Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

ĐÔI ĐIỀU VỀ NHÀ GIÁO, NHÀ VĂN TRÚC HOÀI ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 279 - tháng 11 năm 2015

NHAØ VAÊN TRUÙC HOAØI



Sáng ngày 01 tháng 9 năm 2015, tại hội trường Tỉnh ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị Tổng kết năm học 2014 – 2015, triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm học 2015 – 2016. Tham dự hội nghị có lãnh đạo UBND tỉnh các cơ quan ban ngành của tỉnh, các thầy cô giáo là cán bộ quản lý và giáo viên xuất sắc của ngành.
      Tại Hội nghị, các đại biểu rất thú vị khi nhận được túi quà “đặc biệt - bất ngờ”, đó là cuốn tiểu thuyết “Từ sông Krông Bông” của tác giả Trúc Hoài, dày gần 700 trang, in giấy tốt, được Nhà xuất bản Công an nhân dân tái bản lần thứ hai năm 2015. Đây là cuốn tiểu thuyết viết về vùng căn cứ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ ở huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk mà tác giả nguyên là một nhà giáo, một cán bộ quản lý của ngành: Thầy Nguyễn Trúc. Nhiều đại biểu khi cầm tập tiểu thuyết trên tay, khuôn mặt rạng rỡ, reo lên:
- Sách của thầy Trúc!
- Ngày trước mình là học trò của thầy đấy!
- Tuyệt quá, thầy mình viết cả một cuốn tiểu thuyết dày nhé!
Nhiều người trầm trồ thán phục và cũng nhiều người được dịp thông báo với bạn bè xung quanh, mình từng được là học trò của thầy - tác giả của tập tiểu thuyết được dùng làm quà tặng Hội nghị hôm nay. Tiểu thuyết “Từ sông Krông Bông” được UBND tỉnh đặt mua 2000 cuốn nhân ngày lễ 10 tháng 3 năm 2015, và Tỉnh ủy đặt mua 500 tập phục vụ Đại hội Tỉnh đảng bộ Đăk Lắk vào tháng 10 năm 2015.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước nhà thống nhất, Nam Bắc một nhà, cả nước bắt tay xây dựng lại non sông đất nước từ đống tro tàn của cuộc chiến tranh tàn khốc do bom đạn của đế quốc Mĩ tàn phá. Nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh lại bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch; bọn phản động trong và ngoài nước liên tiếp gây rối, rồi chiến tranh biên giới nổ ra… Tất cả những khó khăn ấy từng bước được hóa giải dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng; nhân dân ta vừa chắc tay súng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc vừa tiến hành xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa giáo dục, góp phần ổn định xã hội. Trong những ngày đầu khó khăn ấy, những người vừa bước từ trong rừng ra, trên mình còn vương mùi thuốc súng đã phải gánh trọng trách xây dựng nền giáo dục tỉnh Đắk Lắk đi lên từ con số không. Những người được phân công gánh vác trọng trách nặng nề này khi đó là thầy Nguyễn Ái đảm đeuơng chức vụ Trưởng ty và thầy Nguyễn Trúc – người đồng chí từng có những năm chiến đấu gian khổ chống Mĩ ở khu căn cứ H9 – huyện Krông Bông là một cộng sự tích cực.
Nhà giáo Nguyễn Trúc sinh ra trên mảnh đất nổi tiếng thượng võ: Xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Năm 1955, khi chưa tròn 13 tuổi được tổ chức bố trí đưa ra miền Bắc học tại các trường học sinh miền Nam rồi vào trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Sau khi tốt nghiệp đại học, chàng sinh viên trẻ Nguyễn Trúc tình nguyện vào Nam chiến đấu và mong muốn được mang kiến thức khoa học được đào tạo chính quy ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa truyền lại cho đồng bào, đồng chí ở miền Nam. Sau bốn tháng mười sáu ngày hành quân xuyên dãy Trường Sơn, Nguyễn Trúc đến mảnh đất Đắk Lắk, được tổ chức phân công về làm phóng viên chiến trường. Trong chiến tranh ác liệt, người phóng viên dũng cảm ấy luôn mang trong lòng ngọn lửa đam mê văn chương với trái tim nhân hậu nồng nàn cảm xúc nên ngoài các tác phẩm báo chí, thầy còn sáng tác thơ, truyện ngắn khắc họa con người, sự việc, cảnh vật thời chiến với cách nhìn  lạc quan yêu đời thấm đẫm tình người.
Sau chiến tranh, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng, đây là lúc nhà quản lý giáo dục Nguyễn Trúc mang kiến thức được đào tạo cơ bản ở trường đại học áp dụng vào thực tiễn, góp phần đào tạo con người “Vừa hồng, vừa chuyên” trên vùng đất. Đắk Lắk lúc ấy là một tỉnh thuần nông, mặt bằng dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng cho giáo dục không đáng kể; lực lượng giáo viên  thiếu trầm trọng. Tuy khó khăn là vậy, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và sự cố gắng quên mình vì công việc của tập thể lãnh đạo Ty Giáo dục, ngành giáo dục Đắk Lắk từng bước khắc phục khó khăn vươn lên đáp ứng được yêu cầu của tổ chức giao, góp phần quan trọng vào công cuộc ổn định xã hội. Đạt được kết quả ấy là công của cả tập thể toàn ngành Giáo dục tỉnh nhà, nhưng có phần đóng góp không nhỏ của người thầy Phó trưởng Ty dày dạn kinh nghiệm Nguyễn Trúc.
Thời gian sau đó, theo sự phân công của tổ chức nhà giáo Nguyễn Trúc được điều động giữ các chức vụ Hiệu Trưởng trường Cao đẳng sư phạm Buôn Ma Thuột, Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh… Dù trên cương vị nào, thầy cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cho đến năm 2003 được nghỉ hưu theo chế độ. Trong những năm còn công tác trong ngành giáo dục, dù bận nhiều việc, nhưng nhà giáo, nhà báo vẫn nặng lòng với sáng tác văn học. Hình như sáng tác văn chương đã thành cái “nghiệp” mà người thầy trót đam mê, theo đuổi… Các tác phẩm sáng tác trong giai đoạn này của thầy đã khắc họa khá đậm nét hình ảnh những con người bình dị, nhưng quả cảm, lạc quan, yêu đời dù phải đối mặt với bao hiểm nguy, gian khổ, mất mát do chiến tranh. Một thời “gian lao mà anh dũng” trong chiến đấu là nguồn cảm hứng vô tận để tác giả đưa vào tác phẩm của mình, thể hiện qua các tập thơ: Nhân chứng một thời (tập thơ in chung), Từ những năm tháng (2 tập); tập truyện ngắn Y Byá, tập nhật ký chiến tranh Vượt dải Trường Sơn và có thơ in trong tập Ngàn năm thơ Việt do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2010. Nhà giáo Nguyễn Trúc cũng là một trong số 45 hội viên sáng lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk tháng 9 năm 1990.
Sau khi được nghỉ hưu, nhà giáo Nguyễn Trúc dành trọn thời gian và tâm huyết vào viết cuốn tiểu thuyết Từ sông Krông Bông” mà theo thầy là viết để trả nợ đồng đội đã ngã xuống trong chiến tranh, trả nợ đồng bào đã cưu mang nuôi dưỡng, trả nợ dòng sông, ngọn núi, cánh rừng… đã chở che cho hàng vạn cán bộ chiến sĩ trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến… Phải qua nhiều năm trời miệt mài ngày đêm thầy đã có tập bản thảo hơn ngàn trang A4 và thêm gần hai năm chỉnh sửa tác phẩm mới hoàn thành. Để có tiểu thuyết “Từ sông Krông Bông”, tác giả phải cóp nhặt tư liệu gần cả cuộc đời và hết sức kiên trì, nghiêm túc trong lao động nghệ thuật.
Trong quá trình sáng tác, những lúc căng thẳng tác giả Trúc Hoài lại lên Hội gặp gỡ, trao đổi với đồng nghiệp, cùng chia sẻ những vấn đề mà mình còn băn khoăn, trăn trở. Khi nói về các chương đã hoàn thành, đôi mắt tác giả long lanh, không giấu nỗi niềm vui xen lẫn tự hào; còn khi đề cập đến chương tiếp theo và dự định cho số phận các nhân vật của mình, nhiều lúc đôi mắt tác giả buồn vời vợi, khuôn mặt khắc khổ thấm đậm nỗi trăn trở. Quanh ấm trà, anh em trong Ban Thường trực Hội chăm chú lắng nghe và chia sẻ những trăn trở về các chi tiết tác phẩm mà tác giả tâm đắc nhất hay còn băn khoăn. Tạp chí Chư Yang Sin cũng đã trích một số chương của tiểu thuyết giới thiệu với bạn đọc khi tác phẩm đang ở giai đoạn bản thảo. Báo Đak Lak đã trích đăng nhiều kỳ khi tác phẩm được ấn hành năm 2012.
Ngày tập tiểu thuyết “Từ sông Krông Bông” in xong, tác giả lên Hội thông báo cho mọi người biết cùng chia vui. Khuôn mặt của người thầy giáo già thật rạng rỡ, ánh mắt như cười không giấu nỗi hạnh phúc khi đứa con tinh thần ra mắt bạn đọc. Bạn bè, đồng nghiệp và cả cơ quan Hội xúm lại chúc mừng, nhưng hình như trong mắt của nhiều vị lãnh đạo Hội cũng rưng rưng… khi nhìn khuôn mặt người thầy giáo – hội viên kính yêu của mình gầy sọm đi nhiều lắm so với cái tuổi ngoài 70. Như đoán được suy nghĩ của các vị trong Thường trực Hội – mà nhiều người nguyên là học trò cũ của mình, nhà văn Trúc Hoài tâm sự: có tác phẩm hoàn thành và ra mắt bạn đọc thế này là mình mãn nguyện lắm rồi, vất vả một chút cũng không sao. Sắp tới mình sẽ viết tiếp tác phẩm mới vẫn về đề tài chiến tranh cách mạng, về mảnh đất Đắk Lắk; các cậu biết không, quỹ thời gian của mình không còn nhiều nên phải cố gắng thôi…
Xin chúc nhà giáo, nhà văn Trúc Hoài thực hiện được ước mơ của mình, sẽ tiếp tục cho ra mắt bạn đọc những tác phẩm mới góp phần khẳng định bản sắc văn hóa của một vùng đất, ý chí vươn lên của con người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh để đạt được ước muốn của mình. Chúng ta chờ và hy vọng.

Mùa mưa 2015





BẾ MẠC TRẠI SÁNG TÁC VHNT KRÔNG BÔNG NĂM 2015

Nhà văn Hồng Chiến - Phó chủ tịch thường trực Hội báo cáo tổng kết Trại.

Nhà văn Khôi Nguyên - Chủ tịch Hội (bên phải ảnh) tặng quà lưu niệm cho UBND huyện Krông Bông.

Tại viên chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo huyện Krông Bông





Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 279 - THÁNG 11 NĂM 2015








GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 278 - tác giả THANH VÂN






 Tác giả THANH VÂN

MẤY CẢM NHÂN VỀ TIẾNG ĐÀN KHUYẾT




Tập truyện ngắn Tiếng đàn khuyết (Nhà xất bản Lao Động, năm 2015) của Nguyễn Anh Đào đã chinh phục độc giả bằng những cốt truyện hấp dẫn, đọc xong còn đọng mãi trong tâm thức của mỗi người. Nguyễn Anh Đào đã dành trọn tình cảm yêu thương, hóa thân vào nhân vật, đau cùng nỗi đau của nhân vật; từ đó lan tỏa trên trang viết một tấm lòng nhân ái của người phụ nữ cầm bút.
Tiếng đàn khuyết là tên truyện làm đầu đề của tập sách gồm 15 truyện ngắn. Các cốt truyện đều được xây dựng chặt chẽ với sự triển khai sự kiện, tình tiết khá logic. Ở từng tác phẩm, tác giả đã viết bằng những rung động, những cảm xúc của trái tim trước những số phận người phụ nữ mà đâu đó chúng ta gặp trên đường đời. Đó là hình ảnh những người phụ nữ luôn trăn trở trong sự kiếm tìm hạnh phúc, kiếm tìm một tình yêu đích thực, một mái ấm bình yên. Nhưng cố gắng đến đâu thì sự kiếm tìm hạnh phúc đối với họ cũng giống như vớt trăng dưới đáy ao, luôn là ảo ảnh xa vời, nên họ luôn rơi vào bi kịch; thân phận người phụ nữ được hiện lên với tất cả sự chông chênh mềm yếu. Những tình cảnh trái ngang của họ như tiếng nấc ai oán dội vào tâm can độc giả. Phải chăng vì Nguyễn Anh Đào là phụ nữ thấu hiểu hơn những thiệt thòi của người cùng giới nên trang văn của chị thấm đẫm tình người, tình đời.
Bằng sự cảm nhận tinh tế, sự quan sát tỉ mỉ cuộc sống,với lối khám phá hiện thực theo cách của riêng mình, chị đã tạo nên một bức tranh nhiều màu, nhiều vẻ về thân phận người phụ nữ. Truyện “Tiếng đàn khuyết” gợi lên sự không tròn trịa của số phận. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, tác giả cho người đọc thưởng thức bản tình ca về tình yêu. Truyện kể về một cô gái được một chàng trai yêu hết mình nhưng cô lại dành tình cảm sâu đậm cho người con trai khác, cô luôn ôm ấp trong mình một mối tình đơn phương, khát khao có được hạnh phúc với người mình yêu và sẵn sàng chờ đợi. Bản tình ca này khiến ta liên tưởng đến nhân vật trữ tình trong tác phẩm “Hình tam giác muôn đời” của nhà văn Đan Mạch Tô-ve-đi-to-lep-ven: Trên con đường tôi đi/ Có hai người đã tới/ Một người rất yêu tôi/ Còn tôi yêu người khác/ Người sống trong khao khát/ Trong những giấc tôi mơ/ Người kia đứng sững sờ/ Trước cửa lòng khép chặt…”. Cốt truyện đơn giản nhưng thật sâu sắc, đó là niềm tin vào tình yêu con người. Người phụ nữ luôn khao khát hạnh phúc nên trong cuộc sống vợ chồng, họ thường hi sinh nhẫn nhịn  như nhân vật Vợ (Nhẫn cưới), Nàng (Mơ về phía biển), bà Hai (Cội già), An (Chiếc ví bỏ quên). Họ nhẫn nhịn để giữ gìn mái ấm gia đình, bởi trong những gia đình ấy luôn có những đợt sóng ngầm sẵn sàng dậy sóng nhấn chìm tất cả. Đến với truyện “Nhoẻn miệng và cười”, chúng ta thật sự thương tâm trước cái chết bi thảm của Nương khi đuổi theo bóng của chồng. Người phụ nữ bề ngoài tính cách mạnh mẽ nhưng ẩn sâu trong tâm thức vẫn là một sự yếu đuối rất đàn bà (Trước sân tòa án). Bi kịch của người đàn bà hiếm muộn bị chồng ruồng rẫy trong truyện Trứng khóc “Cuộc đời chị, chưa bao giờ đắng cay hơn, ông trời bất công không cho chị một đứa con”. Chị không có con nên tình cảm chồng và gia đình chồng dành cho chị nguội lạnh như một đống tro tàn trong đêm đông và chị đã cố níu kéo bằng cách “Chị đã làm vợ hiền dâu thảo, chị đã cắn răng nhịn nhục, chị đã vâng lời mọi ý muốn của chồng và cha mẹ chồng, chị làm hết rồi, chỉ để mong giữ được tình yêu trong trái tim đã nguội lạnh của chồng”. Thế nhưng chị chỉ nhận được sự “vứt bỏ và chà đạp suốt nhiều năm qua, người ta có hối hận đâu”. Nên chị đã chọn cách mang thai giả “Mang thai đi đã, mặc áo bầu đi đã, được ngang nhiên đi lại trong nhà đi đã… Ừ, tới đâu hay tới đó. Chín tháng! Chín tháng đủ dài để nghĩ ra những gì cần phải làm tiếp theo…”. Cái kết đau thương chị đã điên dại khi bị chồng bỏ rơi và giấc mơ làm mẹ không thành. Hình ảnh người mẹ cô đơn vò võ khi bóng đã xế chiều mặc dù bà có tới sáu người con (Những cuộc chia ly).
Trong “Tiếng đàn khuyết”, chúng ta thấy một điều dù sống bất hạnh, khổ đau nhưng những nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Anh Đào, tâm hồn luôn tỏa ánh sáng lấp lánh, trái tim đầy cao thượng, vị tha, đôn hậu và thủy chung. Thụ chung thủy với mối tình đơn phương trong suốt mấy mươi năm “Thụ quỳ dưới chân Chúa, xin Ngài hãy chỉ đường cho con, hãy cho con biết Kha đang ở đâu? Chúa im lặng. Thụ tự đi tìm. Phải vậy thôi, nếu Chúa không chỉ đường thì Thụ phải tự đi tìm, còn ai khác để chỉ đường cho Thụ? Nếu giờ còn sống, Kha đã thành người đàn ông hơn bảy mươi tuổi” (Dưới tháp chuông nhà thờ). Bà Hai (Cội già) khoan dung khi nuôi hai đứa con riêng cho chồng “Bà như ngọn đèn leo lét, lay lắt ngồi đợi chờ. Gần hai mươi năm, vẫn chưa đủ cho những cuộc rong chơi của ông. Ngoài hai đứa trẻ ông mang về cho bà, còn bao nhiêu đứa trẻ nữa mà ông đã tạo ra, ông đã làm khổ bao nhiêu đàn bà? Cái nghiệp của ông, sao ông gánh nổi”. Qua đó ta thấy bất hạnh không chỉ đeo bám bà Hai mà cái khổ, cái bất hạnh còn đến với những người đàn bà khác do chồng bà mang lại. Điều đáng nói ở đây bà Hai không chỉ nghĩ đến vết thương lòng của mình mà bà còn thương cho những người đàn bà bất hạnh khác do chồng bà tạo ra.
Mỗi truyện là một cảnh đời, một số phận, một nỗi niềm hay là một thông điệp mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc. Đó là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp người đọc thấy được bản chất của hiện tượng, nguyên nhân dẫn đến những bất hạnh của người phụ nữ.
Sau Ngày em làm người lớn (NXB Kim Đồng – 2007), Chỉ cần em biết khóc (NXB Văn hóa-Văn nghệ – 2012), Tiếng đàn khuyết là tập truyện thứ 3 của Nguyễn Anh Đào. Tập truyện được NXB Lao động đầu tư toàn bộ kinh phí in ấn và bao tiêu phát hành, được đông đảo bạn đọc đón nhận nhiệt thành. Đây là một thành công mới của Nguyễn Anh Đào. Hy vọng với bút lực đang căng tràn, Nguyễn Anh Đào sẽ đem đến cho bạn đọc nhiều tác phẩm hay hơn nữa và từng bước khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn cả nước.








Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 278 - tác giả VŨ THỊ HUYỀN TRANG




CHỈ THẤY MÂY TRỜI…
Truyện ngắn


Bà già ngồi im lặng như một thân cây, chỉ thấy mái đầu lơ thơ gió. Mắt bà thả mông lung về phía cánh đồng trước nhà. Đồng mùa này trơ rạ, lũ cào cào đạp cẳng xác xơ. Mấy con bò tha thẩn gặm cỏ bờ, thỉnh thoảng lại rống gọi đàn ầm ĩ. Đồng rộng như một sân khấu lớn, không ảm đạm cũng chẳng tươi vui. Kế bên đồng là con đường bê tông khấp khểnh. Thỉnh thoảng lại có một chiếc xe xuất hiện hoặc thong thả trôi, hoặc rồ ga phóng nhanh như một con bọ ngựa hiếu chiến. Ai sống lâu ở quê sẽ thấy chán ngán cái khung cảnh đơn điệu này đến mức người ta chỉ muốn căng cựa để đi. Một hôm nào đó cái My đứng ngoẹo cổ ngó thật lâu nhìn thật sâu vào mắt bà già rồi nó chợt ồ lên một tiếng. “Tưởng bà nhìn gì đó hay ho lắm chứ, hoa ra chỉ một đống mây trời. Vậy mà ngày nào cũng thấy bà chăm chú. Kỳ quá mẹ ha!”. Mẹ nó không nói gì vì đang mải nhìn chằm chằm vào cuốn sổ chi tiêu. Tính đi tính lại một hồi vẫn thiếu đâu nửa triệu. Không lẽ đánh rơi đâu đó? Làm gì có chuyện, mẹ nó có thể làm rơi bất cứ vật gì xuống đất chứ tiền thì không thể. Bao nhiêu khoản chi tiêu của cả gia đình sáu miệng ăn chỉ trông chờ vào hơn triệu bạc. Nghĩ sao mà bảo làm rơi…
Hàng ngày My ở nhà trông bà. Chẳng biết ai trông ai vì thoắt cái đã thấy My nhảy phóc qua rặng rào rồi lủi nhanh khuất bóng sau những tán cây bên vườn hàng xóm. Nó mải chơi que mốt que mai đến khi nghe thấy tiếng gậy đập cột kêu cồm cộp thì ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Bà gọi, bằng tiếng của những vật vô tri. My nhìn là biết ngay bà cần gì chứ người khác nhìn có khi cứ phải “đuổi hình bắt chữ” chán chê mê mỏi. Nếu bà vỗ bàn tay xuống ngay cạnh bên tức là bà muốn My quanh quẩn gần bà. Tay ôm bụng là bà cần đi vệ sinh. Lúc nào bà vòng tay đấm lưng tức là bà cần nằm nghỉ. Nhưng My chưa bao giờ thấy bà kêu đói. Chỉ thỉnh thoảng thấy bà ngẩng lên trời, miệng há ra hớp không khí như loài cá hớp oxi. Nhiều lúc My nghĩ hay là bà đã ăn những đám mây. Bà cắn mỗi hình hài bồng bềnh ấy một miếng rồi bỏ mặc chúng tan ra như khói. Ngoài những đám mây biết biến hình thì không có gì an ủi My mỗi lúc phải ngồi yên một chỗ. Chán ngán đến buồn ngủ, sập mi xuống và mơ về những chuyến đi thú vị. Những chuyến đi thường chỉ có trong câu chuyện của cái Thắm nhà bên. Mỗi hè nó được xuống phố chơi cả tuần rồi ôm về cả đống chuyện bất ngờ. Mà mỗi lần My và bọn bạn muốn nghe đều phải cho nó một món đồ nào đó làm quà. Thắm tự nhận mình là người kinh doanh những điều lý thú.
- Tụi trẻ con thành phố chúng đi trên đường phố bằng những chiếc giày được gắn bánh xe. Tưởng tượng mà xem các cậu ấy có thể đi bằng vận tốc của gió.
- Chỉ là những chiếc giày có gắn bánh xe thôi ư? Có khó gì đâu, chúng ta có thể lắp thêm những chiếc bánh xe vào những đôi giày.
- Thôi bỏ đi. Có lắp thì cũng chẳng thể di chuyển trên con đường khấp khểnh này.
Con đường làm tắt ngóm dự định táo bạo của lũ trẻ ấy chính là công trình bê tông hóa đầu tiên trong xã. Hồi thi công nó dân làng thi nhau rút ruột. Nhà thì xin vài xe sỏi rải xuống thềm giếng đỡ trơn. Người xin bao xi măng làm lại nền chuồng bò cho khô ráo, mùa mưa đỡ cực. Đêm đến tiếng người hùng hục xúc cát, bình bịch bê vác khuất sau những cánh cổng mịt mùng bóng tối. Đến khi làm xong đường thì khe co giãn có những chỗ to như cái cổ tay người lớn. Xe đạp đi đêm chẳng may lọt xuống đó thì người chỉ có ngã bổ chỏng xuống đường. Đến mùa mưa dưới kẽ hở mọc lên toàn lúa và đỗ tương như tấm rào phân cách chia đôi làn đường. Cái Thắm nói đường dưới phố láng mịn và rộng như một thửa ruộng. Con Thắm kể xong còn chống cằm hỏi “ở quê mình đất đai rộng mênh mông mà sao những con đường cứ bé xíu vậy trời?” Cái My không nói gì vì nó đang mải nghĩ ở làng này làm quái gì có tàu mà sao mấy ngày nay bà cứ lẩm bẩm mãi “tàu dạo này về muộn quá”. Hay là những con tàu bằng mây? Xứ này không có gì bí ẩn, kỳ diệu và cũng mộc mạc như mây.
* * *
Bà già ngồi đó, thực ra mắt có hướng đi đâu cũng sẽ chạm mặt đất vì chiếc lưng gù. Chỉ có những chuyến đi bằng tâm tưởng là không ai ngăn nổi. Trong hình hài xù xì già nua của một thân cây luôn lấp lánh cả trăm mùa hoa thơm, trái ngọt. Nên thỉnh thoảng có một đứa trẻ nào đó chạy ra từ hình hài của bà già. Mặc bộ quần áo gụ cứng queo, tóc buông ngang vai, trèo thoăn thoắt lên cây bàng ở sân ga ngó xem tàu đã về đến đâu. Tàu đi nhanh khủng khiếp, nhiều khi nhìn tít hút phía xa mà con nhỏ vừa tụt được xuống đất thì đoàn tàu đã chầm chậm dừng ngay trước mặt. Mắt con nhỏ dán vào những toa tàu, bao khuôn mặt xa lạ mang đến dấu vết của nhiều vùng đất tươi mới. Có người mặc áo lụa, chỉ cần chạm bằng mắt cũng đã thấy mềm êm mát lạnh. Nên hẳn là họ thuộc về một thế giới giàu sang. Có người ôm theo cả đống hàng hóa bên mình, họ chắc hẳn vừa đến từ một nơi đông đúc. Có những đứa trẻ bằng tuổi con nhỏ đang háo hức nhìn ra ngoài và vẫy tay với nó. Những cái vẫy tay ấy như mở ra một thế giới đầy thú vị. Rằng chỉ cần bước lên tàu và trôi đi là nó sẽ thoát khỏi mảnh đất buồn bã và đói nghèo này. Ngày qua ngày tiếng còi tàu thôi thúc nó bằng thứ âm thanh kỳ diệu. Một con bé không cha không mẹ, cũng chẳng có anh em thân thích. Thử hỏi lấy gì để níu chân nó khỏi sức hút từ những chuyến tàu? Một buổi chiều mùa thu từng đám mây đỏ quạch kéo về giăng mắc khắp đỉnh trời. Con bé mười tuổi đang xay lúa cho nhà chủ liền bỏ đó, lững thững đi theo những đám mây. Chân đưa bước ra tận sân ga, nắng cuối ngày như mật cạn. Loang lổ vàng, co cụm từng vũng nắng sóng sánh. Nó giẫm lên thảm nắng đi theo những cánh tay nhỏ xíu rồi khuất bóng trong một toa tàu nào đó. Lúc tàu chạy con nhỏ ngoái nhìn lại chỉ thấy lác đác lá bàng rơi trên sân ga buồn bã. Những đám mây đỏ quạch trôi tít phía chân trời.
Con nhỏ ấy không một lần thăm lại mảnh đất xưa. Dù nó đã chọn những chuyến tàu làm nhà và nghề buôn thuốc bắc làm kế sinh nhai. Trong những lần đi lấy hàng tàu từng nhiều lần dừng lại ở sân ga đó. Nhưng không bao giờ nó bước xuống mà chỉ ngồi yên đó và ngắm lại mình trong ký ức. Một con bé hau hau nhìn những chuyến tàu đứng đơn độc và buồn rầu tội nghiệp. Con bé ấy giờ mới biết thực ra chẳng có mảnh đất nào tươi đẹp như cổ tích. Đâu cũng là mưu sinh nhọc nhằn và vùng trời nào cũng đơn điệu thế thôi. Khi nhận ra điều đó con bé thấy mình như đánh mất báu vật đáng quý nhất trên đời. Thứ báu vật mà chỉ tuổi thơ mới có quyền cất giữ. Đó là sự thích thú, tò mò được khám phá cuộc đời tươi đẹp. Giờ lòng nó trống trải, rải đầy những đám mây trắng xốp. Tay nó giờ chỉ thích đếm tiền, mắt nó nhìn sổ sách. Đời chẳng thể ăn mây uống gió nên chuyến đi đầu đời của nó bị tắt ngóm sự hứng khởi chỉ trong vòng một ngày. Khi cái bụng trống rỗng đói ăn kêu ùng ục. Khi cổ khát khô và mắt díp lại thèm một chỗ ngả lưng. Nó mới nhận ra không có tiền thì chẳng có đâu tươi đẹp. Mà một khi đã có tiền thì chỗ nào cũng sẽ trở nên tươi đẹp hết. Những đứa trẻ khác vì sao vẫn giữ trọn vẹn niềm vui trong suốt hành trình dài? Ấy là vì chúng không phải lo đến miếng cơm manh áo. Tiếng sôi bụng đã át đi cả mùi hương hoa bên đường, cả những sắc màu lung linh khác. Những chuyến tàu không phải để chở niềm mơ ước nữa mà chở nặng những phận người vất vả mưu sinh.
Con nhỏ năm nào đã trở thành mẹ, thành vợ, thành người đàn bà phải học vun vén tứ bề. Đã thôi bước chân lên tàu nhưng nghiệp con buôn vẫn đeo đẳng mãi. Khi biết yêu thương là bắt đầu biết dừng lại, dựng một căn nhà và nghĩ đến những đứa con. Bắt đầu thôi không nhìn xa xôi. Mắt lúc nào cũng chỉ nhìn xuống dưới chân, nhìn quanh quẩn cửa nhà hoặc nhìn vào cuốn sổ chi chít những con số nhì nhằng. Thỉnh thoảng có ai đó hỏi quê ở đâu? Là giật mình không biết trả lời sao. Người đàn bà bỗng nhiên nhớ tới sân ga đầu tiên của đời mình, nhớ đến những đám mây đỏ quạch. Và lòng thì tự hỏi liệu đấy có phải là quê hương? Rồi cũng không có thời gian để tìm câu trả lời. Con ốm, chồng đau, chum gạo cạn đáy, bố mẹ chồng sống nhờ cậy thuốc thang. Định dừng chân để sống bình yên nhưng không ngờ cuộc đời có quá nhiều giông bão. Mà một khi người đàn bà đã có gia đình thì đừng hòng trốn chạy. Luôn có thứ gì đó níu lại, nặng chình chịch đến nỗi không thể cất nổi chân.
Giờ bà già ngồi đó. Thấp thoáng trong dáng ngồi còng lưng ấy là hình ảnh một đứa nhỏ và một người đàn bà cứ đi qua đi lại. Chiều nay cái My hỏi “tàu đã về chưa bà?”. Bà cụ bỗng giật mình khi nghe thấy tiếng còi tàu hú vang trong quá khứ. Nó mang nặng những toa tàu ký ức hăm hở, rền rĩ, câm lặng xình xịch trôi qua. Sân ga cũ không biết mùa này lá có còn rơi? Liệu những đám mây ở nơi ấy có khác hình hài với khoảng trời nơi bà già đang ngồi? Nếu được trở lại đó một lần liệu bà già có thấy bớt nhớ nhung? Hay bất cứ mảnh đất nào cũng chỉ đẹp khi tồn tại mơ hồ. Khi ta không thể đặt chân đến cũng không thể quay trở lại. Tựa như ăn một miếng bánh bằng mắt và óc tưởng tượng bao giờ cũng ngon hơn là chạm vào môi. Mà càng già càng chỉ thích nhìn từ xa. Như khi ngồi trên thềm nhìn con đường trước nhà với tấm phân cách mềm mịn màu xanh của mạ non, mầm đỗ tương hay những hạt ngô mới nhú khiến bà già còn thấy nó thơ mộng, còn yêu được mảnh đất nơi mình ngồi. Còn cái My thì mải nghĩ đến những con đường có thể trôi băng băng cùng chiếc giày có gắn bánh xe. Mẹ con bé thì đang mải tính xem buổi chợ cá sáng nay lỗ lãi thế nào. Trên người đàn bà ấy còn tanh nồng mùi cá và nước thì đang chảy tong tỏng từ chiếc áo mồi.

Đoàn tàu đi qua rồi bà già vòng tay ra sau đấm lưng. My chạy lại đỡ bà đi nghỉ. Trên cánh đồng chỉ bạc một màu rạ khô rạc. Còn những đám mây trên trời vẫn chầm chậm trôi đi…

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 278 - tác giả BĂNG KHUÊ





SÂN GA U BUỒN
Truyện ngắn



Những sân ga đặc quánh mờ hơi nước, chìm vào màn sương dày trong mắt của đôi bạn trẻ. Tôi biết, họ không hề thích dừng chân nơi này chỉ để đếm những kí tự cũ rích, đọc những luồng thông tin châm chích, bị lèo lái bởi một bọn nào đó đứng ở phía sau sân ga. Họ từng bảo rằng: “Chúng tôi sẽ rời khỏi nơi đây. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn để chứng kiến những chuyến tàu chạy lùi về quá khứ”. Rồi, phân trần, thanh minh, độc thoại giữa đêm với bóng tối: “Chúng tôi, dự định thế. Và, sẽ lên một chuyến tàu mùa hè. Đi mãi, trốn chạy mãi. Chúng tôi mong muốn được nhìn thấy mùa thu, nhưng hóa ra, mùa thu thường thích chơi trò ẩn nấp”.
Cuối cùng, họ đã công nhận điều đó. Sự trốn chạy của những người trẻ tuổi. Sân ga này quá u buồn. Sân ga này quá cũ kĩ nhàm chán. Những đôi chân quen đi, quen di chuyển và quen trốn chạy. Họ sẽ không bao giờ chịu dừng ở bất cứ một sân ga nào. Tôi biết thế. Tôi vẫn mong chờ họ thay đổi quyết định rời khỏi tôi. Tôi cô đơn như một chuyến tàu không có điểm dừng cụ thể.
Chúng tôi đã lên đó, trên một chuyến tàu không có ghế đệm. Quan trọng gì cái ghế đệm và máy điều hòa. Chúng tôi nóng lòng nghĩ về việc cần phải rời bước khỏi nơi đây nhiều hơn. Ngay hôm nay. Cho dù, chúng tôi sẽ bị người ta xách mé rằng, chúng tôi thật vô tích sự, chỉ biết buộc dây giày để bắt đầu chạy trốn. Những chuyến tàu vẫn đều đều vô định trôi trên nhịp đường sắt và tiếp tục lao đi vun vút rồi rơi xuống trong một khối thanh âm kì lạ ở phía sau lưng. Tất cả những chiếc áo khoác không cài khuy sẽ bay phần phật giữa sân ga đầy gió. Những đôi bàn chân, những cái đầu đủ đầy mắt mũi đã rời đi, chỉ để lại những chiếc áo khoác trống rỗng đến sầu thảm. Sân ga u buồn.
Rõ ràng chúng tôi đã rời khỏi nơi đây. Trên một chuyến tàu mùa hè. Cái sân ga ấy, vừa mới đây thôi, quen thuộc lắm. Cái sân ga u buồn. Hình như chúng tôi đã đi vòng tròn. Quanh một con đường thì phải. Từ nhà đến ga, chúng tôi phải đi qua một chiếc cầu ở ngã đường khác, nếu không, có thể đi đường chính rộng lớn hơn. Tôi đã thấy dòng chữ điện màu lấp lánh trên cái bảng thông báo giờ tàu chạy để rời khỏi nơi đây. Nhưng, kì lạ thật. Chúng tôi vẫn dậm chân tại chỗ, ngay tại sân ga.
Cái ga ấy vẫn không chịu rời đi, không chịu di dời khỏi mắt tôi trong đêm tối. Vỉa hè trống hoác những miền cũ kĩ đã ém màu rêu dính chặt vào bức tường vôi bợt bạt. Trong ánh điện mờ ảo, chúng quả thực rất quen thuộc đối với tôi. Người bạn đồng hành vừa dừng lại dăm ba phút. Anh ta đái xuống hố. Cái hố để trồng cây, đã bị ai đó đào xới không còn một manh rễ mọn. Tôi nhíu mày nhìn về phía ánh điện màu trong đêm tối. Giờ tàu chạy không hề thay đổi. Nhưng, tuyệt nhiên chẳng nghe một lời thông báo nào về việc chuyến tàu sẽ đón chúng tôi vào đúng chín giờ ba mươi phút. Hoặc, có thể nó sẽ không đến nữa. Những chuyến tàu không bao giờ đến. Những đường ray không bao giờ kêu răng rắc trong gió như tôi hằng mong đợi.
Bên vỉa hè. Gần sân ga. Chúng tôi, một cặp đơn lẻ đang cố gắng tìm điều gì đó xảy ra ở nơi này. Tiếng còi tàu không hú lên. Tiếng loa báo giờ tàu chạy im thin thít. Tôi ngước mắt nhìn sang người bạn đồng hành, bất giác thấy anh đang cúi đầu xuống đất. Mũi giày của anh di di qua lại, tạo thành một góc bốn mươi lăm độ. Chúng tôi vẫn chưa hề bước lên tàu. Và, cũng chẳng có một con tàu nào rời khỏi sân ga. Những người trẻ chưa hề bước lên tàu bao giờ. Họ đang cúi đầu xuống cùng một lúc với tôi và sau đó ngước nhìn về phía ánh đèn màu u tối. Lặng yên, không một lời nói. Có lẽ cũng đã đến lúc họ không cần chạy trốn nữa.
Những sân ga luôn luôn đặc kín sự u uẩn của nhiều thế hệ. Một chùm ảnh đen trắng từ lâu lắm nổi bật trên màn hình quảng cáo tại nơi chờ đợi, khiến người ta thảng thốt và mong nhớ về thứ ảo diệu một thời đã bị băm xẻ từ trong kí ức xa xưa. Tôi ghét thứ cảm giác bấu víu vào quá khứ. Tôi đã cố tình rời bỏ những sân ga. Nhưng, cuối cùng, ngày hôm qua tôi lại quyết định rời khỏi nhà, để đến phòng vé. Có thể, chỉ ở những sân ga, trên các đường ray tôi mới nhận ra được rằng: Tôi đi tìm cái bóng của những người trẻ đã khá lâu. Nhưng, hình như chúng rất giỏi chơi trò ẩn nấp. Dù rằng, tôi đã cố tình leo lên những chuyến tàu, rời khỏi những sân ga đượm màu u ám. Dù rằng, bất kể mùa nắng hay mùa mưa. Hay là, bình yên và bão tố, cái bóng của những người trẻ vẫn tiếp tục chập chờn trong khối ảo ảnh lập lòe như ngọn lửa yếu ớt giữa bầu trời thẳm sâu. Chúng chạy trốn tôi, chạy trốn những con người tội lỗi ở xứ sở này.
Tối hôm qua, tôi đã quyết định bước lên tàu, sau khi chị nhân viên bấm lách cách địa điểm và in dấu đỏ trên cuống vé. Sân ga bây giờ đã thực sự vắng bóng tôi. Vậy mà chuyến tàu vừa rời đi chưa được dăm phút, tôi đã nghe người phát thanh từ loa báo rằng: quý khách đã đến sân ga u buồn. Hóa ra, cái sân ga này chẳng thể phá bỏ được sự níu kéo những người trẻ. Chúng níu lấy đôi chân tôi trong cõi mơ hồ chờ và đợi mòn mỏi như một đứa trẻ ngồi trên mỏm đá cao chót vót ngắm hòn than đỏ hỏn rơi xuống đỉnh núi bạc. Rõ ràng, dưới bầu trời này thường xuyên lấp lánh những cái bóng sầu thảm như ngày tận thế.
Những thanh âm vi vút từ đâu đó vọng lại bên tai tôi. Chẳng phải là tiếng còi tàu, cũng chẳng hề là tiếng gió. Những người trẻ đứng bất động giữa sân ga đã ngẩng mặt nhìn lên và bình minh rời khỏi núi trà trộn vào lòng biển. Tôi và họ rời khỏi sân ga, bắt đầu leo lên một mỏm đá. Dãy núi nằm nghiêng phía sau lung tôi oằn xuống lòng biển xanh một cái bóng khổng lồ, nặng trĩu.


Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 278 - tác giả KHÂM THIÊN


                                    


BỂ HOẠN BAO GIỜ BẰNG LẤP?
Truyện ngắn

“Việc của mỗi người là tưởng tượng nỗi cô đơn của riêng mình và giải nghĩa sự cô đơn đó.”
- Philippe Claudel-


I
Nguyễn Trãi cúi đầu vốc nước rửa mặt, nước mát luồn qua kẽ tay táp lên làm bản thân tỉnh táo trở lại. Ông ngồi xuống phiến đá phủ rêu, giống như một vị sư đang nhập thiền. Áo thô, cơm nhạt, rau lạnh, trà thanh, chìm nổi trong bể hoạn bao năm, cuối cùng cũng đành đánh lừa quay về núi, dắt díu theo cả một bầy đoàn thê nhi yếu đuối. Lòng người lạnh lẽo xiết bao, chỉ duy có non sông vẫn thủy chung như thuở ban đầu.
Thông reo bên tai, suối chảy róc rách, ánh nắng lọt qua tán lá rọi xuống mặt nước soi tỏ từng đàn cá dầu cá bống nhỏ tí ti đang thong dong lượn lờ. Giữa cảnh lâm tuyền, con người đều trở nên nhỏ bé. Nguyễn bỗng nhớ về ngày xa, thời tráng niên hùng khí chẳng mòn, mong khuông phò minh chúa đuổi bọn quỷ Ngô thoát khỏi cương thổ. Với cảnh quần tinh tụ hội lúc bấy giờ, quả thực Nguyễn đã từng cảm thấy mình kém tài. Bạn hữu năm xưa từng cùng nâng chén dưới chân Tản Viên nay đã thay nhau xóa tên mình khỏi sử xanh, kẻ lui về ở ẩn chẳng màng vinh hoa, người bị quyền lực dìm nịch đến chết trong nhục nhã.
Dưới lòng suối, vài chiếc lá xoay tròn, mấy con kiến đen ngơ ngác sang sông. Ừ thì sang sông, cuộc đời con người ai chẳng phải sang sông một lần. Chúng đang đi tìm nhà mới, quê hương mới. Nguyễn bỗng thấy bần thần, nhà, quê hương… Thấp thoáng trong gió mùi đất bụi ải Nam Quan, còn vương đâu đây tiếng cha dặn dò trước lúc bị đem về phương Bắc. Có phải cha cũng từng ngồi trong nhà tù lạnh lẽo, nom ánh sáng leo lét lọt qua vuông cửa bé bằng lòng bàn tay mà trông về cố hương? Cha ơi… Nguyễn cúi đầu, từ trong khóe mi rơi xuống không rõ là máu hay nước mắt? “Con ơi, sự nhạy cảm của con là sự nhạy cảm chết người. Nếu không cẩn thận thì kẻ làm chính trị sẽ lợi dụng con, sẽ sử dụng những suy nghĩ của con để mê hoặc người đời.”
Căn nhà góc thành Nam giờ đang hiu hắt, có nhớ chăng bóng lưng cố hữu ngày đêm ngồi thảo sách lược? Đôi khi Nguyễn Trãi nghĩ, nếu như khi ấy Thái Tổ không đứng lên khởi nghĩa thì ông sẽ ra sao? Hay là mục nát trong chính nỗi khắc khoải bế tắc của mình? Vòng tròn mê cung do ông tự vẽ ra, ông đi luẩn quẩn và không dám thoát khỏi nó. Nguyễn ngồi buồn, thở dài, tiếng thở dài lan đi, vọng đến cả trăm năm sau.
II
Trong vở “Tiễn cha qua ải”, Khôi được đạo diễn cử ra để tái hiện hình ảnh của Nguyễn. Điều này làm anh trăn trở nhiều, nằm trên giường, đã quá nửa đêm mà không thể chợp mắt. Biên kịch viết về nhân vật này quá đỗi cao xa, vĩ đại, hoa mỹ đến vô thực. Trong khi Khôi chỉ thấy ông đáng thương. Nguyễn sinh ra để cô độc, có lẽ ông đã đi tìm mình suốt cả cuộc đời. Vậy mà đến cuối cùng chẳng thu lại được chi.
“Bình sinh vu khoát chân ngô bệnh,
Võ thuật năng y, lão cánh gia.”
Bệnh viển vông theo đuổi cả đời, càng về già càng thêm nặng, trở thành chứng nan y vô phương cứu chữa. Nguyễn nhận ra điều đó mà bất lực.
Ngu trung. – Khôi cay đắng. – Con người ta sao cứ hành khốn trong bể hoạn làm chi? Nếu không có Lê Lợi, Nguyễn sẽ là ai? Hay sẽ tan biến giữa dòng thời gian vô tận? Nguyễn như cây tầm gửi bám víu vào đấng quân vương để tìm cơ hội thực hiện lý tưởng của mình. Ông là một kẻ bị chữ nghĩa chơi khăm, tư tưởng của ông không phù hợp với Lợi.
 Đất nước nghèo mà nhỏ, nhân dân lại đáng sợ. Lợi không tin vào lòng thiện, con người ta chỉ có sự ích kỷ là vượt trội thôi. Thế nên, ông càng căm ghét đám quan văn đầy bụng chữ nghĩa. Nom thì nho nhã, chứ chúng nó đâm mình lúc nào chẳng biết. Ấy vậy, Lợi vẫn phải lợi dụng văn chương, thứ văn chính trị đáng ghê tởm để thâu tóm thiên hạ.
“Người xưa đâu? Mồ đắp cao nay đã sâu thành hào.” – Anh khe khẽ nhẩm lời bài hát cũ ấy.
Cạnh Khôi, Lý trở mình.
- Nhà ta còn gạo không em? – Khôi biết vợ chưa ngủ, bần thần đánh tiếng hỏi.
- Nếu đã không muốn diễn thì cớ chi phải làm hả mình. – Lý cười buồn, ngồi dậy. Nàng vuốt ve ấn đường đang chau chặt của chồng mình.
- Cơm áo gạo tiền đè chết ta. – Khôi vắt tay lên trán, khép mắt thở than. – Suy cho cùng thì cuộc đời mỗi con người đều chỉ là một vai diễn.
Khôi nghĩ đến cái kịch bản đầy những lời thoại có cánh khốn nạn ấy. Chỉ sợ ở nơi xa kia, giả như Nguyễn có nghe được cũng phải cười than cho phận mình. Ông đâu có muốn làm thần thánh, ông chỉ muốn làm một kẻ sỹ bình thường làm cho tròn bổn phận trong lịch sử. Lịch sử, hai chữ chứa đầy nghiệt ngã. Ai đó từng bảo, đã đút tay vào nó thì đừng hòng rút ra.
Nguyễn sinh ra với thân phận bị quỷ ám, ông sinh ra chỉ muốn mình với riêng mình thôi. Cớ sao người ta vẫn cứ đánh động đến nỗi đau xưa, để linh hồn ông không một ngày được ngơi nghỉ?
Thực và giả,
Giả và thực.
Ta là ai,
Ai là ta
Ta đi tìm ta
Ta đi tìm con người.
- Nguyễn Trãi không như vậy. – Khôi bảo đạo diễn.
-  Nhà văn hay nhà chính trị trong lịch sử cũng chỉ mang một khuôn mặt giống nhau thôi. – Biên kịch chen vào. – Tin tôi đi, đây sẽ là vai diễn đột phá của cậu. Rồi mai đây cậu sẽ phất lên như diều gặp gió, ai cần quan tâm đến chuyện người xưa ra sao.
Khôi vò đầu bứt tai. Bên cạnh, tiếng chiếc quạt máy hỏng đã mất cả lồng chụp cứ vang lên cành cạch, quạt đấy mà muỗi vẫn cứ vo ve bên tai. Căn nhà ẩm thấp và tối. Anh biết ơn vì điều đó, nó đã giúp anh che giấu chính mình. Khôi như một con sâu rút vào kén, cuộn trong lòng Lý, anh nghe thấy cả tiếng tim đập của nàng – êm như lời mẹ ru thời còn lênh đênh nơi sông nước. Mùi hương từ Lý thấm vào lồng ngực Khôi làm anh đê mê, anh nhoài người dậy, chồm lên nàng. Cả hai cứ thế quấn vào nhau…
Trời sáng, Lý bảo:
- Hay là về quê?
- Chúng ta còn quê không? – Khôi cay đắng.

Dưới sàn nhà, đàn kiến đen nghênh ngang diễu hành với đôi râu vểnh cao. Nhìn chúng, khôi bỗng nhớ đến một cái chết không xa, rồi linh hồn anh sẽ bị bâu vào, bị nghiền nát ra từng mảnh, cuối cùng đùn lên, đùn dần lên... Ta tìm ta giữa nấm mồ.
III
Có lệnh từ Đông Kinh vời Nguyễn trở lại triều đình. Vị vua trẻ tuổi đã nhìn thấu sai lầm của tiên đế nhưng lại không dám trách ông dù chỉ là ở trong lòng. Các thế lực trong quan trường lẫn hoàng thất đang xâu xé lẫn nhau, ai ngay ai gian không phải Thái Tông không hay. Đôi khi, ngài nghĩ, nếu như người nếm mùi hoạn huống là mình thì liệu có thể không nhúng chàm hay chăng?
Nguyễn biết Thái Tông khi ngài đương còn là một cậu bé, ông cũng chứng kiến cảnh mẹ của ngài bị dâng ra làm vật tế. Phận đàn bà. Trên đời này lấy đâu ra thánh thần, chỉ có ma quỷ mà thôi. Lợi làm ra điều ấy, kẻ biết thì cho rằng đó là vì đại cục, nhưng người như Nguyễn chỉ thấy đê tiện. Đê tiện đến tột cùng.
Cả đời Nguyễn chỉ phục mỗi Quý Ly, bởi vì thấu hiểu sự cô đơn của ông trong sự mông muội của dân tộc. Quý Ly là nhà cải cách, chứ không phải bậc đế vương. Sai lầm dẫn đến oan nghiệt, sinh nhầm thời đã khổ, sinh nhầm phận còn thêm nỗi bi thương. Giá như…
Nguyễn Thị Lộ châm chén trà mai, dâng cho chồng mình. Nguyễn mỉm cười đón lấy, nhấp một ngụm nhỏ, từ trong nhà tranh trông ra thông đang reo vui. Khoan, thông vui hay đang khóc? Nguyễn thấy buồn, có phải tuổi đã xế nên càng dễ chạnh lòng?
Nguyễn Thị Lộ nhìn ông, người khắc khoải cả đời với chữ vậy mà cứ mãi lận đận long đong. Nỗi buồn mênh mang trong đôi mắt Nguyễn thu hút nàng ngay từ khi gặp mặt ngày càng rõ nét. Nàng đã từng muốn kéo ông ra khỏi mê cung đó, nhưng Nguyễn lại càng lún sâu vào. Ông sợ hãi chính bản thân mình, bế tắc trong chính “đạo” của mình.
Thời gian về Côn Sơn, Nguyễn ngày càng ít nói, cũng ít quan tâm đến thê thiếp cái con. Ông đang tìm mình, mà sao càng tìm càng không thấy lối thoát?
- Nàng còn nhớ khúc nhạc ở hồ Dâm Đàm năm ấy không? – Nguyễn mở miệng hỏi.
Gò má Nguyễn Thị Lộ ửng hồng, nàng đáp:
- Ngón đàn nay vẫn còn.
- Vậy hãy đàn đi.
Hãy hát đi, hãy hát cho lòng ta.
Nguyễn Thị Lộ y lời chồng, lấy cây đàn đã ngủ say mấy chục năm qua. Những ngón tay mềm chai sần vì cày cuốc, ruộng vườn lướt trên phím tơ. Tơ chùng, lòng cũng chùng theo.
Tiếng đàn ấy theo thời gian đã trở nên lạnh lẽo, giống như kim khí rạch thẳng vào trái tim. Nguyễn gập mình, ôm ngực thở dốc. Bước chân ông đã mỏi mệt nhiều rồi…
Cây đàn trên tay người thiếp yêu rơi xuống, vỡ tan. Đoạn kiều.
Trở về triều, ừ thì trở về, rồi mai sẽ ra sao? Nguyễn lại thở dài, tiếng thở dài lan đi, loang đến cả trăm năm.
IV
Khôi đã hoàn thành xong vai diễn của mình, chỉ thấy đớn đau. Từng câu thoại giống như lưỡi đao cùn cứa dần dần vào xác thịt anh. Khán giả tung hô anh, trao cho anh những bó hoa thắm. Phụ nữ nói họ mê anh. Khôi tìm hình bóng Lý trong góc khuất của khán đài, tìm nụ cười của nàng.
Anh hoang mang, nước mắt từ đâu cứ lã chã tuôn rơi. Khôi thấy mình như kẻ tội đồ, đã giết chết một kiếp người, giết chết chính bản thân mình.
Khôi bỗng thấy trước mắt tối sầm đi, anh như đang bước trên mây mềm. Êm dịu. Xa xa, Nguyễn bước tới, ông khóc, ông cười, tức tưởi và chua chát. Khôi vươn tay chạm vào hình bóng Nguyễn, Nguyễn cũng vươn tay chạm vào hình bóng Khôi. Trong khoảnh khắc, không gian và thời gian quyện vào nhau, họ tìm thấy hơi ấm của người tri kỷ.
Cả Nguyễn và Khôi đều thấy mơ hồ, giờ thì họ là ai?
Nguyễn thở dài, Khôi thở dài. Năm trăm năm đã trôi qua, năm trăm năm dâu bể trong chớp mắt, có ai khóc cho người?