Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 290 - tác giả NGUYỄN VĂN THANH




QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ BÁC HỒ VỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN



Bồi dưỡng các thế hệ thanh niên, hướng thanh niên phấn đấu trở thành những con người phát triển toàn diện là một khâu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên của Đảng và Bác Hồ.
Nhận định thanh niên là một trong những lực lượng nòng cốt, nên ngay từ những năm đầu về nước hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (tháng 6/1925), chuẩn bị những hạt giống đỏ, ươm mầm cho sự trưởng thành, lớn mạnh của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của thanh niên đối với đất nước: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên". Người cho rằng sự phát triển trong tương lai của đất nước và tiền đồ vẻ vang của dân tộc nằm trong tay thanh niên.Trong bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu thanh niên Hà Nội, Hồ Chí Minh đã dùng những ngôn từ rất giản dị và dễ hiểu để nói về trách nhiệm thanh niên đối với đất nước. Đó là:  “Đi sâu vào quần chúng để san sẻ những thường thức về chính trị và quyền lợi công dân; ủng hộ Chính phủ không phải chỉ bằng những lời hoan hô suông thôi, mà cần phải một mặt giải thích cho dân chúng về những nỗ lực của Chính phủ,… tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ, chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn luyện từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác những việc trọng đại của nước nhà”.
     Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò là người chủ tương lai của đất nước thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà. Nói về sự cống hiến của thanh niên với đất nước, Bác viết: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?”.
 Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác lúc ở hải ngoại, khi trở về Tổ quốc cho đến cả lúc sắp từ giã cõi đời, Bác đều mong muốn mọi người đều có cơm ăn, áo mặc, đều được học hành. Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, Bác cùng Trung ương Đảng đã hướng tất cả nỗ lực của mình vào mở các trường dạy học cho tuổi trẻ. Trong kháng chiến chống Pháp và trong qúa trình xây dựng CNXH, tư tưởng học kết hợp với hành của Bác đã đào tạo được nhiều thế hệ thanh niên có tri thức lại có đạo đức ra sức phụng sự Tổ quốc. Đảng và Bác Hồ đã đào tạo cả một đội ngũ trí thức to lớn cho cách mạng. Nhiều thanh niên đã trưởng thành trong học tập xứng đáng với lòng mong mỏi của Bác. Những gương mặt hiếu học, những tấm gương sáng tạo trong các kỳ thi quốc tế của tuổi trẻ Việt Nam đã ánh lên cái đẹp rực rỡ trong kết quả học tập.
 Trước lúc rời khỏi thế giới này, trong Di chúc Người còn dặn lại: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Thực hiện những lời căn dặn của Người, các thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực xung kích trên tất cả các mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá… cùng với các phong trào thanh niên như: Ba sẵn sàng, Ba đảm đang, Năm xung phong… trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì nay trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vai trò của thanh niên lại được thể hiện ở các hoạt động như: Phong trào thanh niên lập thân, lập nghiệp, phong trào tình nguyện, hiến máu nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa…
Ngày nay, Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Cùng với việc thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng - Nhà nước đã xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, hạt nhân chính trị của phong trào và các tổ chức thanh niên Việt Nam. Tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa, ý thức công dân để hình thành thế hệ thanh niên có phẩm chất tốt đẹp, có khí phách và quyết tâm hành động thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ hội cho mọi thanh niên được học tập, không ngừng nâng cao trình độ, có tri thức và kỹ năng, vươn lên ngang tầm với thanh niên các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó không ngừng nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên đồng thời xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, phát triển toàn diện tích cực đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là điều kiện thuận lợi để đoàn viên thanh niên thể hiện tài năng, sức trẻ, nhiệt huyết, khả năng cống hiến hết mình vì Tổ quốc. Bởi vậy, trong tất cả các nghị quyết đại hội Đảng cũng  như nhiều khóa họp của Trung ương Đảng về công tác thanh vận, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn thống nhất và trở thành cương lĩnh chính trị nhất quán của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.  Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: "Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống, tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ; khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại; hình thành một lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc”. Đặc biệt, Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) đã dành thời gian trong chương chương trình nghị sự để quyết định những vấn đề quan trọng trong đề án: “Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước; tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa vì cộng đồng…, phấn đấu cho mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Ngày 11 tháng 9 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 45/NQ-CP về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã xác định rõ mục tiêu: Chú trọng xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, có lối sống văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội XI của Đảng cũng nhấn mạnh phải: “Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng đã nhận định: Trong những năm tới, tình hình thế giới sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao nhưng cũng còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra tiếp tục tồn tại. Đặc biệt, nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp rất đáng lo ngại. Những yếu tố đó tác động mạnh mẽ đến thanh thiếu niên và đặt ra yêu cầu cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ.
Để nâng cao, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ công tác giáo dục, đào tạo phải được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng. Đại hội XII của Đảng nêu lên phương hướng và nhiệm vụ trong thời gian tới:  “Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ. Có cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực. Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tham gia các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách”.
Kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam 15.10.2016, toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cùng nhau ôn lại, suy ngẫm lời căn dặn  của Chủ tich Hồ Chí Minh về việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, bền bỉ, nhưng dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta nhất định thực hiện thành công để các thế hệ trẻ cùng: "Giúp sức vào xây dựng một nước nhà tốt đẹp - một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 289 - tác giả Elia Wilkinson Peattie

 (1862 – 1935) là một tác giả, nhà báo, nhà phê bình người Mĩ. Khi mà Thời đại Vàng Son ở Mĩ chuyển thành Kỉ nguyên Tiến Bộ thì Elia Wilkinson Peattie đã nổi bật lên với vai trò là người phụ nữ hiếm có dùng ngòi bút mình để chỉ dẫn, giải trí và làm giàu thêm cuộc sống độc giả của mình.
ĐỨC MẸ KHÔNG CON



Bạn có để ý con phố giăng mình giữa tàn tích đổ nát của những nông trại cũ đó – con phố giờ nép mình bên sự yên tĩnh ngăn nắp của những sân thượng cỏ mọc phô ra vết cắt bằng đất sét gồ ghề và mặt đường lát gạch gọn gàng không?
Lola sống trên một trong những đống đất sét đó. Những bậc thang mà cô leo lên gạch đã hỏng mà ngay cả bước chân nhẹ nhàng của Lola cũng thường làm một viên bong ra lúc cô trèo lên phòng mình bên dưới đám dây nhợ. Mấy cột dây thép nặng trĩu dây điện báo bên sườn ngôi nhà bên bờ sông và bên trên căn phòng nghèo nàn của Lola, gió chơi cây đàn hạc hàng trăm dây, với tiếng vù vù vo ve, tiếng hét inh tai bị bóp nghẹt, và tiếng như của biển ru cô gái mỏi mệt vào giấc ngủ. Kìa, trên chiếc giường với tấm đệm rơm, cô nằm trong cơn mê trước khi rơi vào giấc ngủ tuổi trẻ và để nhịp lên xuống của giai điệu không rõ ràng ngân lên trong cơ thể nhỏ bé của mình.
Cha Lola – người trông giống cướp biển hoàn lương không hoàn toàn – và mẹ Lola – người có khuôn mặt của một người nhà Borgia(1) đã đến hồi tàn tạ - ngủ dưới lầu trong ngôi nhà cũ vì họ không thích tiếng của mớ dây điện. Và ngay phía sau phòng họ là phòng mấy con chó bun ngủ. Cha mẹ Lola rất cầu kì về đám chó này. Họ luôn cho chúng ăn uống đầy đủ và phải hiểu rõ về chỗ ở của chúng. Họ không chăm sóc Lola kĩ được vậy.
Lola đứng cả ngày trong gian hàng trái cây với tấm bạt sặc sỡ buông xuống góc đường có nắng náo nhiệt nhất trong thị trấn. Dưới những dây nho, cô nhút nhát nhìn ra những cô gái Mĩ vui tươi khi họ đi qua. Họ dường như đã quen với cuộc sống. Họ làm việc như đàn ông. Tất nhiên Lola cũng làm việc. Nhưng chuyện đó khác nhau. Cô là nông dân. Và ở Mĩ không có nông dân – ít nhất là Lola nghĩ vậy. Cô đang học tiếng Anh từng chút một. Nói thì không hay cho lắm nhưng cô vẫn thấy tự hào khi nói. Nó làm cô thấy mình biết nhiều lắm.
Nhưng có chuyện gì đó không ổn với Lola khi ở ngoài đường. Cô cảm thấy thất vọng mỗi lần nhìn họ. Cô thích nhắm mắt lại và thấy một con đường khác mà mình nhớ rõ, nơi những tia nắng dài và bóng râm đổ xuống bên kia một mái vòm của tòa nhà đồ sộ, bên dưới có những người phụ nữ mang khăn trùm đầu sặc sỡ đi qua, trên đầu bầu trời dịu dàng lướt nhanh, cả ngày đầy mơ mộng và ngay cả cái nghèo cũng nhuốm màu hạnh phúc khiến cho cuộc đời trở nên ngọt ngào.
Hầu như lúc nào cũng có tiếng nhạc trên những con phố Lola mơ về. Có những tòa nhà tráng lệ và một vài trong số đó có những phòng triển lãm tranh rộng lớn nơi có những ngày Lola bước vào với đầu ngẩng cao và niềm vui ấm áp chảy qua cơ thể nhỏ bé của mình, nước mắt sẽ dâng lên trong mắt cô do những bức tranh gây ra, thứ cô không thể nào nói thành lời.
Rồi tâm trí Lola quay lại những dặm dài biển và đất liền của cái thành phố trẻ trơ trụi ở thế giới mới, nơi không có âm nhạc và nếu có thì cũng không ai dừng lại để nghe. Còn những bức tranh trong cửa sổ mà Lola dừng lại nhìn khiến cô quay đi thở dài và đi trong khát khao mà không biết vì sao. Lola vẫn yêu bầu trời ở đây gần bằng bầu trời cô biết ở nhà. Thật ra mà nói thì nó không dịu dàng như bầu trời mà cô nhắm mắt lại suy tưởng về. Thay vì thế nó xanh thăm thẳm, không mây, tuyệt diệu; không khí có màu trắng – không phải vàng như ở thành phố mà đôi chân trẻ thơ của cô từng bước lên kia. Vào cuối ngày, hoàng hôn mà cô ngắm nhìn từ khung cửa sổ trên cao của phòng mình đỏ như máu và có những vệt tía như áo choàng của một vị vua hay ánh lên màu vàng hoàng kim sáng tới mức đôi khi Lola nghĩ mặt trời đã tan chảy và biến thành một đám mây. Chỉ có những thứ như thế này mới làm Lola hạnh phúc được trong cái thị trấn xa lạ này nơi không ai nói ngôn ngữ của cô. Rồi có một ngày kì diệu nọ khi thế giới biến hình. Cha mẹ cô – những người không bao giờ vui vẻ hơn mức bình thường – mượn chiếc xe ngựa hỏa tốc của người giao hàng được cấp phép Giovanni sống cách đó hai khu nhà rồi họ và Lola cùng nhau lái xe đi dạo về nông thôn. Đôi bàn tay nhỏ nhắn rám nắng của cô đan vào nhau để trong lòng. Cô ngồi nhìn xa xăm ra một thế giới mới.
Có những ngọn đồi mang toàn sắc vàng của hoa hướng dương, những ngọn đồi khác mang màu tía của loài cúc tây dại, và bên lề đường những chùm hoa vàng mỏng manh đung đưa. Trên những con dốc đứng xa xa làn sương khói mùa thu đang yên giấc cùng tử đinh hương.
Đêm đó mớ dây kêu to chưa từng thấy. Có lẽ cô sẽ thấy chuối chín nẫu sáng hôm sau hoặc sẽ mắc lỗi trong việc trả lại tiền thừa – tiền nong thật là rắc rối. Bất luận thế nào cha cô cũng thấy cô làm sai. Cô luôn bị bắt gặp mắc lỗi. Sẽ tuyệt vời làm sao nếu cô biết được ai đó ở cái đất nước mới mẻ này nói chuyện tử tế với mình! Nhưng mấy người Mĩ gấp gáp này họ không có thời giờ cho tình bạn. Ôi chao cái mảnh đất kinh khủng này nơi đàn ông đàn bà làm việc, làm việc, làm việc và không có lễ hội mà chỉ có những ngọn đồi với hoa hướng dương là đẹp mà thôi! Thế nên trong tưởng tượng cô xây cho mình một ngôi nhà trên những ngọn đồi vàng và sống ở đó.
Sáng sớm hôm sau cô xuống gian hàng trái cây, không hiểu sao cô rất mệt và khổ sở. Một cơn gió lạnh thổi trên con phố rộng và hất bụi vào mắt Lola. Bầu trời xám xịt. Tại sao có người lại mong được sống khi bầu trời xám xịt cơ chứ? Lola buồn bã sắp xếp trái cây cho gọn gàng. Cô xếp mận thành từng đống hình chóp nhỏ và lật ngược mấy thùng quả sung; cô che chắn mớ nho treo trên nóc cái sạp nhỏ của mình, đánh bóng táo, làm cho mọi thứ trở nên hoàn hảo, cô loạng choạng đứng trên một cái thùng với một nải chuối khổng lồ để cột nó ngay giữa sạp.
Cánh tay cô run rẩy khủng khiếp – mấy trái chuối này mọc thành nải lớn – bất thình lình cô ngã giữa đống thùng và phút chốc đã nằm trên sàn với một giọt máu lăn xuống má. Đám dây điện kêu réo đã có tác dụng!
Rồi có ai đó đỡ cô dậy. Lola mở mắt ra dù phải ráng sức lắm mới được. Trời ơi! Đó là một người Mĩ! Anh còn trẻ với đôi mắt xanh. Dù sao Lola cũng chán nhìn thấy mắt đen rồi. Tóc anh gần như có màu vàng và da trắng. Anh ta cao lớn – Lola thích đàn ông cao lớn. Mà anh ấy mới mạnh mẽ làm sao! Anh đặt cô ngồi lên ghế và lau máu trên má cô. Rồi anh rời đi để cô ngồi yên chờ đợi, tự tin là anh sẽ quay lại. Anh trở lại thật và đặt thứ gì đó lên má cô che vết thương nhỏ lại để cầm máu, anh cho cô thứ gì đó đựng trong một cái cốc nhỏ. Rồi anh cột chuối lên. Vài chàng trai đi qua và cười anh. Anh gật đầu và cười lại với họ. Khi tất cả đã xong anh nhấc mũ lên chào Lola và dợm chân bước đi.
Thế là Lola đứng phắt dậy. Anh có nghĩ cô là một kẻ vô ơn bạc nghĩa không? Cô chụp lấy tay anh và hôn nó. Chàng trai trẻ lắc bàn tay cho lơi ra và đỏ mặt. Lola cũng đỏ mặt và nói một cách thảm hại: “Anh không thích thế sao?”
“Ồ cô nói được tiếng Anh à? Phải, tôi không thích vậy. Tôi có thể hôn tay cô nếu quen làm vậy hơn. Chuyện đó có ý nghĩa cả đấy. Nhưng ở nước Mĩ này chúng tôi nói cảm ơn bất kì ai làm chúng tôi vui. Chúng tôi không hôn tay.”
Lola gục đầu xuống.
“Nhưng đừng bận tâm,” chàng trai trẻ kêu lên vui vẻ. “Coi này, xét cho cùng thì cũng đâu tệ lắm. Đừng làm mặt thế. Tôi hi vọng má cô không làm cô đau lắm.”
“Không đâu.”
“Tôi ghét phải để cô lại một mình. Cô vẫn chưa hoàn hồn đâu. Chẳng việc gì cô phải cột mấy nải chuối đó lên hết. Tôi chỉ muốn cột nải đó thôi. Không có ai tôi có thể gọi tới ở với cô à?”
“Không không,” Lola lo lắng kêu lên.
“Thôi chúc buổi sáng tốt lành vậy. Đừng nghĩ tôi phiền lòng chuyện cô làm nhé. Đây, bắt tay theo phong cách Mĩ nào, và nói cảm ơn.”
Lola chìa bàn tay rám nắng, mảnh dẻ của mình và anh thân mật bắt lấy.
“Cảm ơn,” cô nói nhẹ nhàng, bỏ thêm nguyên âm vào cuối mỗi từ. Cô ngước đôi mắt tràn đầy nỗi cô đơn không thể gọi tên lên tìm kiếm điều đó trên khuôn mặt anh.
“Gì vậy?” anh hỏi khi nhận ra có gì đó trong ánh nhìn.
“Tôi không biết,” cô hờ hững nói.
Chàng trai trẻ nhấc mũ chào và đi mất.
Nhưng tối đó trên đường về anh dừng lại một chút. Cha Lola đang ở đó kêu gọi om sòm để bán hạ giá đống nho. Lola ngồi phía trong sạp hàng suy nghĩ ủ ê. Cô khoác một tấm khăn choàng sọc kẻ sặc sỡ chống lại cơn gió ào ào, tóc cô bay lung tung quanh gương mặt sẫm màu. Chàng trai cười với cô. Vô tình khát khao mãnh liệt trở lại trong mắt cô. Đó là lần đầu tiên có người ở Mĩ nói chuyện với cô như vậy với nụ cười thân thiện. Cô rạng rỡ cười đáp lại, mắt cô long lanh và cô nhoẻn miệng cười để lộ hàm răng trắng, nhỏ, đều đặn. Da cô đỏ ửng lên. Thái độ cô trở nên vui vẻ điên cuồng như thể cô muốn nắm lấy tay anh và chạy lên dãy đồi đó nơi có hoa hướng dương và được hạnh phúc. Chàng trai trẻ mua ít quả chà là một cách lơ đãng, mắt anh cứ nhìn cô chăm chú. Rồi anh đi qua người đàn ông gào thét có gương mặt của cướp biển không được cải tạo, và nói với cô: “Tên cô là gì?”
“Lola,” cô nói với giọng âu yếm.
“Lola sao?”
Cô gật đầu và đưa ngón tay về hướng cha mình để cảnh báo. Đèn pin bừng sáng ném một tia sáng đỏ lên khuôn mặt phấn khích của cô. Chàng trai trẻ đi tiếp với nỗ lực rõ rệt và môi mím chặt lại như thể anh quyết tâm phải làm vậy.
Dù giải pháp đó là gì thì cũng không đủ giữ anh không dừng lại chốc lát mỗi buổi sáng để nói một lời. Cô học cách nói tên anh, chỉ là lúc nào cô cũng nói “Jaka” thay vì Jack. Nhưng thế thật quyến rũ. Cô nhớ những từ tiếng Anh nghe được và sau đó hỏi anh cho biết nghĩa. Cô hỏi anh có phải là người Công giáo không và cầu nguyện cho anh hai lần mỗi ngày khi biết anh là người theo dị giáo. Họ có những cuộc nói chuyện kì lạ. Cô hỏi anh hoa hướng dương nở được bao lâu trên đồi, và khi được bảo chỉ ba bốn tuần là lâu nhất thì mặt cô tái nhợt. Đó là những thứ đẹp đẽ duy nhất cô thấy ở miền đất lạnh lẽo này, và cô bảo anh vậy.
“Cái đẹp,” anh nói, “tại sao không có giờ nào cả ngày lẫn đêm mà những ngọn đồi đó không đẹp được. Tôi từng thấy chúng trong bão tố và trong ánh nắng, vào ban ngày và ban đêm từ hồi còn nhỏ, và tôi chỉ biết đó là cái hiểu biết đáng giá nhất khi nhìn những ngọn đồi đó.”
Lola hoàn toàn hiểu rõ anh. Đó là cách cô cảm nhận được về những nơi khác – về biển.
“Những ngọn đồi tốt hơn sách,” anh nói. Lola tỏ thái độ khinh thường.
“Sách à,” cô khinh khỉnh kêu lên, “xì!”
Điều này làm Jack hơi lo. Anh muốn quan tâm chu đáo tới điều nhỏ nhặt. Thế là anh mang sách tới, cô bắt đầu học chút ít và có tiến bộ bởi cô thành tâm học.
Mỗi ngày cô lại thêm đáng yêu. Nhưng Jack vẫn giữ nguyên quyết tâm bảo vệ mình không mất đi lòng tự trọng, nhưng đó là thứ khiến cho nước mắt cô rơi hàng đêm khi nằm trên tấm đệm rơm mới và nghe tiếng dây thép rền rĩ. Không, không! Làm sao những quyết tâm đó giữ cho cô không đi đi lại lại trong căn phòng nghèo nàn đó tay bị ghì chặt trong đau đớn tột cùng và hàm răng nghiến chặt được? Làm sao nó giữ cho cô không đau đớn quằn quại trong sự tra tấn tinh thần khi nằm trên giường được? Làm sao Jack Morris, điềm đạm và có đạo đức, biết gì là niềm đam mê trái với luân lí thứ giằng xé trong lồng ngực cái kẻ hoang dã nhỏ bé xinh đẹp này được? Làm sao một người đàn ông sinh ra ở miền bắc biết được một người phụ nữ miền nam nghĩ hay làm gì?
Và rồi một ngày đáng sợ hơn bất kì ngày nào khác đến. Lúc đó vào giữa mùa đông, tuyết lùa quanh cái sạp nhỏ. Lola đang nướng hạt dẻ và khá vui với công việc này. “Jaka” đột nhiên nhìn vào cửa – đó là giờ anh đi làm về.
“Anh đến để mang cho em một món quà Giáng sinh nhỏ,” anh nói, “dù vẫn chưa đến Giáng sinh. Nhưng anh sắp đi xa. Anh sẽ đi một thời gian dài. Và khi trở lại, Lola à, anh sẽ dẫn theo vợ - một người vợ trẻ xinh đẹp. Anh sẽ đi xa để kết hôn. Anh rất vui về chuyện đó và đến để kể em nghe chỉ vì anh mong em nói cho anh biết liệu em có định làm gì như thế không.”
Lola nhận lấy món quà nhỏ và mở giấy gói. Đó là một sợi dây chuyền nhỏ bằng bạc với một trái tim bé xíu viền bằng ngọc lam. Cô đeo nó lên cổ không nói một lời, thậm chí không cảm ơn và rồi cô đứng nhìn Jack Morris bình tĩnh tới mức anh chắc chắn như vẫn thường vậy, rằng anh cảm thấy máu trào lên trán mình. Đó là một cái nhìn buồn bã – một cái nhìn sâu thăm thẳm chất chứa đầy suy nghĩ mà anh chẳng thể nào hiểu được. Nhưng ánh nhìn làm anh kích động và muốn đi. Trong ánh nhìn có sự từng trải ngàn đời như thể cô gái đã tìm ra một bể tri thức của nhân loại mà anh không biết đến. Anh bắt tay cô nồng nhiệt và cô vẫn cứ dán chặt đôi mắt đen vào anh. Thế là cô không gặp anh trong một thời gian dài.
Trong khi đó, cha cô nói về Achille Morisini, người sở hữu một cửa hàng, một chiếc xe ngựa giao hàng và mong muốn được cưới cô. “Tùy ý cha thôi,” Lola nói thế. Có quan trọng gì đâu. Tốt hơn là lấy chồng. Phụ nữ ai cũng lấy chồng. Hơn nữa Achille tử tế và chính anh ta đã nói là anh ta thích cái cách người Mĩ đối xử với vợ. Anh ta muốn trở thành người Mĩ. Thế nên họ kết hôn trong nhà thờ. Họ sống với nhau đằng sau cửa hàng của Achille. Theo một cách nào đó thì họ là bạn tốt của nhau. Lola không còn run rẩy sợ hãi như hồi cô có lí do để sợ miệng lưỡi của bà mẹ và nắm đấm của cha. Thật ra mà nói ngày xưa có những lần trái tim cô nhẹ nhõm mà sẽ không bao giờ được như thế nữa. Nhưng đó là vì – nhưng nghĩ tới thì ích gì đây? Cô vẫn thích mang tấm khăn choàng sáng màu mà Jack mê. Và cô nghĩ về những điều anh nói với cô – nhiều tới mức cô không nghe thấy Achille khi anh nói tới lúc anh gay gắt gọi, hỏi rằng có phải cô bị điếc không.
Mùa đông mới dài làm sao! Tuyết và băng giá thực sự khắc nghiệt. Tại sao, Lola hỏi, khi lá lìa cành, trái tim dường như cũng chết theo? Thế mà mùa xuân – biểu tượng cho cuộc sống tốt đẹp hơn của Chúa – cuối cùng cũng đến dù mùa đông ảm đạm, chim chóc trở lại và trên mặt đất bên ngoài hoa xuân xanh như bầu trời tháng tư vậy. Quỳ trên sàn nhà thờ lát đá, cô bày tỏ sự sám hối rầu rĩ với những ý nghĩ cày xới thật sâu trong linh hồn mình và để lại sẹo ở đó như dòng nước ngọt để lại dấu vết của cơn giận dữ điên cuồng của chúng giữa đồng cỏ. Trong tim cô vẫn có nỗi khát khao mãnh liệt cô đã biết đến rất lâu rồi, thứ mà cầu nguyện không bao giờ thỏa mãn được. Thỉnh thoảng Achille lại trông nghiêm trang.
“Mình không có con,” anh vừa nói bằng tiếng mẹ đẻ vừa lắc đầu nghiêm nghị. “Mình còn cả tương lai phía trước, chỉ là mình không có con thôi.” Lola nhìn anh không nói gì. Đằng sau sự im lặng của cô có một ý nghĩa mà cô không thể nói thành lời. Thế mà giờ cô đã vui hơn. Ánh mặt trời làm cô thích sống – cô thực sự sống trong mùa hè. Khi những cây đinh tán trông như những bó hoa và hoa loa kèn nở, khi buổi đêm tĩnh lặng và trong lành, và khi mặt trăng treo la đà trên dòng sông và dốc đứng, lúc đó Lola muốn sống. Thế rồi mùa hạ tàn phai. Gần như lúc nào cô cũng im lặng.
“Em không có miệng lưỡi của phụ nữ,” Achille nói. Vậy mà anh vẫn tự hào về Lola. Cô là một người vợ tốt. Và cô không bao giờ cự cãi.
Thu lại đến, và một lần nữa những ngọn đồi lại tuyệt đẹp với hoa hướng dương. Rồi nó lại tàn, những ngày thu muộn nhuộm tía cả dãy đồi. Rồi lá chuyển vàng cuốn quanh những con phố. Một ngày nọ khi Edna đứng giữa những trái nho cuối mùa, hơi run run nhưng vẫn sung sướng trong một ngày tuyệt diệu như vậy, toàn bộ những suy nghĩ thầm kín của cô, một giọng nói quen thuộc như giọng chính cô vang lên. Cô nhìn quanh với ánh nhìn chậm rãi dán lên khuôn mặt “Jaka” vẻ mặt y hệt mà cô nhớ đã thấy ở đó một năm trước. Anh vẫn vậy – không khác chút nào. Chỉ khác trên tay anh là một đứa bé với đôi mắt xanh hoảng hốt nhìn láo liên khắp nơi và đôi bàn tay bé xíu vươn ra.
“Nó muốn em,” cô nói, và Jack trao cái vật nhỏ bé cho cô qua đống trái cây trên quầy.
“Giờ em đã ở nhà chồng rồi Lola,” anh nói một cách dễ thương. “Anh mừng khi thấy em ở đây. Anh biết em sẽ thích ngắm con anh. Con em đâu không cho anh gặp sao?” Nhưng những lời nông nổi chết ngay trên môi anh. Vì anh thấy một niềm say mê to lớn lướt qua mặt cô, và khuôn mặt sẫm màu rạng rỡ lên khi cúi xuống đứa trẻ.
Cô quay đôi mắt đẫm lệ qua nhìn anh rồi trở lại nhìn đứa bé, lúc đó anh biết sự thật và đoán ra cái ý nghĩ khiến mặt cô nhợt nhạt. Đột nhiên, với một cử chỉ mau lẹ và dịu dàng như sự mạnh mẽ của Đức mẹ đối với Chúa hài đồng, cô kéo đứa bé lại gần ngực mình và giữ ở đó như thể mong mỏi của cô có thể buộc dòng nước ngọt ngào của bầu ngực người mẹ chảy vào cái miệng hồng hào đó.
Jack đưa tay ra lấy lại đứa bé, mặt trắng bệch khi ý thức được điều mình vừa nhận ra. Và cái cảnh cô đặt đứa bé trong vòng tay anh với cảm giác hiến tế khiến cô trông không giống thứ gì trên đời hết.
Những lời người đàn ông định nói chết trên môi anh. Lola quay đi và vòng tay ôm lấy ngực như thể để làm dịu đi cơn nhức nhối một người mẹ cảm thấy khi đứa con yêu dấu mình chết đi.
                                                   TRƯƠNG THỊ MAI HƯƠNG dịch
Nguồn: plainhumanities.unl.edu


Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 289 - tác giả LINH NGA NIÊ KĐĂM





NHỮNG NGHỆ SỸ CỦA BUÔN LÀNG
           


Tối 1.9.2016, Sở VHTT&DL Đắk Lắk tổ chức đêm nghệ thuật “Những đứa con của đại ngàn” tôn vinh, trao bằng công nhận “Nghệ nhân dân gian” cho các nghệ nhân xuất sắc của buôn làng; và trao bằng NSND cho Trưởng đoàn ca múa dân tộc Đắk Lắk Y San Aleo, NSƯT cho ca sỹ Y Zoel Knul, vì sự cống hiến cho nghệ thuật diễn xướng các dân tộc tỉnh Đắk Lắk.

NSND Y San Aleo
Năm 1975, có một người con trai Êđê của buôn Niêng (xã Ea Nuôl, thành phố Buôn Ma thuột) rời bỏ rẫy nương và những đàn bò, rụt rè đặt những bước chân đầu tiên trên con đường đến với nghệ thuật. Đôi chân trần vốn chỉ quen dầm trong bụi đất đỏ bazan, với những con đường rừng và dòng suối bỗng phải tập làm quen với đôi giày múa, chiếc gióng tập, nhất là với những động tác bẻ chân, uốn tay cơ bản của múa Balet, múa dân gian, đòi hỏi cơ thể không chỉ có sự mềm dẻo, linh hoạt, mà còn cả một tâm hồn nhạy cảm với âm nhạc.
May thay, như mọi gái trai Tây Nguyên khác, Y San Aleo lớn lên cùng những lễ hội triền miên theo nông lịch và theo vòng đời của đời sống buôn làng. Nhịp ching Char dồn dập náo nức bay khắp đại ngàn, những tiếng sáo đing buôt, đing năm nỉ non trên rẫy, trong nhà dài, câu hát k’ưt mênh mang, điệu eirei rộn ràng... đã thấm đẫm trong tâm hồn những đứa con sinh ra giữa núi rừng, hun đúc cho anh không chỉ năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh, mà còn cả lòng yêu đến say mê những làn điệu dân ca, dân nhạc của chính mình.
Sau một lớp bồi dưỡng ngắn hạn của đoàn, do một số diễn viên múa từ ngoài Bắc chuyển vào hướng dẫn, Y San Aleo nhanh chóng hoá thân vào những giai điệu, những động tác múa đã được chắt lọc từ cuộc sống đời thường nơi buôn rẫy, để trở thành một diễn viên múa chính của Đoàn ca múa tỉnh Đắk Lắk. Cùng các bạn đồng nghiệp một thời như Y Dôch, H’Djoan, H’Boan, Quỳnh Như, Mỹ Lệ, Mạnh Trí... miệt mài trên những chặng đường đem ánh sáng văn hoá nghệ thuật tới mọi buôn làng trong tỉnh, đến mọi miền đất nước đã thống nhất, hay cả nước bạn Cămpuchia để thay cho lời chào đoàn kết anh em. Thế hệ diễn viên trẻ đầu tiên của Đoàn Đắk Lắk sau ngày giải phóng miền Nam, đã cùng nhau đem về nhiều giải thưởng cho các chương trình biểu diễn của Đoàn.
Y San Aleo vắt kiệt những giọt mồ hôi mặn chát của mình tưới trên sàn tập, để thăng hoa dưới ánh đèn sân khấu theo mỗi nhịp nhạc, cho dù là trong vai múa tập thể Cư ka dăm dra (của Siu Lai & Ama Nô), Chim Grăng (của Kpă Púi), Ring rieo, Múa rìu, Mnông Bro (của Long Ta – Quang Dũng) hay múa đôi  Tình ca bên suối (của Kpă Púi)... cho đến tột đỉnh vinh quang của anh là tác phẩm múa đơn Kong koh (của Long Ta –Quang Dũng), đoạt huy chương vàng tại hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc 1982 ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả này không đơn thuần là tài năng của đạo diễn NSƯT Long Ta – âm nhạc Quang Dũng, mà còn là khả năng biểu diễn xuất thần của Y San. Tiết mục đã được Hội Nghệ sỹ Múa Việt Nam xếp hạng là một trong những tiết mục múa solo “kinh điển”  trong kho tàng nghệ thuật múa chuyên nghiệp.
Không tự bằng lòng với mình, Y San còn mày mò tự học âm nhạc để không chỉ thoát khỏi sự “mù nhạc” mà còn diễn tấu thành thạo cây đàn acoocdeon - tiền đề cho sau này “tung tẩy” với cây sáo vỗ, một nhạc cụ sáng tạo của NSƯT Vũ Lân, để đem về cho Đoàn một Huy chương bạc (sau này trong chương trình biểu diễn của Trường Cao đẳng VHNT Quân đội, cũng với cây sáo vỗ, Y San đã giành được Huy chương vàng). Với một tâm hồn nhạy cảm ươm trong nhịp điệu của ching chêng, những âm thanh huyền ảo của đại ngàn, cây sáo vỗ trong tay Y San Aleo đã từng làm rung động trái tim & sự khâm phục của bạn yêu nhạc trong cả nước và quốc tế. Những chuyến lưu diễn Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Thuỵ Điển... độc tấu sáo vỗ của Y San luôn là một trong những tiết mục chủ chốt trong chương trình biểu diễn của Đoàn ca múa dân tộc tỉnh Đắk Lắk.
Nếu có ai biết Y San ALeo đã từng một lần từ ngưỡng cửa Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh (sau khi đã thi đậu) quay trở lại Đắk Lắk, vì không vượt nổi những khó khăn đời thường của cuộc sống gia đình, mới hiểu hết sự nỗ lực của anh khi bứt ra khỏi mọi ràng buộc, để rồi tốt nghiệp điểm giỏi ở khoa Cao đẳng Biên đạo múa của Trường Đại học VHNT quân đội. Tiết mục kịch múa “Nhân sinh” (kịch bản & âm nhạc An Thuyên) mà tập thể lớp biên đạo, trong đó có Y San là đồng tác giả, đã được Hội Nghệ sỹ Múa VN trao giải A năm 2005.
Được trang bị kiến thức chính quy, Y San Aleo lại nhanh chóng gặt hái những thành công mới, tiết mục múa Khiang bar dựa trên chất liệu múa dân gian Mnông của anh, đã giành được Huy chương bạc trong Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp tháng 11.2005 tại thành phố Hồ Chí Minh. Các chương trình nghệ thuật của Đoàn do anh chỉ đạo, đều nhận được nhiều huy chương Vàng, Bạc trong các Liên hoan nghệ thuật ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc.
Ghi nhận những đóng góp suốt 40 năm qua cho nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên của người nghệ sỹ Êđê, năm 2007, Nhà nước đã trao tặng Y San Aleo danh hiệu cao quý “Nghệ sỹ ưu tú”, năm 2016, Nhà nước tiếp tục trao danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân.
Với vốn sống dồi dào về nghệ thuật diễn xướng của vùng cao nguyên đất đỏ, một tình yêu quê hương nồng nàn đến “cực đoan”, NSƯT Y San Aleo, người trưởng đoàn của Đoàn ca múa dân tộc Đắk Lắk, bất chấp hoàn cảnh khó khăn đến đớn đau của gia đình riêng, vẫn nỗ lực cống hiến hết mình và chắc chắn sẽ còn có nhiều thành công trên con đường nghệ thuật dân tộc.

NSƯT Y Zoel Knul                                                                
Với một giọng hát đầy nội lực như những đứa con Tây Nguyên sinh ra và lớn lên trong âm hưởng tuyệt đẹp của ching chêng và nhạc điệu hồn nhiên trong trẻo của  rừng suối, Y Zoel Knul đã từng thi đỗ và là học sinh khoa thanh nhạc của trường Trung cấp VHNT tỉnh. Do hoàn cảnh gia đình trớ trêu, Zoel sớm phải rời ghế nhà trường quăng mình vào cuộc sống. Đắm chìm trong những cơn say mong giải tỏa được nỗi buồn và tình yêu nghề gặm nhấm tâm hồn, không tấm bằng nghề nghiệp trong tay, Zoel lang thang hết đơn vị nghệ thuật ở huyện này đến huyện khác, ở tỉnh Đắk Lắk đến Đăk Nông. Cho mãi đến ngày Đoàn Ca múa dân tộc Đam San mở rộng vòng tay đón nhận cả hai vợ chồng (H’Loen - vợ anh cũng là một ca sỹ). Ổn định được cuộc sống gia đình, Zoel như cánh chim Gur Tuk của đại ngàn, thỏa sức vẫy vùng cất tiếng hót vang bầu trời âm nhạc cao nguyên. Anh và các bạn nghề ở đoàn Đam San mang lại nhiều HCV, HCB và cả hàng ngàn những tràng vỗ tay cho giọng ca đầy sức sống của đại ngàn.
Cho đến một ngày hình như Yang hé mắt nhìn xuống trần gian, nhận thấy sự bất hợp lý, rằng vợ chồng ca sỹ Y Zoel Knul phải trở về hát trên chính quê hương mình. Sở VHTT Đắk Lắk đã vượt mọi thủ tục, tạo mọi điều kiện để vợ chồng Y Zoel trở lại môi trường nghệ thuật tỉnh nhà. An cư thì lạc nghiệp, Y Zoel lăn mình vào ca hát. Anh không chỉ là giọng ca chính của đoàn, mà còn tự mày mò học máy tính, để trở thành một trong những tác giả phối khí nhuần nhuyễn cho đội ca mà anh phụ trách. Dường như âm nhạc chất đầy một ngày chưa vơi được năng lượng tràn đầy của Zoel.
Cuộc sống của người nghệ sỹ không thoát khỏi tấm lưới chụp xuống, thít chặt của cơ chế thị trường. Vợ chồng Zoel chấp nhận mọi hình thức ca hát để nuôi sống gia đình nhỏ và theo đuổi con đường âm nhạc chuyên nghiệp. Anh không từ chối bất cứ cuộc biểu diễn nào, ở bất kỳ nơi đâu. Miễn là được hát. Mọi nẻo đường đất nước từ Nam ra Bắc, mọi buôn làng với những đường đất đỏ còn gập ghềnh. Kể cả vượt biển khơi xanh ra quần đảo Trường Sa hát với những người chiến sỹ giữ nước, hay cùng đồng nghiệp thắt chặt tình đoàn kết với bạn Lào, Campuchia bằng chính nghệ thuật của quê hương mình.
Sở hữu chất giọng nam cao sáng khỏe và đầy truyền cảm, các HCV, HCB cho tiết mục đơn ca, tình cảm yêu mến của khán giả những khi  anh cất tiếng hát, là con đường dẫn Y Zoel Knul tới danh hiệu NSƯT mà anh rất xứng đáng được trao nhận.
Hy vọng rồi Đắk Lắk sẽ có nhiều những nghệ sỹ tài năng, giàu nghị lực và tâm huyết với nghề như thế tiếp tục được Nhà nước trao tặng những danh hiệu cao quý.


Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 289 - tác giả INRASARA





THƠ ĐƯƠNG ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH
TÌM THỦ PHÁP MỚI



1. Có một nhà thơ kiêm nhà phê bình đã phát biểu rất vô tư và ngây thơ rằng: “Theo quan điểm của tôi, người ta chỉ tìm tòi khi người ta tập viết, mà tập viết thì chưa thành nhà văn được (...), viết văn mà còn phải tìm tòi, còn phải tập, phê bình mà còn phải theo phương pháp này phương pháp khác thì là chưa tới. Đừng để quần chúng phải thưởng thức những tác phẩm còn “ương”, chưa tới ấy”.
Tìm tòi và thể nghiệm, thử nghiệm và khai phá vùng đất mới, đề tài mới và lối viết mới là hành động tất yếu của mọi nghệ sĩ chân tính. Chối từ mọi lặp lại, chối từ ăn theo hay ăn mòn vào thành tựu của người khác và của chính mình. Ngay khởi đầu cuộc viết hay khi dở chừng bế tắc sáng tạo. Chính hành động “tìm tòi và thể nghiệm” ấy đã tạo nên bước ngoặt mới cho một đời sáng tác, thay đổi dòng chảy của một trào lưu văn chương, hay làm nên cuộc cách mạng với một nền văn học. Làm cho văn học phong phú, đa dạng và lí thú hơn.
Hành trình sáng tạo là hành trình của tiếp nhận, chối bỏ, tìm tòi và thể nghiệm. Thơ Mới chối bỏ thơ Đường luật và hát nói, tiếp nhận thơ Pháp, tìm tòi và thể nghiệm thủ pháp lãng mạn và tượng trưng để làm nên “một thời đại trong thi ca” Việt. Thơ Sáng tạo chối bỏ Thơ Mới, thơ hậu hiện đại chối bỏ thơ Sáng tạo… Cứ thế. Chối bỏ ở đây không phải là “chôn”, “đưa tang” hay vứt đi tất cả mà là, tiếp nhận, tìm tòi và sáng tạo. Hành trình này xảy ra giữa các thế hệ, trong một thời kì, thậm chí nơi mỗi nghệ sĩ sáng tạo. Có nhà thơ chẳng những thay đổi phong cách tác phẩm mà còn thay đổi cả hệ mĩ học sáng tác. Thay đổi hệ mĩ học sáng tác là khó, nhưng không phải không thể. Việt Nam đã có nhiều tác giả làm được như vậy. Chế Lan Viên đi từ tượng trưng (Điêu tàn) sang hiện thực xã hội chủ nghĩa (Ánh sáng và phù sa). Hàn Mặc Tử chuyển từ cổ điển (Thơ Đường luật) sang lãng mạn (Gái quê) qua một phần tượng trưng và siêu thực (Thơ điên, Thượng thanh khí…) chỉ trong thời gian ngắn. Hàn Mặc Tử như một Picasso trong hội họa. Liên tục tìm tòi, chinh phục và chối bỏ thành tựu của chính mình, để còn tìm tòi và chinh phục nữa.
“Trong lịch sử hội họa, Picasso là người gây ra nhiều lời mỉa mai cay độc nhất và cũng được ca ngợi nhất. Toàn bộ nền hội họa thế kỉ XX chịu sự chi phối của tác phẩm của ông, mà tác phẩm của ông thì thay đổi đến mức mỗi một thời kì (sáng tác) của ông cũng đủ cung cấp toàn bộ tác phẩm cho một họa sĩ khác” (J. Charpier & P. Séghers).
Cézanne trong mĩ thuật là tên tuổi lớn và dũng mãnh khác. Ảnh hưởng Pissarro, sau thành công ở vẽ theo ấn tượng thời kì đầu, không hài lòng với lối thể hiện của hệ mĩ học này, ông thách thức chính không gian của các nhà ấn tượng và chuyển hẳn sang trường tân ấn tượng. Để tạo nên bước chuyển quyết định đó, ông phải “tập” – rất nhiều. Núi Sainte-Victoire được vẽ đi vẽ lại nhiều lần từ năm 1885 đến 1906 là những bài “tập” bất hủ. Qua đó Cézanne “đã khai mào cho một cuộc cách mạng về hình thể dẫn tới nghệ thuật hiện đai” (Wendy Beckett).
2. Khác với tham vọng của chủ nghĩa tiền phong đòi cắt đứt mọi quan hệ, qua đó tạo ra một phong cách đặc thù đẫm tính cá nhân, một phong cách khép kín đầy ngạo mạn, chủ nghĩa hậu hiện đại muốn khôi phục lại sự liên hệ với tất cả cái gì thuộc về quá khứ. Hầu hết mọi thủ pháp hậu hiện đại đều đã được nhà hiện đại hay hiện đại hậu kì biết đến. Sự nhấn mạnh tính chủ quan trong văn bản, sáng tác thuộc dòng ý thức, biên giới mờ giữa các thể loại, hình thức phân mảnh và sự không liên tục của ý tưởng, chối bỏ thứ trau chuốt mang tính tu từ, khước từ phân biệt hình thức cao/ thấp, trí thức/ bình dân của nghệ thuật,… được chủ nghĩa hiện đại khai phá và đã có các thành tựu lớn, giai đoạn qua.
Nhiều đặc điểm ở hậu hiện đại đã có mặt ở các sáng tác hiện đại chủ nghĩa – không sai! Nhưng điều quyết định xẻ ranh khu biệt hậu hiện đại với cái khác nó, là: nền tảng triết học và thái độ. Thái độ, đó là trong lúc nhà văn hiện đại mô tả đầy chủ ý sự thể như nỗi bi thảm, và khóc than cho chúng trong nỗ lực gắn kết, tìm sự thống nhất một cách tuyệt vọng, thì nhà văn hậu hiện đại không những từ chối tham dự để dàn xếp, đưa chúng vào trật tự mà còn chấp nhận chúng, tán dương chúng, nhập cuộc chơi với chúng – khoái hoạt!
Thử điểm qua vài thủ pháp “mới lạ” được các nhà thơ đương đại quen dùng.
Đây là thời văn chương [của sự] cạn kiệt the literature of exhaustion, John Barth tuyên bố. Nhưng mươi năm sau thôi, ông nghĩ khác: Đây là thời văn chương [của sự] phong dật the literature of replenishment (John Barth, 1980). Khi khám phá ra rằng mỗi văn bản là một liên văn bản, mặc cảm đụng hàng không còn nữa. Phỏng nhại là sáng tạo, cắt dán là sáng tạo.
Rất nhiều nhà thơ lẩy ra các thành ngữ, tục ngữ hay ca dao có nội dung gần nhau, sắp đặt chúng theo hàng dọc, hàng ngang để tạo thành bài thơ; không ít người viết còn lượm nhặt các khẩu hiệu, các bảng cấm hay khuyến dùng để làm ra bài thơ nữa. Nhà thơ cũng có thể sử dụng tin từ tờ báo giấy hay thông tin trên mạng để làm thứ chất liệu cho bài thơ, như từ, cụm từ, hay cái gì nữa bất kì sẵn có; họ chế biến tùy ý, thêm vài nhận định chủ quan để làm ra bài thơ. Có bài thơ bắt đầu bằng thông tin dự báo thời tiết, rất đỗi bình thường:
Tin 12 giờ trưa:
gió cấp sáu cấp bảy, giật cấp tám cấp chín
lũ sông Cái trên báo động hai 0,4 mét
trời vừa quang nhưng đang chuyển, vài vùng còn mưa…
Tin 7 giờ chiều:
mưa kéo dài ba giờ liền trên diện rộng
đỉnh lũ trên báo động ba 0,3 mét, 0,5 mét, không phẩy…
Rồi là thông tin cắt ra từ báo, gần như không dính dáng gì đến “thơ” như ta từng quan niệm.
Những con số trêu ngươi
những con số thống kê vô hồn
1.137 căn nhà dân bị ngập sâu trong nước,
56 nhà bị sập hoàn toàn…
có kể luôn nhà cái Tem không?
                     (Kiều Maily, “Có nhà cái Tem không?”, Giữa hai khoảng trống, 2013)
Thông tin gần như in ra từ nguyên văn. Nhà thơ khiến người đọc cứ muốn đặt câu hỏi: ủa, cái gì đây? Thơ đâu rồi? Nhưng bất ngờ, cái câu: “có kể luôn nhà cái Tem không?” thay đổi tất cả. Một câu quyết định chuyển thông tin mang tính thông tấn vào tình cảm thật sâu đậm. Đó chính là thơ.
Thế nhưng, không phải vì thế mà thơ đương đại không có sự sáng tạo các thủ pháp đặc thù của nó. Khi thức nhận rằng lịch sử [hay tiểu sử cá nhân] không phải là quá khứ mà là câu chuyện về quá khứ do một cá nhân hay cộng đồng kể lại. Nó chỉ là một trong những diễn ngôn discourse, nhà thơ không e ngại nặn ra hàng loạt thông tin sai lệch, dư thừa và không cần thiết về một cá nhân, rồi nhét bừa vào bài thơ. Đó chính là thủ pháp siêu hư cấu sử kí historiographic metafiction, một lối viết không những làm méo mó lịch sử một cách có chủ ý, hòa lẫn lịch sử và giả tưởng, xáo trộn trật tự thời gian quá khứ nhằm phá vỡ tính mạch lạc của lối kể truyền thống.
Thể hiện tinh thần độc sáng, hầu hết các nhà thơ hiện đại chọn thơ tự do không vần trong các sáng tác, tránh tối đa các thể thơ truyền thống. Nhà thơ hậu hiện đại đối xử vô phân biệt truyền thống hay hiện đại. Họ xài đủ thể thơ có trong tay: lục bát, thơ tám chữ, thậm chí thơ Đường luật. Đó là cách làm của phong trào thơ tân hình thức, chủ trương "sử dụng thi pháp đời thường thay thế thi pháp cảm tính". Xưa, người Chăm cũng đã biết đến vắt dòng:
Patri tangi thei jwak drơh takai
Pathang kuw bhian nau mai, Dewa Mưno nan nhu hia
Nàng hỏi ai đi tựa tiếng bước chân
Chồng ta đi lại thường ngày, Dewa Mưno bật khóc
                                                                     (sử thi Akayet Dewa Mưno)
Kĩ thuật vắt dòng từng được các nhà thơ hiện đại dùng khá phổ biến:
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người
                                                         (Bùi Giáng, Mưa nguồn)
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sớm cũng mong. Cây
Cũng ngóng. Ngõ cũng chờ. Và bướm
Cũng thay màu đôi cánh đang bay.
                                                         (Chế Lan Viên, “Tập qua hàng”)
Nhưng chính Tân hình thức mới vận dụng triệt để nó, và nâng nó lên thành một trong vài thủ pháp chính của phong trào:
Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;

con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo

linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong…
(Khế Iêm, “Con mèo đen”)
Khác với thơ truyền thống chỉ nhấn vào vần và nguyên âm, nhà thơ đương đại chế tạo ra loại thơ phụ âm rất đặc thù. Cách làm này nhà thơ cổ điển cũng đã thử (hay ngẫu nhiên), như Tố Hữu: “Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”; Đặng Thân đẩy nó đến cùng bằng vận dụng nó triệt để trong các bài thơ của mình.
Thơ graphic sử dụng phần mềm graphic của thời vi tính để sáng tạo tác phẩm mới lạ mang nội dung của thời đại để tạo một cảm xúc đặc biệt. Dấn thêm một bước, Nguyễn Hoàng Nam còn chế tạo ra loại thơ phân thân chưa từng có tiền lệ. “Một bàn chưn” tự tách ra khỏi chủ thể con người để làm cuộc hành trình độc lập với cả chuỗi hành động qua cuộc phiêu lưu riêng lẻ, không liên quan đến con người từng “sở hữu” nó.
Thơ thị giác visual poetry của Nguyễn Hoàng Tranh, thơ cụ thể concrete poetry của Lê Văn Tài, thơ photo của Đỗ Kh. kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh; cả hai yếu tố này bổ trợ cho nhau tạo nên hiệu ứng thơ đặc biệt. Nhà thơ hôm nay không từ chối hay chống lại mà tận dụng mọi lợi thế của khoa học kĩ thuật, để làm thơ.
Không ít nhà thơ viết truyện rất ngắn nhưng vẫn cứ xếp nó vào mục thơ, có kẻ viết thơ như là viết tiểu luận ngôn ngữ. Quan điểm của chủ nghĩa hiện đại trong xáo trộn thể loại để làm ra một tác phẩm độc sáng, ngược lại hậu hiện đại: giải khu biệt hóa và phi tâm hóa ngay trong các thể loại. Kết hợp và trộn lẫn các thể loại, bên cạnh nhằm mục đích tạo nên một thể loại văn chương khác, mới, họ còn muốn nhấn vào tính liên văn bản của tác phẩm văn chương. Khi họ muốn gọi nó là bài thơ thì đó chính là bài thơ.
Cuối cùng, sáng tác hiện đại rất ý thức về tác giả, về bản quyền tác giả trên tác phẩm mình. Bởi họ tìm tòi và độc sáng. Nhiều nhà thơ đương đại nghĩ ngược lại: chẳng có gì là độc sáng cả. Mỗi sáng tạo là một vi phạm bản quyền, nhiều hay ít, ẩn hay hiện, lộ liễu hay kín đáo, nên họ không kiêng nể sử dụng ngay tác phẩm có sẵn và chế tác trên nó.
Chắc chắn sẽ có phản ứng: thơ như thế mà “khó” gì, cứ kí sinh trên tác phẩm của người khác, cứ xáo bừa mọi hình ảnh/ ngôn từ/ ý tưởng như nhà cái bầu tôm xóc dĩa làm thì cũng xong cái bài thơ. Và thơ để làm gì, nếu không sáng tạo được thêm thủ pháp mới, phương cách mới để khám phá hiện thực, nói lên tiếng nói sâu sắc, mới lạ để làm rung động lòng người?
Tất cả thủ pháp trên nói lên điều gì không, hay nó chỉ thuần là trò chơi kĩ thuật thời trang rẻ tiền? Nhớ rằng Cảm thức chủ yếu của hậu hiện đại là lối cảm nhận về thế giới như là một hỗn độn, con người bất tín nhận thức từ đó dẫn đến sự khủng hoảng niềm tin vào đại tự sự; Hành động cốt tủy của hậu hiện đại là giải trung tâm; Lối viết đặc trưng là giễu nhại; và cuối cùng Tinh thần văn phong của nó là tính phi nghiêm cẩn. Qua bốn đặc điểm vừa nêu, hậu hiện đại không là chủ nghĩa nghệ thuật thuần túy [như tượng trưng hay siêu thực chẳng hạn] mà là trào lưu văn hóa mang tính toàn cầu, tác động rộng lớn đến nhiều khía cạnh xã hội. Là chủ nghĩa thuần túy, người viết có thể muốn hay không vận dụng thủ pháp của nó vào sáng tác; còn hậu hiện đại, phải mang đầy đủ cảm thức hậu hiện đại, bạn mới hi vọng có sáng tác hậu hiện đại đúng nghĩa.
Các trào lưu và chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật cùng với các thủ pháp đặc thù của chúng không bao giờ gọi là lỗi thời. Không thể nói hậu hiện đại thì tiến bộ hơn hiện đại, tượng trưng thì lạc hậu so với cái gì đó. Ai dám bảo việc khám phá hoạt động vô thức của Freud và chủ nghĩa siêu thực thoát thai từ triết học đó là lạc hậu? Mỗi triết học đều giúp con người phương cách mới để khám phá hiện thực, mỗi trường phái văn nghệ đều có thể hiến tặng cho nghệ sĩ một cách biểu hiện khác trong nghệ thuật. Chúng góp nhiều chiều nhìn để làm phong phú cuộc sống tinh thần của nhân loại. Chỉ khi nào một nhà thơ đương thời lại lạm dụng quá nhiều các thủ pháp của các trào lưu nghệ thuật cũ, khi đó anh/ chị ta mới tỏ ra lạc hậu và chịu rớt lại với văn chương của người cùng thời.
Riêng thái độ cản trở sự hình thành và phát triển cái mới, là lạc hậu địch thị!
Thời đại khác, thơ cũng phải khác. Khác từ cảm thức cho đến cách viết, khác đến cả cách tiếp nhận. Thế hệ (không phải chuyện tuổi tác) khác, lối viết khác; và lối viết đó cũng đòi hỏi một bộ phận độc giả khác. Chính những “khác” này kích thích kẻ sáng tạo tìm tòi khai phá, thúc đẩy sự tiến bộ của tinh thần nhân loại.


Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 289 - tác giả MAI KHOA THÂU





TÌNH YÊU VÀ NỖI ĐAU TRONG THƠ
HÀN MẶC TỬ



Trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, không ít người tách riêng cuộc đời và văn chương của Hàn Mặc Tử. Có người thì coi tình yêu là đề tài chủ yếu trong thành tựu văn chương của ông, nhưng theo tôi tách biệt như thế là chưa thỏa đáng. Hai vấn đề, hai sự kiện – tình yêu và nỗi đau – là mối quan hệ đan cài vào nhau, quyện lẫn vào nhau, cái này  tô điểm  cho cái kia nhưng là một sự thống nhất mật thiết với nhau ở Hàn Mặc Tử.
Hàn Mặc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí là một nhà thơ tài năng, nhưng sớm bị bệnh hiểm nghèo rồi đoản mệnh. Điều này được thể hiện rõ nét qua bài thơ Những giọt lệ:
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si
Có lẽ ít có nhà thơ nào lại viết nhiều về máu và về trăng như Hàn Mặc Tử. Tôi đã thử thống kê một vài bài thơ thấy những cách nói, những hình ảnh về máu và về trăng trong thơ ông, được bộc lộ muôn màu muôn vẻ, đa hình thức thể hiện.
Ta hãy thử điểm qua những câu thơ có từ máu: mặt nhật tan thành máu, phượng nở trong màu huyết, điên cuồng mửa máu ra, xin dâng này máu đang tươi, kìa ai gánh máu đi trên tuyết, đứng ngửa tay và hứng máu trời sa, mửa ra từng búng huyết, bao nét chữ quay cuồng như máu vọt, máu đã khô rồi, thơ cũng khô....
Ta hãy thử điểm qua những câu thơ có hình ảnh trăng: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu, ăn vận toàn trăng, bóng trăng quì, cả miệng ta trăng là trăng, trăng tái mặt, trăng rơi lả tả trên cành, nước biến thành trăng, trăng ra nước, hãy nhập hồn em vào bóng nguyệt, dìm hồn xuống một vũng trăng, anh nằm chết dưới trăng, một nửa trăng ai cắn vỡ rồi, ta cười sặc sụa cả mùi trăng, ngủ với trăng, chơi trên trăng...
Hàn Mặc Tử viết về máu thường là để nói đến nỗi đau túa máu đang ngày đêm hành hạ trong thể xác của mình. Còn viết về trăng thường là để nói đến người yêu, đến những rung động về tình yêu của mình.
Tình yêu và nỗi đau là hai cái vô hình đang giằng xé trong con người Hàn Mặc Tử. Cái mâu thuẫn chính, cái oái oăm khắc nghiệt, không cách nào giải quyết nổi của cuộc đời ông. Kể từ khi ông mắc bệnh hủi - một căn bệnh không có thuốc chữa thời bấy giờ. Đó là cái mâu thuẫn giữa hai “chất liệu” máu và trăng. Đó là cái mâu thuẫn yêu hết mình, cái đẹp đẽ trong tình yêu (ánh trăng) và sự bất lực của cơ thể đang đau yếu, đang ngày đêm gậm nhấm ông, bào mòn ông (máu).
Mai Đình có làm bài thơ Trăng cũ sau ngày Hàn Mặc Tử mất, có những câu thơ như đúc kết về cuộc đời ông: Từng tập thơ xưa, từng tập thơ/ Từng trang huyết lệ ngấn trăng mờ. Đúng như vậy, hầu như với Hàn Mặc Tử thì trăng và máu cứ song hành đi bên nhau, tồn tại bên nhau...
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si.
Một tiếng kêu tuyệt vọng, tâm trạng của Hàn Mặc Tử là tâm trạng của một người đau khổ về thân thể đang hàng ngày bủa vây bởi bệnh tật, lúc nào cũng bị cái đau, cái khổ bủa vây, ngay trong những cái rất may mắn là được người khác yêu vì. Càng được yêu lại càng đau khổ vì không đền, đáp lại được như mình mong muốn. Bởi thân tàn, bệnh tật thì làm sao còn sức đâu mà thương, mà mong nhớ nữa. Và lẽ dĩ nhiên, không được yêu vì nữa thì càng đau khổ hơn, càng bất hạnh hơn. 
Họ đã đi rồi, khôn níu lại
Lòng thương chưa đã mến chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Ở đây ta thấy có hai chữ họ và người có một ý nghĩa đặc biệt. Với họ thì nhà thơ chỉ thương và mến chứ không yêu. Còn với người, thì không nói ra chữ yêu, nhưng với trạng thái một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ thì chắc chắn đó là yêu rồi.
Yến Lan trong một bài hồi ký cho biết là bài thơ Những giọt lệ của Hàn Mặc Tử viết sau buổi Chế Lan Viên và Yến Lan ghé thăm Hàn Mặc Tử tại một túp lều nhỏ bên bờ biển Quy Nhơn, nằm cô độc một mình, trên một cái động cát có trồng phi lao, vì thời đó không ai dám đến gần người bị bệnh hủi... Có lẽ sau cái vui ngắn ngủi được trò chuyện với hai người bạn thơ, khi họ ra về mà không níu lại được, mà lòng thương chưa đã, mến chưa bưa, thì Hàn Mặc Tử càng cảm thấy cô đơn, và chợt nghĩ đến giờ phút chia tay với người mình yêu và cảm thấy một nửa hồn bị mất, một nửa hồn kia bị dại khờ, như vậy có thể xem như là đã mất tất cả. Còn gì đau đớn hơn thế!
Khi đọc bài thơ này tôi có cái cảm giác: Hình như từ ngày lâm bệnh nặng, đối với bạn trai, Hàn Mặc Tử muốn họ là người có thật, còn đối với người yêu thì ông chỉ muốn họ là gió, là mây, là trăng để tâm hồn ông có thể hòa nhập vào... Nhưng đó chỉ là mong ước, còn người yêu của ông, thì vẫn là người hiện hữu rất thật mà thôi. Với tất cả sự lành lặn, đẹp đẽ và xót xa thay, lúc ở kề ngay bên ông, ông vẫn cảm thấy có sự cách trở.
Cái tâm trạng khổ đau đến cùng cực ấy đã khiến nhà thơ sống mà như chết, tỉnh mà như mê: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu.
Nhưng điều rất không ngờ là Hàn Mặc Tử, dù đau khổ đến nhường ấy vẫn không bao giờ muốn tự mình mang cái chết đến cho mình.
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi thì rõ ràng đó là cái chết bình thường của mỗi con người, chứ không phải cái chết tự mình tạo ra. Bao giờ là không định trước được. Và dù đau khổ đến mấy, thì Hàn Mặc Tử vẫn muốn sống, vẫn yêu cuộc đời, dù phải sống rất bơ vơ trong những ngày bệnh tật cuối đời. Vậy nên nhà thơ mới có cái cảm giác: Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu.
Trời thì ở rất cao, còn nhà thơ thì cảm thấy mình ở dưới vực sâu, một cảm giác hẫng hụt đầy bi thương mất mát. Con người cảm thấy mình thật nhỏ bé trong cái vũ trụ bao la. Câu thơ đọc lên nghe quặn đau cả ruột gan.
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
Hóa ra những giọt lệ thương cảm nhỏ xuống lòng nhà thơ chẳng gì khác là những bông hoa phượng vĩ, đỏ như màu máu của con tim, cái màu đỏ ấy nhức nhối cả miền Trung, cả Quy Nhơn, nơi nhà thơ đã sống suốt cả tuổi thơ, cả quảng đời tươi đẹp và khổ đau của mình cho đến ngày vĩnh biệt cuộc đời.
Có thể nói bài thơ: Những giọt lệ là tâm trạng của cả một đời Hàn Mặc Tử. Đó là tình yêu và nỗi đau ẩn chứa đan xen trong thơ Hàn Mặc Tử.