đẽ và tôn kính, đồng thời cũng gần gũi và thiết thân như người cha, người ông với con cháu mình. Có lẽ chính điều đó đã làm xúc động trái tim ta mỗi khi nhớ về Bác, người đã khai sinh ra Tổ quốc Việt Nam từ mùa thu Cách mạng tháng Tám 1945 lịch sử.

Trong các nhà thơ đương đại, có lẽ ít có thi sĩ nào lại dạt dào cảm xúc, dành nhiều tâm huyết và bền bỉ viết về Bác Hồ nhiều và hay như Nguyễn Hưng Hải. Theo chỗ tôi biết, anh có hẳn hai tập thơ riêng viết về Bác Hồ là “Cây bụt mọc trong vườn Bác” và “Ươm từ vườn Bác”, tổng cộng có đến hơn 100 bài thơ. Thơ Nguyễn Hưng Hải là tiếng lòng chân thành và ngưỡng vọng về Người với nội lực cảm xúc lớn lao tưởng chừng vô tận. “Câu hát trước lúc Người đi xa” là bài thơ nhắc nhớ thời khắc “Bác đã lên đường nhẹ bước tiên” về với thế giới Người Hiền vĩnh cửu.

Mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Hưng Hải khơi gợi lại giây phút thiêng liêng trước lúc Bác Hồ đi xa, để lại muôn vàn tình yêu thương cho nhân dân Việt Nam và thế giới. Khát khao nghe lại câu hát quê nhà với điệu ví giặm ngọt ngào và da diết, chính điều ấy đã trở thành câu chuyện nhuốm màu sắc huyền diệu, thần tiên. Cảm xúc “nghẹn ngào” được mang câu hát quê nhà vào hát cho Bác nghe, tác giả đã đặt tiếng lòng mình vào một hoàn cảnh đầy xót xa và cảm động. Hát cho Bác nghe lần cuối cùng những làn điệu quê hương xứ sở đã khiến Nguyễn Hưng Hải rưng rưng nỗi niềm không sao cầm được nước mắt. Thể thơ lục bát bật ra tự nhiên như suối nguồn muôn thuở, như câu hát nghĩa tình của xứ Nghệ thân thuộc ngàn đời:

Lòng con sao cứ nghẹn ngào

Cái chiều hôm ấy được vào thăm cha

Được mang câu hát quê nhà

Hát cho Người lúc đi xa đỡ buồn

Trên nền cảm xúc chung ấy, nhà thơ tiếp tục triển khai tứ thơ qua nhiều góc nhìn thẳm sâu từ cuộc đời bao la của Bác. Chính câu hát cội nguồn xứ sở ấy đã hun đúc nên một con người vĩ đại đã “tìm đường đi cho dân tộc theo đi” (Chế Lan Viên). Thế nên, câu hát mà Bác muốn nghe hôm nay trước phút đi xa chính là câu hát về làng Sen xứ Nghệ, nơi có dòng sông Lam thấp thoáng cánh buồm, có loài sen thanh khiết giữa chốn đầm lầy ao cũ. Cao đẹp và sâu lắng hơn, chính câu hát nơi quê nhà xứ Nghệ đã thắp lên ánh sáng của ngọn đèn trái tim, soi sáng cho tác giả và bao người mai này khi không còn Bác nữa:

Trong câu hát có suối nguồn

Sông Lam thấp thoáng cánh buồm lá sen

Trong câu hát có ngọn đèn

Soi cho con bước những đêm vắng Người

Đâu chỉ thế, câu hát cũng là cội nguồn cao đẹp, gợi nhà thơ liên tưởng đến những tháng năm bôn ba cứu nước của Người. Trong ba mươi năm xa nước, có phút giây nào Bác không nhớ nước non, nhớ làng Sen sâu nặng ân tình. Một món cà xứ Nghệ, một hàng rào râm bụt đỏ đơm hoa, một mái nhà tranh bên lũy tre xanh biếc… Tất cả điều đó đã chưng cất thành câu hát làng Sen - câu hát Nam Đàn bồi hồi thương nhớ:

Bác đi khắp bốn phương trời

Nghe bao khúc hát không nguôi nhớ làng

Trong câu hát có Nam Đàn

Có làng Sen với muôn vàn bông sen

Đọc những câu thơ trên, lòng chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động nhớ đến những câu thơ sâu nặng lòng biết ơn và giàu chất suy tưởng của Chế Lan Viên khi viết về hành trình cứu nước và nỗi nhớ nhà đến khắc khoải rưng rưng của Bác trong đêm xa nước đầu tiên: “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ/ Sóng dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương/ Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở/ Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương” (Người đi tìm hình của nước). Hai phong cách thể hiện, hai cách nhìn và cảm nghĩ về Bác, song tất cả đều toát lên tâm tình kính trọng, thấu hiểu nỗi lòng Người lúc dấn thân tìm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Trong hai khổ thơ cuối bài, nội dung tư tưởng vẫn được triển khai từ mạch nguồn cảm xúc ban đầu nhưng sâu lắng và rộng mở hơn. Câu hát trước lúc Bác đi xa đâu chỉ ám gợi về quê hương làng Sen - Nam Đàn của Bác. Câu hát, câu hò, điệu ví giặm xứ Nghệ kia còn là cõi nước non, là thiêng liêng Tổ quốc trường tồn và bản sắc ngàn đời không đổi. Vẻ đẹp cao quý đó được kết tinh thành tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho toàn thể dân tộc ta trước giờ phút đi xa mãi mãi:

Trong câu hát có nước non

Chiều nay như Bác vẫn còn đang nghe

Vẫn mong con với bạn bè

Hát câu ví giặm giọng quê Nam Đàn.

Có lẽ “Câu hát trước lúc Người đi xa” được Nguyễn Hưng Hải thơ hóa từ bài hát “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Hoàn. Đó là nhạc phẩm làm người nghe không sao cầm được nước mắt suốt mấy chục năm qua, và có lẽ mãi mãi sau này. Bây giờ đọc bài thơ này của Nguyễn Hưng Hải, với lời thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, hồn thơ đậm đà tính dân tộc qua thể lục bát, lòng mỗi chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ về Người. Kỷ niệm 51 năm ngày Bác về cõi vĩnh hằng, đồng thời thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người để lại cho toàn dân tộc, bài thơ trở thành nén tâm hương thành kính dâng lên Bác của tác giả và của mỗi người dân nước Việt.

  LÊ THÀNH VĂN

 

 

 


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

"CHA MẸ ĐẶC BIỆT" CỦA BỆNH NHI SƠ SINH PHÒNG KÍNH ký của H’XÍU HMOK - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 


 

 

Phòng Nhi sơ sinh, khoa Hồi sức cấp cứu nhi và nhi sơ sinh, Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên đặc biệt hơn so với nhiều khoa phòng khác. Tại đây, những “mầm sống” vừa sinh ra đã buộc phải chăm sóc trong môi trường vô khuẩn với nhiều thiết bị kỹ thuật trên người. Mọi việc chăm sóc điều trị và đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các cháu đều được các bác sĩ và nhân viên bệnh viện đảm nhận. Bằng tình yêu thương và trách nhiệm, các bác sĩ và điều dưỡng ở đây đã và đang ngày đêm chăm sóc, điều trị cho những bệnh nhi sơ sinh để các cháu thực sự được “chào đời”.

Những bệnh nhân đặc biệt

Chăm chú ngắm nhìn cháu nội qua lớp tường kính phòng sơ sinh, Khoa Hồi sức cấp cứu nhi và nhi sơ sinh, Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên, bà H’Rai Niê ở buôn Tơng Jú, xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk không khỏi xúc động, rơi nước mắt. Cháu bé sinh non, chỉ nặng 1,8kg, phổi và tim chưa phát triển đầy đủ. Bé được các bác sĩ chuyển vào đây ngay sau khi sinh chiều hôm trước. Nhìn cháu nội nhỏ xíu mà máy móc, dây dợ chằng chịt khắp người, bà H’Rai không khỏi xót xa. "Tôi chỉ được nhìn cháu từ ngoài phòng qua cửa kính, còn lại đều do các bác sĩ chăm sóc. Chỉ khi nào họ gọi bảo mang tã, sữa thì mình chuẩn bị sẵn để mang vào đưa họ. Họ cũng quan tâm, chăm sóc tốt lắm. Tôi chỉ mong cháu mình qua khỏi bệnh tật, có thể lớn lên, khỏe mạnh bình thường. Đây là cháu nội đầu lòng nên tôi thương lắm"- bà H’Rai chia sẻ.

Nằm cạnh cháu nội bà H’Rai là một bé gái khác mới sinh được khoảng 2 tuần, cháu bị đa dị tật, không tự ăn được mà phải truyền thức ăn qua đường ống. Mẹ cháu là chị H’Bê Hy Byă, 21 tuổi, dù còn yếu do mới sinh nhưng vẫn cố gắng túc trực bên ngoài để được nhìn thấy con mỗi ngày. Chị H’Bê Hy tâm sự, chưa kịp vui mừng khi sinh được đứa thứ 2 là con gái thì không may con lại bị bệnh tật như vậy, gia đình cũng buồn lắm nhưng không biết làm sao, thôi thì còn nước còn tát, đành nhờ cậy các y bác sĩ chăm sóc, cứu chữa cho con. Chỉ mong sao con sẽ vững vàng vượt qua giai đoạn này, lớn lên khỏe mạnh để sớm được về nhà.

Phía bên trong phòng kính, đi khắp lượt từng giường bệnh, điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền cẩn thận kiểm tra lại vị trí đặt ống bơm, thiết bị hỗ trợ và khăn tã cho từng bé. Với chị và các điều dưỡng viên đang công tác tại khoa, đây là việc cần làm thường xuyên để xem các cháu có đang ổn định hay không, bởi như chị Hiền nói, người lớn mà có bị lệch kim, trật ven khi đau còn biết nói, biết gọi, chứ với các cháu nhỏ thì việc đó là không thể. Vậy nên, lỡ không để ý mà kim truyền hay ống dẫn bị lệch ra ngoài sẽ rất nguy hiểm, thậm chí có thể dẫn đến những sự việc đau lòng.

Những bệnh nhi nằm trong phòng kính đều là những em bé mới sinh còn đỏ hỏn. Nhiều cháu sinh non thiếu tháng, cân nặng chỉ vài trăm gram, nhiều chức năng cơ thể chưa hoàn thiện. Có cháu lại bị đa dị tật hay bị các nhiễm trùng. Có cháu được người dân đưa đến cấp cứu vì bị bỏ rơi khi vừa mới sinh, nhau rốn vẫn còn nguyên. Không có người thân của các cháu hỗ trợ, các y bác sĩ và nhân viên điều dưỡng lại vừa làm nhiệm vụ chăm sóc, điều trị vừa làm luôn nhiệm vụ tìm kiếm nguồn hỗ trợ, nhờ Khoa hoặc các tổ chức từ thiện quyên góp chi phí tã, sữa cho các cháu. Có cả những trường hợp bệnh nặng không qua khỏi, người nhà không có tiền đưa về, các nhân viên y tế lại quyên góp mỗi người một chút để hỗ trợ. “Nhiều bé vào viện nhìn rất thương, mình cảm thấy có sự đồng cảm. Nhiều ca khiến các y bác sĩ phải rơi nước mắt vì quá tội. Bản thân mình chăm sóc các cháu cũng đòi hỏi cẩn thận, tỉ mỉ một chút” – Điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền chia sẻ.

Bệnh đông không sợ bằng bệnh nặng

Với 5 bác sĩ và 23 điều dưỡng, trung bình mỗi ngày Phòng Nhi sơ sinh chăm sóc và điều trị cho khoảng 60 bé. Thời gian cao điểm, số lượng bệnh nhi có thể lên đến hơn 100 cháu/ngày. Theo bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Đức Toàn, Quản lý Phòng với hệ thống trang thiết bị đặc chủng và những cán bộ y tế tận tâm tận tình, Phòng có thể đáp ứng tốt việc chăm sóc và điều trị cho các bệnh nhi sinh non thiếu tháng hoặc mắc các bệnh lý, dị tật... Từ khi được thành lập năm 2014 đến nay, Phòng đã điều trị thành công cho rất nhiều trường hợp; mức tỉ lệ sơ sinh tử vong dưới 5%. Đối với mỗi bác sĩ, khi tiếp nhận một trường hợp bệnh nhi, việc đầu tiên là thăm khám, kiểm tra khả năng sinh tồn của bệnh nhi cũng như các vấn đề mà các cháu đang gặp phải, rồi từ đó nhanh chóng đưa ra các hướng chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Hàng ngày, mỗi nhịp sinh học của các cháu, từ ăn, uống, thay tã, lấy máu xét nghiệm hay thực hiện y lệnh của bác sĩ đều do các điều dưỡng viên thực hiện. Mỗi buổi sáng, việc đầu tiên của các điều dưỡng viên phòng kính khi vào ca là kiểm tra xem các cháu có bị đờm, nhớt không và phải vệ sinh, hút đờm cho các cháu. Tiếp đó là vệ sinh rốn, thay tã và quần áo, làm thuốc, lấy máu xét nghiệm, cho ăn và thực hiện y lệnh. Việc thay tã và cho ăn được các cô thực hiện thành nếp, cứ 4 tiếng thay tã một lần và 3 tiếng cho ăn một lần. Cứ như vậy, công việc nối tiếp nhau thành thói quen, các cô luôn chân luôn tay đều đặn chăm sóc các bé. Người thân của các cháu cũng nắm được lịch sinh học này và phối hợp nhịp nhàng với các điều dưỡng viên. Trước giờ ăn của các cháu, người nhà chuẩn bị sẵn tã sữa để vào nơi quy định để các cô lấy cho ăn. Các cô còn tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ như bôi Vaserlin vào môi các bé để tránh khô môi khi các cháu nằm trong phòng kính máy lạnh.

Việc chăm sóc các bệnh nhi sơ sinh cũng khó khăn hơn bình thường bởi nhiều em bé sinh non hoặc thiếu tháng có thể trạng yếu và cân nặng ít. Nhiều cháu chỉ nặng vài trăm gram, đỏ hỏn, bé xíu. Trong khi đó, trên người các cháu phải sử dụng nhiều thiết bị kỹ thuật với đủ lớp bông băng, keo dính. Chỉ riêng việc tắm cho một cháu cũng cần sự hỗ trợ của 2 đến 3 người. Thế nên, các cô điều dưỡng cố gắng sắp xếp thời gian làm sao để có thể đáp ứng hết những nhu cầu cơ bản của từng bệnh nhi, và tranh thủ những thời gian trống để chăm sóc kỹ hơn những ca bệnh nặng. Những công việc như nhịp sinh học, được các y bác sĩ thực hiện hàng ngày. Nhiều y bác sĩ phòng kính tâm sự, dù bệnh đông, công việc nhiều hơn bình thường nhưng với họ bệnh nhân đông không sợ bằng bệnh nặng. Chỉ cần có một ca nặng, nhất là vào ban đêm thì tất cả ê kip trực phải thức trắng đêm, căng sức gồng mình dồn sức để cứu chữa, giành lại sự sống cho các cháu.

Những kỷ niệm khó quên

Điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền chia sẻ, hơn 11 năm gắn bó với Phòng Nhi sơ sinh, với chị có rất nhiều kỷ niệm đặc biệt và đáng nhớ. Vào năm 2010, khi chị mới về công tác tại khoa được hơn 1 năm, lần đầu tiên chị phụ trách chuyển tuyến cho một ca bệnh nặng là bệnh nhi non tháng, con của một cặp vợ chồng hiếm muộn. Cháu bé sức khỏe rất yếu và tiên lượng không khả quan. Thời điểm đó, việc chuyển tuyến do một điều dưỡng đi theo phụ trách, xe chuyển tuyến cũng chưa được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng như hiện nay. Chị Hiền nhớ lại, hành trình dài gần 400km từ Buôn Ma Thuột đi thành phố Hồ Chí Minh khi đó rất gian nan, đường xấu, bệnh nhi không tự thở được và có những thời điểm bị ngưng tim. Suốt 8 tiếng đồng hồ trên xe, chị Hiền vừa theo dõi sức khỏe bệnh nhi vừa phải bóp bóng trợ thở và thực hiện các thao tác cấp cứu, xoa bóp tim. Sau này em bé được cứu sống, lớn lên khỏe mạnh, gia đình có đưa cháu quay lại thăm chị và gửi lời cảm ơn bệnh viện. Mẹ cháu bé cũng đặt tên con là Hiền để thay lời cảm ơn và ghi nhớ hành trình gần 400km giành lại sự sống đầy gian nan.

Theo bác sĩ Nguyễn Đức Toàn và nhiều bác sĩ khác tâm sự, điều đặc biệt khiến họ cảm nhận một cách rõ ràng nhất, cũng là lý do đặc biệt của họ khi gắn bó với Khoa, đó là ẩn sâu trong những thân thể bé nhỏ kia là sức sống và khả năng phục hồi rất mãnh liệt và kỳ diệu. Bác sĩ Nguyễn Đức Toàn kể: "Một đứa trẻ nhập viện bị ngưng tim, ngay lập tức các y, bác sĩ thực hiện nhanh, chuẩn các thao tác xử trí cấp cứu. Khi tim của bệnh nhi đập trở lại thì cơ địa của trẻ đáp ứng rất nhanh, tỉnh táo và không để lại di chứng. Khi trẻ rút được ống nội khí quản, ngưng thở máy, trẻ tỉnh táo, không để lại di chứng thì đó là niềm hạnh phúc của các thầy thuốc".

Có lẽ, niềm vui và hạnh phúc lớn nhất của các y bác sĩ Phòng Nhi sơ sinh là thấy các bé yên ổn từng giờ, đủ sức khỏe để ra viện, trở về với vòng tay yêu thương của người thân.

 


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

AMA THUỘT, SỰ THẬT CHỨ KHÔNG CHỈ LÀ HUYỀN THOẠI… tác giả LÊ VĨNH TÀI - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 




 

 

Những ghi chép về tuổi tên người…

Ama Thuột là “bố chàng Thuột”, vậy có người nào tên là Y Thuôt không? Câu trả lời là CÓ. Xin tham khảo vài tài liệu sau:

1. Theo “Bulletin Administratif de l’Annam (1923), No. 21, p. 1367”, phần nói về việc bổ nhiệm nhân sự cho Tòa Luật tục Darlac (Tribunal Indigène au Darlac) vào ngày 07-11-1923. Trang 1367: “Sont nommés Assesseurs: Y Tuôp dit Ma Bok chef de Buôn-Ma-Thuot...” và “Y Thuot chef de Buôn-Niêng...” Như vậy, đã từng có một người tên là Y Thuot, lúc đó là Trưởng Buôn Niêng, được bổ nhiệm chức Thẩm phán Tòa Luật tục Darlac từ ngày 07-11-1923.

2. Theo “Journal Officiel de la République Française (02-10-1929), p. 11156”, phần này nói về việc “ông Y Thuot đại diện cho gia đình bên vợ (họ Alêô) ở Buôn Niêng giải quyết về việc đất đai”. Như vậy, ông Y Thuot (Trưởng Buôn Niêng) có một người vợ tên là H’Wênh Alêô ở Buôn Niêng.

3. Theo “L. Maillot, (1927); Autour d'un scandale colonial: Le Darlac, p. 46”, đây là bài viết về “đơn thỉnh nguyện của một số Trưởng Buôn và chức sắc người Thượng, đại diện cho các sắc dân Thượng tại Darlac gửi Chính phủ thuộc địa Pháp nói về việc xin được sự bảo hộ trực tiếp của Pháp, không cần qua [trung gian là] triều đình Huế…” “Nous déléguons Y Tuôp, Y Thuôt, Ro'Leo et Diong pour dire cela et pour qu'on le sache toujours...” Như vậy, đứng tên trong đơn thỉnh nguyện này có ông Y Thuôt (lúc này vừa là Trưởng Buôn Niêng, vừa là Thẩm phán Tòa luật tục Darlac).

4. Theo “Bulletin Administratif de l’Annam (1930); No. 10, p. 294”, phần này (28-5-1930) nói về việc bổ sung nhân sự cho Tòa Luật tục Darlac: “...Y-Blo dit Ma-Priu, notable de Buôn-Kduu, de la tribu des Rhadês Kha, et Y-Diao, dit Ma-Tru'ng, notable de Buôn-ma-Thuôt de là tribu des Rhadês Kpa, sont nommes assesseurs du dit tribunal, en remplacement de R’Leo dit Ma Krong nommé Juge Suppléant, et de Y-Thuot, chef de Buôn Niêng décédé”. Như vậy, từ ngày 28-5-1930, có ông Y Diao (Ma Trưng) đã được bổ sung vào chức Thẩm phán Tòa luật tục Darlac để thay thế cho Thẩm phán Y Thuôt (cũng là Trưởng Buôn Niêng) đã chết.

Theo các trích dẫn, chúng ta đã có 4 tài liệu về ông Y Thuot. Ghi chú thêm: Có lẽ ông Y Thuôt chết trẻ nên không thấy ghi chú là Ma/Ama gì cả? (Chưa có hay có mà con còn nhỏ quá?)

Như vậy có người nào được gọi tên là Ama/Ma Thuôt không?

Lưu ý là có hay không, còn "công trạng" của ông là gì thì đó là câu chuyện khác. Câu trả lời là CÓ và đó là “Cha của ông Y Thuôt ta vừa nhắc”. (Mà ông Y Thuot có "người cha" thiết nghĩ cũng bình thường.) Xin tham khảo vài tài liệu sau:

1.Theo Paul Lechesne (1924), L’Indochine Seconde - Régions Mo#s (Kontoum - Darlac), p. 13: “Ces considérations libérales prennent leur importance quand on a entendu Mr Sabatier, résident du Darlac, à Ban mé thuot (Village du Père Thuot) qui soutient passionnément une thèse toute contraire”.

=> "(Village du Père Thuot) qui soutient passionnément une thèse toute contraire" = làng của Cha Thuot, một người nhiệt tình ủng hộ một luận điểm rất trái ngược... => Père = cha, tức là lúc đó đã có tồn tại "một người (père Thuot, là cha ông Thuột) đã ủng hộ..."

2. Roland Dorgelès (1924), Route des Tropiques - Ch. 6: Tombeau de la Race Mo#, pp. 131: “Ce Ma-Thuot, de la tribu des Rhadés Kpă, était avant l'occupation française chef d'un village sans nom qui dressait ses paillotes au bord de l'Ea Tam. Les premiers explorateurs qui campèrent dans ce hameau l'appelèrent tout naturellement Ban-Mé-Thuot, ce qui veut dire “Village du père de Thuot”, et c'est grâce à eux que ce sauvage aura légué son nom à la postérité”.

("Người Ma-Thuột này, thuộc bộ tộc Rhadés Kpă, trước khi người Pháp tới chiếm đóng, là trưởng một ngôi làng vô danh trên bờ Ea Tam. Những nhà thám hiểm đầu tiên khi đóng trại tại ngôi làng này khá tự nhiên gọi nó là Ban-Mé-Thuột, có nghĩa là “Làng của cha ông Thuột”, và chính nhờ họ mà cái tên này sẽ được lưu danh cho hậu thế”).

Trích thêm: "Người bị chôn cất không phải chỉ Ma-Thuột mà cả cái quá khứ đáng thương của cả vùng đất. Và định mệnh đã muốn tôi có mặt tại đó để gióng lên tiếng cồng nơi bờ huyệt của ông ta..."

Có lẽ do văn của Roland Dorgelès quá hay mà bài này có người quy kết nó là "văn chương" (nên không đáng tin cậy về "tài liệu"), nhưng cũng theo nhà văn Nguyên Ngọc thì chính nó lại bị loại khỏi giải văn chương Pháp năm đó vì ban giám khảo không cho nó là "fiction / tưởng tượng" mà là "nonfiction".

3. Albert Monfleur (1930), Monographie de la Province du Darlac, p. 36: “Subordonné en droit à la femme, l'homme l'est encore à l'enfant, ce dernier prend le nom de famille de la mère et le père lui-même change de nom à la naissance du premier né et s'appelle désormais père d'un tel ou d’une telle. Ma-Ut, Ma-H'Ngai, Ma-H'Bli ou Ma-Thuôt: père de Y-Ut, de H Ngai, de H'Bli et de Y-Thuôt”.

=> Ma-Ut, Ma-H'Ngai, Ma-H'Bli hay Ma-Thuôt: cha (père) của Y-Ut, H Ngai, H'Bli và Y-Thuôt”.

Với các chi tiết như vậy chứng tỏ người Pháp "có" nhắc tên ông nhiều lần trong các ghi chép về xứ sở này.

Lưu ý: Dù có 2 vợ (1 ở Buôn Alê và 1 ở Buôn Ako Siêr) nhưng cụ Ma Thuôt (Y Mun H’Đơk) lại không có người con ruột nào cả. Gia đình cụ nhận nhiều con nuôi trong cùng dòng họ. Mr. Y Thuôt là một người con trai nuôi (cũng chính là cháu của ông), Y Mun H’Đơk, do vậy, ông Y Mun H’Đơk được gọi là Ama/Ma Thuôt LÀ BÌNH THƯỜNG.

Ngoài ra, cụ Ma Thuôt lại (cũng theo Nguyên Ngọc, trong một chú thích ở bài viết giới thiệu tác phẩm "Rừng Người Thượng") có một cái mụn lớn ở trên mặt, mà “mụn cóc” tiếng Êđê kêu là “k’thuăt”. Do chữ “k’thuăt” tình cờ lại khá đồng âm với chữ “Thuôt”, nên (vì một chú thích nhỏ của nhà văn Nguyên Ngọc) có giai thoại rằng người ta gọi cụ Ma Thuôt là từ “Ma K’Thuăt” với ý nghĩa vui, bên cạnh lý do là gọi theo tên của con trai (Y Thuột) của cụ chăng? (?)

Thời điểm mất của cụ Ama Thuột?

Nhà văn Roland Dorgelès đã có mặt ở Buôn Ma Thuột đúng ngay dịp tang lễ Cụ Ma Thuôt. Trong 1 tài liệu liên quan đến tòa án xét xử cựu Công sứ L. Sabatier (1927), tòa đã xác nhận rằng R. Dorgelès có ở chỗ Sabatier tại Ban Mé Thuôt trong tám ngày.

Trong 8 ngày này, vợ chồng Dorgelès đã được gia đình Sabatier đón tiếp như bạn bè, dắt đi thăm thú các nơi và chính L. Sabatier còn như một hướng dẫn viên đưa R. Dorgelès đến dự lễ tang và cả lễ hạ huyệt cụ Ma Thuôt.

Điều này không có gì phải bàn cãi.

Vấn đề là, vợ chồng R. Dorgelès đã thực tế có mặt ở Buôn Ma Thuột theo những ghi chép nào và chính xác vào những ngày tháng nào? Vì nếu mốc thời gian mà được công nhận là chính xác thì bài viết của ông theo đó cũng sẽ trở thành tài liệu chính xác.

Để trả lời câu hỏi này, xin tham khảo tài liệu: "Py, Françoise (1978). Roland Dorgelès: de Montmartre à l'Académie Goncourt". Bibliothèque Nationale, [Bibliothèque de l'Arsenal, Paris, 20 Avril - 24 Juin]. Tài liệu này khá chi tiết, được viết theo kiểu “biên niên”, chủ yếu liệt kê các mốc hoặc sự kiện, hình ảnh đáng chú ý về cuộc đời hoạt động của R. Dorgelès.

Xin phép trích dẫn:

1.Vợ chồng R. Dorgelès có passport ngày 27-10-1923, lên tàu từ Pháp đi Đông Dương ngày 02-11-1923, đến Saigon sáng 29-11-1923. Sau khi ghé Vũng Tàu, Mỹ Tho, họ còn đi Hà Nội, đi thăm Vịnh Hạ Long rồi ghé Huế dịp Tết Nguyên đán Giáp Tý 1924. Sau khi rời Huế, họ có đi ngang Nha Trang rồi đến Darlac.

Họ đã ở tại Darlac gần một tháng, từ 15-02-1924 đến 15-03-1924.

2. Ba tuần đầu họ [dự các buổi săn voi] ở Ban Don (bài viết Tombeau de la Race Mo# chính là nói về khoảng thời gian 3 tuần này) và họ chỉ về ở Buôn Ma Thuột có 1 tuần cuối cùng, với gia đình Công sứ L. Sabatier. Trong 1 tuần này (có tài liệu ghi là 8 ngày), họ đã cùng Sabatier dự 1 phiên Tòa Luật tục xử việc thừa kế tài sản của cụ Ma Thuôt, dự lễ tang và cả lễ hạ huyệt cụ Ma Thuôt (bị chết cháy, xác cụ Ma Thuôt được quàn trong nhà con gái đến 8 ngày theo tập tục rồi mới đem chôn).

3. Như vậy, đến đây chúng ta đã biết là cụ Ma Thuôt mất [vào khoảng] ngày 05 – 06/3/1924, được chôn vào ngày 13 – 14/3/1924, theo lịch trình ghi lại của vợ chồng nhà văn R. Dorgelès.

Nói thêm về huyền thoại Y Thu/Thoou (Khăm Thu)

Ông là người gốc Lào (cha Lào, mẹ M’nong), làm nghề săn bắt và buôn bán voi ở Ban Don. Y Thu được tặng danh hiệu Khun-Junop (Dũng sĩ, nhiều cách viết danh hiệu này). Ví dụ trong 1 tài liệu của Auguste Pavie (1900): Mission Pavie – Indochine, Tập III, trang 295:

“Le Koun-Iounop est fils d’un Laotien et d’une femme Penong. Sa physionomie indique la finesse et la ruse”. (Khun- Junop là con của một người Lào và một phụ nữ Mnong. Hình dạng của ông cho thấy ông rất khéo léo và thông minh.” Cụ giỏi tiếng Pháp.)

Còn cụ Ma Thuôt là người Rhadé Kpă, ở ven suối Ea Tam (nhiều tài liệu ghi rõ rồi, bài báo nổi tiếng "đám ma..." (Roland Dorgelès (1924), Route des Tropiques - Ch. 6: Tombeau de la Race Mo#) còn tả lại cả 8 ngày tang lễ của Cụ), cách vùng Ban Don cả 3-4 chục cây số (xem lại tài liệu 2b. của R. Dorgelès bên trên): “Ce Ma-Thuot, de la tribu des Rhadés Kpă, était avant l'occupation française chef d'un village sans nom qui dressait ses paillotes au bord de l'Ea Tam...”

=> (Người Ma-Thuột này, thuộc bộ tộc Rhadés Kpă, trước khi người Pháp lên chiếm đóng, là trưởng một làng vô danh với các ngôi chòi dựng bên bờ Ea Tam...)

Sỡ dĩ nhắc lại vì có một bản đồ có chi tiết đáng chú ý: “B. THOOU”, làm nhiều người nghi ngờ về Ama Thoou và Ama Thuot (?), nhưng ngay phía dưới có ghi thêm “ou B. DÔNE = hay B. DÔNE”. Có lẽ bản đồ muốn nói tới “Buôn/Ban Thu HAY Buôn/Ban Don”. Để ý rằng, lúc đó trưởng Buôn/Ban Don là Khun-Junop (Y Thu) là người cực kỳ nổi tiếng, và người Pháp ghi chép về ông rất nhiều, ví như một bài rất hay về Khun Ju Nop tả về các nhóm khác (cả người Tàu) từ Ninh Hòa lên và tiếp xúc mua bán với ông (miêu tả về Darlac thời đó theo hướng quốc lộ 26, chứ không chỉ từ phía Mé Kong). Có lẽ do phiên âm, mà một số tài liệu của Pháp còn ghi tên không thống nhất, lúc thì Y Thu lúc thành Y Thou, nên có người nghi ngờ sang Ma Thuột. Vì ngoài ra chúng ta còn các tài liệu về công việc, cả mức lương của ông nữa. Lương ông khá thấp, chỉ ít gạo và muối... Có lẽ công viêc của "Tòa Luật Tục" là "công việc dĩ nhiên" của “già làng” các ông, nên lương bổng của các ông rất "tượng trưng".

Cuối cùng, việc gọi tên một buôn theo tên của vị Trưởng buôn (hoặc theo một địa thế đặc biệt nào đó: đầu nguồn, gần rừng...) là bình thường xưa nay, cũng không phải là điều gì quá xa lạ hay cưỡng ép.

 


UỐNG TRÀ SEN tản văn của DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 





 

Sau cơn mưa đêm qua, phong cảnh đồng quê như một bức tranh lụa vẽ còn ướt nháng. Trong hương mùa gặt, chợt thoảng hương sen đâu đó theo gió lùa tới, khiến chúng tôi nhớ một đầm sen. Vậy là xế chiều rủ nhau ra đầm uống trà sen.

Đầm sen ven đê ngợp ngàn trước mặt. Một không gian màu xanh lục miên man thảm lá sen, rập rờn sóng lượn. Đây đó hoa và nụ sen nép dưới tán lá, đung đưa. Nắng chiều nhẹ nhưng oi ả bởi màn hơi nước như sương khói buông tỏa, sắc trời nhuốm cả một màu mờ ảo. Trong không gian nồng nã ấy, theo làn lá trùng trùng rãi sóng, thi thoảng hương sen lại thơm lên ngỡ đấy là những tà áo trắng trong suốt mơ hồ lướt qua, khiến một mảng chiều quê như rúng động. Lúc nãy qua đoạn đầu đường còn nghe mọi thứ tạp âm của máy móc, xe cộ. Giờ đây đứng trước đầm sen, màu lá và hương sen từ bùn nước lọc những thứ tạp âm ấy đâu mất hẳn. Ta như lắng vào một thung lũng còn phủ sương, như lẫn vào từng thớ từng sợi của tấm thảm dệt bằng sen.

Men dọc lối đi nhỏ chúng tôi ra một căn lều tròn lợp mái rạ gần giữa đầm. Chúng tôi chào nhau. Ông chủ bưng ra đặt xuống chiếu một chiếc khay tre trên có bộ ấm chén nhỏ ngoài màu nâu, trong màu men ngọc, cùng túi trà và một phích nước nóng. Vừa trịnh trọng giới thiệu: Thưa các quý khách! Đây là phích nước nóng vừa đun bằng nước mưa giữa trời đọng lại trên chũm lá sen sau cơn mưa đêm qua do các cháu nhà tôi hứng được... ông vừa cười hóm hỉnh: Còn đây là lọ trà ướp sen. Ta uống trà sen thưởng thức “thú quê thuần phức bén mùi” nhá!

- Ôi quý hóa quá! Còn gì bằng! Có được nhiều nước mưa giữa trời không ông? Tôi hỏi.

- Như đêm vừa rồi, cũng chỉ hứng được vài ba xô nước tinh khiết. Rất công phu. Bọn trẻ phải lướt thuyền nan thật nhẹ nhàng mới nghiêng được lá sen chạy từng giọt nước vào xô... - Chủ đầm kể lể.

- Giá hứng bằng chậu sành thì tốt! Tôi góp ý.

- Cũng khó lắm bác ạ! Thời buổi bây giờ cuộc sống xô bồ, chạy theo nhu cầu tiện dụng, đồ nhựa tràn lan, rất hiếm đồ sành! Với lại nước mưa hứng lá sen cũng chỉ có mùa, có hôm…

- Phải nước tinh khiết thật đấy nhá! Tôi nói đùa: Chỉ kinh ông hứng nước giọt ngói hoặc nước máy nước bể rồi nói đãi bôi nước lá sen! 

- Ôi! Không! Cứ thưởng thức sẽ biết! Nước mưa ngói, nước máy… có ngái mùi rêu, mùi bụi cát. Còn nước hứng lá sen vương mùi lá mùi hương và cả mùi trời đấy…

- Ôi! Ông chủ tế nhị quá! - Chúng tôi cùng cười vui tếu táo với nhau. Lại nhớ chuyện thưởng trà của cố nhà văn Nguyễn Tuân. Uống trà thời mình chỉ là con muỗi, uống để mà uống ra vẻ ta đây, chứ ăn nhằm gì với các cụ! Song văn hóa ẩm thực là sản phẩm tích tụ của mỗi thời khác nhau. Thời các cụ ấy nhẩn nha, thanh cảnh cả ngày được. Chứ còn thời ta, thời @, do áp lực công việc buộc phải theo kiểu “tốc độ” thôi. Nên chúng tôi bảo nhau: Ta chỉ có thể uống trà theo kiểu “truyền hình trực tiếp”... bỏ qua giai đoạn lích kích ấm chuyên…

 Ông rót một chén nước trong phích, đưa lên sát mũi tôi. Quả thật làn hơi nóng xông lên tinh khiết, không cảm thấy mùi nước mưa ngai ngái của tạp chất. Ông chậm rãi xối nước nóng tráng cả trong và ngoài bộ ấm chén. Tôi nghiêng lọ dốc trà ra lòng bàn tay, rồi chụm vào miệng ấm. Trà ướp tâm sen chợt thoảng hương thanh khiết. Rót nước vào, độ lưng ấm và đậy vung lại. Hơi nước nóng bốc nghi ngút lập tức mang hương trà lan tỏa đến khó cưỡng. Đợi dăm phút. Tráng chén cẩn thận một lần nữa cho nóng, ông rót trà vòng đi vòng lại như thể chia đều hương vị cho từng chiếc. Nước trà xanh nhẹ toả hương thơm ngan ngát. Mùi trà Thái, mùi sen ướp và hương sen tự nhiên trong đầm hòa quyện, lưu luyến. Hơi trà cùng khói sương đồng quê như lẫn mơn man vào nhau. Nâng chén trà lên ngang mặt, bái nhau, chúng tôi cùng từ tốn nhấp từng ngụm một. Thong thả, chúng tôi uống theo những làn gió từ mặt hồ thổi vào lều, qua kẽ lá giàn mướp trên đầu để rồi gió mang vệt hương loang đâu đó vào không gian. Cảm giác lâng lâng nhập vào hương và vị trà đăng đắng, ngòn ngọt nơi vòm miệng… Nghe mình như đang chầm chậm uống một nguồn sữa sen lắng đọng, uống một trời hương. Chúng tôi lẫn vào thế giới của sen với mỗi người một ý nghĩ, ngẫm ngợi về sen. Riêng tôi, tôi bồi hồi như người lạc vào cõi biếc xanh:

- Sen nở bao mùa bao lớp, hết lớp lá sen này đến lớp hoa sen khác. Các ông cứ nhìn kỹ mà xem, sen cũng như người vậy. Hết lớp này đến lớp khác. Bách nhân bách tính. Bách nhân bách khẩu. Người cũng như sen. Sen cũng như người. Chả bông nào, lá nào giống nhau. Cái thẳng đứng thanh cao, kiêu sa. Cái nghiêng nghiêng yểu điệu. Cái gù xuống chui qua tán lá khác để ngoi lên. Cái tròn đầy đặn. Cái hơi loe. Cái hơi méo, hơi lệch. Cái vo tròn… Con chị nó đi, con dì nó lớn. Mỗi lá mỗi bông một số phận. Muôn vàn kiểu dáng, sắc màu của một thế giới xanh. Sớm nay háo hức đầu mùa, thảm xanh đầy đặn, muôn đóa xông hương. Chiều mai ngẩn ngơ cuối vụ, mặt hồ lại bồng bênh lá sen tàn! Sen nở theo mùa cứ thế trôi qua! Nhưng hình bóng và hương thơm thì còn mãi trong lòng ta! Tạo hóa, người nghệ sĩ tài tình đến vô biên!...

Đầm sen ở đồng quê dẫu thường ngày sẵn gặp, nhưng hiếm có được những giây phút nhẩn nha bên sen như thế này… nghĩ càng thấm thêm giá trị của văn hóa ẩm thực người xưa để lại. Quả thật ngồi dưới túp lều bên đầm sen thưởng thức trà sen thật thi vị! Chếch đằng kia mấy góc đầm sen, thấp thoáng bóng mấy cô gái mặc yếm thắm thi nhau chụp ảnh bằng điện thoại di động. Thảm sen quyến rũ khiến gái làng hóa thân thành các nàng tiên. Tiếng cười tiếng nói vỡ vào không gian, vương cả mùi sen.

Trăng thượng tuần bất chợt hiện ra! Một mảnh cong duyên dáng tựa làn môi thiếu nữ! Ngỡ đấy là một cánh sen vừa rụng khỏi đóa sen sau khi để lại hương cho người, để lại thú thưởng thức trà sen… Cánh sen được những làn gió đưa nhẹ lên vòm trời. Mỏng mảnh. Lấp lánh! Khó loài hoa nào sánh nổi!