Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả NGUYỄN THANH TUẤN





ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT MỚI
                    

             
Tiểu thuyết mới là một trào lưu văn học xuất hiện vào đầu những năm 1950, ở Pháp với các nhà văn trẻ như: Michel Butor, Claud Simon, Jacque Derrida, đặc biệt là Alain Robbe Grillet. Khi nghiên cứu về tiểu thuyết mới, mặc dù khẳng định rằng: “Những văn bản này không nhằm tạo dựng cho một lý thuyết về tiểu thuyết, chúng chỉ thử lẩy ra vài nét về sự vận động mà tôi cho là quan trọng trong văn học đương đại” nhưng Alain Robbe Grillet đã phát hiện ra rằng: sáng tác của các nhà tiểu thuyết mới đầy mâu thuẫn và nghịch lý, lề thói, khuôn thước bị phá bỏ. Nó bỏ qua ý nghĩa của thực tại để tìm ra những ý nghĩa riêng biệt của chính nó. Không cần biên giới của sự thể, không đắn đo về nội dung diễn tả, không cần đến quá khứ, thực tại, đạo đức, thời gian, không gian… chỉ chú trọng đem lại cho người đọc những diễn biến. “Nhân vật tiểu thuyết bị hạ xuống độ không: thường thì nhân vật không có tên (có thể đó là một “tôi” vô danh, có thể là một chữ cái đầu), không có quá khứ, không có gia đình: tóm lại là không có bản sắc, không thể tra cứu lịch sử cũng như địa lý, không hiện thực. Sự có mặt của nhân vật biện minh bởi nhu cầu duy nhất về ngôn ngữ”. Không có giới hạn giữa người viết và người đọc mà điều cốt yếu là tạo nên một không gian khách quan để ẩn mình vào trong không gian nội tại. Đó là sự thức tỉnh nội giới biến cái nhìn sự vật như đã được nội tâm hóa nhằm dễ khám phá ý nghĩa cuộc sống. Tiểu thuyết mới mô tả ngoại vật có sự hiện diện của con người nằm trong không gian ấy, nó từ chối nhân vật. Nội dung của tiểu thuyết mới không cầu kỳ, phức tạp mà cực kỳ đơn giản, không gọt dũa, ít diễn tả, nhân vật nghèo nàn nhường chỗ cho sự nổi bật hẳn lên của sự vật. Nó còn cố tình tẩy trắng hoàn toàn những ý nghĩa mà con người gán cho sự vật trước đó…
Hành trình kiếm tìm sáng tạo:
Ra đời vào những năm 1950, trào lưu tiểu thuyết mới đánh dấu khát vọng tìm tòi đổi mới, đồng thời thể hiện những phản ứng chống lại tiểu thuyết truyền thống. Theo Alain Robbe Grillet thì “cái làm nên sức mạnh cho tiểu thuyết gia chính là ở chỗ anh ta sáng tạo, anh ta hoàn toàn tự do sáng tác, không có mô hình mẫu. Truyện hiện đại có điều đáng lưu ý sau đây: nó khẳng định có cân nhắc đặc tính này đến mức sự sáng tạo, sự tưởng tượng cuối cùng trở thành chủ đề của cuốn sách”. Mọi vấn đề lý luận đã được hình thành từ tiểu thuyết truyền thống bị phá bỏ, bị đảo lộn một cách triệt để. Nhiều nhà lý luận đương thời cho rằng đó là sự phá hoại, ngớ ngẩn, nực cười… “May thay nhiều người viết tiểu thuyết hiểu rằng trong văn học cũng vậy, rằng văn học cũng sinh động và rằng tiểu thuyết từ khi ra đời đã luôn luôn mới. Làm sao mà việc viết tiểu thuyết lại có thể đứng im, đông cứng khi tất cả đều phát triển xung quanh nó – thậm chí còn quá nhanh trong thời gian một trăm năm mươi năm qua”.
Ngay từ khi có ý định cầm bút thì đồng thời trong đầu các nhà tiểu thuyết mới đã bị thôi thúc cao độ bởi nhu cầu tìm kiếm và sáng tạo cho tác phẩm của mình. Thành công đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến là nó đã không quy tắc hóa cho bất cứ luật lệ nào. Điều này khiến cho ý nghĩa của nó vượt ra khỏi một trường phái văn học theo nghĩa hẹp của từ. “Người ta thường nói với chúng tôi; các ngài không xây dựng nhân vật, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự, các ngài không kể một câu chuyện, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự, các ngài không nghiên cứu một tính cách, một hoàn cảnh, các ngài không phân tích những mối tình, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự”… Nhưng “người ta” không biết rằng đó chính là những tìm tòi, sáng tạo làm nên bản chất và sự khác biệt của trào lưu văn học này. “Nói tóm lại, tiểu thuyết mới là một sự đi tìm kiếm đầy sáng tạo chứ không phải là một lý thuyết với những định luật câu chấp”.
Tiếp nối sự phát triển ổn định của thể loại tiểu thuyết:
Trước khi các tiểu luận phê bình tiểu thuyết mới của Emile Henriot và Alain Robbe Grillet ra đời, người ta vẫn nghĩ rằng; những nguyên tắc sáng tạo và các yếu tố nội tại của tiểu thuyết thực sự đã cố định vĩnh viễn nhưng khi tiểu thuyết mới ra đời, nó đã phá bỏ không thương tiếc những khuôn mẫu và hoàn toàn đoạn tuyệt với tiểu thuyết truyền thống. “Đây, hãy xem hiến chương của tiểu thuyết mới theo như dư luận công chúng lan truyền: 1) Tiểu thuyết mới đã quy tắc hóa những luật lệ của tiểu thuyết tương lai. 2) Tiểu thuyết mới đã rũ sạch quá khứ. 3) Tiểu thuyết mới muốn xua đuổi con người khỏi vũ trụ. 4) Tiểu thuyết mới nhằm vào một tính khách quan tuyệt đối. 5) Tiểu thuyết mới rất khó đọc, chỉ dành cho các chuyên gia”.
Đây là những nhận định mang tính chủ quan, chỉ căn cứ vào biểu hiện của hiện tượng. Người ta chưa quen, chưa thể bình tâm mà nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện để nhận ra bản chất của một trào lưu văn học còn quá mới mẻ và có vẻ phá phách, nổi loạn này… Khi đã bình tâm lại, và nhờ vào kết quả nghiên cứu của các nhà lý luận tiểu thuyết mới, người ta mới nhìn xoáy sâu vào bản chất của hiện tượng và chợt nhận ra rằng: các tác giả “Flaubert, Dostoievsky, Proust, Kafka, Joyce, Faulkner, Beckett… không hề vứt bỏ quá khứ mà chỉ qua tên của các bậc tiền bối là chúng ta đã đồng ý một cách dễ dàng nhất và tham vọng của chúng ta chỉ là tiếp tục họ”. Nếu quan tâm đến trào lưu tiểu thuyết mới, hẳn người ta nhận ra ngay rằng nó đã thành công trong việc làm cho người ta tin tưởng một cách tuyệt đối rằng thành tựu lớn nhất của nó là làm cho công chúng ý thức về sự phát triển chung của thể loại tiểu thuyết. “Tiểu thuyết mới chỉ có bổn phận kế vị. Nhà văn mới vẫn công nhận có những bậc thầy về tiểu thuyết từ Stendhal, Balzac… đến Praust, rồi Kafka, Faulkner, Beckett… nhưng không phải chỉ việc chép lại, suy tôn lớp người trước, mà phải tiếp tục làm công việc của họ, đồng thời thích ứng vào hoàn cảnh, môi trường mới”.
Đặc biệt quan tâm đến con người và tình trạng của con người trong cuộc đời:
Nó được đặc trưng bởi sự si mê miêu tả sự vật một cách chi tiết, tỉ mỉ đến mức mà tất cả những sự miêu tả ấy dưới bất kỳ hình thức nào nó cũng không còn đúng với một hiện thực ngẫu nhiên nào mà con người có thể nhận thức được. “Đồ vật và con người giống như bóng với hình. Đó là điều cần phải nhớ khi đọc tiểu thuyết mới. Như thế là công nhận tính cách bất khả phân ly giữa vật và người”. Điều này hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa miêu tả hiện thực nhằm xóa bỏ những ý nghĩa, tính chất mà con người đã gán ghép cho sự vật. Rõ là tiểu thuyết mới không có nhân vật theo nghĩa truyền thống của từ nhưng không có nghĩa là nó “muốn xua đuổi con người khỏi vũ trụ” vì “con người hiện diện trong đó ở mỗi trang, mỗi dòng và mỗi từ. Ngay cả người ta chỉ thấy ở đó nhiều đồ vật, được miêu tả chi tiết thì luôn luôn và đầu tiên bao giờ cũng có cái nhìn chúng, có tư tưởng gặp lại chúng”… “Những đồ vật trong tiểu thuyết của chúng tôi không bao giờ hiện diện ngoài những nhận thức của con người”.
Tiểu thuyết mới rất quan tâm đến con người nhưng không phải dưới cái nhìn trực diện mà thông qua một hệ thống sự vật với những bản chất khởi nguyên, tinh khôi của chúng. Ẩn sau những ngổn ngang đồ vật “ngôi nhà, động sản, quần áo, đồ nữ trang, công cụ, máy móc”… “Tiểu thuyết mới vẫn để ý đến tâm lý của nhân vật nhưng một tâm lý mới mẻ hơn, nhà văn ngày nay không còn chấp nhận cái tâm lý hòa hoãn, giản dị, một phần nào giả tạo trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết mới đang đi đến tâm lý tế nhị, tế nhị đến nỗi có khi chối bỏ tất cả, làm lại tất cả bắt đầu từ khởi điểm, đến một lúc nào đó tâm lý lại trở thành phi tâm lý”. Rõ ràng, tiểu thuyết mới đặc biệt quan tâm đến bản chất của con người và tình trạng của con người trong cuộc đời.
Luôn nhằm vào tính chủ quan hoàn toàn:
Thế giới trong những tác phẩm của trào lưu tiểu thuyết này chủ yếu là các đồ vật nên lại thêm một lần nữa người ta nhầm tưởng rằng nó chỉ nhằm vào thế giới khách quan, say mê khám phá thế giới khách quan mà hoàn toàn quên đi tính chủ quan. Alain Robbe Grillet đã thay mặt cho tất cả các nhà tiểu thuyết mới chứng minh một cách rõ ràng và đầy thuyết phục rằng tác phẩm của họ đầy ắp tính chủ quan. “Ví dụ như trong các tiểu thuyết của tôi, không phải chỉ một người miêu tả tất cả các sự vật, mà là người ít trung tính nhất, ít vô tư nhất trong số những con người: ngược lại đó là người luôn luôn được nhập cuộc vào trong một phiêu lưu đam mê trong số những phiêu lưu hấp dẫn nhất, đến mức thường xuyên làm lệch lạc cách nhìn của anh ta và tạo ra trong anh ta những tưởng tượng gần với mê sảng. Như vậy, cũng dễ chỉ ra rằng những tiểu thuyết của tôi – cũng như của tất cả các bạn tôi – còn mang tính chủ quan hơn cả tiểu thuyết của Balzac”.
Để thực sự thuyết phục một cách tuyệt đối đông đảo công chúng, ông tiếp tục khẳng định: “Chỉ có trời là người duy nhất dám coi mình là khách quan. Trong khi trong sách của chúng ta, ngược lại là một con người nhìn, cảm giác, tưởng tượng, một con người được đặt trong không gian và thời gian, bị chi phối bởi các khát vọng của anh ta, một con người như anh và tôi. Và tác phẩm không mang lại cái gì ngoài kinh nghiệm của anh ta, kinh nghiệm có bị hạn chế, không lấy gì làm chắc chắn”. Đến đây không ai lại không phải thừa nhận rằng tiểu thuyết mới còn nhằm vào tính chủ quan hoàn toàn.
Nói với tất cả những con người có thiện ý:
Tiểu thuyết mới không có nhân vật, không có cốt truyện, không từ chương... “Những chiều rộng, chiều cao, chiều dài thì vẫn có từ bao giờ. Tiểu thuyết mới thêm vào chiều tâm tư làm bằng dĩ vãng, hiện tại, tương lai có thể banh không gian vật lý thành không gian bao la và hỗn độn thêm lên”. Chính vì thế, khi mới ra đời người ta cứ nghĩ nó cố tình phớt lờ công chúng phổ thông mà chỉ quan tâm đến những người nghiên cứu vì nó rất khó đọc. Thực tế không phải như vậy.
Ngay từ khi bắt đầu cầm bút thì điều đầu tiên mà các nhà văn mới nghĩ đến không phải là viết cái gì, cũng không phải là xây dựng bao nhiêu nhân vật… mà điều đầu tiên họ nghĩ tới chính là viết cho ai và họ quả quyết: “Tôi đã tự nhủ phải viết cho “số đông công chúng”, tôi khổ tâm vì bị coi là một tác giả khó”. Chỉ cần có thiện ý một chút thôi sẽ dễ dàng nhận ra rằng người đọc được các nhà tiểu thuyết mới đặc biệt tôn trọng, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có chuyện coi thường người đọc mà chỉ vì các nhà văn mới có một đòi hỏi tuyệt đối trong quá trình đóng góp của mình vào nền văn học, nó phải tích cực, có ý thức và đầy sáng tạo. Chính vì thế cái mà tác giả yêu cầu người đọc, không phải là tiếp nhận trực tiếp một thế giới toàn diện, đóng kín mà ngược lại anh ta phải tham gia vào việc sáng tạo. Người đọc trở thành người đồng sáng tạo và ở một mức độ nào đó anh ta còn sáng tạo ý nghĩa riêng, thế giới riêng, cuộc đời riêng trong những lần giải mã văn bản khác nhau.
Như thế, đọc tiểu thuyết mới trở thành một công việc đầy lôi cuốn, hấp dẫn, chủ động, và đầy sáng tạo, đọc tiểu thuyết mới là sáng tác tác phẩm lần hai. “Chắc chắn, chỉ cần không nhắm mắt trước sự hiển nhiên này là có thể nhận thấy các tác phẩm của chúng tôi nằm trong tầm tay của người đọc, một khi anh ta chấp nhận thoát khỏi những tư tưởng đã được định sẵn trong văn học cũng như trong đời sống”.
Không đề xuất những ý nghĩ định trước:
Thế kỷ XX, khoa học tự nhiên đã phát triển đến một trình độ cần có. Hiện tượng luận đã khám phá ra ý nghĩa sâu kín của các sự vật, khoa học vật lý chứng minh được rằng có một sự vận động và tương tác bên trong các nguyên tử, phân tử mà trước kia chúng ta vẫn tưởng bất động. Khoa học xã hội cũng vậy, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc và văn học đều có sự đổi mới. Điều này giúp con người nhận ra rằng mọi thứ đều không ngừng vận động, thế giới quanh ta mang tính bộ phận, tạm thời, đối lập nhau. “Làm thế nào mà tác phẩm nghệ thuật lại có thể tính chuyện minh họa cho một ý nghĩa biết trước, cho dù đó là ý nghĩa nào? Tiểu thuyết hiện đại như chúng ta đã nói lúc đầu, là một sự kiếm tìm, nhưng là sự kiếm tìm mà chính nó dần dần tự sáng tạo ra những ý nghĩa riêng của nó”. Rõ ràng, tiểu thuyết mới không hề đề xuất những ý nghĩ định trước bằng cách trình bày hiện thực hoặc sao chép lại hiện thực mà ngược lại, phải tạo ra một thế giới hoàn toàn mới trong sự gắn kết riêng của nó.
Sự dấn thân duy nhất của nhà văn là văn học:
Tiểu thuyết mới không xây dựng một ý nghĩa xã hội, một ý nghĩa lịch sử hay một ý nghĩa đạo đức… Đây có thể là một sự khiêm tốn, cũng có thể là một sự tham vọng lớn nhưng sự thực là nó không bao giờ có gì được biết trước. Cả trước và sau khi hoàn thành tác phẩm, không có sự xác thực, không có đề tài, không có thông điệp, không có cốt truyện, không có nhân vật mà chỉ có một thứ duy nhất là giá trị văn học. “Dấn thân là ý thức đầy đủ về những vấn đề hiện tại của ngôn ngữ riêng của mình, là niềm tin vào tầm quan trọng cực kỳ của những vấn đề đó, là muốn giải quyết chúng tự bên trong. Chính ở đây, đối với nhà văn là vận may duy nhất để được làm một nghệ sĩ”. Thế là sự dấn thân duy nhất của những nhà văn mới chỉ có thể là văn học và văn học mà thôi.
***
Cái mới, khi ra đời thì luôn phải chịu những ánh nhìn thiếu thiện cảm, những cách đánh giá mang tính chủ quan... Nó phải trải qua nhiều thử thách và cần có thời gian để thể hiện, để khẳng định chính mình. Tiểu thuyết mới cũng vậy. Phê bình văn học thì luôn dựa vào những giá trị truyền thống để nhìn nhận, đánh giá và phán xét, chính vì thế khi mới ra đời, tiểu thuyết mới phải hứng chịu nhiều sóng gió từ phía dư luận. Trải qua thời gian, nó đã chứng minh cho những tìm tòi, sáng tạo và giá trị nghệ thuật đích thực của mình khiến cho cả thế giới phải công nhận và thán phục. Thế là chúng ta không chỉ biết đến Michel Butor, Claud Simon, Jacque Derrida, đặc biệt là Alain Robbe Grillet như những ông hoàng trong sáng tác mà ông còn là các nhà lý luận tiểu thuyết mới đầy tài năng.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alain Robbe  Grillet (1986), Vì một tiểu thuyết mới, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
2. C.De Ligny - M. Raussselot (1998), Văn học Pháp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Bửu Ý (2006), Tác giả thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội.



Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

CHUYỆN BÀ H’BLA truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 288 THÁNG 8 NĂM 2016





            Ngày xửa ngày xưa, lâu lắm rồi, khi ấy buôn M’lôk chỉ phải trồng hạt lúa, củ khoai làm lương thực còn thức ăn hàng ngày không bao giờ phải lo; nhà nào thích ăn cá ra suối bắt về, muốn ăn bao nhiêu cũng có vì cá nhiều gần bằng nước suối. Nhà nào muốn ăn thịt vào rừng bắt heo, nai, mang, nhím, cheo… mang về như ta bắt ở trong chuồng vậy. Người trong buôn không gia đình nào có ý nghĩ giành phần hơn cho mình mà xem mọi thứ là của chung, ai dùng bao nhiêu thì vào rừng lấy về vừa đủ dùng. Đàn ông ngoài việc lên rẫy, săn bắt thú về ăn còn thời gian rỗi đánh chiêng, đánh đàn và uống rượu. Phụ nữ chăm sóc con cái, lên rẫy trồng tỉa, thu hoạch và làm nội trợ, thời gian rỗi dệt vải, thêu thùa… Ngày ấy tiếng cười luôn đầy ắp các dãy nhà dài.
          Nhà bà H’Bla được dựng đầu buôn M’Lốc. Kể cũng lạ, mọi người ở tuổi bốn mươi lăm như bà đều có con cháu đầy nhà, riêng bà thì không. Bà ở một mình, không bắt chồng vì không thích chứ không phải không có đủ lễ vật để trả nhà trai thách cưới; gia đình nhà bà giàu có vào loại nhất nhì trong vùng. Từ nhỏ bà chỉ thích chơi đùa với chim muông, ong bướm…, lớn lên một tý có thêm sở thích đi dạo trên các đỉnh núi ngắm trời mây non nước và tìm các loại lá cây chữa bệnh cho người làm phúc như bà ngoại đã về với Yang (1). Năm H’Bla đủ hai mươi mùa rẫy, người trong vùng rủ nhau chung sức dựng cho bà một ngôi nhà sàn dài mười sải tay ở đầu buôn M’Lốc.
*
*    *
          Như mọi ngày, buổi sáng hôm ấy trời trong xanh, gió thổi thì thào bên tai như nâng bước chân để H’Bla bước nhanh lên đỉnh núi Cư Droak thuộc dãy Chư Yang Sin hùng vĩ. H’Bla phải đi sớm để tìm cây nấm vàng mọc trên vách đá gần thác nước về chữa bệnh cho người bị mọc mụt trong cổ họng; bệnh này chỉ có duy nhất loại thảo dược ấy mới trị được, không tìm được thì ba lần trăng tròn tính từ ngày bệnh phát cộng thêm chín ngày nữa, bệnh nhân sẽ đi theo Yang.
-         H…u… u!
H’Bla leo gần lên đến đỉnh núi, bỗng nghe tiếng kêu như khóc của bầy khỉ vọng lại. Tò mò, H’Bla leo lên gần chút nữa thấy bầy khỉ hàng trăm con; con đứng, con ngồi lố nhố gần một hòn đá có cỏ tranh mọc vây quanh. Thấy H’Bla đi đến, lũ khỉ thét lên bỏ chạy tán loạn, lẫn luôn vào các cây cao như có phép tàng hình, bỏ lại trên hòn đá một con khỉ lớn. Con khỉ chắc phải nặng gần ba chục ký, dài gần một mét; nằm úp mặt xuống đá, lông nâu sẫm, phía mông có một mẩu đuôi ngắn tí tẹo như ngón tay, lưa thưa vài cái lông như đuôi heo. Thấy lạ, H’Bla bỏ gùi xuống, lại gần lật ngửa con khỉ lên… thoáng giật mình lùi lại. Con khỉ miệng cắn chặt cổ con rắn hổ mang to bằng bắp chân người lớn, máu tươi còn chảy thành vũng trên hòn đá. Con rắn cũng không vừa, tuy chết nhưng mồm vẫn gặm ngang một cánh tay con khỉ. Phía dưới hòn đá, nơi đám cỏ gianh bị quần nát còn một con khỉ nhỏ hơn, chắc chỉ khoảng năm sáu ký, mắt trợn ngược, mồm trào máu đen. Rút dao bên hông, H’Bla cạy miệng con khỉ nằm trên hòn đá, lôi con rắn ra, vạch mắt khỉ xem, thấy còn chút hy vọng nên nhảy vội khỏi hòn đá chạy vào mấy bụi cây gần đấy hái một nắm lá bỏ vào mồm nhai nát, nhả lá ra tay bóp lấy nước cho rơi vào mồm con khỉ. Dùng dao nhè nhẹ cạy mồm con rắn, lôi tay khỉ ra, lấy lá nhai vắt nước lúc nãy đắp vào vết rắn cắn. Con rắn dài hơn hai sải tay, mình vằn đen, vằn vàng đã chết hẳn từ lúc nào rồi.
Nhìn vết thương con khỉ, H’Bla hình dung ra cuộc chiến của hai con thú chắc là quyết liệt và nhanh chóng kết thúc. Con khỉ đầu đàn có thói quen buổi sáng thường ngày họp bầy, ngồi trên hòn đá bằng cao nhất trên đỉnh núi trước khi quyết định đưa đàn đi về phía nào kiếm ăn. Con rắn hổ mang sống gần đấy đã để ý tính kế ám hại bầy khỉ nên từ đêm đã đến núp trong đám cỏ gianh, bên cạnh hòn đá mà con khỉ đầu đàn thường ngồi. Con rắn tin vào sức mạnh và nọc độc của mình có thể tiêu diệt con mồi nhanh gọn, kiếm bữa ăn sáng. Sáng hôm nay, một con khỉ nhỏ vô tình nhảy đến hòn đá trước khi con khỉ đầu đàn đến, đúng tầm, con rắn lao lên tóm gọn. Tội nghiệp chú khỉ con đau đớn, gào thét trong tuyệt vọng. Bầy khỉ hoảng loạn bỏ chạy, con khỉ đầu đàn từ trên ngọn cây cao lao đến dùng hai bàn tay rắn chắc tóm cổ con rắn. Con rắn bỏ con khỉ nhỏ, quay đầu lại cắn trúng tay con khỉ đầu đàn. Con khỉ thét lên, dùng hết sức bình sinh ngoạm gãy cổ con rắn. Con rắn bị chết ngay, còn con khỉ đầu đàn cũng bị ngấm nọc độc của rắn từ từ xỉu luôn. May cho con khỉ, H’Bla đến kịp chứ chậm một chút xíu nữa thì… Yang cũng bó tay.
Khoảng năm phút sau khi thay miếng lá thuốc thứ hai, con khỉ từ từ mở mắt, nó đảo mắt nhìn trời, nhìn xung quanh rồi nhìn vào mắt H’Bla thoáng tỏ ra hoảng hốt. H’Bla mỉm cười vỗ nhẹ lên đầu nó như muốn bảo: nằm im. Con khỉ có khuôn mặt hình quả mận, da mặt đỏ như được sơn son, phía dưới cằm có chùm râu bạc dài đến nửa gang tay; miệng khá lớn có hai chiếc nanh to như ngón tay út thò hẳn ra ngoài trông rất ghê.
H’Bla lấy quả bầu đựng nước trong gùi rót cho nó một ngụm. Con khỉ nằm ngửa, uống nước không quen nên bị sặc, mình co dúm lại. Đỡ nó ngồi dậy, H’Bla bật cười, khẽ vỗ lên đầu nó bảo:
- Xin lỗi mày nhé, khỉ không uống thế này được thì thôi vậy. Mày hết đau rồi đấy, tao phải đi đây.
H’Bla đứng dậy, khoác gùi lên vai, định quay mình bước đi. Con khỉ thấy vậy hoảng hốt giơ bàn tay còn lành nắm lấy gấu yeng (2) kéo lại, đôi mắt nhìn như cầu khẩn.
-         Gì nữa đây, giờ mày chạy nhãy được rồi, để tao còn đi hái thuốc chứ!
H’Bla nói và khẽ vỗ vỗ lên đầu con khỉ. Đôi mắt khỉ nhìn như van lơn, cầu khẩn. Bỗng nó kêu lên một tiếng như nấc: Kh…o…c! Không biết vì sao lũ khỉ trên các ngọn cây, bên các hòn đá nhất loạt xuất hiện chạy cả lại vây quanh H’Bla. Thôi thì lớn bé, to nhỏ, đủ cả; có con trước ngực mang con nhỏ còn đang bú, có con cõng con nhỏ sau lưng; chúng ngồi thành nhiều vòng xung quanh, tất cả đều nhìn lên H’Bla như cầu xin. Nhìn lũ khỉ ngồi, H’Bla kêu lên:
-         Ơ chúng mày làm gì thế này? Đứng hết lên, vào rừng kiếm ăn đi chứ. Đứng lên nào!
Cầm bàn tay lành của con khỉ bị thương kéo nó đứng lên, dắt nó bước theo đến bên gốc cây đa trước mặt, đặt hai tay khỉ vào gốc cây ra hiệu cho nó leo lên. Cả bầy khỉ lốc nhốc bò theo sau, rồi lại ngồi xuống như những bức tượng khỉ được tạc bằng gỗ dựng bên các nhà mồ. H’Bla phì cười với liên tưởng của mình rồi vỗ nhẹ vào lưng con khỉ bị thương, động viên:
-         Mày đi được rồi, tay bị thương chỉ đau thôi, không chảy máu nữa đâu, đi đi, nhớ đừng đánh nhau với bọn rắn nữa nhé.
Từ đôi mắt tròn xanh xanh của con khỉ bị thương, hai dòng lệ trào ra, lăn xuống gò mà, rơi xuống đám lông ngực màu xám bạc. Nó ôm cây đa mà mắt vẫn không rời H’Bla. H’Bla phải đập nhẹ vào lưng nó giục:
-         Đi đi, ngoan nào!
-         Kh…o…c!
Con khỉ bị thương kêu lên một tiếng nghẹn ngào rồi từ từ ôm lấy thân cây, leo lên. Cả lũ khỉ đang ngồi dưới đất, nghe tiếng kêu liền lốc nhốc cong đuôi nhảy tót lên cây, miệng kêu la ầm ĩ. Khi leo lên cây rồi chúng quay đầu nhìn xuống, con gãi bụng, con gãi nách, con tung mình đánh đu như biểu diễn xiếc… Riêng con khỉ bị thương, nó ngồi trầm ngâm nhìn theo ân nhân của mình đến khi khuất hẳn về phía bên kia sườn núi.  
*
*    *
Sau gần một ngày lang thang trong rừng, hết trèo đèo, lội suối, leo lên các tảng đá chênh vênh trên vách núi… khi trở về H’Bla cũng hái được một cây nấm tán màu vàng cam, thân màu trắng to bằng miệng ly uống rượu bỏ vào gùi. Có cây nấm làm vị chính, thêm tám loại thảo dược nữa, chắc chắn bệnh nhân được cứu sống. Loại nấm này trước đây chỉ nghe bà ngoại kể lại chứ ngoại cũng chưa thấy bao giờ, may mắn H’Bla lại là người trong dòng họ lần đầu tiên hái được. 
Sáng hôm sau, khi ông mặt trời vừa leo lên khỏi ngọn núi Mẹ Bồng Con ngắm thảo nguyên M’Drak, H’Bla ra lấy gùi nơi đầu sàn chuẩn bị lên rừng như mọi ngày thì sững lại, không tin ở mắt mình nữa; chiếc gùi tối hôm qua để không nơi đầu sàn giờ đây đầy ắp loại nấm quý hiếm mà hôm qua bà đi cả ngày chỉ hái được một cây. Thoáng cau mày rồi H’Bla bật cười vì đã đoán ra ai đã giúp mình, quay mặt nhìn lên cánh rừng trước mặt thấy bầy khỉ đang rối rít rung cây như một lời chào. Riêng con khỉ bị thương to nhất bầy ngồi suy tư trên cành cây gần nhà nhất vẫn chăm chú nhìn vào H’Bla như bị thôi miên.
Cũng từ ngày ấy, mỗi lần bà H’Bla muốn hái loại lá thuốc gì thì chỉ cần đặt lên gùi chiếc lá cần hái để đầu hồi nhà, ngày hôm sau sẽ có cả gùi đầy. Có đủ lá thuốc bà H’Bla chữa khỏi bệnh cho nhiều người trong vùng làm phúc, không bao giờ lấy công của ai dù chỉ là một đồng bạc, vì thế mọi người kính trọng xem bà như Yang.
Ngày bà tròn một trăm lẻ một tuổi, cả khu rừng bỗng trở nên hỗn loạn, tiếng gầm rú của muông thú, tiếng kêu gào của lũ khỉ và trên mái nhà dài của bà H’Bla có đôi chim công trắng bay về đậu trên hai đầu hồi nhà kêu lên những tiếng ai oán. Người trong buôn thấy lạ, rủ nhau kéo đến thì thấy bà H’Bla đã nằm như ngủ trên giường, hồn đã theo Yang. Người trong buôn và dòng họ làm lễ chôn cất cho bà đúng nghi thức trang trọng nhất. Hàng vạn người trong vùng đã đến tiễn đưa bà về cõi linh thiêng. Sau ba ngày ba đêm làm ma chay, cúng tế, chôn cất bà xong chiều hôm trước, sáng hôm sau người nhà ra thăm mộ bà đã hoảng hốt chạy về buôn thông báo điều lạ… cả buôn kéo ra, nhiều người buôn xa kéo đến nhìn ngôi mộ bà H’Bla đều không cầm được nước mắt khi thấy trước ngôi mộ con khỉ đực to lớn đã chết từ lúc nảo lúc nào mà vẫn giữ nguyên tư thế ngồi ôm mặt nhìn về phía ngôi mộ; đôi chim công trắng đậu trên hai đầu nhà mồ đã chết, nhưng cánh vẫn xòe ra như muốn che chở cho ngôi mộ của bà H’Bla.
Người già bảo: lúc sống, A duôn (3) H’Bla chuyên làm điều thiện, dùng thuốc cứu người và muông thú nên mới có phúc như thế. Để tỏ lòng tôn trọng với hai con vật đã chết vì tình cảm chân thành, người trong buôn chôn cất chúng bên cạnh ngôi mộ của A duôn H’Bla và chọn ba người thợ khéo tay nhất vùng tạc tượng chúng dựng trước ngôi mộ của bà. Có lẽ vì thế mà một số dân tộc ít người ở Tây Nguyên có tục lệ thường tạc tượng hình con khỉ ôm mặt, đôi chim công đứng canh trên các ngôi mộ người mới mất truyền đến ngày nay chăng!

Mường Thanh – Vinh, tháng 10 năm 2015
Chú thích:
(1) Yang tiếng Ê đê gọi thần linh trên trời.
(2) Yeng tiếng Ê đê gọi váy.

(3) A duôn tiếng Ê đê gọi người già.

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả TRẦM THANH TUẤN





"THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG"
SỰ GIAO DUYÊN GIỮA THƠ VÀ THIỀN



Đến với thơ Trần Nhân Tông là đến với sự hoà điệu giao duyên giữa thơ và Thiền, "dĩ thi ngụ thiền, dĩ Thiền thuyết thi", một hồn thơ hồn hậu đầy cảm xúc trước thiên nhiên tạo vật. Tất cả những vẽ đẹp của ngoại giới trong thơ Trần Nhân Tông đều có sự tương thông với tâm Thiền nên thấm đẫm Thiền vị. Thiên Trường vãn vọng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho đặc điểm này của thơ Trần Nhân Tông.
Phiên âm                                                   
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Dịch nghĩa
Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ
Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa có nửa như không
Trong tiếng sáo, mục đồng dẫn trâu về hết
Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.
Dịch thơ
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
(Ngô Tất Tố dịch)
Câu thơ mở đầu với cấu trúc đối ngữ đoạn ấn tượng đã khắc hoạ một không gian toàn cảnh:
Thôn hậu >< thôn tiền/đạm tự yên
Với sự tương tác của hai từ trái nghĩa "tiền" – "hậu" trong cấu trúc đối đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật: Tạo dựng không gian có sự mở rộng biên độ về hai phía, một bức tranh đồng quê rộng lớn. Bức tranh này lại được quan sát từ khoảng cách xa nên có độ "nhoè", nhoà nhạt như khói phủ. Phải chăng lúc này sương đã xuống nhiều nên cảnh vật "đạm tự yên". Câu thơ khéo ở thủ pháp gợi, không nói tới sương chiều mà người đọc vẫn cảm nhận được sương chiều đang dần phủ kín không gian. Sự liên tưởng này của người đọc có căn cứ hơn khi tác giả tiếp tục khắc hoạ:
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Câu thơ tiếp tục sử dụng thủ pháp đối trong ngữ đoạn với hai yếu tố đối lập "vô" – "hữu". Với sự cộng hưởng của ánh chiều, bức tranh đồng quê đã trở nên mờ ảo hơn. Câu thơ dịch của Ngô Tất Tố vô tình đã là sai lệch đối tượng chính được miêu tả "Bóng chiều man mác có dường không". Theo câu thơ dịch thì bóng chiều là đối tượng thẩm mĩ chính yếu trong câu thơ. Thế nhưng xét kĩ ta thấy nguyên nghĩa của câu thơ là: Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có nửa như không. Bóng chiều, với sự trợ nghĩa của từ "biên": bên, chỉ đóng vai trò là yếu tố không gian góp phần làm bật nổi bức tranh đồng quê. Do vậy tính chất "bán vô" – "bán hữu" là tính chất của cảnh vật (đã bị tỉnh lược) chứ không phải là tính chất của bóng chiều. Câu thơ chứa hai yếu tố "hữu – vô", hai khái niệm cơ bản của Thiền học. Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử đã sáng tạo ra cặp phạm trù Hữu - Vô và nó đã trở thành cặp phạm trù cơ bản nhất của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại: "Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư " (vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ hữu, hữu sinh ra từ ). Như vậy cảnh vật ở đây như không tồn tại "vô" (bởi sự che phủ của sương chiều) nhưng thực chất cảnh vật vẫn đang tồn tại "hữu". Trong cái "vô" có cái "hữu"; trong cái "hữu" lại có cái "vô". Điều này làm ta nhớ đến bài thơ của Đạo Hạnh, bài Hữu không:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thuỷ nguyệt
Vật trước hữu không không
(Bảo là có thì hạt cát mảy bụi đều có – Cho là không thì hết thảy là không – Có và không như là ánh trăng dưới nước – Đừng bám vào cái có cũng đừng cho cái không là không).
Lẽ "hữu - vô" của tạo hoá luôn huyền diệu! Cảnh vật được nhìn qua cảm quan của Thiền nhân nên thấm đẫm Thiền vị.
Từ viễn cảnh, thi nhân lại quay về với những đường nét ở cận cảnh:
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Với câu chuyển, SGK Ngữ văn 7 dịch nghĩa : "Trong tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về hết". Thiết nghĩ dịch như thế là chưa thể làm rõ được ý nghĩa của câu thơ. Ta thử xét cấu trúc trong câu thơ nguyên tác:
Mục đồng địch lí/ngưu/quy tận
  (Trạng ngữ) (Chủ ngữ) (Vị ngữ)
Thế nên câu thơ trên có thể dịch thành "Trong tiếng sáo của trẻ chăn trâu, trâu đã về hết".
Như vậy trong bức tranh đồng quê rộng lớn đã xuất hiện điểm nhấn, hình ảnh đàn trâu và mục đồng thổi sáo. Cái tinh diệu của câu thơ ở chỗ, nếu như xem câu thơ này là kết quả của những sáng tạo dựa trên cơ sở hình ảnh hiện thực thì đây sẽ là những nét vẽ hết sức tinh tế về cảnh sắc thôn quê bình dị với đàn trâu thong thả về chuồng trong điệu sáo dặt dìu thấm đẫm tình quê của những đứa trẻ chăn trâu hồn nhiên. Nhưng nếu như tiếp cận câu thơ trong mối tương quan với cảm hứng Thiền thì câu thơ lại mang một ý vị khác. Hình ảnh con trâu trong thơ Thiền gắn liền với một điển cố trong Thiền học. Theo Truyền đăng lục: Một hôm Động Sơn hỏi hoà thượng Long Sơn rằng: "Hoà thượng thấy đạo lí gì mà trụ trì ở đây?" Long Sơn đáp "Ta chỉ thấy hai con trâu bùn đánh nhau rồi chạy xuống bể. Từ bấy đến nay vẫn không thấy tin tức gì". Điển cố này dùng ngụ ý con người cũng như vạn vật đều có cái Chân tâm nhưng vì mê lầm nên nhiều người đã đánh mất nó, mãi không tìm lại được. Quay lại với với câu thơ ta thấy, nếu như tiếng sáo của mục đồng biểu trưng cho cái tâm hồn nhiên bình lặng, trong sáng không bị vẩn đục bởi những mê kiến, vọng kiến thì hình ảnh đàn trâu quay về (ngưu quy tận) chẳng phải chính là nẻo về của Chân tâm đó sao ?
Câu thơ cuối, với hình ảnh từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng, thi nhân đã hoàn thành bức tranh của đồng quê tuyệt đẹp của mình. Nếu như ta đã bắt gặp những cánh cò trong thi văn cổ điển Trung Quốc chúng thường bay thật cao lên trời xanh:
Nhất hàng bạch lộ thướng thiên thanh  
(Một hàng cò trắng bay vút lên trời xanh)
Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Cánh cò bay cùng với ráng chiều – nước mùa thu và nền trời cùng một màu).
Nhưng ở đây cánh cò của Trần Nhân Tông lại bay hẳn xuống cánh đồng của quê hương "phi hạ điền". Để có được chữ "hạ" ấy, cánh cò của Trần Nhân Tông ắt hẳn phải thiết tha với ruộng đồng lắm, nặng nghĩa tình đời lắm? Một ông vua mà lại có cái nhìn như thế thật đáng quý biết bao nhưng cũng thật hiếm hoi biết bao!
Có thể nói bài thơ đã tạo dựng bức tranh thấm đẫm tình đời, tình người bằng nhãn quan của thi nhân, Thiền nhân Trần Nhân Tông với tâm hồn khát khao hoà nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống. Đồng thời thi nhân đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm về lẽ vô thường của con người trước cái hằng thường của vũ trụ. Đó là chẳng phải là cái nhìn mang cảm hứng Thiền, tâm trạng Thiền, ý vị Thiền nhưng cũng thấm đẫm chất thế sự với những cung bậc tình cảm hết sức phong phú của con người đời thường đó sao?





Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả BÙI MINH VŨ




Text Box:  Bút danh: Linh Vũ, Bùi Minh Vũ…
Sinh năm: 1960
Quê quán: Đức Lợi, Mộ Đức, Quảng Ngãi
Hiện đang sống và làm việc tại TP. Buôn Ma Thuột.
Thơ đã xuất bản:
- Ngủ mơ trên cát - Hội VHNT Đắk Lắk, 1996
- Ngày về quê ngoại - NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2004
- Tình một thuở - NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2006
- Dòng sông mùa xuân - NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2009
- Chim sơn ca - NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2010

- Lão ngư Kỳ Tân - NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2014
Ngoài thơ, đã xuất bản nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về sử thi, luật tục, truyện cổ…
Giải thưởng
- Giải B và  giải C - Giải thưởng VHNT Đắk Lăk (Chư Yang Sin) lần thứ I.
- Giải Khuyến khích của Hội VHNT Đắk Lắk năm 2006 (tập thơ Tình một thuở)  
+ Giải Ba và giải Khuyến khích do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tặng năm 2001 và 2008.
Một ngày trên dương thế



Chẳng có thú vị nào hơn khi ta nhìn em
Múa như mây, cười như mưa bay
Gió quẩn quanh nơi chiếc váy
Trời xanh như chiếc dao
Mẩu bánh mì giòn như pháo cưới


Ta nhặt mấy đồng tiền vàng dưới gót chân
Che lấp giấc mơ những bóng đen vẫy gọi
Mở trang sách thánh hiền
Thấy những con mọt có ngà xốc tới

Thời gian hóa thạch
Không gian hóa thạch
Em cũng hóa thạch tự bao giờ

Một mình
Ta trở về quê hương tìm bóng mẹ trôi trên cầu Liên Lạc hôm qua.





Trong veo



Mắt em giải thoát ngu muội trái tim tôi
Thâm nhập vào hơi thở và giấc mơ
Xóa nhòa ngày tôi sinh ra khốn khổ
Thi sĩ hoại diệt trở thành

Trước mắt em
Mọi thứ đều đẹp
Nơi ấy tôi ngộ giác như một hành giả
Giải thoát trong tình yêu trong veo của giọt lệ

Trước mắt em
Ta tự tại với ái
Như gửi một tin nhắn dài cát bụi
Trong veo trong veo trong veo…



Bóng trăng lấp loáng



Chưa ai hôn em dưới dòng sông
Nơi anh từng lau khô hạt lệ
Nơi ngàn lần anh thầm ước
Nếu thoát ra khỏi dòng sông anh dẫn em về trời

Em chơi trò bắt bống
Những chiếc ống tre trống rỗng linh hồn
Anh nhai từng ngụm cát
Hôn lên đường răng em một chuỗi cười

Anh cố hình dung ra mùa xuân
Tròng chiếc áo mơ sính lễ
Chẳng cung đình
Cũng ngây ngất hồng em

Chưa ai hôn em dưới dòng sông
Nơi anh phát hiện ra em bên bến bờ trong vắt
Lá cứ trôi mục nát thân gầy
Ta vớt cùng em nơi bóng trăng lấp loáng.

Ký ức bây giờ xanh hơn màu vẽ
Không thể bôi đen không thể tô hồng
Và khi dòng lũ trườn những nọc độc
Bọt bèo chẳng khỏa lấp tình yêu.





Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả LÊ THÀNH VĂN

Sổ tay thơ


ĐÁM CƯỚI MỘT LINH HỒN


Người chiến binh để lại một chân trên Cánh đồng chó ngáp *
Nửa đời bôn ba chắp vá một lời nguyền
Gặp lại người yêu giữa Trường Sơn ngàn bia mộ
Lời hẹn ba mươi năm
Giờ hóa cỏ xanh rờn

Anh đã ngoại ngũ tuần
người yêu anh vẫn trẻ
Anh cưới em
anh cưới một linh hồn
Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng
Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn

Giờ thì em đã vu quy
Em đã vu quy
Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước
Mà bên anh hư ảo một hình hài
Trời xanh ngắt
Mây giăng tà áo cưới
Dấu chân tròn...lá rừng xanh mắt ai!
                                                                        VŨ BÌNH LỤC


LỜI BÌNH:
ANH CƯỚI EM, ANH CƯỚI MỘT LINH HỒN!

Đám cưới một linh hồn của nhà thơ Vũ Bình Lục được trao giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi thơ và truyện ký do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức là một sự đánh giá xác đáng, khẳng định giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của thi phẩm. Quả thật, đọc xong bài thơ, hẳn mỗi người chúng ta đều rưng rưng xúc động và ám ảnh bởi một đám cưới đầy nước mắt hòa trong nụ cười thấm đẫm tin yêu, tin yêu như hình ảnh "lá rừng xanh mắt ai" sau ba mươi năm gặp lại.
Khổ thơ đầu, bằng bút pháp tự sự với các chi tiết tiêu biểu, tác giả đã dựng lên một cảnh tượng ác liệt của chiến tranh. Người chiến binh "để lại một chân trên Cánh đồng chó ngáp". Ôi cái tên nghe sao mà rùng rợn, quái dị, gợi ra biết bao tang thương sau cuộc chiến điêu tàn. Người lính trở về không còn nguyện vẹn, người yêu mình cũng đã hi sinh, giờ tìm gặp sau ba mươi năm giữa không gian đẫm tràn nước mắt. Một sự tao ngộ nơi "Trường Sơn ngàn bia mộ" đã làm đắng lòng bất kỳ ai trên thế gian này. Lời thề nguyền năm xưa "giờ hóa cỏ xanh rờn" đọc lên nghe cứ mằn mặn nước mắt. Hình ảnh cỏ xanh xuất hiện vừa là hình ảnh tả thực cỏ trên nấm mộ, vừa khơi gợi kỷ niệm nồng nàn của đôi lứa yêu nhau. Ý thơ hay đến xót lòng, nhức buốt bởi hồn cỏ và hồn người cài đan, hòa quyện vào nhau và thảng thốt như một nỗi niềm:
Người chiến binh để lại một chân trên Cánh đồng chó ngáp *
Nửa đời bôn ba chắp vá một lời nguyền
Gặp lại người yêu giữa Trường Sơn ngàn bia mộ
Lời hẹn ba mươi năm
Giờ hóa cỏ xanh rờn
Mạch tự sự vẫn tiếp tục nhưng xoáy sâu hơn vào tiềm thức người đọc thông qua cách kể chuyện tưởng như phi lí mà chan chứa biết bao mất mất hi sinh của người trong cuộc. Người nằm xuống mãi mãi tuổi hai mươi nên "vẫn trẻ", duy người chiến binh xưa mái tóc giờ đã bạc màu vì bước sang tuổi ngũ tuần. Không khoác bên ngoài vẻ tân kỳ hay mĩ từ  nào của ngôn ngữ cao siêu, cứ thủ thỉ nhẹ nhàng bằng một tâm tình rất thật, nhà thơ Vũ Bình Lục láy đi láy lại cụm từ "anh cưới" như khẳng định về một sự thủy chung duy nhất của lòng mình, dù em đã không còn sống nữa mà hóa thành một linh hồn giữa hoang vắng Trường Sơn: "Anh cưới em/ anh cưới một linh hồn". Hình ảnh bông huệ trắng vừa tạo không khí tâm linh, vừa gợi được sự thanh khiết, trắng trong như vẻ đẹp của người con gái. Màu hoa huệ trắng thơm nơi không gian chiều hoang vắng mang mang một màu tím thủy chung, son sắt. Ly rượu ngày cưới hóa thành ly rượu buồn thương trong ánh hoàng hôn đầy xúc động được người chiến binh tưới đẫm nồng trên cỏ ướt. Đến đây, người đọc không thể không liên tưởng đến hình ảnh "chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương tàn lạnh khói vây quanh" trong Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan:
Anh đã ngoại ngũ tuần
người yêu anh vẫn trẻ
Anh cưới em
anh cưới một linh hồn
Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng
Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn
Có hoa huệ trắng thơm, có ly rượu buồn tưới đẫm trên nấm mồ cỏ biếc, nhà thơ một lần nữa xúc động nhắc lại lời thề ước của mình với người yêu đã thành hiện thực. "Giờ thì em đã vu quy/ Em đã vu quy". Câu thơ khẳng định láy đi láy lại mà như lời uất ức nghẹn trào đang dâng lên bi thiết. Uất nghẹn vì lời nguyện ước đã thành nhưng em chỉ là hư ảo. Đau khổ và xót xa cùng tận. Một đám cưới mà chú rể nước mắt đẫm tràn, còn cô dâu là sương khói ảnh hình. Có điều, tuy đau khổ vô cùng song bài thơ vẫn không bi lụy nhờ không gian trời xanh mây trắng cuối bài thơ mở ra một khát vọng vô biên, một niềm tin đích thực của người sống ký thác vào linh hồn người đã khuất. Niềm tin mãnh liệt ấy chính là vẻ đẹp tư tưởng độc đáo cứ khắc khoải xanh như lá rừng chìm trong đôi mắt người con gái yêu thương:
Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước
Mà bên anh hư ảo một hình hài
Trời xanh ngắt
Mây giăng tà áo cưới
Dấu chân tròn...lá rừng xanh mắt ai!
Câu thơ cuối bài thẳm sâu một vẻ đẹp đầy chất thơ. Dấu chân tròn của người thương binh nơi nghĩa trang Trường Sơn tan hòa trong màu lá rừng xanh như đôi mắt người con gái yêu thương năm nào. Dấu ba chấm (...) xôn xao đôi bờ thực mộng, đàn cài hai hình tượng "dấu chân tròn" và "lá rừng xanh mắt ai" vào nhau nên cứ khắc khoải, bồi hồi làm chạnh lòng nhiều thế hệ độc giả từ khi bài thơ đạt giải thưởng đến nay. Câu thơ nhờ đó đẹp như một huyền thoại, nâng tư tưởng tác phẩm lên thành một triết lí sống của mỗi con người trong mối quan hệ giữa tình yêu lứa đôi với sự tồn vong của Tổ quốc.
Quả thật, đọc thơ đông tây kim cổ, song Đám cưới một linh hồn có cái thoáng rợn và cả nỗi khát vọng biếc xanh trào dâng tha thiết giữa hồn người. Thông qua một đám cưới đầy chất liêu trai của đôi lứa yêu nhau khi niềm hạnh ngộ ngăn đôi bờ âm - dương cách trở, tác giả đã dựng lên số phận của cả dân tộc Việt Nam trong những năm chiến tranh gian khổ và đầy mất mát, đau thương. Tư tưởng bài thơ nhờ thế có sức tố cáo chiến tranh, đầy ắp vẻ đẹp nhân văn, phóng chiếu tâm cảm nhà thơ không chỉ trong hiện tại mà cả tương phía trước, không chỉ của nhân dân đất nước mình mà cả nhân loại năm châu.


                                                                      
Tác giả LÊ THÀNH VĂN