Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

SUY NGẪM SAU MỘT VỤ MÙA BỘI THU


Thêm chú thích



Nhân kỷ niệm 88 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 -21/6/2013) Ban Chỉ đạo cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Tỉnh ủy Đắk Lắk tổ chức Lễ trao thưởng các tác giả, tác phẩm đạt giải Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2013. Trong số 37 tác phẩm được trao giải lần này, riêng văn học – nghệ thuật có 7 tác phẩm được trao giải từ A đến C, không có giải khuyến khích.
Để có 7 tác phẩm văn học – nghệ thuật trao thưởng lần này, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh nhà đã tổ chức phát động từ ngày 01 tháng 4 năm 2012 và được đông đảo văn nghệ sĩ trong cả nước nhiệt tình hưởng ứng, tham gia gửi bài về Ban tổ chức. Riêng tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Chư Yang Sin đã nhận được hơn 200 tác phẩm dự thi, ban sơ khảo tuyển chọn 53 tác phẩm giới thiệu trên tạp chí. Có thể thấy, chưa có cuộc thi nào chỉ trong một thời gian ngắn đã có bài vở gửi về tham gia nhiều về số lượng, phong phú về thể loại đến thế. Về thơ, bên cạnh gương mặt quen thuộc thường xuất hiện trên văn đàn và thường xuyên nhận giải cao của các kỳ trao giải lần trước như nhà thơ Hữu Chỉnh, còn có các tác giả gửi nhiều tác phẩm tham gia như: Lê Thị Minh Nghiệm, Nguyễn Văn Tao, Nguyễn Trọng Tuất, Nguyễn Đăng Việt, Nguyễn Hưng Hải, Nguyễn Trọng Đồng...; mảng văn xuôi có: Đặng Bá Tiến, Hồng Chiến, Nguyễn Liên, Nguyễn Trọng Đồng, Trương Bi, Hoàng Bích Hà, Trần Thu Thủ...; âm nhạc có tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Tiến Liêu... Nhiếp ảnh có tác giả: Bảo Hưng, Thạch Sơn.
Có thể nói tất cả các tác phẩm đã đăng trên tạp chí Chư Yang Sin thì tác phẩm nào cũng xứng đáng được tặng thưởng vì chất lượng cao, nêu bật nội dung tư tưởng của cuộc vận động: “...làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tuy nhiên vì số lượng giải thưởng có hạn, Ban tổ chức cân nhắc và rất khó khăn để chọn ra 7 tác phẩm xuất sắc nhất trao giải lần này.
Hai giải A thuộc về nhà thơ Hữu Chỉnh và nhà nhà báo, nhà thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đặng Bá Tiến; Nếu như tác giả Hữu Chỉnh với tác phẩm: “Vĩ nhân bình dị” tìm thấy vẻ đẹp mới qua lăng kính của nhà thơ về Bác, làm người đọc, người nghe cảm nhận được sự gần gũi, thân thương của Người cha già dân tộc hình như luôn luôn và mãi mãi bên cạnh mọi người thì tác phẩm: “Người chỉ huy thao lược trên thương trường” của tác giả Đặng Bá Tiến đề cập đến vấn đề gai góc của các công ty quốc doanh vật lộn để hòa nhập thời kinh tế thị trường; tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh một vị “tướng” trên thương trường, dưới sự chỉ huy tài ba của mình, ông đã đưa một công ty nhỏ cấp tỉnh lẻ, vốn hơn 500 triệu, sau 18 năm đã vươn ra thế giới, góp mặt trong tốp 500 doanh nghiệp có vốn lớn nhất nước và là một trong 1000 doanh nghiệp đóng thuế lớn nhất nước.
Hai giải B được trao cho hai tác giả Vân Trang và Nguyễn Liên. Nếu tác phẩm “Đi lên từ sự đồng thuận của xã hội” của tác giả Hồng Chiến (bút danh Vân Trang) dẫn bạn đọc đến với tấm gương điển hình của một trường tiểu học vùng xa, nhưng bằng sự cố gắng của cả tập thể Đảng bộ, chính quyền địa phương cũng như lòng tận tụy, yêu nghề của các thầy cô giáo đã xây dựng thành công “Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2”. Trong thành công chung đó có vai trò quan trọng của người Hiệu trưởng gương mẫu, biết tập hợp lực lượng, đoàn kết nội bộ xây dựng được hai trường đạt chuẩn Quốc gia trên địa bàn huyện Ea Kar, đây chính là phát hiện mới của tác giả đối với công tác giáo dục trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Tác phẩm “Trên lưng ngựa Chư Yang Sin” của tác giả Nguyễn Liên lại đưa người đọc đến với tấm gương người lính anh dũng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và khi bòa bình lập lại, vị tướng trong quân đội về hưu vẫn cố gắng cống hiến sức lực còn lại của mình cho công cuộc đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước trong thời kỳ họi nhập.
Ba giải C được trao cho các tác giả: Hồng Chiến, Nguyễn Trọng Đồng, Nguyễn Liên. Trong ba tác phẩm đoạt giải C lần này, ngoài tác phẩm “Lòng tốt gửi vào thiên hạ” của Nguyễn Liên tiếp tục giới thiệu tiếp về tấm gương điển hình của người lính khi hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường được Đảng và Nhà nước cho nghỉ, nhưng vẫn cố gắng đóng góp công sức của mình một cách vô tư vào công cuộc xây dựng đời sống mới nơi mình thường trú – hình ảnh đẹp của anh bộ đội cụ Hồ; các tác phẩm còn lại đề cập đến những mảng khác nhau của cuộc sống. Nếu tác phẩm “Tàn mà không phế” của tác giả Hồng Chiến nêu tấm gương người nghệ sĩ tật nguyền biết vượt lên trên số phận, sống có ích cho gia đình và xã hội; thì tác phẩm “Chỗ dựa tinh thần của buôn làng” của tác giả Nguyễn Trọng Đồng đưa chúng ta đến với một vị già làng tiêu biểu, khi chứng kiến cảnh đổi mới của đất nước đã đứng ra vận động bà con các dân tộc thiểu số chống lại bọn xấu, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, áp dụng khoa học vào sản xuất nên mọi nhà trong buôn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Có thể khẳng định 7 tác phẩm văn học - nghệ thuật được trao giải lần này là minh chứng cho sự nhiệt tình của văn nghệ sĩ tỉnh nhà cũng như cả nước hưởng ứng Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Văn nghệ sĩ Đắk Lắk đã thâm nhập vào cuộc sống trên khắp mọi vùng đất của tỉnh nhà, từ thành phố Buôn Ma Thuột đến các các huyện vùng sâu, vùng xa như: Krông Năng, Krông Bông, Ea Kar, Lăk..., phản ánh kịp thời các tấm gương tiêu biểu của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; đó có thể là một vị Tổng giám đốc tài ba trên thương trường, hay vị tướng lừng danh khi về hưu đến các nhà giáo, già làng, văn nghệ sĩ... mỗi một tấm gương điển hình ấy có những cách học và làm theo tấm gương đạo đức của Bác khác nhau nhưng đều có chung một kết quả là góp phần quan trọng xây dựng cho xã hội ngày một phồn vinh, hạnh phúc. Qua cuộc trao giải lần này chúng ta hy vọng các văn nghệ sĩ tỉnh nhà tiếp tục có những tác phẩm mới xuất sắc, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới của đảng và nhà nước đang thực hiện, xứng đáng với lời dạy của Bác: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

NỖI ĐAU CÒN ĐÓ bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯYANGSIN SỐ 239 THÁNG 7 NĂM 2012




Xã Ea Tyh, ở phía đông huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk. Tuy đất đai vùng này không được màu mỡ như các xã khác trong huyện, nhưng dân cư khá đông đúc nhờ có quốc lộ 26A đi qua địa bàn. Từ ngã ba 68 rẽ theo con đường liên xã được rãi nhựa có lẽ đã lâu nên bây giờ mặt đường thành sống trâu, sống bò và cả ổ voi chứ không chỉ ổ gà; xe chúng tôi phải mất gần 20 phút mới đi qua quãng đường 3 km đến thôn Quyết Tiến 1 của xã để tìm gặp anh Nguyễn Văn Hương.
Nhà anh Hương được xây dựng khá khang trang ngay ngã tư của thôn, có tiệm bán tạp hóa và cắt tóc. Tôi biết anh từ thời 1988, khi dân Hải Hưng theo tiếng gọi của Đảng thực hiện di dân đi kinh tế mới; còn tôi đang thất nghiệp cũng vào rừng kiếm sống qua ngày, chờ sự công bằng được phán xét từ cơ quan tư pháp cao nhất. Hình như thời bấy giờ những người nghèo thường dễ cảm thông với nhau. Anh người lính lái xe ủi trên đỉnh Trường Sơn trong chiến tranh ác liệt chống Mĩ cứu nước, chiến tranh qua đi, hoà bình lập lại, trở về quê mang vợ con đi xây dựng kinh tế mới; hàng ngày phá rừng, đốt than khai hoang làm rẫy; cơm độn khoai, sắn ăn với rau rừng ngày hai bữa không no. Tôi, người thầy giáo bị kỷ luật cũng phải vào xin rừng ít sản vật sống qua ngày. Hai anh em gặp nhau trong cánh rừng hoang một cách tình cờ và quen nhau. Tôi còn nhớ khi ấy anh tuy không to cao nhưng mạnh khỏe, khuôn mặt tròn, có nước da ngăm ngăm đen, giống như nguyên mẫu của người lực điền đồng bằng bắc Bộ. Anh mời tôi về căn nhà hai gian dựng tạm bằng cây rừng, lợp cỏ gianh là nơi trú ngụ của bốn người con nhỏ lít nhít với cô vợ cũng thấp bé, gầy nhưng có khuôn mặt phúc hậu và người mẹ già ở cái tuổi “Thất thập cổ lai hy”. Cảnh dân đi kinh tế mới có kể cả ngày cũng không hết nỗi khó khăn vất vã: từ mờ sáng đến tối mịt đánh vật với cây rừng để dành giật từng mét vuông đất trồng tạm cây khoai, cây sắn hay khóm rau, khắc phục cái đói đang dai dẵng bám theo.
Khó khăn, gian khổ là vậy nhưng anh chị và các cháu sống rất hạnh phúc. Đêm đêm bên ánh đèn dầu khói bay nghi ngút, gia đình đầy ắp tiếng cười. Khi vui, anh làm vài ly rượu mía và kể chuyện chiến tranh mình đã trải qua cho mọi người nghe. Anh kể: Sinh ra và lớn lên trên vùng quê nghèo Làng An Đông, xã Thái Hòa, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; chưa kịp biết yêu đã xung phong nhập ngũ đầu tháng 7 năm 1969, đến tháng 2 năm 1970 bổ sung vào C12, Binh trạm 9, trực thuộc Bộ tư lệnh Đoàn 559, chiến trường Bình Trị Thiên. Vì chiều cao “khiêm tốn” nên anh được cho đi học lái máy ủi bảo vệ đường. Thời gian này, máy bay Mĩ đánh phá ác liệt lắm, cứ máy bay rãi bom xong, tắc đường cánh lái xe ủi T74 lại trườn ra mặt đường san lấp cho kịp thời gian thông xe. Nhiều lần ủi cả bom chưa nổ đẩy xuống thung lũng để thông đường. Chuyện bị bom vùi cả máy và người là chuyện thường ngày như cơm bữa, vì thế không có gì ngạc nhiên vào tháng 11 năm 1970 anh phải vào viện điều trị vì bị sức ép nặng bất tỉnh. Tháng 1 năm 1971, sức khỏe hồi phục lại trở về đơn vị cũ bám đường. Ta mở chiến dịch đánh mạnh ở chiến trường miền Nam, máy bay địch điên cuồng đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm nhằm ngăn chặn con đường huyết mạch tiếp tế cho miền Nam và Tây Nguyên. Đơn vị của anh nhiều người ngồi trên ca bin xe ba, bốn ngày không được nghỉ, liên tục bám mặt đường, khắc phục sự cố, đảm bảo thông xe. Có lần máy bay Mĩ rãi chất độc làm rụng lá cây, rơi trắng đường như sương mù buổi sáng; nhiều anh em nôn mữa, đau đầu, có người sức yếu gục ngay trên tay lái. Thấy vậy, anh hét anh em cởi áo lót, đái vào đó rồi đưa lên bịt mũi, hiệu nghiệm lắm. Không ai dạy cả, hồi nhỏ bị khói thì lấy vạt áo nhúng nước che mũi; nay không có nước thì lấy nước đái, thành ra còn tốt hơn nước lạnh. Nhờ sáng kiến này mà các anh vượt qua vũ khí hiện đại của Mĩ, giữ vững cung đường, đảm bảo giao thông.
Anh cũng đã từng được đơn vị bình bầu là Chiến sĩ thi đua, cử đi báo cáo thành tích. Khi đi đã được chính trị viên dặn dò cẩn thận và viết cả ra giấy những câu trả lời nếu như cánh nhà báo phỏng vấn. Nhưng đến khi ra Đại hội, anh lại quên khuấy đi mất, nên khi nhà báo hỏi: “Động lực nào giúp đồng chí dũng cảm, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ trong mưa bom bão đạn?”, thay vì trả lời theo giáo án, anh trả lời ngắn gọn: “Mình được giao giữ chốt, đảm bảo giao thông thông suốt; nếu tắc đường, xe dừng lại thì anh em mình sẽ bị bom xơi hết nên phải cố làm để có thể hạn chế bớt cảnh anh em, đồng chí, đồng đội hy sinh, vậy thôi.” Thế là bị... trượt, không thể bố trí làm chỉ huy được. Trong chiến tranh, sự sống và cái chết mỏng manh lắm, người lính khi ấy thực sự sống vì trách nhiệm và tình yêu đồng đội mà bất chấp tất cả; có khi vừa đặt lưng xuống sạp sau ba, bốn ngày trực chiến căng thẳng, nghe bom nổ đồng đội báo tin đường bị kẹt đã lại lăn ra khỏi giường không kịp mặc áo lao lên chốt dù chưa đến phiên trực và có thể hy sinh.
Có một lần anh được cấp trên cử đi học, vì ưu tiên người có thành tích dũng cảm bám chốt, đảm bảo giao thông thông suốt ở điểm ác liệt nhất của cung đường trong suốt một thời gian dài; đi được năm ngày, anh bất ngờ trở về, thủ trưởng đơn vị hỏi: “Vì sao không học lại về?”, anh cười gãi đầu: “Đang đánh nhau ác liệt thế này, tôi còn khỏe, còn cầm lái thì phải cùng anh em làm chứ để mấy thanh niên mới vào thiếu kinh nghiệm lên chốt dễ chết, đau lắm. Chiến tranh xong đi học cũng không muộn”. Anh nói vậy vì biết mình có kinh nghiệm, ở lại có thể giúp đơn vị bớt đi sự hy sinh không cần thiết. Chiến tranh là vậy, người ta có thể tranh nhau chết để những người thậm chí chưa quen biết được sống. Thế là anh lại lái xe và đối diện với tử thần từng phút, từng giây... Đơn vị liên tục được bổ sung quân số mới vì hy sinh nhiều quá, bản thân anh cũng nhiều lần bị bom vùi, nhưng... không chết. Anh nói vui: Bom đạn Mĩ thích thịt xương mình nên nó không cắt “hộ khẩu”, mà để dành thỉnh thoảng còn xẻo... lai rai! 
Trong chiến tranh, mọi chuyện hình như được đơn giản đi rất nhiều, không rắc rối như chuyện thường ngày bây giờ. Chuyện chết chóc, bom rơi đạn nổ mà anh kể khơi khơi như thể chuyện cuốc đất, chặt gốc cây trồng khoai lang, khoai mì vậy. Khuôn mặt ngày một hốc hác, xạm đen lại vì đói, vì công việc nặng nhọc nhưng hình như khi nào tôi cũng thấy nụ cười lạc quan trên khuôn mặt rạng ngời của anh vì tin chắc một điều: Khó như đánh giặc ngoại xâm, Đảng ta còn vận động toàn dân làm được thì xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội chỉ là chuyện... con muỗi; khó khăn chỉ là tạm thời, mọi cái đâu sẽ vào đấy ngay thôi. Anh tin như thế và động viên mọi người xung quang cùng tin như vậy, mặc dù chỉ sau ba tháng vào quê mới đã có nhiều hộ trốn chạy trở về quê cũ.
Thời gian trôi qua, các con lớn lên lấy vợ, gã chồng ra ở riêng; anh chị ở với con trai út – người sinh ra đã thiếu may mắn, không được bình thường như bạn bè cùng tuổi; nay cũng đã xây được ngôi nhà cấp bốn khá khang trang, rộng rãi, niềm mơ ước cả đời đã thành sự thật. Chuyện phải ăn khoai sắn cầm hơi đã trở thành chuyện cổ tích xa xôi lắm rồi, anh không những có ty vi màu, xe máy mà còn có cả những bộ bàn ghế thuộc loại đắt tiền. Cuộc sống đã mĩm cười với người cựu chiến binh năm xưa. Tôi được Tòa án tối cao xử trắng án và chuyển công tác về tỉnh.
Cũng vì công việc, tôi ít có dịp về thăm gia đình anh, bỗng một hôm nhận được điện thoại vợ anh báo tin: Hình như anh bị nhiễm chất độc màu da cam và giờ mới bùng phát! Tôi vội thu xếp công việc về thăm anh. Đặt chân vào cửa, tôi không thể tin người đang ngồi lặng im trên chiếc ghế kia là anh. Thay vào hình dáng nhỏ con, hơi lùn một chút, trọng lượng khi nào cũng chỉ trên bốn lắm kg đến dưới năm mươi là cùng thì nay trông anh như một rô bốt trong phim hoạt hình. Thấy tôi, anh hơi cau mày và nặng nề giơ tay lên bắt, bàn tay anh to gấp rưỡi bình thường, bắp tay còn to hơn cả bắp chân tôi. Khuôn mặt to lên và hai má xệ xuống, dài hơn cả cằm che lấp luôn cả cổ. Nơi yết hầu mọc lên một khối u to như quả dừa, thỏng xuống ngực. Hai vai nhô cao. Sau gáy nỗi lên hai cái u làm lưng anh hơi còng xuống trông rất đáng sợ. Anh vén chiếc váy đang mặc - vì bụng căng tròn như cái trống cái không mặc được quần nữa, cho chúng tôi xem hai bàn chân ngoại cỡ...
Hình vóc của anh quá khủng khiếp, chắc trẻ con nhìn thấy thì cũng... xỉu! Chị vợ anh cho biết: đã làm đơn, giấy tờ nhiều lần nhưng vẫn chưa được công nhận là nhiễm chất độc màu da cam vì không về đơn vị cũ lấy giấy xác nhận đã từng công tác trong vùng bị rãi chất độc; một yêu cầu không thể thực hiện được bởi đơn vị cũ đã giải tán hơn 30 năm rồi. Còn đi ra Đà Nẵng để xét nghiệm thì đường sá xa xôi, sức khỏe yếu, sợ chưa ra đến nơi đã không còn cơ hội vào viện! Vợ con xót xa trước căn bệnh hiểm nghèo của anh, mong muốn được các cấp có thẩm quyền cho hai cha con anh được đi kiểm tra một lần xem bị có nhiễm chất độc màu da cam không, để anh an lòng vượt qua những cơn đau dằng xé thịt da hàng ngày, hàng đêm. Gia đình cũng có đơn gửi Phòng Lao đông, Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar đã lâu, nhiều lần đến hỏi thì được thông báo đã chuyển lên Sở rồi, gia đình an tâm... chờ!
Thời gian không đợi, có lẽ chất độc màu da cam đã làm biến đổi zen trong anh. Đêm đêm có hàng vạn con kiến đang bò, cắn xé trong xương trong tủy, anh cắn răng chịu và hy vọng sẽ có ngày được công nhận bị nhiễm chất độc màu da cam; khi ấy có nhắm mắt xuôi tay cũng tự hào với con cháu và hàng xóm láng giềng: Đảng và Nhà nước không quên những người lính năm xưa đã từng, “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh!”, nhưng sự chờ mong ấy sẽ phải đợi đến bao giờ? Xin chuyển điều trăn trở này về các cơ quan hữu quan có trách nhiệm tỉnh Đăk Lăk.

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

CHUYỆN THẬT NHƯ BỊA!





Truyện ký của HỒNG CHIẾN

Theo thông lệ, gần đến ngày kỷ niệm thành lập lực lượng bộ đội Biên phòng Hội và bộ phận Tạp chí cử đoàn ra biên giới thăm và tặng quà các chiến sĩ Biên phòng. Năm nay, tôi được cơ quan cử đi đến đồn biên phòng Bô Heng,  đơn vị kết nghĩa với Hội Văn học - Nghệ thuật Dak Lak. Cùng đi còn có nhà văn Khôi Nguyên Phó chủ tịch Hội – Quyền Tổng biên tập tạp chí ChưYangSin và nhạc sỹ Sỹ Hùng. Tình cờ thế nào, cơ quan bộ đội Biên phòng tỉnh lại cử sỹ quan trẻ Nguyễn Sỹ Dân, con trai nhạc sỹ Sỹ Hùng đi cùng để hướng dẫn đoàn. 
Đường biên giới quả là khó đi, “ổ gà”, “ổ trâu” nối tiếp nhau phơi bày trên mặt đường. Thỉnh thoảng có đoạn lô nhô những tảng đá đen sì nằm chềnh ềnh giữa đường làm xe chao đảo, có người đầu va cả vào thành xe.  Nhạc sỹ Sỹ Hùng ngồi trầm ngâm như đang suy nghĩ về vấn đề gì đó rất căng thẳng, vầng trán thỉnh thoảng nhăn lại; Ông thuộc thế hệ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thời chiến tranh đang diễn ra ác liệt, Ông tham gia Quân đội được biên chế trong binh chủng Đặc công, chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Chiến tranh qua đi, nước nhà thống nhất, ông vào Dak Lak công tác; dù trên người vẫn còn những mảnh đạn của quân thù, nhưng được cái nhiệt tình, xông xáo trong công việc, không sợ gian khổ. Người con đất Quỳnh Đôi - Qùynh Lưu - Nghệ An có may mắn được sinh ra và lớn lên trên cùng quê hương với bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương; có lẽ vì thế ông thường có những câu thơ, vế đối, câu chuyện có kết gây bất ngờ, nhiều lúc làm người nghe cứ phải lăn ra mà cười. Trương Văn Bộ tài xế lái xe cơ quan Hội, mắt chăm chú nhìn đường, tay bẻ vô lăng đi như lượn qua các tảng đá gợi ý:
-         Bác Sỹ Hùng có chuyện gì vui vui kể cho anh em nghe đi!
-         Mọi ngày thấy Nhạc sỹ nhiều chuyện kể lắm, sao hôm nay trầm tư vậy? Hay sợ có con trai đi cùng về mách mẹ. Tôi đế thêm.
-         Thôi được, để mình cõng các cậu một đoạn đường cho bớt dài nhé.
-         Nhất trí! Nhà văn Khôi Nguyên hưởng ứng.
-         Năm kia Hội VHNT các dân tộc thiểu số tổ chức trại sáng tác tại thị xã Sơn La, mình được mời đi dự. - Bằng giọng trầm trầm, nhạc sỹ Sỹ Hùng bắt đầu câu chuyện của mình, cả xe lặng ngắt dõi theo từng lời của người con xứù Nghệ. Đến trại được năm ngày mình đã viết xong một bản nhạc; cao hứng và tự thưởng cho mình, mình rời phòng làm việc xuống sân khách sạn đi dạo, chờ anh em về ăn cơm. Bỗng có một người đàn ông tuổi khoảng 55 hay 56 gì đó ăn mặc khá lịch sự: giày da đen bóng lộn, mặc bộ vectông màu xám, tay xách ca táp đi đến gần mình cất tiếng hỏi:
-         Xin lỗi anh cho tôi hỏi thăm một chút; có phải đoàn Văn Nghệ sỹ Dak Lak đang nghỉ tại khách sạn này không ạ?
-         Vâng! Anh cần gặp ai?
-         Tôi cần gặp Nhạc sỹ Sỹ Hùng. Anh ấy có ở đây không?
-         Có việc gì không, tôi là Sỹ Hùng đây!
Người đàn ông quẳng ngay chiếc ca táp xuống sân, lao lại ôm chầm lấy mình, giọng xúc động thốt lên:
- Ôi! Cánh cò trên Cao Nguyên! Nhạc sỹ vĩ đại của núi rừng Tây Nguyên đây sao! Em ngưỡng mộ anh từ lâu lắm rồi nay mới được gặp, thật bõ công lặn lội mấy trăm cây số từ Hà Nội lên đây.
Nói dứt lời người khách lạ buông tay ôm mình ra, mắt đăm đăm nhìn khuôn mặt mình như người tình lâu ngày gặp lại.
- Anh không khác tý nào với sự hình dung của em. Bên cạnh nét phong trần có một chút gì đó phảng phất hình ảnh người nông dân xứ Nghệ, lại vừa có một chút lãng tử. Một tài năng âm nhạc xuất chúng, một cây đại thụ sừng sững trên vùng đất Tây Nguyên. Hơn ba chục năm nghiên cứu nền Văn học Nghệ thuật phía Tây dãy Trường Sơn em thấy chỉ có một vài người mới có thể xếp ngang hàng với anh như: Nguyễn Cường, Y Phôn mà thôi. Tài năng như anh quả là hiếm lắm, quý lắm!
Chờ mãi anh ta mới ngớt lời, để minh chen vào được một câu:
- Xin lỗi, mình chưa biết tên cậu.
- Em xin lỗi! Gặp anh mừng quá, quên chưa giới thiệu với anh. Em tên là Trần Minh, người Hà Nội, công tác tại Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh biết ông Lạng Chủ tịch tỉnh không, bạn em đó. Thỉnh thoảng có dự án lớn là ông ta lại mời em vào, vì thế em tìm hiểu rất kỹ sự phát triển Văn học – Nghệ thuật Dak Lak. Ngoài bài hát “Cánh cò trên Cao Nguyên”, “Voi ơi vào hội”; còn có được bao nhiêu tác phẩm khác có thể xếp ngang hàng! “Ơi M’Drak” của Nguyễn Cường; “Đi tìm lời ru mặt trời” của Y Phôn là có thể sánh được; còn các bản nhạc khác làm sao có thể xếp ngang với anh. Ngoài này chúng em đang chuẩn bị một chương trình âm nhạc đặc biệt để giới thiệu các Nhạc sỹ nổi tiếng viết về Tây Nguyên mà anh là nhân vật chính đấy.
Nghe anh ta nói mình cũng thấy mừng; mừng vì chưa biết thật giả thế nào, nhưng có người biết đến nhạc của mình, định tổ chức giới thiệu với khán giả Thủ đô thì còn gì hơn. Mình liền mời Trần Minh vào khách sạn uống nước.
-         Mời anh vào trong này uống nước, ta nói chuyện cho tiện.
-          Dạ!
Vào trong quầy người bạn mới tỏ ra rất sành điệu, bật ngón tay nghe đến “bốp” một cái như pháo, trước khi gọi cô phục vụ:
-         Ê! Anh dùng gì ạ? Caphê đen ạ; một ly đen, một ly ca cao sữa nóng. Đi khỏi Dak Lak, em không còn muốn uống caphê ở bất cứ nơi nào nữa, vì nó nhạt nhạt thế nào ấy, hương vị cũng ngang ngang. Biết tính em, cứ mỗi lần vào Dak Lak anh Lạng lại tặng vài ba ký caphê cứt chồn mang về uống dần. Tên nghe hơi thô nhưng chất lượng thật tuyệt anh nhỉ. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có loại caphê tuyệt hảo đến thế.  Dak Lak quả là vùng đất lí tưởng để con người lập nghiệp. Đoàn mình ra ngoài này đông không anh?
-         Đoàn Dak Lak dự trại lần này cũng ít thôi, về thơ có Lê Quý Phóng, Đinh Thị Như Thuý, Lê Vĩnh Tài; văn có…
-         Nhà thơ Lê Quý Phóng à. Trần Minh chặn lời mình - thơ anh ta cũng được, đọc thấy xuôi không vướng mắc chút nào về thời thế, ngẫm ra anh ta chắc phải là “Quan” làm thơ thì phải. Trong các bài thơ đã được đăng tải thấy mượt mà như đồng lúa thẳng cánh cò bay thời Hợp tác xã nông nghiệp. Hàm ý thơ sâu sắc nhưng vẫn giữ được nét gần gũi với người lao động. Chắc nhà thơ này phải là quê ở vùng lúa Thái Bình.
-         Anh tài thật, đọc thơ mà hiểu được con người, tiểu sử, thân thế tác giả như vậy, quả là hiếm lắm.
Thực lòng khi nghe anh ta nhận xét về nhạc của mình, tuy hơi khó chịu vì sự tâng bốc thái quá, song ai chẳng thích được khen! Nghe một lúc thấy xuôi tai và càng nghe lời khen càng thích thú. Không biết đó có phải là căn bệnh cố hữu thừơng niên của thằng người trong mỗi con người không! Hình như đọc được ý nghĩ của mình anh ta bình luận tiếp:
-         Còn thơ của Đinh Thị Như Thuý thể hiện một khát vọng to lớn, muốn tung hê hiện tại để hướng tới cái cao xa phía trước; nội tâm luôn có sự dằn vặt, nhiều lúc ta cảm thấy như có hai con người đang giằng xé lẫn nhau trong một cơ thể. Đây là một phụ nữ trí thức làm thơ để khẳng định mình, để thổ lộ những điều thầm kín mà đời thường không thể nói. Trong những bài gần đây hình như chị đang thể nghiệm cách sáng tác mới và để lại được dấu ấn trong lòng bạn đọc. Đinh Thị Như Thuý là một tài năng đặc sắc của Dak Lak nói riêng và cả khu vực Miền trung – Tây Nguyên nói chung. Tương lai thơ chị còn bay xa. Riêng về nhà thơ Lê Vĩnh Tài, quả là tài thật. Đọc thơ anh, ta thấy toát lên một tâm hồn cao thượng, đang muốn vươn tới những cái gì tốt đẹp nhất còn ở phía trước. Đây là người đang đi tìm sự đổi mới hình thức thể hiện trong thi ca hiên đại; có thể nói không ngoa: anh là người đi tiên phong trên lĩnh vực đổi mới thơ ở vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Nếu tính những nhà thơ xuất sắc trên văn đàn đang sinh sống ở Dak Lak còn phải kể đến một cây bút đại thụ nữa là nhà thơ Văn Thanh. Thơ của thi sĩ này có một chút ngông, một chút oán hờn số phận và xen lẫn một chút bất đắc chí với cuộc sống. Giọng thơ có cái gì đó cay nghiệt với đời, nhưng thắm đượm tình yêu quê hương đất nước. Có lẽ thơ Văn Thanh đứng được là vì thế. Em nói vậy có đúng không anh?
Nghe Trần Minh đánh giá thơ của các vị Hội nhà làm mình bất ngờ. Một người ở tút lút tận Hà Nội, cách Dak Lak hơn ngàn cây số lại kể vanh vách tên các nhà thơ hội viên, nhận xét một cách hấp dẫn như vậy, quả thật rất đáng khâm phục. Hay nói cho đúng hơn, cách nói diễn cảm, cộng thêm các động tác múa tay làm mình như bị thôi miên. Trời về chiều, đến giờ phải đi ăn cơm, mình mời Trần Minh lên phòng ở rửa mặt mũi, tay chân để cùng ăn cơm chiều với anh em dự trại.
Thấy có bạn đến chơi, anh em trong trại vui vẻ hẳn lên, cánh đàn ông thay nhau mang ly đến mời, tiếng chúc tụng, tiếng ly khua leng keng, thật vui. Trần Minh lại được dịp trổ tài nhận xét các nhà văn, nhà thơ Dak Lak và hầu như ở người nào anh ta nhắc đến đều chỉ ra được những ưu điểm, và tán thêm những lời khen có cánh. Mình ngồi nghe cũng sướng cái lỗ tai, phổng cả mũi. Bữa cơm đang vui, chợt có hai người nữa đến chào anh em cả trại và vui vẻ đi từng bàn mời cụng ly. Khi đến bàn mình, mình hãnh diện đứng dậy giới thiệu với hai vị mới đến:
-         Giới thiệu với anh Y Phương và anh Cao Duy Thảo, đây là anh Trần Minh – cán bộ biên tập của Tạp chí Văn Nghệ Quân đôi, bạn thân của anh Lạng Chủ tịch tỉnh Dak Lak mới từ  Hà Nội lên chơi.
-          Tôi là người “gác cổng” Tạp chí Văn nghệ Quân đội mười lăm năm nay, chưa từng gặp anh bao giờ. Nhà thơ Y Phương nói.
-         Anh là thằng lừa đảo!
Nhà văn Cao Duy Thảo chỉ mặt Trần Minh nói và rút điện thoại di động bấm máy. Trần Minh mặt tái mét, mặt cúi gằm, không dám ngẩng lên. Chỉ ba phút sau hai anh Công an xuất hiện mời Trần Minh đi.
Mình sửng sốt, không thể tin những gì đang xảy ra trước mặt. Chẳng lẽ con người lịch lãm, khôi ngô tuấn tú kia lại là kẻ đi lừa đảo, mà lừa ai chứ đi lừa mấy ông Văn nghệ sỹ để làm gì. Họ có gì để mà lừa! Khoảng một giờ sau, Công an gọi điện đến thông báo: Trần Minh chỉ là tên bịa. Hắn ở Hà Nội thật, nhưng không nghề nghiệp.
-         Ở đời không ai có thể học hết được chữ ngờ! Hơn sáu chục tuổi đầu mà mình vẫn bị lừa. Lòng tin người, thương người đặt không đúng chỗ có khi trở thành tai hoạ cho bạn bè, chuốc vạ vào thân. Đau thật! Âu đó cũng là bài học cho những người đi sau.
Nhạc sĩ Sỹ Hùng kết thúc câu chuyện, làm cả xe lặng đi. Chợt Nguyễn Sỹ Dân kêu lên:
-Đến nơi rồi, mời bố và các chú, các anh xuống xe.
Trên sân đồn cán bộ, chiến sĩ ùa ra chào đón chúng tôi. Mặc cho ông mặt trời đứng trên đỉnh đầu dội nắng xuống. Xa xa thoảng trong gió có tiếng con gà rừng vừa cất lên tiếng gáy lan toả khắp không trung.
 
Mùa đông năm 2012



Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

CHUYỆN BÊN BẾN NƯỚC (tiếp theo)

Thêm chú thích


Cả buôn mở tiệc linh đình ba ngày ba đêm ăn hết năm con trâu, chục con bò, hai chục con heo… mừng H’Thương bắt chồng. Tiệc tan người ta mới thấy Y Ghi cùng đoàn thợ săn trở về mang theo con voi trắng, ngà mới dài hơn gang tay. Người mẹ già đứng đợi con bên bến nước suốt ba ngày ba đêm trong lễ cưới H’Thương, khi thấy Y Ghi trở về, bà khụyu xuống, giọng nghẹn ngào: H’Thương đợi con không được đã bắt chồng rồi! Bà nấc lên rồi đi theo Yàng, theo người chồng đã bỏ ra đi từ lúc thằng Y Ghi mới cất tiếng khóc chào đời.
Làm ma cho mẹ xong, Y Ghi thả con voi trắng về rừng và âm thầm sống như một cái bóng. Đêm đêm khi mọi người đã quây quần bên bếp lửa, người ta mới thấy anh ra bến sông lặn hụp. Một đêm không trăng sao khi Y Ghi vừa dầm mình xuống nước, bỗng có một bóng đen bất ngờ cũng lao xuống nước, hai bóng đen ghì lấy nhau; tiếng nức nở, nghẹn ngào hòa vào tiếng thét của dòng sông. H’Thương kể cho chàng nghe nỗi đau đớn, dằn vặt hàng ngày, miệng không muốn ăn cơm, mắt không muốn ngủ; mái tóc dài chảy xuống tận gót chân chỉ sau một tuần chỉ còn lưa thưa từng cụm. Nàng đã sống như cái bóng, không ăn không ngũ chỉ chờ ngày Yàng mang đi để không phụ lời nguyện ước. Y Ghi ôm người yêu trong tay, một thân hình tiều tụy trơ xương có đâu còn như ngày xưa nữa nên bao giận hờn tan biến đi cả, chỉ còn lòng yêu thương tràn ngập trái tim. Họ ôm nhau, kể cho nhau nỗi nhớ nhung vì bị chia lìa.
Thật bất ngờ, một bó đuốc lớn được châm lên sáng rực cùng với tiếng thét thất thanh:
-         Ối Yàng ơi, có người chết! Có người chết!
Tiếng kêu gào vang vọng bay lên các nóc nhà; người lớn, người bé ào ào chạy ra bờ sông và sửng sốt khi thấy anh chồng mới cưới của H’Thương tay cầm đuốc, mặt hướng ra bờ sông. Trong ánh lửa, người ta thấy hai người đang ôm nhau đứng dưới dòng nước. Có lẽ quá bất ngờ, đôi tình nhân như  chết đứng, dính chặt vào nhau. Hai kẻ phạm tội bị đám thanh niên lôi lên, trói vào một thân cây chôn bên bến nước. Hội đồng xử án được thành lập. H’Thương nhận hết tội về mình và chỉ cầu xin được sống với người đã trao vòng. Căn cứ luật tục, Gia đình H’Thương phải đền danh dự cho chành rể số của gấp đôi số của xin cưới. Còn đôi tình nhân chịu hình phạt: lột hết quần áo, cùng úp mặt, ăn hết cơm đổ trong một cái máng heo – hình phạt dành cho kẻ ngoại tình được xem như heo - sau đó xuống sông lấy rơm kỳ cọ cho nhau xong mới được lên bờ mặc quần áo. Hai người chấp nhận tất cả mọi hình phạt, miễn là được sống cùng nhau.
Từ đó họ được sống với nhau trong túp lều tự làm phía cuối buôn, bên bến sông. Tuy cuộc sống vật chất vô cùng đạm bạc, nhưng nụ cười luôn nở trên môi họ. Đêm đêm bên ánh lửa, chồng đàn, vợ hát, tiếng hát của họ làm con thú cũng quên cả kiếm ăn, người nghe cũng quên cả uống rượu. Họ hạnh phúc. Trọn một mùa rẫy, trong đêm không trăng sao, H’Thương trở dạ sinh Y Din; cậu bé khỏe mạnh nhưng người mẹ bạc mệnh chỉ kịp nhìn con, cầm tay chồng chảy nước mắt rồi đi theo Yàng. Theo tục lệ, đứa trẻ vừa sinh ra mà mẹ chết, cũng phải được chôn cùng mẹ nó; từ bao đời nay, người Êđê tin rằng Yang muốn vậy, không ai dám làm trái. Nhưng Y Ghi không tin điều đó, Yang không thể tàn ác đến mức đã bắt vợ người ta đưa vào quan tài, phơi trên mặt đất; lại còn bắt đứa trẻ vô tội chết theo. Phong tục gì mà lạ thế, đã chết, mang đi chôn lại không cho lấp quan tài, vậy ta không chôn vợ ta như phong tục, thử hỏi Yang có phạt ta không! Con ta là tài sản của cả hai vợ chồng, kết quả của tình yêu không ai có thể cước đi được. Thương vợ, thương con và muốn chống lại cả phong tục hà khắc, Y Ghi đành đặt xác vợ lên thuyền đẩy ra sông, miệng lầm rầm cầu khấn: Em theo Yàng để lại con cho anh nên anh thể theo em được. Hãy tha thứ cho anh và đợi con trưởng thành, anh sẽ theo em! Con thuyền bốc cháy dữ dội từ từ đi ra giữa sông như có người chèo và chìm vào dòng nước. Y Ghi châm lửa đốt nhà, rồi mang con trốn vào rừng. Trong lúc tuyệt vọng lang thang trong rừng, anh gặp người của cách mạng và hai cha con được cứu sống. Nước nhà thống nhất, Y Ghi đưa con về lại buôn xưa, dựng nhà trên nền đất cũ để con đi học cái chữ và ông, đêm đêm được trò chuyện với vợ. Con trai trưởng thành đi làm cán bộ, lấy vợ, làm nhà trên phố, mời ông về ở nhưng ông không thể xa bến nước, xa nơi vợ chồng ông đã từng sống hạnh phúc. Thế mà giờ đây con sông bao đời nay sắp biến thành hồ, bến nước của hai người sẽ nằm sâu trong lòng nước. Con cái đã trưởng thành, ông không thể dứt tình ra đi…
Ngôi nhà sàn được chất lên xe ô tô để trơ lại một vùng đất trống trơ với những lỗ chân cột mới được đào xới lên. Xe chuẩn bị chuyển bánh, người ta mới giật mình vì không thấy ông cụ đâu. Ông Chủ tịch bảo mọi người cứ đi trước, còn mình bước vội ra bến sông tìm cha. Ông Chủ tịch biết ama đang ở đâu, lúc này. Từ khi về dựng nhà ở bên bến sông này, khi vui hay khi buồn, ama đều ra trước bến nước thì thầm với ai đó; ngay chuyện di dời nhà, ama đồng ý nhưng cứ lần lữa không đi, ông bảo đợi, không biết ông đợi điều gì. Đã có lúc nặng lời với cha vì chuyện dời nhà, nhưng ama không cáu mà xách đàn ra bến nước ngồi đàn như trò chuyện với dòng sông vậy. Phương đông mấy đám mây ửng hồng quàng lên đỉnh núi chiếc khăn màu đỏ nhạt, xua vơi đi màn đêm. Ông Chủ tịch bước lại bên cha nói nhỏ: Ama ơi, phải đi thôi, chắc amí sẽ tha lỗi cho chúng ta! Ama không quay lại mà mắt vẫn nhìn ra dòng sông. Buổi sáng, đám hơi nước theo nhau bay là là trên mặt sông, quẩn quanh chiếc thuyền độc mộc khá dài, lúc ẩn, lúc hiện; được neo đậu từ lúc nào bên bến mà không ai hay. Ông Y Ghi hay như trong buôn người ta thường gọi – ama Din, đi lại bước lên con thuyền. Chiếc thuyền từ từ tiến ra giữa dòng sông. Con sông mọi ngày gầm thét dữ dằn đến thế, mà nay tự nhiên như hiền hòa lại, không còn gầm thét nữa. Nước sông đang dâng dần lên, dần lên và con thuyền nhỏ dần, nhỏ đần rồi khuất hẳn vừa khi ông mặt trời ban phát những tia nắng đầu tiên. Một ngày mới bắt đầu.

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

CHUYỆN BÊN BẾN NƯỚC truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ CÔNG AN NGÀY 20 THÁNG 8 NĂM 2010





Chuyện bên bến nước
09:41 20/08/2010


Trời về chiều, ánh sáng chỉ còn le lói trên đỉnh ngọn Chư Yang Sin phía xa xa. Bên dòng sông Srêpôk, một nóc nhà tôn lẻ loi tấp nập người ra vào. Hôm nay, ngày cuối cùng người ta có thể còn thấy ngôi nhà cô đơn này hiện diện nơi đây. Con sông hung dữ ngày đêm gầm thét, rạng sáng ngày mai được ngăn dòng, bắt nước làm ra điện...

http://static.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/Honghai/14_mh134.jpg
Minh họa của Lê Tâm.
Cái buôn hơn 500 nóc nhà một thời trù phú đã được di dời gần hết, chỉ còn sót lại một nóc nhà của ama (ba) chủ tịch huyện. Vì là ama chủ tịch huyện nên người ta không dám cưỡng chế, mà chỉ động viên, giải thích; nhưng ông già nhất định không đi. Chủ tịch huyện đã năm lần bảy lượt mang xe về đón ama lên phố ở với mình, nhưng ông cũng nhất định "một tấc không đi, một li không dời". Có người nói ông gàn. Có người lại bảo ông cậy thế con làm to nên ra oai không đi cho thiên hạ sợ. Mặc giọng lưỡi người đời thêu dệt, ama Din  vẫn thui thủi một mình bám lấy dòng sông và ngôi nhà dài hơn chục sải tay.
Ama Din không muốn rời ngôi nhà, bến sông đầy ắp kỷ niệm gắn chặt cả đời mình. Nay đi nơi khác ở, có khác gì bỏ đi chính mình, bỏ đi niềm thương yêu của vợ để lại mà ông vẫn thấy phảng phất hàng ngày, cho dù bà ấy đã ra đi hơn 40 năm rồi. Nhưng không đi thì lại mang tiếng chống lại chính sách của Đảng và Nhà nước, gây khó dễ cho công tác của thằng Y Din, thậm chí nó còn bị phê bình vì ông bố chậm tiến. Biết làm sao đây? Mái đầu xoăn tít của ông đã hơn 40 năm không chải, có lẽ chính xác hơn là 43 mùa rẫy rồi, từ cái ngày vợ ông ra đi theo Yàng vĩnh viễn không quay lại, đã trắng thêm. Đêm về khuya, ánh trăng phủ lên dòng sông một lớp vảy bạc lấp lánh nhảy múa theo từng con sóng và phủ cả lên hình hài người đàn ông nằm úp mặt lên cát, sát mé nước. Ông nằm đó thì thầm với H'Thương, người vợ quá cố của mình.
Trong ngôi nhà sàn, ché rượu được cột, cần đã cắm, tiếng chiêng ngân lên từ lâu lắm rồi và nhiều người ngồi không vững nữa; nhưng họ vẫn vít cần rượu vì ông chủ tịch huyện mời. Người trong buôn đến uống rượu chia tay ngôi nhà, bến nước của ông ama chủ tịch và nhân thể giúp ông chuyển nó về nơi ở mới. Tình nghĩa và phong tục trong buôn là vậy, phải tương trợ giúp đỡ nhau. Ôtô đến đợi vận chuyển đậu cả dãy dài. Đèn điện được chiếc máy nổ châm lên sáng như ban ngày, nhìn rõ cả con kiến đen nhẻm đang rối rít đi tìm chỗ ngủ. Ông chủ tịch huyện có thân hình vạm vỡ được di truyền từ ba, nước da bánh mật của má và đôi mắt sáng như ánh trăng rằm của Yàng đứng lên nói với mọi người:
- Thưa bà con, sáng ngày mai đập thủy điện xây dựng trên địa bàn huyện ta sẽ chính thức ngăn dòng, buôn chúng ta sẽ chìm sâu dưới lòng hồ nên mọi người đã chuyển đến địa điểm mới. Sự ủng hộ của bà con đối với chính sách của Đảng và chính quyền địa phương như thế là rất tốt. Riêng gia đình tôi thì chưa tốt vì ama cứ nấn ná mãi chưa muốn rời đi, hôm nay ama đã đồng ý di chuyển để kịp bàn giao lại cho bên Công trình. Xin cảm ơn bà con đã đến uống li rượu nhạt và giúp gia đình chuyển nhà.
- Phải chuyển ngay trong đêm nay à?- Có ai đó ngạc nhiên hỏi lại.
- Dạ! Phải chuyển ngay trong đêm nay mới kịp. Phiền bà con giúp một tay cho nhanh - Ông Chủ tịch trả lời.
Dàn chiêng ngân lên một lần cuối cùng như lời chào dòng sông, bến nước trước khi chia tay rồi ngừng. Mọi người xúm vào dọn dẹp chuẩn bị dỡ nhà.
Ngoài bến nước, ama Din vẫn đang trò chuyện với vợ. Có lẽ họ đang cùng nhau ôn lại kỷ niệm những năm tháng bên nhau, bên bến nước của buôn từ thuở ấu thơ cho đến lúc được làm vợ làm chồng với nhau. Ngày ấy…
H'Thương, người con gái út của ông chủ buôn giàu có nhất vùng: voi cả đàn, trâu bò, heo gà nhiều như lá rừng; ché túc, ché tang buộc bảy gian nhà không hết… Khi cô gái út sinh ra, nước sông Srêpôk bỗng nhiên tràn lên bờ, hất lên bến nước của buôn một con cá lớn dài hơn cả sải tay người lớn. Đấy là điềm mừng, Yàng tặng quà mừng sự có mặt của H'Thương; vì thế gia đình mổ năm trâu, bảy bò, chín heo để cúng tạ Yàng và mời buôn gần buôn xa ăn năm uống tháng đủ bảy ngày bảy đêm.
H'Thương lớn lên có khuôn mặt hiền hậu như mặt trăng rằm, đôi mắt của chim gầm ghì, mái tóc dài óng mượt như lông đuôi chim trĩ ban cho và nước da mang màu của chiêng mới đúc. Đôi bàn tay có những ngón xinh xinh mềm mại dệt vải nhanh như múa, nét hoa văn nhìn qua như thật. Đẹp người, đẹp nết nên buôn gần buôn xa ai cũng biết tiếng. Mười bảy mùa rẫy trôi qua, ama amí (má) H'Thương tính đi bắt chồng cho con. Hai ông bà đã chọn được người con trai chủ bến nước phía bên kia dãy núi, tương xứng với nhà mình. Cậu con trai nhà ấy được học chữ người Phú Lãng Sa, nói chuyện với quan Tây như hót và biết đi cái máy không chân nhưng chạy nhanh con trâu, con bò. Hai nhà đã ưng, thằng con trai cũng ưng H'Thương lắm lắm; nhưng H'Thương lại ưng người con trai khác mất rồi. Hồi lên tám mùa rẫy, một hôm bọn trẻ rủ nhau ra sông tắm, mải nô đùa với bạn bè, H'Thương ra xa bờ bị dòng nước nhấn chìm phải uống no nước sông; may có Y Ghi, sinh trước H'Thương một mùa rẫy vẫn thường chơi với nhau, đã bơi ra cứu giúp. Khi lên bờ H' Thương bảo:
- Mày có ưng làm chồng tao không?
Y Ghi đỏ mặt nhưng vẫn gật đầu, bốn mắt soi vào nhau như có ngọn lửa lễ hội đâm trâu. H'Thương tháo chiếc vòng tay của mình đeo vào tay Y Ghi rồi nói:
- Mày đồng ý rồi nhé, sau này nhất định tao sẽ bắt mày về làm chồng, không được nhận vòng của ai nữa, dù có chết cũng không thay lòng.
- Tao cũng ưng như thế!
Hai đứa nắm tay nhau thật chặt rồi ai về nhà nấy. Từ đó hai đứa không hẹn nhưng đều ra bến nước tắm khi mọi người đã về nhà. Năm tháng qua đi, tuổi thơ để lại phía sau lúc nào không biết; Y Ghi trở thành một chàng trai khỏe mạnh, săn voi, bắt cọp nổi tiếng cả vùng. Nhiều cô gái con nhà giàu có đánh tiếng muốn bắt làm chồng; nhưng anh ta đều từ chối vì đã nhận vòng của một người con gái. Trớ trêu thay, gia đình H'Thương không thể chấp nhận cái thằng con nhà nghèo, mồ côi cha, thuộc tầng lớp dưới, cùng buôn về làm rễ nhà mình. Amí nói thẳng:
- Bắt nó về chăn voi, chăn trâu bò thì được, còn làm chồng mày thì không đời nào.
H'Thương khóc hết nước mắt, ama amí vẫn không thay đổi quyết định, vì đã hứa với bạn rồi. Nhưng H'Thương cũng không vừa: Nếu con không lấy được Y Ghi làm chồng, sẽ không bắt ai cả. Cuối cùng ama H'Thương đưa ra một điều kiện: Tao hẹn cho nó một con trăng phải vào rừng bắt voi trắng mang về, nếu bắt được tao sẽ cưới nó làm chồng cho mày; còn không bắt được thì mày phải bắt chồng theo ý của tao. Nếu không đồng ý điều kiện này, mẹ con nó sẽ bị đuổi khỏi buôn.
Với người Êđê, bị đuổi khỏi buôn là hình phạt nặng như xử tội chết, vì thế đôi trẻ đành chấp nhận và Y Ghi lên đường ngay. Bắt được voi đã khó, bắt voi trắng lại càng khó hơn. Trong các cánh rừng của dãy ChưYangSin hùng vĩ có hàng ngàn con voi, nhưng bao đời nay chỉ mới bắt được một con voi trắng. Đi tìm voi trắng có khác gì tìm kim dưới đáy biển. Thời hạn một tháng trôi qua, Y Ghi không trở về, ama H'Thương mang hai con voi làm lễ hỏi chồng cho H'Thương. Cho dù H'Thương phản đối thế nào gia đình cũng nhất định không chịu và thế là chàng rể được đón về nhà. Đêm tân hôn, H'Thương bảo chàng rể: Tao không ưng mày, không muốn bắt mày làm chồng vì tao đã trao vòng cho người khác rồi. Nhà mày tham của hồi môn gả mày về đây thì từ nay mày chỉ là con chó, con gà nhà này. Đụng đến tao, tao đâm chết; nói dứt lời rút con dao ngắn giấu trong người cắm phập xuống sàn nhà.
Cả buôn mở tiệc linh đình ba ngày ba đêm ăn hết năm con trâu, chục con bò, hai chục con heo… mừng H'Thương bắt chồng. Tiệc tan người ta mới thấy Y Ghi cùng đoàn thợ săn trở về mang theo con voi trắng, ngà mới dài hơn gang tay. Người mẹ già đứng đợi con bên bến nước suốt ba ngày, ba đêm trong lễ cưới H'Thương, khi thấy Y Ghi trở về, bà khụy xuống, giọng nghẹn ngào: "H'Thương đợi con không được đã bắt chồng rồi!". Bà nấc lên rồi đi theo Yàng, theo người chồng đã bỏ ra đi từ lúc thằng Y Ghi mới cất tiếng khóc chào đời.
Làm ma cho mẹ xong, Y Ghi thả con voi trắng về rừng và âm thầm sống như một cái bóng. Đêm đêm khi mọi người đã quây quần bên bếp lửa, người ta mới thấy anh ra bến sông lặn hụp. Một đêm không trăng sao khi Y Ghi vừa dầm mình xuống nước, bỗng có một bóng đen bất ngờ cũng lao xuống nước, hai bóng đen ghì lấy nhau; tiếng nức nở, nghẹn ngào hòa vào tiếng thét của dòng sông. H'Thương kể cho chàng nghe nỗi đau đớn, dằn vặt hàng ngày, miệng không muốn ăn cơm, mắt không muốn ngủ; mái tóc dài chảy xuống tận gót chân chỉ sau một tuần chỉ còn lưa thưa từng cụm. Nàng đã sống như cái bóng, không ăn không ngủ, chỉ chờ ngày Yàng mang đi để không phụ lời nguyện ước. Y Ghi ôm người yêu trong tay, một thân hình tiều tụy trơ xương có đâu còn như ngày xưa nữa nên bao giận hờn tan biến đi cả, chỉ còn lòng yêu thương tràn ngập trái tim. Họ ôm nhau, kể cho nhau nỗi nhớ nhung vì bị chia lìa.
Thật bất ngờ, một bó đuốc lớn được châm lên sáng rực cùng với tiếng thét thất thanh:
- Ối Yàng ơi, có người chết! Có người chết!
Tiếng kêu gào vang vọng bay lên các nóc nhà; người lớn, người bé ào ào chạy ra bờ sông và sửng sốt khi thấy anh chồng mới cưới của H'Thương tay cầm đuốc, mặt hướng ra bờ sông. Trong ánh lửa, người ta thấy hai người đang ôm nhau đứng dưới dòng nước. Có lẽ quá bất ngờ, đôi tình nhân như chết đứng, dính chặt vào nhau. Hai kẻ phạm tội bị đám thanh niên lôi lên, trói vào một thân cây chôn bên bến nước. Hội đồng xử án được thành lập. H'Thương nhận hết tội về mình và chỉ cầu xin được sống với người đã trao vòng. Căn cứ luật tục, gia đình H'Thương phải đền danh dự cho chàng rể số của gấp đôi số của xin cưới. Còn đôi tình nhân chịu hình phạt: lột hết quần áo, cùng úp mặt, ăn hết cơm đổ trong một cái máng heo - hình phạt dành cho kẻ ngoại tình được xem như heo - sau đó xuống sông lấy rơm kỳ cọ cho nhau xong mới được lên bờ mặc quần áo. Hai người chấp nhận tất cả mọi hình phạt, miễn là được sống cùng nhau.
Từ đó họ được sống với nhau trong túp lều tự làm phía cuối buôn, bên bến sông. Tuy cuộc sống vật chất vô cùng đạm bạc, nhưng nụ cười luôn nở trên môi họ. Đêm đêm bên ánh lửa, chồng đàn, vợ hát, tiếng hát của họ làm con thú cũng quên cả kiếm ăn, người nghe cũng quên cả uống rượu. Trọn một mùa rẫy, trong đêm không trăng sao, H'Thương trở dạ sinh Y Din; cậu bé khỏe mạnh nhưng người mẹ bạc mệnh chỉ kịp nhìn con, cầm tay chồng chảy nước mắt rồi đi theo Yàng.
Theo tục lệ, đứa trẻ vừa sinh ra mà mẹ chết cũng phải được chôn cùng mẹ nó; từ bao đời nay, người Êđê tin rằng Yàng muốn vậy, không ai dám làm trái. Nhưng Y Ghi không tin điều đó, Yàng không thể tàn ác đến mức đã bắt vợ người ta đưa vào quan tài, phơi trên mặt đất; lại còn bắt đứa trẻ vô tội chết theo. Phong tục gì mà lạ thế, đã chết, mang đi chôn lại không cho lấp quan tài, vậy ta không chôn vợ ta như phong tục, thử hỏi Yàng có phạt ta không! Con ta là tài sản của cả hai vợ chồng, kết quả của tình yêu không ai có thể tước đi được.
Thương vợ, thương con và muốn chống lại cả phong tục hà khắc, Y Ghi đành đặt xác vợ lên thuyền đẩy ra sông, miệng lầm rầm cầu khấn: "Em theo Yàng để lại con cho anh nên anh không thể theo em được. Hãy tha thứ cho anh và đợi con trưởng thành, anh sẽ theo em!". Con thuyền bốc cháy dữ dội từ từ đi ra giữa sông như có người chèo và chìm vào dòng nước. Y Ghi châm lửa đốt nhà, rồi mang con trốn vào rừng. Trong lúc tuyệt vọng lang thang trong rừng, anh gặp người của cách mạng và hai cha con được cứu sống. Nước nhà thống nhất, Y Ghi đưa con về lại buôn xưa, dựng nhà trên nền đất cũ để con đi học cái chữ và ông, đêm đêm được trò chuyện với vợ. Con trai trưởng thành đi làm cán bộ, lấy vợ, làm nhà trên phố, mời ông về ở nhưng ông không thể xa bến nước, xa nơi vợ chồng ông đã từng sống hạnh phúc. Thế mà giờ đây con sông bao đời nay sắp biến thành hồ, bến nước của hai người sẽ nằm sâu trong lòng nước. Con cái đã trưởng thành, ông không thể dứt tình ra đi…
Ngôi nhà sàn được chất lên xe ôtô để trơ lại một vùng đất trống trơ với những lỗ chân cột mới được đào xới lên. Xe chuẩn bị chuyển bánh, người ta mới giật mình vì không thấy ông cụ đâu. Chủ tịch huyện bảo mọi người cứ đi trước, còn mình bước vội ra bến sông tìm cha. Ông chủ tịch biết ama đang ở đâu, lúc này. Từ khi về dựng nhà ở bên bến sông này, khi vui hay khi buồn, ama đều ra trước bến nước thì thầm với ai đó; ngay chuyện di dời nhà, ama đồng ý nhưng cứ lần lữa không đi, ông bảo đợi, không biết ông đợi điều gì.
Đã có lúc nặng lời với cha vì chuyện dời nhà, nhưng ama không cáu mà xách đàn ra bến nước ngồi đàn như trò chuyện với dòng sông vậy. Phương Đông mấy đám mây ửng hồng quàng lên đỉnh núi chiếc khăn màu đỏ nhạt, xua vơi đi màn đêm. Ông chủ tịch huyện bước lại bên cha nói nhỏ: "Ama ơi, phải đi thôi, chắc amí sẽ tha lỗi cho chúng ta". Ama không quay lại mà mắt vẫn nhìn ra dòng sông. Buổi sáng, đám hơi nước theo nhau bay là là trên mặt sông, quẩn quanh chiếc thuyền độc mộc khá dài, lúc ẩn, lúc hiện; được neo đậu từ lúc nào bên bến mà không ai hay. Ông Y Ghi hay như trong buôn người ta thường gọi - ama Din, đi lại bước lên con thuyền. Chiếc thuyền từ từ tiến ra giữa dòng sông. Con sông mọi ngày gầm thét dữ dằn đến thế, mà nay tự nhiên như hiền hòa lại, không còn gầm thét nữa. Nước sông đang dâng dần lên, dần lên và con thuyền nhỏ dần, nhỏ dần rồi khuất hẳn vừa khi ông mặt trời ban phát những tia nắng đầu tiên. Một ngày mới bắt đầu




Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

VỚI CÂY BÚT - tác giả HOÀNG THẾ




Cây bút nhỏ như nhiều cây bút
Đã cùng tôi thao thức những đêm dài
Nghe hơi thở của đồng của đất
Mồ hôi rơi thấm đẫm luống cày…

Nghe dòng sông bên lở bên bồi
Mùa lũ về, con nhện cõng trứng trèo ngọn cỏ
Đảo nổi đảo chìm đang ì ầm bão tố
Đất nước hòa bình – cây bút chưa bình yên!

Cây bút thương em ăn sẻn để dành
Đi sớm về khuya, đầu sương chân giá
Đất nước còng lưng như dáng mẹ
Và anh nao lòng đi và viết, viết và đi!

Nghe tiếng người xưa tha thiết vọng về
Trái tim đập theo từng con chữ
Biết giữ mình trước trò đời cám dỗ
Và cây đời lại nở thêm hoa.