Tản văn
Những ngày cuối
cùng của năm Quý Tỵ đang đần trôi về cuối. Trời Buôn Ma Thuột trong xanh, gió từng
cơn lồng lộn tràn về vặn vẹo, uốn cong các ngọn cây cổ thụ, tuốt cả những chiếc
lá còn xanh biếc ném xuống mặt đường. Những cơn gió dữ dằn từ biển đông tràn
vào, gửi lại phía sau những hạt nước của biển Đông trước khi vượt qua dãy Trường
Sơn, mang theo sự hanh khô, luồn qua khắp các ngõ ngách của thành phố, ùa vào từng
căn phòng. Lạnh. Cái lạnh giá như tiết trời xứ Thanh quê tôi ngày giáp tết.
Cháu gái ngoài quê
vừa gọi điện vào thông báo: nhà đã tát ao, cá năm nay nhiều lắm, mời chú về ăn
tết. Tôi chạnh lòng nhớ quê. Thế là thấm thoắt 37 năm xa quê vào Tây Nguyên
công tác mà chưa một lần được trở về cố hương về ăn tết. Ngày đi cha mẹ đầu còn
chưa bạc, đến nay các cụ đã rủ nhau về với tổ tiên. Công việc cứ ồn ã cuốn đi
theo guồng quay của thời gian, ngoái đầu nhìn lại đã sắp đến lúc phải nghỉ, nhường
công việc cho thế hệ kế tiếp. Nhưng ngày tết đến, xuân về lòng không khỏi nôn nao
nhớ quê, nhớ một thời trai trẻ cùng cha mẹ và em gái chuẩn bị tết. Nhà sáu anh
chị em, nhưng bao năm rồi chỉ có hai anh em tôi ăn tết cùng bố mẹ vì các anh chị
lớn, người vào Nam đánh giặc, người lên Hà Giang mang cái chữ cho học sinh vùng
cao. Năm nào rét đậm, trên miền núi phía bắc của tổ quốc học sinh được nghỉ
đông, anh mới về. Đất nước trong thời chiến, nhà tôi lại gần ga Thị Long, nơi bị
bom đạn Mĩ tập trung đánh phá, sự sống và cái chết cách nhau trong gang tấc;
nhưng mấy ngày tết cánh trẻ chúng tôi vẫn vui lắm. Gần tết, các gia đình tranh
thủ tát ao, tát cả hố bom bắt cá ăn tết và trử làm thực phẩm phòng giặc Mĩ ném
bom trở lại.
Tôi vẫn còn nhớ những
ngày ấy, anh em tôi ngồi xem mẹ làm thịt cá, rửa sạch rồi đem lên nướng. Những
con cá lóc to bằng cổ tay tôi được mẹ khứa nhẹ ngang thân ba đường, lấy lạt buộc
cong lại như chữ U, xếp lên vỉ nướng làm bằng mấy que sắt nhỏ đan hình mắt lưới.
Trên bếp than hồng, từng con cá được xếp sát vào nhau. Khi ấy tôi cũng chỉ tò
mò nhưng không dám hỏi vì sao cá lóc (loại to bằng cán dao trở xuống được gọi
như thế, còn loại to hơn một chút người quê tôi gọi cá chuối), lại phải buộc
cho cong thân lại, còn cá rô đồng để nguyên con xếp lên dàn nướng; riêng cá diếc,
mẹ lấy cây trúc chẻ đôi, kẹp cá vào giữa dựng bên cạnh bếp. Những con cá trên vỉ
nướng, thỉnh thoảng nhỏ xuống than hồng một giọt nước vang lên tiếng “xèo” làm
hương thơm ngào ngạt bay lên, anh em tôi hít hà… thoải mái, mẹ không cấm! Cá nướng
vừa chín, da cá chỉ hơi vàng một chút là mang ra xếp vào nồi đất, rắc thêm một
ít lát gừng, đổ nước mắm cáy vào, đem đun nhỏ lửa, khoảng ba mươi phút là được.
Nồi cá đun chín được mẹ đặt vào một chiếc quang làm bằng tre, treo lên gác bếp
để ăn trong ba bữa ngày tết và có khi ăn cả qua tháng giêng. Cái lạ là tuy cá để
lâu như vậy mà không bị hư hỏng gì; cho đến tận bây giờ tôi vẫn không lý giải nổi
vì sao. Có người bảo chắc tại kho bằng nước mắm cáy!
Nhắc đến nước mắm
cáy, một đặc sản của vùng dân quê sống cạnh sông Thị Long, con sông có nước
không mặn nhưng cũng không ngọt nên được gọi là nước lợ. Có lẽ vì nước như thế
nên sinh ra con cáy cùng họ với cua đồng, nhưng nhỏ hơn, thân chỉ to bằng ngón
chân cái là cùng, mai gần như hình vuông, có viền màu đỏ, còn 8 cái chân của nó
màu hồng hoặc nâu vàng, nhiều lông trông rất đáng sợ. Mùa nước lên người ta
mang dặm đi bắt, thường mỗi buổi đi như vậy bắt được chừng hai hoặc ba giỏ, mỗi
giỏ nặng khoảng 5 hoặc 6kg. Cáy mang về đổ ra rổ rửa sạch, bỏ vào cối giã nhỏ,
trộn thêm ít muối hạt rồi đổ vào vại lấy vải màn che miệng, buộc kín để ruồi nhặng
không vào rồi đem phơi nắng, khoảng một tháng là chín. Khi mắm chín, người ta đổ
thêm nước muối đun sôi để nguội vào, vắt bỏ bả còn lại nước. Nước lắng ra khoảng
một tiếng phần nước trong nổi lên, chắt ra làm nước mắm; còn phần đặc hơn lắng
xuống phía dưới được gọi mắm cáy, dùng chấm cà muối hoặc rau quả luộc thì ngon
tuyệt. Ba bữa ngày tết có thịt lợn luộc chấm mắm cáy thì không gì ngon bằng.
Cây cải mào gà quê
tôi, lá có đường viền xoăn như mào gà, phía gân gần cuối tàu lá màu tím; nếu
chăm sóc tốt, cây cao tới nửa mét, lá to hơn hai bàn tay người lớn xòe ra; khi
nấu canh phải chọn lá bánh tẻ, dùng dao nhọn cắt từng lá một ra khỏi thân cây,
rửa sạch, rọc bỏ cuống lá, thải mỏng vừa phải, chờ nước sôi đều mới thả rau
vào. Chiều ba mươi tết, bao giờ nhà tôi cũng làm món canh rau cải đặc biệt: mẹ
bắt một con cá chuối nhốt sẵn trong vại từ mấy hôm trước, dùng cành tre xuyên từ
miệng vào bụng rồi đưa vào bếp, dùng rơm đốt cho cháy lớp vảy bên ngoài. Khi
con cá cháy đen mới mang ra vừa thổi, vừa bóc lớp da cháy bỏ đi để lộ thớ thịt
trắng ngần; gỡ thịt cho vào nồi canh rau cải mào gà đang sôi, trộn đều, bắc xuống
bỏ thêm ít gừng giã nát, thế là có nồi canh rất tuyệt, vị đậm đà.
Một cơn gió lạnh lại ào đến, tôi bước ra cửa sổ
ngắm thành phố đã lên đèn. Buôn Ma Thuột vẫn vậy, dòng người tấp nập ngược xuôi
dù năm nay rét hơn mọi năm. Bên các quán cà phê với những bóng đèn xanh đỏ nhấp
nháy, vẫn đông người ngồi nhâm nhi đếm ngược thời gian. Tết đến vẫn có người bận
bịu với công việc thường nhật, nhưng vẫn có người thanh thản đợi chờ… Nhưng chắc
chắn trong lòng của ai đó cũng đang thấp thỏm nỗi nhớ quê như tôi, vì một lẽ đã
lâu chưa về.
Chú thích ảnh: Con gái, con rể và cháu ngoại mừng ông.
Chú thích ảnh: Con gái, con rể và cháu ngoại mừng ông.








