Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

MÙA GIEO HẠT truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO THỜI NAY SỐ: 804 NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2017




Mặt trời lên cách đỉnh núi Mẹ Bồng Con đến sáu sải tay, thế mà đỉnh chư(1) Pal vẫn quyến luyến với những đám mây trắng chưa chịu rời nhau. Trên triền núi, màu xanh thẳm của rừng già trải dài đến hết cả tầm mắt. Thỉnh thoảng có những cây đại thụ cao vút lên, vượt qua tán lá rừng khoe thân trắng như một dấu sắc nổi bật trên nền xanh. Tiếng bầy chim cu gáy đối đáp nhau hòa thành bản nhạc rừng được đệm bằng những tiếng hú ngân dài của bầy Voọc từ lưng chừng núi vọng xuống làm buổi sáng đẹp hơn lên.
Đã ba buổi chiều liên tiếp trời đổ những cơn mưa đầu mùa ầm ầm như có hàng trăm con voi cùng chạy. Bầu trời đêm đen kịt bị rạch bằng những chớp lửa sáng lòe kèm theo đó là sấm nổ ầm ầm, làm H’Lê Na sợ quá phải níu chặt ami(2) không dám ngồi một mình học bài. Hôm nay chủ nhật, ama(3) mượn thêm mấy nhà cùng buôn lên rẫy gieo hạt. Rẫy tuy rộng, nhưng dốc, thỉnh thoảng có các hòn đá lớn nhô lên và những gốc cây to chưa bị mục nên phải dùng cây chọc lỗ tra hạt. Người lớn dàn hàng ngang, đàn ông đi trước hai tay cầm hai chiếc cây to bằng cổ tay trẻ em, dài một sải, đầu vót nhọn   để thọc xuống đất tạo thành lỗ. Cái khó của người chọc lỗ, các lỗ phải đều nhau và thẳng hàng, hai tay nhịp nhàng tạo các lỗ sâu  độ hai đốt ngón tay, không sâu quá, cây khó mọc; cũng không nông quá dễ bị kiến, và lũ chim đến ăn trộm hạt. Phụ nữ đi sau lấy bắp trong gùi bỏ xuống lỗ rồi dùng chân lấp lại. Tay và chân của người gieo hạt phải đều nhau: tay gieo mỗi lỗ hai hạt, cách xa nhau một chút, gieo xong bàn chân gạt ngang chân lấp đất lại luôn. Nhìn mọi người làm, H’Lê Na có cảm tưởng mọi người đang biễu diễn vũ điệu Tây Nguyên chứ không phải công việc lao động thường ngày.
Lũ trẻ nhỏ chưa biết đi được các ami địu trước ngực vì sau lưng mắc gùi đựng hạt. Bọn trẻ lớn hơn một chút được theo người lớn ra rẫy có nhiều việc phải làm, như giữ em nhỏ hơn mình, hái nấm, nhặt củi... Trời mới mưa, nấm đua nhau đội đất chui lên; có những loại tròn như ngón chân cái, màu đất không có thân; có loại lại xòe tán giống chiếc ô nhỏ màu trắng như viên phấn viết bảng, trông rất đẹp. Trên thân các gốc cây mục, “tai cây” mọc ra từng chùm lớn màu nâu đen… sản vật của Yang rừng tặng; H’Lê Na cùng các bạn đi hái về để trưa nấu canh mọi người cùng ăn.
Thường ngày, “tai cây” tách ra từng cái; còn cây nấm tròn ami rửa sạch, bổ đôi kho với thịt gà, thịt heo ngon lắm. Loại nấm hình như cái ô, rửa sạch, xé nhỏ bỏ vào nấu canh với lá cây chùm ngây rừng mọc ven suối, ngon tuyệt; buổi trưa húp một chén canh thôi, mọi mỏi mệt hình như theo mồ hôi tan đi cả. Mấy đứa con trai thích leo trèo đảm nhận việc hái rau và kiếm thêm các loại quả chín trong rừng về ăn; còn con gái đi hái nấm, kiếm củi để người lớn chuẩn bị buổi trưa. Mỗi người một việc cứ thế mà làm.
-         H’Lê Na!
-         Gì thế?
Nghe tiếng Y Kô gọi, H’Lê Na đang mải cúi hái nấm, giật mình trả lời rồi đứng lên nhìn. Y Kô đến từ lúc nào, hai tay chắp sau lưng, mắt như cười nhưng mồm cố mím lại ra vẻ nghiêm túc. Thấy khuôn mặt của Y Kô có vẻ khác thường, H’Lê Na cảnh giác vì đã bị nhiều “vố” đau của người bạn học cùng lớp ở cạnh nhà. Có lần, mới sáng ra, “hắn” chạy qua bảo: “Có cái này hay lắm, chia đôi nè; xòe tay ra và nhắm mắt lại, đúng rồi, cầm lấy!” “Hắn” đặt một vật nho nhỏ, âm ấm vào tay, H’Lê Na xòe bàn tay nhìn rồi thét lên khi thấy một con chuột con đỏ hỏn; còn hắn thì cười như bắt được thú lớn, chạy biến. Lại có lần “Hắn” qua nhà, hai túi quần căng phồng, mồm nhai quả dâu da rừng thơm phức, nhìn thấy đã trào nước miếng; H’Lê Na xin một quả, “hắn” vênh mặt lên bảo: Đưa tay đây! rồi đặt một con sâu đen to đùng gói trong lá cây vào tay… những việc “hắn” làm như thế, nhiều lắm nên phải cảnh giác không lại bị lừa.
-         Xòe tay ra, cho này.
-         Định giở trò à?
-         Không dối đâu, đưa tay đây.
Nhìn khuôn mặt “hắn” có vẻ tin được, H’Lê Na xòe tay ra, “hắn” đặt một chùm quả vải rừng đỏ tươi dấu sau lưng vào tay rồi nói:
-         Có cái này hay lắm, xem không?
-         Cái gì thế?
-         Đi theo rồi biết.
Tò mò, H’Lê Na theo Y Kô đi về phía cuối rẫy. Đến bên một lùm cây mọc trên đống mối cao ngang đầu người có một đống đất chắc mới được đào lên, xếp cẩn thận thành một vùng rộng. Những viên đất to bằng đầu đũa, tròn như hòn bi, trông rất đẹp mắt xếp lại với nhau. H’Lê Na ngạc nhiên hỏi:
-         Ở đâu ra những viên đất đẹp thế?
-         Có nghe tiếng gì không?
-         Hình như là tiếng ong thì phải.
-         Nhìn phía dưới cái lá vàng kia kìa, thấy cái hang tròn tròn không?
-         A, thấy rồi, có hai con ong bự, mắt nâu đang bò quanh miệng hang.
-         Đúng rồi, biết ong gì đấy không?
-         Không!
-         Ong chằn đấy.
-         Ối!
Nghe Y Kô nói, H’Lê Na giật mình. Từ lâu, khi ngồi bên bếp lửa nướng bắp và nghe kể chuyện, có lần nhắc đến loài ong đất mà người Kinh còn gọi ong chần hoặc ong chằn, thân to như ngón tay út, mắt nâu, mình màu đen có khoanh nâu đậm vòng ngang eo bụng. Loại ong này kinh khủng lắm, khi gặp phải tránh xa, không trêu chúng được. Trong buôn có nhà buổi tối không thấy con trâu đực đầu đàn về chuồng; sáng hôm sau đi tìm khi lên bìa rẫy thấy ong bay như vỡ tổ, lại gần chỉ thấy cái sọ trâu và còn bộ xương; một bầy ong đất đông đúc đang gặm nốt những miếng thịt còn dính vào xương mang đi. Nhìn kỹ mới biết con trâu không may dẫm vào tổ ong đất, thụt chân sau xuống nên bị bầy ong đốt chết rồi xẻ thịt ăn luôn. Chỉ một đêm thôi, thịt da bị ăn hết nhẵn. Có lẽ vì sự tàn độc đến ghe gớm ấy mà người ta gọi nó là ong chằn giống như chằn tinh.
Y Kô giơ tay nắm áo H’Lê Na giật nhẹ, nói nhỏ:
-         Ta đứng xa và không đụng đến tổ nó, nó không làm gì đâu.
H’Lê Na căng mắt quan sát cửa hang, thỉnh thoảng có con ong từ trong tổ bay vút lên cao; lại có con ong từ trên trời dùng chân túm một con sâu màu xanh lét bay về cửa hang, giơ hai chiếc râu dài mọc trên đầu màu nâu đen chạm vào râu của con ong bên cửa hang trước khi bò vào trong. Cái nghi thức của loài ong này thật lạ và hình như là điều bắt buộc phải chạm râu chào nhau trước khi vào hang thì phải, nhìn thấy cũng hay hay. Y Kô nói nhỏ:
-                     Để lũ ong này sống ở đây nguy hiểm lắm, ta kiếm ít cỏ khô chất xung quanh, ăn cơm trưa xong lại châm lửa đốt đuổi chúng đi.
-         Nhưng những con trên trời bay về thấy tổ bị đốt, nó trả thù thì làm sao?
-                     Bó cỏ lại từng bó nhỏ, chặt cây le dài đẩy từ từ từng bó lại gần cửa hang lũ ong sao biết được. Khi chất đầy cỏ xung quanh xong, châm lửa bén vào thì… chạy đi thật nhanh, lo gì.
-         Sợ lắm, không trêu chúng được đâu.
-         Nhát thế, về trước đi.
H’Lê Na về lều chuẩn bị bữa trưa với mọi người, Y Kô ở lại một mình vơ cỏ, lá khô thực hiện ý định của mình.
*
**
Sau bữa cơm trưa có thêm những quả dâu da và vải rừng chín mọng ăn thêm, mọi người vui vẻ trò chuyện, quên cả cái nắng oi bức báo hiệu sắp có cơn mưa chiều. Y Kô và mấy đứa con trai rủ đi cùng, H’Lê Na lắc đầu:
-         Sợ lắm!
-         Đúng là… con gái, nhát như thỏ rừng.
Y Kô bỉu môi, ra vẻ coi thường định bước đi, Ama(3) đang nói chuyện với mấy người quay đầu lại nói:
-         Giữa trưa định đi đâu?
-         Y Kô định đi đốt tổ ong đất phía cuối rẫy đấy.
-         Không được đâu!
-         Sao vậy ạ?
Y Kô ngạc nhiên hỏi lại, ama H’Lê Na nghiêm mặt nói:
-                     Ban ngày đốt tổ, những con ong đang đi kiếm ăn kéo về thì không chỉ các cháu mà tất cả mọi người ở đây đều bị chúng tấn công, phải bỏ rẫy mà chạy đấy. Ong đất  là loài ăn thịt, có tổ ong gần rẫy, các loại sâu bọ sẽ bị ong bắt hết không sợ bị sâu phá hoại, cây cho nhiều quả; vì thế phải bảo vệ tổ ong chứ sao lại phá đi. 
Nghe ama nói, cả bọn cứ trợn tròn mắt ra nhìn vì bất ngờ; ama cười nói thêm:
-         Nghỉ trưa rồi chiều xuống suối bắt cá và hái ít rau mang về làm cơm chiều.
Cả bọn dạ ran, kéo nhau chạy xuống suối. Xa xa tiếng hú gọi nhau của bầy voọc vọng đến làm không gian như bớt đi nóng nực.
Mùa thu 2016
Chú tích:
1.     Chư: núi – tiếng Ê đê;
2.     Ami: má – tiếng Ê đê;
3.     Ama: ba – tiếng Ê đê.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả TRƯƠNG BI



KHÔNG GIAN KỂ SỬ THI TRONG
LỄ KẾT NGHĨA ANH EM CỦA ĐỒNG BÀO ÊĐÊ

   Trong những năm tháng đi điền dã sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian ở địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, tôi vẫn còn nhớ mãi về một kỷ niệm được dự lễ kết nghĩa anh em và nghe kể khan (sử thi) trong những ngày diễn ra lễ này. Đó là, năm 2008 sau khi kết thúc mùa rẫy, già làng buôn Kô Tam, xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột đã làm lễ kết nghĩa anh em cho hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô (vừa tròn 69 mùa rẫy), dân tộc Ê Đê, ông Aê Nguê M'lô là Trưởng ban Mặt trận buôn Kô Tam, với gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh (vừa tròn 70 mùa rẫy), dân tộc Kinh, định cư ở buôn KôTam gần 30 năm nay, ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư chi bộ Buôn Kô Tam.
   Theo phong tục của dân tộc Êđê, người nào muốn tìm người bạn tốt để kết nghĩa anh em thì phải nhờ người làm mối. Ông mối sẽ tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, tình cảm, nết ăn ở, kể cả tìm hiểu đời sống kinh tế, ông bà, cha mẹ, anh em, dòng họ của bên mình sẽ kết nghĩa. Chính vì vậy mà ông bà Aê Nguê M'lô đã nhờ già làng buôn Kô Tam làm mối, trực tiếp đến gặp gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh để tìm hiểu và đặt vấn đề về việc gia đình ông bà Aê Nguê muốn chọn gia đình ông bà Thanh làm anh em kết nghĩa. Thật là may mắn, trong gần 30 năm sinh sống với bà con buôn Kô Tam ông bà Nguyễn Bá Thanh rất hiểu và rất có cảm tình với gia đình ông bà Aê Nguê M'lô, nên khi già làng đặt vấn đề thì ông bà Nguyễn Bá Thanh nhận lời ngay.
Sau đó ông mối về báo lại với ông bà Aê Nguê M'lô là bên gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh đã nhận lời. Thế là hai gia đình liền tiến hành gặp nhau để bàn về việc tổ chức lễ kết nghĩa anh em theo phong tục của người Êđê. Sau khi hai bên đã bàn bạc, thống nhất về nội dung, hình thức và chọn ngày lành, tháng tốt tiến hành lễ kết nghĩa, họ xin phép ông trưởng buôn, chủ bến nước, ông trưởng họ và chính quyền xã Ea Tu. Trong thời gian ba tháng (kể từ ngày xin phép chính quyền địa phương, chủ bến nước, ông trưởng họ), ông bà Aê Nguê M'lô chuẩn bị đầy đủ các lễ vật. Gồm có: một con heo thiến dài năm gang tay, 10 ché rượu cần, 1 gùi lúa nếp, 2 gùi lúa tẻ, một thúng đựng các loại hạt giống, con giống (lúa bắp, đậu, bầu, bí các loại, trứng gà, trứng vịt, heo con, gà con); các công cụ lao động (cuốc, dao, rìu...), các thứ này được chuẩn bị trước để chia đều cho hai gia đình trong lễ kết nghĩa.
Đến ngày lễ, tại ngôi nhà dài của ông bà Aê Nguê M'lô, các lễ vật đã được bày sẵn ở gian gar (phòng khách). Giàn chiêng Knah diễn tấu bài Iô Wit Hgum (gọi về sum họp), rộn ràng trầm bổng ngân vang khắp buôn làng, núi rừng mời gọi các vị thần linh, tổ tiên, ông bà và bà con gần xa về dự lễ. Trong âm thanh của tiếng cồng chiêng rộn rã, náo nhiệt, gia đình ông bà Aê Nguê M'lô cùng nhau đi ra tận cổng buôn làng đón gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh vào nhà mình. Vào đến nhà, hai gia đình được bố trí ngồi trên hai chiếc chiếu hoa đối diện nhau bên cạnh các ché rượu và lễ vật, trước sự có mặt đông đủ của già làng, ông trưởng họ, ông chủ bến nước, ông buôn trưởng, đại diện lãnh đạo của Ủy ban Nhân dân xã Ea Tu cùng bà con buôn làng.
Sau khi mọi người đã ngồi vào vị trí theo sự sắp đặt của người tổ chức, thầy cúng lấy rượu từ ché rượu cần thứ nhất vào một tô đồng, pha tiết heo, làm lễ cúng báo và mời các vị thần linh, tổ tiên ông bà về dự lễ kết nghĩa anh em giữa hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh. Dàn chiêng Knah lại vang lên rộn rã đưa lời cúng đến với các vị thần linh, tổ tiên, ông bà.
Nhịp chiêng vừa ngừng, không gian trở lại yên tĩnh, thầy cúng quay sang ông bà Aê Nguê M'lô và dõng dạc hỏi: Vợ chồng Aê Nguê M'lô có thực sự chọn gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh làm anh em kết nghĩa không?
Ông Aê Nguê M'lô đại diện gia đình vui vẻ trả lời: Vợ chồng tôi đã thực sự thương yêu, quý mến gia đình anh chị Thanh từ lâu rồi. Hoàn cảnh và tấm lòng của anh chị Thanh đã thôi thúc vợ chồng tôi muốn kết nghĩa anh em với nhau. Tôi xin hứa rằng, từ nay trở đi vợ chồng tôi cùng con cháu không bao giờ bạc đãi, hay có lời nói xúc phạm đến gia đình anh chị Thanh. Hai gia đình mãi mãi là anh em tốt của nhau, vui buồn có nhau, no đói hoạn nạn cùng nhau chia sẻ. Các con, các cháu trong hai gia đình là anh em một nhà. Đã là anh em một nhà thì không được lấy nhau, mà phải yêu thương giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Nói xong, ông Aê Nguê M'lô lấy chiếc vòng đồng từ quai ché rượu (do thầy cúng gài vào từ trước) đeo vào cổ tay phải của ông Nguyễn Bá Thanh. Bà vợ của ông Aê Nguê M'lô cũng lấy chiếc vòng đồng từ quai ché rượu đeo vào tay phải của bà vợ ông Nguyễn Bá Thanh, thể hiện tấm lòng của mình đã chọn mặt gửi vàng, chọn người anh em kết nghĩa thủy chung, bền vững lâu dài.
Tiếp đến, thầy cúng quay sang ông bà Nguyễn Bá Thanh và hỏi: Vợ chồng ông bà Nguyễn Bá Thanh có thực sự chọn gia đình ông bà Aê Nguê M'lô làm anh em kết nghĩa không?
 Ông Nguyễn Bá Thanh (đại diện gia đình), vui vể trả lời: Gia đình tôi đã về sống với bà con buôn KôTam hơn 30 năm nay. Vợ chồng tôi rất quý mến và có cảm tình với anh chị Aê Nguê M'lô. Anh chị Aê Nguê M'lô sống rất thật thà, chất phác, biết yêu thương đoàn kết với bà con trong buôn làng và đã dành tình cảm tốt đẹp chân thành đối với gia đình chúng tôi, nên chúng tôi chọn gia đình anh chị Aê Nguê M'lô làm anh em kết nghĩa. Chúng tôi nguyện sẽ thương yêu quý trọng gia đình anh chị Aê Nguê M'lô như anh em ruột thịt. Gia đình chúng tôi sẽ suốt đời đoàn kết, giúp đỡ gia đình anh chị Aê Nguê M'lô trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù no đói khổ cực đi chăng nữa cũng không bao giờ xa nhau, mà ngược lại càng yêu thương, quý trọng nhau hơn. Con cháu hai gia đình sẽ qua lại thăm nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và đối xử với nhau như anh em một nhà. Hai gia đình chúng tôi nguyện giữ mãi tình anh em kết nghĩa vững bền như núi Chư Yang Sin, luôn luôn tràn đầy như dòng sông mẹ Krông Ana và sông cha Krông Knô trên núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Nói xong ông bà Thanh lại cầm vòng đồng đeo vào cổ tay phải của ông bà Aê Nguê M'lô, thể hiện tấm lòng chân thành của mình đối với người anh em kết nghĩa như "chọn mặt gửi vàng", bền vững từ đây.
Tiếng chiêng, tiếng tù và lại trầm bổng ngân vang. Thầy cúng mời ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà Nguyễn Bá Thanh đến ngồi bên ché rượu cần thứ nhất (tính từ ngoài cửa vào). Họ ngồi đối diện nhau, tay cầm cần rượu. Rồi thầy cúng đọc lời khấn: À ơ Yang! Nay tôi mời thần bên Đông, mời thần bên Tây, mời thần Trời, thần Đất, mời thần bảo vệ sức khỏe, mời thần cây Đa, mời thần cây Sung, thần Núi, thần Bến Nước... Tôi xin mời các thần về chứng kiến lễ kết nghĩa anh em của gia đình ông bà Aê Nguê M'lô với gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh. Cầu xin các đấng thần linh hãy giúp cho hai gia đình này sức khỏe dồi dào, làm ăn gặp nhiều điều lành, điều tốt, và xua đuổi cái xấu ra khỏi gia đình họ. Giúp cho họ nương rẫy tốt tươi, lúa bắp đầy kho, đầy bồ, trâu bò chật bãi, heo gà đầy sân, chiêng ché đầy nhà, con cháu đầy đàn, cuộc sống no đủ, bình yên, hòa thuận, ơ Yang!
Sau lời khấn, thầy cúng mời hai gia đình uống rượu giao cảm với thần linh. Rồi thầy cúng chia đều hạt giống, con giống, công cụ lao động cho hai gia đình trước sự chứng kiến của mọi người.
Tiếng chiêng, tiếng tù và lại trầm bổng ngân vang. Thầy cúng mời hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà ông Nguyễn Bá Thanh cùng bà con trong dòng họ, trong buôn làng cùng nhau uống rượu rượu cần (nữ trước nam sau). Mọi người lần lượt cầm cần và trao cần cho nhau thành một dãy dài theo nghi thức Mnăm Ring (nối cần rượu cho nhau). Trước khi cầm cần rượu, mọi người lần lượt trao vòng đồng cho ông bà Aê Nguê và ông bà Nguyễn Bá Thanh, chúc cho tình anh em kết nghĩa của hai gia đình mãi mãi vững bền.
Sau nghi thức Mnăm Ring, chủ nhà mời hai gia đình và bà con họ hàng trong buôn cùng khách quý ăn cơm, uống rượu trong tình cảm đầm ấm thân thương. Mọi người vừa ăn uống vừa diễn tấu cồng chiêng, diễn tấu nhạc cụ đing túut, đing năm, đing tạk tar và hát dân ca vui vẻ.
Đến tối, khi mọi nghi lễ đã tạm dừng, chủ nhà mời nghệ nhân kể khan cho hai gia đình và bà con buôn làng cùng nghe, nhằm tạo không khi vui tươi ấm cúng trong lễ kết nghĩa anh em. Theo phong tục của người Êđê, chủ nhà buộc một ché rượu, mang ra một con gà trống choai cúng báo xin phép các vị thần linh, tổ tiên, ông bà được kể khan để mừng lễ kết nghĩa anh em. Tiếp đến chủ nhà cầm cần rượu hít một hơi dài, rồi trao cần mời pô khan (nghệ nhân kể khan) dùng rượu. Pô khan cầm cần rượu hít một hơi dài rồi trao lại cần rượu cho chủ nhà. Chủ nhà cầm cần rượu mời bà con cùng dùng rượu. Sau đó, pô khan đến ngồi bên cạnh bếp lửa và nói: Hôm nay mình kể khan "Đăm Săn" cho bà con nghe, rồi ông đằng hắng và cất cao giọng kể. Cũng như những cuộc kể khan khác, khi lời khan ngân vang khắp không gian ngôi nhà dài, như ru, như hát từ tấm lòng của ông bà xưa đối với con cháu. Người nghe ngồi im phăng phắc say sưa lắng nghe như hóa thân vào những nhân vật trong chuyện. Trong quá trình ngồi nghe, ai có việc cứ nhẹ nhàng ra về. Ai muốn trao đổi việc gì thì ra hiệu cho nhau. Ai muốn uống rượu, uống nước cứ nhẹ nhàng, trật tự đi uống rồi trở về vị trí như cũ. Mọi người ai cũng trật tự, im lặng, tôn trọng nhau giữ cho không gian hát kể khan yên tĩnh, sâu lắng để lời khan bay xa, bay cao.
Lời khan cứ vang mãi, dẫn dắt người nghe vào những tình tiết ly kỳ huyền ảo của câu chuyện. Thế rồi, con gà trống đầu hiên nhà cất tiếng gáy vang báo hiệu trời sắp sáng. Pô khan, dừng lại và nói: Chuyện còn dài, mời bà con nghỉ, tối lại nghe tiếp.
Lúc này chủ nhà chuẩn bị bữa cơm sáng. Ăn uống xong hai gia đình cùng nhau về thăm nhà của ông bà Nguyễn Bá Thanh. Đến nhà ông bà Nguyễn Bá Thanh, thầy cúng lại làm lễ cúng sức khỏe cho hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà Nguyễn Bá Thanh. Chúc hai gia đình giữ mãi tình anh em kết nghĩa. Sau đó hai bên giao lưu thăm hỏi sức khỏe ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em, bà con trong dòng họ một cách chân tình, ấm cúng vui vẻ như anh em một nhà. Đến chiều mọi người lại kéo về nhà ông bà Aê Nguê M'lô. Sau bữa cơm chiều, mọi người lại tiếp tục được nghe kể khan Đăm Săn. Sáng hôm sau hai gia đình lại đi gặp mặt thăm hỏi ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cháu, bà con trong dòng họ của ông bà Aê Nguê M'Lô. Đến tối, mọi người lại nghe kể khan tại nhà ông bà Aê Nguê M'lô.
   Khan Đăm Săn kể rằng: Ở một buôn nọ có hai chị em H'Nhí và H'Bhí vô cùng xinh đẹp, họ được thừa hưởng một gia tài khổng lồ của ông bà để lại. Lớn lên, thực hiện lời căn dặn của ông nội, hai nàng nhờ anh mình đi hỏi chàng Đăm Săn về làm chồng. Lúc đầu chàng Đăm Săn không chịu, nhưng về sau do áp lực của gia đình, của ông trời, chàng mới chịu làm chồng hai nàng H'Nhí và H'Bhí.
 Cưới xong, chàng về sống bên nhà vợ, chấp nhận tập tục mẫu hệ, nhưng chàng luôn luôn có những hành động chống lại tập tục này. Hàng ngày chàng bỏ bê việc nhà, lúc thì rủ bạn bè thi đẩy gậy suốt ngày này sang ngày khác, quên ăn, quên uống; lúc thì đi ra sông bắt cá, lúc thì đi săn trong rừng sâu, lúc thì đi phát cây làm rẫy... Ở nhà các M'tao Grứ, M'Tao M'xây, M'tao Ak, M'tao Pui, M'tao Ea... Lần lượt đến bắt vợ của chàng Đăm Săn. Thế là chàng Đăm Săn phải chiến đấu với các M'tao để cứu vợ mình. Sau khi đánh thắng các M'tao, buôn làng của chàng càng hùng mạnh, giàu sang không ai bằng. Nhưng Đăm Săn không chịu ngồi yên hưởng thụ, mà chàng lại rủ tôi tớ đi chặt cây rừng. Chàng chặt trúng cây linh hồn của hai người vợ, làm cho hai nàng tự nhiên lăn ra chết. Chàng phải lên ông Trời xin thuốc thần về cứu sống lại hai người vợ. Rồi chàng lại bỏ mặc hai người vợ ở nhà, tự mình phi ngựa đi tìm nữ thần Mặt trời để cầu hôn về làm vợ lẽ. Trước sự can ngăn của mọi người, chàng vẫn để ngoài tai tất cả. Một mình một ngựa chàng vượt qua nhiều rừng rậm, sông sâu, núi thẳm. Cuối cùng chàng đã tìm đến được nhà Nữ thần Mặt Trời để cầu hôn, nhưng bị Nữ thần từ chối. Chàng thất vọng, buồn bực quay ngựa trở về và bị chết chìm trong vũng lầy giữa rừng sâu. Một mùa rẫy sau, người chị của chàng Đăm Săn sinh được một người con trai và đặt tên là Đăm Săn. Cậu bé Đăm Săn lớn lên, thay cậu mình lấy hai nàng H'Nhí và H'Bhí làm chồng theo tục Chuê Nuê (nối dòng) của ông bà để lại. Chuyện Đăm Săn, là bài ca về người anh hùng lý tưởng. Đồng thời khẳng định tục Chuê Nuê của người Êđê là một sức mạnh của cộng đồng, không ai có thể cưỡng lại được mà phải tuân theo thì cuộc sống mới yên ổn, hạnh phúc no ấm.

 Cứ thế, lễ kết nghĩa anh em diễn ra bao nhiêu ngày thì mọi người được nghe kể sử thi bấy nhiêu tối. Về dự lễ kết nghĩa anh em, mọi người được tận mắt chứng kiến những nội dung diễn ra trong lễ, được uống rượu cần, ăn những món ăn truyền thống của người Êđê, và đặc biệt được nghe kể khan (sử thi) suốt mấy đêm liền. Nghe kể khan trong lễ kết nghĩa anh em là một sinh hoạt văn hóa truyền thống, nhằm tôn vinh các tác phẩm sử thi trong kho tàng văn hóa của người Êđê, làm cho nó được lưu truyền, bảo tồn, sống mãi với mọi thế hệ. Qua đây, góp phần giáo dục phẩm chất, khí phách, tinh thần dân tộc và ước mơ cao đẹp về một xã hội tương lai bình yên, giàu đẹp cho mọi thành viên trong cộng đồng.

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả HÀ QUẢNG




TIỂU THUYẾT “CÕI HỒNG” CỦA BÙI MINH VŨ

  
Bùi Minh Vũ sinh ra và lớn lên ở một làng quê thuộc vùng biển xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhưng từ năm 1982, anh đến định cư lập nghiệp và sinh sống tại thành phố Buôn Ma Thuột. Anh là nhà thơ, nhà sưu tầm truyện cố M’nông, nhà biên khảo văn hóa dân gian Tây Nguyên… Bùi Minh Vũ đã ra mắt bạn đọc 14 tác phẩm và sắp in 2 tác phẩm nữa. Vừa rồi anh rẽ lối “sang ngang” thử nghiệm vào thể loại tiểu thuyết và cuốn tiểu thuyết “Cõi hồng” của anh do Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam ấn hành vào tháng 5. 2017.
Tiểu thuyết “Cõi hồng” có 3 chương, gồm 132 trang. Trong tác phẩm này, anh lấy mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió để làm không gian nghệ thuật. Vì vậy, chúng ta bắt gặp hình ảnh Tây Nguyên trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ vào mùa khô “Tây Nguyên bước vào mùa khô. Nước cạn kiệt. Cái nóng râm ran không oi bức như Sài Gòn nhưng hanh heo không kém Quảng Trị…” (trang 36). Bùi Minh Vũ đi nhiều, biết nhiều nên anh có sự so sánh cái nóng của Tây Nguyên với Sài Gòn, với Quảng trị thật thú vị như vậy.
Trong tác phẩm “Cõi hồng”, Bùi Minh Vũ đưa hàng chục nhân vật vào trong tác phẩm, có những kẻ là côn đồ du côn, đến những anh cán bộ tham quyền nhũng nhiễu hách dịch; là những thanh niên, thanh nữ đương thời thích xăm hình vào những nơi có độ nhạy cảm và những người lính sau khi rời quân ngũ không tìm được việc làm ổn định cho cuộc sống đời thường… Những lễ hội của đồng bào các dân tộc Êđê, M’nông ở Đắk Lắk cũng được anh đưa vào trong tác phẩm này.
Chính vì vậy, khi đọc tiểu thuyết “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ, ta cảm thấy như đang sống ở vùng đất Tây Nguyên và biết được nhiều nét sinh hoạt của người dân; đặc biệt là các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, được Bùi Minh Vũ thể hiện thật sâu sắc trong mùa lễ hội.
Từ một không gian rộng lớn, Bùi Minh Vũ đưa người đọc đến thành phố Buôn Ma Thuột, nơi anh và gia đình đang sinh sống học tập và làm việc. Thành phố hiện lên trong ngòi bút của tác giả thật thơ mộng: “Buôn Ma Thuột vào đêm, không khí trong lành như thủy tinh xanh. Các quán cà phê đông khách, người ra vào dập dìu. Tôi ghé vào quán cà phê Dubai, nơi tôi và Hưng uống ly cà phê đêm trăng cuối. Từ đây nhìn ra ngoài đường phố Hai Bà Trưng sang trọng với vô số xe ô tô đắt tiền. Đánh bóng cho cung đường này là nhiều khách sạn hạng sang…” (trang 41). Đọc những câu văn như vậy trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ chúng ta mới thấy anh sống rất sâu và trân trọng yêu thương đối với thành phố Buôn Ma Thuột thân yêu này.
Trong không gian nghệ thuật đó, tác giả để cho các nhân vật của mình hoạt động một cách thoải mái tự nhiên. Các nhân vật, Bùi Minh Vũ đưa vào trong “Cõi hồng” đều có cá tính, có hoàn cảnh và số phận riêng. Chúng ta có thể bắt gặp các nhân vật ấy hàng ngày trong cuộc sống hiện nay: nơi làm việc, trên đường phố, trong công viên, tại nhà hàng, ở khách sạn, hay các quán cóc cạnh vỉa hè… Người đọc sẽ cảm nhận  riêng về các nhân vật này được Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm của mình tùy theo suy nghĩ và mức độ tiếp nhận của mỗi người.
Trong hệ thống nhân vật ấy, chúng ta bắt gặp Thân và Hưng. Đây là hai nhân vật để lại ấn tượng nhiều nhất trong lòng người đọc và đấy cũng chính là hai nhân vật xuyên suốt theo chiều dài của tác phẩm. Hưng là sinh viên mới ra trường, Hưng mơ ước được đứng trên bục giảng làm cô giáo để truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, nhưng ước mơ đấy của Hưng chưa có điều kiện thực hiện được. Hưng phải đi làm gia sư kiếm tiền để sinh sống trang trải hằng ngày cho bản thân và gia đình, đột nhiên Hưng trở thành đối tượng hưởng thụ cho tên côn đồ bợm trợn.
Vì vậy mở đầu tác phẩm người đọc cảm thấy lạnh toát mồ hôi khi đọc hai câu văn của tác giả nói về cái chết của Hưng “Gần nhà hàng T&T sang trọng trên đường Nguyễn Khuyến, nơi tập trung những người có tiền đến để thưởng ngoạn du hí, có một cô gái ra đi đêm qua. Đó là em” (trang 1). Về thế giới bên kia nhưng giấc mơ của Hưng vẫn cháy bỏng, may đâu Hưng gặp được một ông già chỉ hướng để Hưng có điều kiện thực hiện giấc mơ làm cô giáo của mình nơi cõi âm.
Câu chuyện tưởng chừng kết thúc ở đấy, nhưng tác giả Bùi Minh Vũ tiếp tục cho người đọc thấy được hình ảnh của Hưng qua giấc mơ, nối tiếp giấc mơ một cách lờ mờ trong tâm trí của Thân. Thân là người yêu của Hưng. Thân từng là người lính vào sinh ra tử đầy dũng khí nhưng Thân phải “bó tay”, bất lực trước cuộc sống thực tại, bất lực trước công việc được sắp  xếp một cách vô cảm; chàng đành buông xuôi trước những cuộc tranh giành quyền lợi, chán chường trước những cảnh ăn hối lộ, những kẻ nịnh trên nạt dưới; công chức, viên chức có những kẻ làm những việc bất lương.
Trong cuộc sống như vậy Thân đành đánh rơi công việc đời thường khi nào mà chàng không hề hay biết. Nhưng trong tâm trí của Thân lúc này, hình bóng của Hưng vẫn in đậm, hình bóng ấy cứ vẩn vơ chìm sâu vào giấc ngủ, in sâu vào nỗi nhớ của Thân, làm cho tâm trí của Thân  miên man vất vơ, vất vưởng như điên như dại.
Từng câu văn, từng trang chữ mà Bùi Minh Vũ gửi gắm trong tác phẩm “Cõi hồng” là tiếng gọi của trái tim chân thành mong ước cuộc sống được bình yên, những kẻ gian ác phải bị pháp luật trừng trị, những kẻ hiền lành chất phác sẽ được hạnh phúc; và giấc mơ bình dị nhất của con người phải đạt được. Xã hội công bằng văn minh, mọi người thấy được niềm vui trong cuộc sống, mọi người có được việc làm ổn định. Người người được hạnh phúc, nhà nhà được yên vui.
Trong tác phẩm “Cõi hồng” Bùi Minh Vũ tạo những nét nhòe của không gian, thời gian nghệ thuật và tính cách nhân vật cứ xen ngang, xuất hiện chập chùng gợi cảm giác cho người đọc muốn tìm một hình bóng cuối cùng đích thực mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm. Bên cạnh đấy chúng ta thấy hàng chục nhân vật mà Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm có hoàn cảnh nghiệt ngã để từ đó tác giả thể hiện tính cách của nhân vật; ý thức của nhân vật vươn lên trong cuộc sống. Điều đặc biệt là người đọc cảm nhận chất thơ trong trang văn “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ. Có lẽ Bùi Minh Vũ là nhà thơ khi chuyển sang viết văn xuôi chất thơ vẫn còn đọng lại và theo sát anh từ đầu đến cuối tác phẩm. Chính điều ấy đã tạo cho người đọc có cái cảm giác nhẹ nhàng khi tiếp nhận “Cõi hồng”.
Tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ đã ra đời, bạn đọc tiếp nhận rộng rãi. Đủ thành phần, đủ lứa tuổi và trình độ của mỗi người cũng khác nhau. Người tiếp nhận mặt này, người tiếp nhận mặt kia. Có người khen mặt này, có người chê mặt kia nhưng đối với tôi, tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ là một tác phẩm đáng trân trọng; chúng ta nên tiếp nhận “Cõi hồng” với niềm cảm thông chia sẻ của một nhà thơ bước đầu thể nghiệm trên tác phẩm văn xuôi, của một thể loại không hề dễ dãi và người viết phải dày công tìm tòi khám phá, đầy đủ bút lực, phải có kiến thức tinh thông và vốn sống phong phú.



Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả PHẠM MINH TRỊ


   
Có phải Nguyễn Du tả cảnh thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều?

  
Trong bài viết:”Băn khoăn tìm hiểu nghĩa một chữ trong Truyện Kiều” - in trong tạp chí Thế giới trong ta - PB 10, bạn Nguyễn Đình Ba có đưa ra một số suy nghĩ, tìm tòi, cuối cùng khẳng định: "Cả đoạn Cảnh ngày xuân thật đặc sắc, tươi vui, thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều”, liệu có đúng thế chăng?
Đoạn trích: “Cảnh ngày xuân” (Ngữ văn 9, tập I), gồm tất cả 18 câu, tiếp sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều. Đoạn này tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều. Ta thấy kết cấu của đoạn thơ theo trình tự thời gian - không gian chứ không theo trình tự, sự biến chuyển sắc độ của tâm trạng nhân vật. Có thể chia đoan trích thành các phần nhỏ như sau: Bốn câu đầu tác giả tả khung cảnh mùa xuân, tám câu tiếp theo tác giả tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh, sáu câu cuối tả cảnh chị em du xuân trở về. Nhìn một cách khái quát như thế, ta thấy ngay: Đối tượng, mục đích miêu tả ở đoạn trích này là cảnh vật thiên nhiên và quan trọng hơn cảnh vật ấy được Nguyễn Du trực tiếp miêu tả chứ hoàn toàn không phải miêu tả gián tiếp thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều. Để rõ hơn ta hãy đối chiếu đoạn trích này với đoạn trích: Kiều ở lầu Ngưng Bích (Ngữ văn 9, Tập I). Khác với đoạn Cảnh ngày xuân đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, đối tượng, mục đích miêu tả ở đây là tâm trạng Thúy Kiều chứ hoàn toàn không phải là cảnh vật thiên nhiên như trong đoạn Cảnh ngày xuân. Cảnh thiên nhiên ở đây chỉ là phương tiện nó xuất hiện chỉ nhằm làm nổi bật sắc độ tâm trạng của Thúy Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Màu sắc, đường nét... của cảnh đươc hiện lên trước mắt người đọc đã được Nguyễn Du lọc qua tâm trạng cô đơn, buồn tủi, nỗi niềm thương nhớ về ngươi yêu, cha mẹ và cả những suy tư về thân  phận  sau này của nhân vật Thúy Kiều. Nghĩa là tất cả sự bát ngát, vẻ non xa, tấm trăng gần, cát vàng, cồn nọ, dặm kia, bụi hồng, cánh buồm thấp thoáng, ngọn nước,hoa trôi, nội cỏ, tiếng sóng... đều đã được nhuộm, soi, lọc, ướp, ngấm qua tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều rồi mới hiện ra chứ nó không còn thuần túy, vẹn nguyên là cảnh tự thân của nó nữa. Cảnh vật ấy đã nhiễm, đã in dấu tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều, cảnh đã bị cá thể hóa. Và như thế mới gọi là thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều.
Trở lại với đoạn trích Cảnh ngày xuân ta thấy hoàn toàn khác hẳn. Khác ngay từ đầu đề của đoạn, một bên là cảnh một bên là tâm trạng;ấy là nói về hồn cốt của cái biểu hiện. Và người đọc nhận ra ngay ý đồ nghệ thuật của tác giả. Một bên là trực tiếp đặc tả không thông qua góc nhìn, sắc độ của tâm trạng nhân vật, một bên (đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích) tác giả gián tiếp miêu tả, cảnh vật được gạn lọc qua sắc độ tâm trạng nhân vật. Có lẽ chẳng cần trích ra các câu thơ của hai đoạn để đối chiếu vì bất cứ GV nào dạy văn cũng thuộc nằm lòng! Ngươi đọc thấy ngay ánh sáng đẹp, thời gian trôi, sắc non xanh tràn trề sức sống của cỏ mùa xuân, sắc trắng tinh khiết mới mẻ của hoa lê, sự nhẹ nhàng thanh thoát, yên bình, nên thơ của khung cảnh mùa xuân ở bốn câu thơ đầu rất sinh động, có hồn, gợi cảm hiện lên trước mắt người đọc là hoàn toàn được Nguyễn Du đặc tả trực tiếp chứ làm gì có vương vấn thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều. Thế mà khi bàn về từ tận, từ rợn bạn Nguyễn Đình Ba viết: Từ rợn cũng diễn tả cái không gian bát ngát, mênh mông... nhưng nó còn sắc thái ngụ tình. Đó là tâm trang rợn ngợp của Thúy Kiều... Từ tả cảnh ngụ tình này cũng nằm trong hệ thống với nhiều từ, câu khác nhau như:thanh thanh, nao nao, rầu rầu. Theo tôi chỉ có từ rầu rầu trong câu: Buồn trông nội cỏ rầu rầu (Kiều ở lầu Ngưng Bích) là chính xác được Nguyễn Du miêu tả thông qua tâm trạng Thúy Kiều. Còn lại là hiểu quá gượng ép, khiên cưỡng nếu không muốn nói là sai ý đồ nghệ thuật của tác giả. Cũng như thế, cái không khí rộn ràng, đông vui, náo nhiệt, háo hức của cảnh - người trong lễ hội Thanh minh hiện ra sống động không phải tác giả tả thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều mà tác giả đặc tả trực tiếp. Tương tự cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về cùng với không khí thanh, nhẹ, dịu của cuối buổi chiều xuân với các hình ảnh gợi tâm trạng, nhuốm màu nuối tiếc... tất cả đều được tả theo một bút pháp nghệ thuật nhất quán như hai đoạn trên, tuỵêt nhiên không phải tả thông qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều.
Rõ ràng, cả đoạn: Cảnh ngày xuân đặc sắc là hiển nhiên chính xác, còn tươi vui chỉ đúng hai phần ba vì cuối đoạn trích đâu còn cảnh tươi vui nữa. Và đặc biệt, góc nhìn, bút pháp, ý đồ nghệ thuật tả cảnh vật trong đoạn trích: Cảnh ngày xuân xuất phát trực tiếp, đặc tả chứ không gián tiếp soi qua lăng kính tâm trạng Thúy Kiều như bạn Nguyễn Đình Ba đã khẳng định. Có thể những suy nghĩ trên chưa thấu  đáo, mang tính chủ quan rất mong đồng nghiệp trao đổi bởi năng lượng chữ là vô hạn còn năng lực cảm thụ của mỗi người laị hữu hạn.




Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả LÊ THÀNH VĂN

Sổ tay Thơ:


EA SÚP


Ea Súp rừng 
trong ký ức tôi
cây hội hè cây 
cây cưới nhau lớp lớp
chim lượn như mây
chim chuyền cành líu lo hợp xướng
công bảy sắc lên đồng múa với hươu sao

Ea Súp làng buôn
sóng chiêng cuộn trào
voi thậm thịch thay người giã gạo
ama thả vào chiều tiếng sáo
lũ sóc nâu quấn quýt quanh người
những mái tranh thơm khói cá nướng trui
cô gái Ê-đê gọi trăng lời ay-ray ngọt lịm
chàng trai Gia-rai chờ bên gốc kơ-nia bịn rịn
mùi tóc em thơm lẫn với hương rừng

Ea Súp suối trong ôm bóng tháp Chàm
thần Si-va gửi hồn trú ngụ
vũ nữ biết kể khan bên bếp lửa
cây quanh nhà, voi trước cửa cũng mê khan

Ea Súp bây giờ
bát ngát lúa vàng
đã trĩu mùa xoài 
đã dọc ngang phố xá
nhưng đừng nói chuyện rừng mà ama buồn bã
đừng nói chuyện voi để amí phải thở dài
giờ Ea Súp không rừng
Ea Súp chẳng còn voi
Ea Súp hoàng hôn câu hát xưa rơi
không ai nhặt đặt lên môi như ngày trước
không ai ngồi kể khan tàn củi bếp
tháp Chăm buồn vũ nữ chẳng còn ai

Ea Súp chiều nay gió nóng thổi ù tai
bụi đỏ tháng hai phủ lên mầm xuân biếc
bạn khoe lúa khoe nhà những đổi thay trời đất
tôi nhớ rừng nhớ bước chân voi 
cùng cụng ly mà kẻ vui cười 
người rưng lệ rượu như mật đắng!

Đầu Xuân 2017
ĐẶNG BÁ TIẾN

LỜI BÌNH:           
                                RƯỢU ĐẮNG LÒNG THƯƠNG EA SÚP RỪNG XƯA
           
Tôi gọi Đặng Bá Tiến là "Nhà thơ của rừng", bởi anh có hẳn một trường ca Rừng cổ tích đầy chiêm nghiệm, thấm đượm cảm xúc, tạo được sự đồng vọng trong lòng bạn đọc trước hiện thực đời sống khi mà con người đã quá vô tâm đối xử với rừng. Chính mảnh đất rừng thiêng Đắk Lắk đã nuôi dưỡng tâm hồn và chưng cất cho trái tim tác giả có được những trải nghiệm giàu chất nhân văn ấy. Bài thơ Ea Súp có thể xem như một vạt rừng còn đọng lại, miên man trong tâm khảm bấy lâu, giờ có điều kiện nảy mầm xanh trên trang viết.
Thi phẩm có cấu trúc gồm năm khổ, ba khổ đầu dành cho hoài niệm về một Ea Súp của vẻ đẹp núi rừng hoang dã, Ea Súp của làng buôn xưa cũ nên thơ, Ea Súp của tháp Chàm ngự trị nhuốm màu huyền thoại; hai khổ cuối là một Ea Súp hiện đại và sung túc, đan xen vào đó là niềm vui của con người và nỗi niềm hoài cảm của nhà thơ trong giây phút xót lòng rưng rưng với li rượu ngày xuân đắng chát. Bằng thể thơ tự do khá bay bổng, nhờ đó mạch thơ bắt đầu rất tự nhiên, khoáng đạt dễ đưa ta về một Ea Súp ngày xưa bạt ngàn màu xanh cây lá. Trong ký ức tác giả, rừng hiện lên không đơn giản chỉ là sự cộng lại thuần túy của nhiều cây cối, trùng trùng lớp lớp một cách tự nhiên; rừng ở đây mang vẻ đẹp của niềm vui sum vầy, của sự kết nối và giăng mắc đầy ý thức. Đó là cuộc tìm kiếm hữu tình của cái đẹp giữa các loài cây với nhau, cùng hội ngộ về một vùng đất để rồi xây nên không gian rừng xanh thẳm điệu tình riêng:
Ea Súp rừng 
trong ký ức tôi
cây hội hè cây 
cây cưới nhau lớp lớp
chim lượn như mây
chim chuyền cành líu lo hợp xướng
công bảy sắc lên đồng múa với hươu sao
Các từ ngữ "hội hè", "cưới" được đặt rất đúng chỗ, diễn tả khá thú vị sự xoắn xuýt, đan cài vào nhau giữa muôn ngàn cây cối của rừng. Nghệ thuật nhân hóa nhờ thế cũng phát huy được tối đa giá trị biểu cảm, khiến cho mỗi cây cành như một thực thể sống động gần gũi yêu thương với con người. Có rừng xanh cây cối giao hòa nên muông thú cũng tìm về "chuyền cành líu lo hợp xướng". Ở khổ thơ đầu, cái ấn tượng rất khó phai khi đọc là sắc màu và âm thanh thật đậm đặc: màu xanh của rừng, màu trắng của mây và bảy sắc màu của chú công đang múa...; đặc biệt là âm thanh của tiếng chim vang vọng thành bầu hợp xướng khắp đất trời Ea Súp làm nên vẻ đẹp của núi rừng hoang sơ, kỳ thú. Một đoạn thơ ngắn mà như thấy cả không gian huyền diệu của quá khứ hiện về khơi niềm hoài cảm, luyến thương.
Nếu khổ thơ đầu là vẻ đẹp của núi rừng Ea Súp lấp lánh sắc màu và âm thanh của thiên nhiên hoang dã thì đến khổ thơ thứ hai, tác giả đưa ta về với không gian buôn làng nên thơ và mơ mộng, mang vẻ đẹp thần tiên giữa chốn trần gian mê hoặc lòng người. Tiếng chiêng cuộn trào như sóng dâng mùa lễ hội, bước voi thậm thịch thay người giã gạo ngày vui, tiếng sáo của ama thả vào bầu trời chiều trong xanh biêng biếc... Tất cả hài hòa, luyến láy, vui vầy trong một niềm bâng khuâng khó tả. Giữa không gian thanh bình và yên ả của buôn làng xa xưa ấy, nhà thơ Đặng Bá Tiến đặc biệt khơi gợi cảm xúc về tình yêu nhiệm màu của đôi lứa thần tiên. Không hiểu sao đọc đến đây tôi lại nhớ đến ca từ trong ca khúc Giấc mơ Chapi của Trần Tiến, ngọt ngào và mê đắm: "Ở nơi ấy đàn dê trắng nhởn nhơ quanh đồi/ Một mái tranh nghèo, một nhà sàn yên vui/ Ở nơi ấy họ đã sống cuộc sống yên bình/ Ai nghèo cũng có cây đàn Chapi". Phải chăng đó là một thế giới đại đồng, vui tươi và thân ái, chỉ có tình yêu ngự trị trên đỉnh nhân gian này? Khát vọng của hai tác giả, một nhạc sĩ, một nhà thơ gặp nhau như một chút lương duyên cùng hướng đến tình yêu lãng mạn và niềm trân trọng đối với hạnh phúc con người:
cô gái Ê-đê gọi trăng lời ay-ray ngọt lịm
chàng trai Gia-rai chờ bên gốc kơ-nia bịn rịn
mùi tóc em thơm lẫn với hương rừng
Ôi phải chăng chính thế giới thần tiên kỳ diệu của buôn làng một thuở Ea Súp xưa đã đánh thức trái tim của thần Si - va cũng tìm về trú ngụ! Bóng tháp Chàm trầm tư được nhà thơ lồng vào ở khổ thơ thứ ba, tuy có tính phác họa, song đã dựng lên một Ea Súp trầm mặc, mang mang nỗi niềm hoài cổ, nhờ đó tứ thơ mở ra một chiều kích mới, lắng sâu hơn bởi niềm rung động thiêng liêng về một nền văn hóa suy tàn:
Ea Súp suối trong ôm bóng tháp Chàm
thần Si-va gửi hồn trú ngụ
vũ nữ biết kể khan bên bếp lửa
cây quanh nhà, voi trước cửa cũng mê khan
Ba khổ thơ đầu là ba vẻ đẹp của không gian huyền diệu, nhuốm màu cổ tích về một Ea Súp đại ngàn hoang dã. Hình ảnh thơ cổ kính, giàu nét khơi gợi. Giọng thơ dịu nhẹ, ân tình như chút niềm riêng của nhà thơ về một vùng đất cổ xưa giàu bản sắc. Nhìn tổng thể cấu tứ tác phẩm, nghệ thuật đối lập mới là chủ đạo. Dẫn dụ chuyện xưa để nói chuyện nay, nói chuyện rừng "cây hội hè cây/ cây cưới nhau lớp lớp" cũng chỉ là để cảm thán cho nỗi mất mát lớn lao về không gian rừng mà Ea Súp đang đối diện. Đau đớn và xót xa lắm chứ! Dù hiện tại đời sống có sung túc, đủ đầy về vật chất với "bát ngát lúa vàng/ đã trĩu mùa xoài/ đã dọc ngang phố xá", nhưng biết tìm đâu một Ea Súp ngày xưa thanh bình, hạnh phúc và tươi đẹp như cõi mơ. Cảm khái quá khứ và bất an trong hiện tại, nhà thơ đã không kìm nén được lòng mình, bao nhiêu day dứt cứ hiện lên rưng rưng qua từng câu chữ:
giờ Ea Súp không rừng
Ea Súp chẳng còn voi
Ea Súp hoàng hôn câu hát xưa rơi
không ai nhặt đặt lên môi như ngày trước
không ai ngồi kể khan tàn củi bếp
tháp Chăm buồn vũ nữ chẳng còn ai
Tôi có cảm tưởng mỗi dòng thơ là một dòng nước mắt uất nghẹn tuôn trào trong lòng tác giả. Cảm xúc càng dâng đầy, sự tố cáo về hành vi hủy hoại môi trường của chính con người càng thêm sâu sắc. "Ea Súp không rừng/ Ea Súp chẳng còn voi" là một sự thật, một sự thật đau đớn và lạnh lùng đòi hỏi mỗi chúng ta cần có cái nhìn phản tỉnh để đánh thức lương tri trước khi môi trường giẫy chết. Không còn rừng, những vẻ đẹp lãng mạn của tâm hồn con người cũng bị đánh cắp: cây sáo đã rơi trong hoàng hôn lãng đãng, những điệu khan cũng đi vào quên lãng, tháp Chăm buồn vũ nữ hóa phai phôi..., thay vào đó là niềm vui nhất thời về vật chất được tung hô khiến cho nhà thơ bùi ngùi "rưng lệ":
bạn khoe lúa khoe nhà những đổi thay trời đất
tôi nhớ rừng nhớ bước chân voi 
cùng cụng ly mà kẻ vui cười 
người rưng lệ, rượu như  mật đắng!
"Người rưng lệ, rượu như mật đắng" là câu thơ kết, đồng thời cũng là cảm xúc gói gút toàn bộ thi phẩm. Một thanh trắc cuối bài kết hợp với dấu chấm cảm đã phần nào nói hộ tâm tình của tác giả với tất cả chúng ta về vùng đất Ea Súp nói riêng cũng như mảnh đất cao nguyên Đắk Lắk nói chung đã cưu mang, sâu nặng ân tình với một nhà thơ đã làm nên "Rừng cổ tích".


LÊ THÀNH VĂN