Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

BỤNG NÚI - truyện ngắn của HOÀNG HIỀN - CHƯ YANG SIN SỐ 311 tháng 7 năm 2018







Làng Bồ Bản nằm bình yên tách biệt dưới chân dãy núi đá vôi, những dải núi nối nhau chạy xa tít tắp. Suốt bao nhiêu năm chỉ duy nhất cây giàng giàng là sống được, loại cây khẳng khiu tích cóp từng giọt mưa mạch nước nuôi mình. Mùa đông, khi rơm rạ đã hết, dân làng mấy xã xung quanh kéo nhau lên núi gồng gánh giàng giàng, không cần phơi, cắt xuống hơi se se là đượm lửa. Nhà nhà san sát nhau nằm thảnh thơi, lưng tựa vào khối thiên nhiên vững chãi, bên hông nhà trồng đầy chè bụi, cứ mỗi dịp cuối đông là hoa trắng bung mình. Con đường duy nhất dẫn vào làng hai bên đường mênh mông ngô lúa. Lũ trẻ đi học về vừa đi vừa hát. Nước giếng núi trong văn vắt, con gái làng uống nước ấy giọng trong như ngọc thảy mâm vàng, da tóc thơm như hoa cau non, con trai khắp xã trong huyện nhiều người ao ước.
Nhưng đấy là chuyện xưa kia.
Người ta đấu thầu núi đá vôi, đêm ngày gì cũng kề khoan vào mỏ đá, bộc phá đặt vào bụng núi, những tiếng nổ khủng khiếp váng cả gầm trời. Người ta xẻ núi, vét những cái rãnh sâu dẫn từ ngọn xuống chân núi để chuyển đá làm xi măng. Mấy dải núi tan hoang, bụi bay mù mịt, tiếng động cơ xe tải, tiếng nổ mìn, tiếng máy khoan đinh tai nhức óc. Người ta nói với nhau như hét, những câu ngắn ngủn và cộc lốc. Trai tráng trong làng và mấy làng bên dồn đến lái xe, chuyển đá, việc nặng nhưng công cao.
Làng bắt đầu thay da đổi thịt, những ngôi nhà cao tầng bắt đầu mọc lên, người ta đua nhau sắm ti vi dàn máy. Cánh đồng mênh mông bây giờ trơ gốc rạ, bụi xi măng bàng bạc choàng lên mọi vật như tấm áo khổng lồ, nuôi cá cá chết, cỏ cây không tài nào sống được. Những người đàn bà ngày nào cũng nơm nớp từ lúc bới cơm vào cặp lồng cho chồng con lên bãi đá đến khi họ trở về ngã vật xuống giường dỗ dành sức lực trong khi ở bãi đá vẫn rung giật vọng vào tiếng núi kêu than. Nhiều người thành góa phụ  khi mới vừa kịp tân hôn.
Nhài mất chồng, nhưng không phải trên mỏ đá. Hôm ấy, Nhài vẫn bới cơm cho chồng, không quên bỏ vào túi cước cút rượu trắng. Buổi trưa cánh thợ đá cơm nước đâu đấy xong, rượu đã lâng lâng, đám đàn ông ngồi vãn chuyện, chuyện gần xa rồi chuyện nhà chuyện vợ, chuyện Nhài không đẻ được con trai. Mới đầu thì nói cho vui, sau chuyển sang cay cú, rằng làm tối mặt tối mày chỉ nuôi vợ mình và vợ ba thằng khác, tốt nhất ở nhà cho sướng thân. Rằng bắt đầu từ hôm nay chồng Nhài hãy ngồi một mình một mâm, sau này làm ông ngoại cho nó quen dần. Rằng nhà hai tầng, thợ bộc phá giỏi nhất nhì mỏ đá mà lấy con vợ người dài nhẳng như củi cháy. Rượu và sự phẫn uất ngún vào nhau bắt lửa đốt rụi cả trí khôn. Chồng Nhài giắt thuốc nổ vào lưng, lừng lững về nhà khi Nhài đang lúi húi nấu cơm trong bếp, hắn dí vào mặt Nhài ống thuốc, gầm giọng hỏi:
- Mày có đẻ nữa không?
Nhài hiểu ngay mọi sự thế nào, cô răm rắp gật đầu, răm rắp dạ vâng. Cơn giận của chồng nguôi ngoai, Nhài ra ngoài sân quét tước. Một tiếng nổ long trời nở đất. Lặng đi vài giây rồi đất đá rơi xuống ào ào. Nhài bị hơi bom xô xuống sát mé ao, nằm viện gần một tháng trời về nhà thì xóm làng họ hàng đã lo hậu sự cho chồng xong xuôi đâu đấy. Ba đứa con gái ôm mẹ rưng rức khóc, làng đá mà không có đàn ông trong nhà thì lấy gì làm kế sinh nhai.
Bốn mẹ con nương tựa vào nhau, vỡ ruộng đất ngày xưa từng màu mỡ, ươm lên những thửa ruộng thân quen mầm khoai nhánh mạ. Mấy sào ruộng của mẹ con lẻ loi giữa đồng không, khoai chưa kịp thu chuột khắp nơi kéo đến cắn sạch gốc, lúa vừa lên được gang tay là èo uột nghẹn đòng. Nước mắt đổ xuống đồng cũng không tưới tắm được lúa ngô xanh tốt. Nhài xoã tóc đi lên núi, chỉ mặt hỏi tên những thằng khích bác khốn nạn đâu rồi. Không một ai trả lời, chỉ có bụng núi đang quặn lên cơn đau do bộc phá. Người ta bảo Nhài phát điên. Giá mà điên đi được, ba đứa con gái đang tuổi ăn tuổi học, Nhài búi tóc, gạt nước mắt theo những người đàn bà một vai hai gánh trong làng.
Đàn ông sức vóc thì lái xe tải, máy xúc, đàn bà yếu hơn thì gánh gồng, đẩy xe rùa bưng bê đá mạt, Nhài cũng vươn vai, nhô cổ choãi chân. Những người đàn bà cụm vào nhau, nhìn bất hạnh của nhau mà tìm lẽ sống. Người sống được thì ta sống được kể cả giữa tiếng ồn ào váng óc, bụi bịt lấy lỗ mũi, nắng đốt cháy da và  thiêu loá mắt. Sống giữa khung cảnh ấy dường như mọi thứ đều bị kéo căng hết cỡ, dễ dàng nổ tung. Với đám đàn ông, nhiều khi chỉ một câu nói, một ánh nhìn không vừa mắt là sẵn sàng nổ ra một cuộc ẩu đả, một tai hoạ. Lạ lùng là với cánh đàn bà, càng vất vả, càng khốn khổ, người ta càng co cụm bao bọc lấy nhau.
Trên đời, ở bất cứ đâu, đàn bà vẫn là giống lo toan sớm. Trên nền cũ của chái bếp tan hoang gạch vụn, ba đứa con gái cùng mẹ hè nhau quây gạch, mua lợn giống về nuôi. Sáng chiều đi học về chúng thay nhau đạp xe xuống mấy làng dưới ở ven đê cạnh dòng sông Vận mua cám gạo, mùa đông chúng mang theo bao tải tranh thủ giữa trưa chiều muộn đi kiếm rau dền rau rệu rau tàu bay. Mùa xuân mùa hè, chúng xăn quần xuống con mương ven đê bắt ốc bươu vàng hái rau muống mọc dài về quấy cám.
Chúng bắt đầu ao ước nhà mình nằm bình yên trong những xóm nhỏ ven sông. Cuối xuân đầu thu được đi cắt lúa trên đồng, mùa đông té nước trồng hành tỏi, hoa cải vàng bên sông chấp chới, giấc ngủ bình yên không nghe tiếng núi rên rỉ trở mình.
Những ao ước ấy cứ lớn dần lên trong giấc ngủ chập chờn. Trong bữa cơm ba chị em tranh nhau kể lể, chúng vẽ lên cuộc sống thanh nhàn như ngày Nhài còn bé. Chị cũng ước ao.
 Khi tấm lưng dỗ giấc cả đêm tỉnh dậy không bớt đau, đôi chân leo lên núi bắt đầu rệu rã. Nhài không thể nào gồng mình được nữa. Chị rao bán nhà cửa vườn tược, rõ là mảnh đất sát núi vàng núi bạc, người ta xúm lại mua ngay. Mẹ con dắt díu rời làng. Nhà không có đàn ông, hàng xóm mới mỗi người một tay một chân sửa nhà, khuân vác đồ đạc. Những đêm yên lành giữa làng xóm mới, mấy mẹ con thi thoảng vẫn giật mình. Đứa con gái nhớn học hết mười hai nhất quyết không đi học nữa, em nói với mẹ trổ một gian nhỏ gần lối đi cạnh cổng mở tiệm may. Trong bữa cơm quây quần, chị cả nói với các em phải cố mà thoát ly ra thành phố, phải cho người ta thấy chẳng có chân lý nào mang tên con trai cả. Nhài bật cười trước sự hiếu thắng của đứa con gái vừa kịp phổng phao rồi lại thấy rưng rưng quá. Nhài bảo:
- Con ơi! Mình sống đời mình.
Làng ven sông, đất trong vườn bóng màu nâu đỏ, mấy mẹ con cùng nhau đắp đổi, gà gáy trăng non vẫn còn cặm cụi. Những bụi chuối trong vườn cứ láng mướt xanh um, lúa trên đồng chắc hạt nặng bông, rơm nếp phơi tăm tắp trên tường gạch, mẹ ngồi bện chổi góc sân, con gái chỉn chu may vá, tiệm may lúc nào cũng xôn xao tiếng nói cười lấy số đo, chọn màu vải vóc…
Bẵng đi mấy năm, một ngày khắp xã khắp huyện xôn xao: Làng Bồ Bản nay lạ lắm, người ta kê chõng mắc bạt giữa con đường độc nhất vào làng, người già trẻ con thanh niên trai tráng cắt cử nhau giữ đường ngày cũng như đêm, đội hậu cần hùng hậu lo cơm nước cho dân làng giữ sức. Cánh tài xế ở nơi khác đến chở đá bị túm cổ ấn xuống mương. Bọn chủ thầu chưa kịp vỗ về bằng những lời hứa hẹn đường mật đã bị ông già bà cả hất bụi xi măng vào mặt... Trong làng, vợ bảo chồng, con nhắc cha đừng lên núi nữa, trẻ con mới sinh ra nhiều đứa bị kinh giật, phổi nám bụi xi măng, đám đàn ông sau bao nhiêu năm bươn bải kiếm tiền giờ hục hặc ho ra máu. Cửa rộng nhà cao có ý nghĩa gì với người đàn ông thoi thóp đấm ngực trên giường chiếu. Mâm cơm nóng hổi vừa bưng lên phải giục mọi người ăn quáng ăn quàng kẻo bụi thì tiền bạc ý nghĩa gì với người đàn bà. Đám con cháu thành đạt trên thành phố về, chúng mang đơn lên huyện rồi lên tỉnh.
Người ta trả lại bình yên cho làng khi những ngọn núi đã bị cắt hết ngọn, chỉ còn là những dải đá thấp buồn bã nằm dưỡng thương. Không còn lộc đá, dân làng kéo xe xuống mấy làng dưới xã mua trấu, mua tro, xin rơm rạ mục về độn ruộng, vôi bột rắc trắng cánh đồng khử khuẩn, máy nước đêm ngày hút nước lên đồng. Cũng mất đến mấy vụ nghỉ đồng cho đất ngấu, người ta lại bắt đầu ngâm giống, lọc bùn xạ mạ. Màu xanh  trở lại trên đồng. Núi vẫn hiền lành cho nhà nào nhà nấy tựa lưng. Vạt núi thấp chậm chạp hồi sinh bằng màu xanh cần mẫn của cây giàng giàng. Bên hông nhà mỗi cuối đông chè bụi tí tách bung hoa trắng. Trẻ con lớn lên từ đồng ruộng rồi đi khắp muôn nơi bằng sự cặm cụi của cha ông. Giữa hè, đầu xuân bọn chúng về làng, đi qua con đường hai bên mênh mông lúa ngô vẫn khe khẽ hát, chúng bảo nơi không đâu an lành bằng bầu ngực quê hương.


Thứ Tư, 25 tháng 7, 2018

MỘT HÔM GÁC NHỎ - truyện ngắn của HỒ THỊ NGỌC HOÀI - CHƯ YANG SIN SỐ 311 tháng 7 năm 2018



Ni ngồi yên lắng, mắt nhìn xuyên cửa ra vào, cả cửa sổ, có một mảng trời, một đám lá, gió và nắng. Nắng buổi sắp về trưa nồng gắt phả nóng vào gác nhỏ. Ni nhớ cảnh hồi sinh viên ở chung, mỗi đứa một mảnh chiếu, nhớ trong gần chục năm trời trải qua bao dãy trọ phòng trọ âm u.
Có nên gọi điện nói cho Nhi biết về sự... chuyển đổi này không? Ni chuyển chỗ ở. Một cái gác nhỏ người ta dựng bằng sắt, tôn, ván ép, có hàng hiên, có mái che, cầu thang ngoài trời, tất cả đều cũ kĩ (cái nền gỗ công nghiệp có vẻ... mới, chắc được sửa lại nên nom đỡ cũ hơn). Cũ, nhỏ, giá rẻ, đi ra bến xe buýt không xa lắm, lại ở gần một khu phố yên tĩnh, nhiều cây, có thể sang đó chạy bộ... Nhưng giá triệu rưỡi một tháng mà ở một mình thì vất vả cho Ni, nên kế hoạch là phải bớt ăn tiêu bởi chẳng muốn kiếm người chia tiền phòng nữa, chẳng đứa nào ở hết năm, đứa lấy chồng, đứa đổi việc, đổi chỗ, ai cũng có thể đổi khác, Ni cũng chuyển việc, đổi chỗ làm, thế là lại lộn xộn, lục xục, không yên, không ổn định...
Gọi cho Nhi, còn để biết xem Nhi lâu nay có gì mới? Lâu, có khi ba, bốn tháng không gọi. Nhiều dịp thưa gọi, thỉnh thoảng mới xả chuyện, kể lể vặt, thổ lộ bao chuyện, nhiều chuyện, toàn là những loay hoay cũ.
Ni ngồi nhìn ra mảng trời cùng đám lá ngọc lan loáng thoáng đầu xa qua khung cửa sổ nhỏ như... cái mặt bàn xếp Ni mua dùng từ thời sinh viên. Một chút trời và một đám lá chen nhau... Nó rõ là một bức tranh quý. Ni thử nghiêng người một chút, mảng trời biến mất, chỉ còn mỗi đám lá choán lấy khung cửa, lay động, chen chúc.
Ni lan man lơ mơ, vẫn chưa bấm máy gọi cho Nhi. Nhiều khi nhớ đến, có khi tính gọi rồi lại thôi. Ni thường thế, sợ làm mất đi sự tĩnh lặng của người khác. Ni sợ nhiều thứ mà không sợ cô đơn.
Ni, mày có để ý cái khẩu hiệu “học để chung sống” trường học mới treo lên sau này không? Tao vẫn nghĩ học để có cái ngành cái nghề, kiếm việc, kiếm lương, phấn đấu nọ kia... ừ thì cũng đúng, nhưng giờ ngẫm thấy mình học chưa đủ để... chung sống, mình học chưa đủ để... tiêu vào cái đời sống hàng ngày cứ nảy nòi ra lắm thứ lằng nhằng và khốn khổ. Tao đã vội quá! Công việc, nghề nghiệp ổn định, gia đình chồng con ổn định, hờ, ổn định là cái từ mà dần dần tao thấy mỗi khi nói ra thì nó bắt buộc tao phải nghĩ lại. Tao thấy càng ngày càng nảy sinh những cái mất... ổn định, những cái được cho là ổn định thì gây mệt mỏi, chặn chẹt hết cả hứng, chán ngấy!
Ni nhớ Nhi đã tâm sự, kêu ca rất nhiều, Ni biết tinh thần Nhi bất ổn, sút kém dần. Tệ nhất là có bận Mi khóc lóc, lên kế hoạch nhờ Ni thu xếp để... ôm con đi. Ni thêm lo cho Nhi.
Năm năm ra trường, bạn bè có bao thay đổi, Ni cũng khi đứng máy photocopy, khi tiếp thị, bán hàng, rồi chăm lo trang bài quảng cáo online, lăn lóc đủ kiểu, chỉ cố gắng... ổn định bằng cách cắt giảm những nhu cầu.
Ni vẫn chưa gọi cho Nhi. Giờ này chắc Nhi bận chợ búa, con cái, cơm nước?
Ni nhập tâm vào không gian mới, trong nhà ngoài cửa... bằng những chút hoài niệm, những khoảnh khắc đời mình, và thế là lại đính, gián chồng lên xung quanh những chút kí ức. Không gian đã cũ kĩ, rỉ sét, ám khói, bạc màu... nhưng có hương ngọc lan vẫn dịu ngọt lan toả thấp thoảng. Đám lá ngọc lan dờn lên trong gió mạnh và nắng trưa nơi góc cửa sổ, những chút an ủi cho sự di chuyển đổi thay lần này, nó cũng khiến cho Ni mong muốn được ổn định, cố gắng làm để có thêm tiền trả tiền phòng.
Nền ghép gỗ ép công nghiệp màu nâu sẫm, những đường vân bắt chước... Ni lau dọn sạch sẽ tinh tươm phong quang, đỡ chật hẹp. Ít đồ dùng, phòng trống...  Ni nhìn ngoài cửa, lại nhìn bên trong phòng, tường dán báo, hoạ báo, tranh ảnh, hoa, nhà, chó mèo, hình, chữ... tường cũ của người trước còn nguyên Ni chưa thay được.
Nhi nó nói đúng. Thật khó ổn định. Nhưng bây giờ mỗi khi không thuận lợi, trong lòng Ni đã bình tĩnh hơn, không quá chao đảo, hoảng sợ, không quá lo lắng nữa. Ni tự dặn nhủ mình phải từ từ, bình tĩnh trong những trường hợp xấu.
Nhìn ra lại nhìn vào không gian bốn bức ngăn. Chút ít đồ đạc của Ni không thể ít hơn được nữa. Mấy bộ quần áo, đồ đi làm, đồ ở nhà treo móc ngoắc dây một góc nhà, sách vở đồ dùng ngay đầu chiếu nằm, bếp nấu, chậu rửa một góc, mỗi thứ một ít hôm qua xếp vào, hôm nay tháo ra sắp xếp vào những vị trí mới. Bốn cái hộp cacton dán băng keo chắc chắn hôm qua đóng đồ được giữ lại làm cái đựng được xếp vào một góc. Đơn sơ thế mà làm lụng kì cụi cả tháng cũng khó giữ được yên.
Ni thôi không gọi cho Nhi nữa, dậy lấy bếp ga mi ni nấu nước sôi pha mì gói. Chốc lát, mùi mì gói bay khắp phòng. Phòng trọ kế bên khoá cửa đi từ sáng. Ba phòng trọ, một tháng bà chủ có bốn triệu rưỡi, bằng số tiền lương mới tăng trong hai tháng vừa rồi của Ni.
Vuông đất xây cất, bố trí khiêm tốn, nhẹ nhàng, thông thoáng. Ni ra hàng hiên lại quay vào ngồi bàn xếp. Ăn gần xong bát mì thì nghe tiếng bà chủ:
“ Cái Ni soạn dọn xong chưa?”.
“ Con chào bà. Con soạn xong rồi ạ. Con mời bà ăn trưa với con”.
“ Ăn ở đơn sơ thế thôi à? Lo ăn uống thêm vào chứ mày gầy quá!”.
“ Con được bốn lắm kí bà ạ. Con gầy lắm không bà?”.
“ Gầy chút thôi, chồng con đẻ đái rồi nó khác ra nhiều...”.
“ Con ở thế này luôn, khỏi lấy chồng nữa bà ạ. Sao mà con thấy lo sợ...”.
“ Lo sợ, ừ, nhưng có mấy ai không lập gia đình? Duyên đến thì yêu, thì lấy, vui buồn sướng khổ nó chia qua bù lại”.
“ Dạ vâng”.
Ni ăn xong tô mì, mùi mì tôm vẫn chưa bay hết. Bà chủ nói:
“ Thôi, ăn rồi nghỉ đi, bà chỉ ghé ngó qua thăm hỏi chút, bà về”.
“ Dạ, con chào bà”.
Ni nghe chia sẻ của bao người, từ ngày lăn lộn kiếm sống càng được nghe nhiều, những kinh nghiệm, những tâm tư, trọ quận X, quận Y, bao nhiêu căn trọ, bao chuyện, bao nỗi niềm được găm, gián lên mái, lên tường, lên những chỗ trống, lỗ thủng, chỗ mòn, Ni mang chúng theo cùng thân phận mồ côi, trôi nổi, thiếu thốn của mình. Ni nhặt nhạnh, gom góp, tự động viên, tự vượt qua. Ni cây sậy, Ni khờ, Ni qua cái quãng học và làm lẫn lộn, mịt mù, xong rồi thì thở phào. Những tưởng cái khó nhất qua được rồi, nhưng khó sau lại khó hơn khó trước. Dọc đường thật dễ gục ngã. Một sinh viên khoa triết khổ có lúc tưởng phải nghỉ học, rồi một cử nhân triết học, lăn xả, lăn lộn làm đủ thứ việc để kiếm sống. Làm khô mặt, ăn bát cơm nhạt, học những bài học từ tủi cực, cả tủi nhục.
Trời biển đất đai, con cua cái tép cọng rau, cả người xấu lẫn người tốt, cả sách vở và những hoang dại núi sông, đồng ruộng, cái đổi, cái cho, cái thừa, cái thiếu, lẫn cái toan tính... cho Ni có ngày hôm nay. Người ta đi dọn rác, hót phân kiếm sống nuôi con, lo cho cả gia đình, Ni cũng chịu khổ để nuôi thân, học hành.
Đám lá ngọc lan cọ dờn ngoài khung cửa, hương ngọc lan phóng khoáng. Nắng không lọt nổi vào khung cửa, nó xéo sang một bên. Chiếu, chăn, gối... cũ sờn ngay ngắn một góc sàn. Ni ngả lưng nhớ lại tháng ngày làm quên thời gian, vắt kiệt sức mình thế nào...?!
Bỗng có tin nhắn của Dự.
“ Ni khoẻ không? Còn nhớ chuyến xe hôm ấy và người hôm ấy... đã đi  đâu không?”.
Ni không mặn mà nhưng cũng không nhạt nhẽo bâng quơ được mãi.
Từng đường nét trên gương mặt vuông xạm hôm đó, dáng người, giọng nói, màu áo... Dự hôm đó lại hiện ra trong trí nhớ.
Từ cuối năm ngoái cơ, chàng trai ngồi ngang hàng ghế bên kia, khi xuống xe đã xin số điện thoại, Ni nhìn, tìm câu từ chối cho phải phép, nhưng trông đôi mắt, gương mặt, rồi dáng vẻ điệu bộ... trong phút giây gần bên, chần chừ để chối từ thì lại bị hút thêm vào ánh mắt, gương mặt chân thành, vẻ như nghiêm khẩn.
Bao năm qua, cũng có hai, ba chàng tỏ tình, theo đuổi, Ni chần chừ, do dự, thế mà nhanh hết tháng ngày, nhanh hết vấn vương, rồi người ta, người vội yêu, người vội lấy, người vội xa... Ni lại không vội được, không ai có thể đủ sức, đủ kiên nhẫn đi dài thêm quãng đường với Ni. Họ không cần những bí mật bị cắt ngang, chưa biết tới. Ni thì không hiểu tình yêu hay điều gì đã xẩy ra? Những gì đã mất đi? Người ta là người thế nào Ni không kịp biết. Họ yêu hay thích hay là gì nữa... Ni chưa kịp rõ. Ni lừng khừng, lờ khờ, Ni dại. Những câu chuyện Ni nghe được, có nhiều chuyện buồn lắm, Ni cảm thấy như đời mình là thế, rồi cũng sẽ thế. Ni hay lo lắng, cuộc sống thì cứ kéo dài thiếu, thừa bấp bênh.
Chuyến xe... Ni vẫn nhớ. Nó về vùng trơ trụi, về nơi mông lung, ban đầu nó gầm gừ vút qua những xanh tươi lẫn cằn cỗi hai bên đường.
 Một năm qua rồi, nó cũng dần khác trong tâm trí Ni bởi Dự, vẫn kiên nhẫn nhắn đợi, gợi nhắc.
Lại tin nhắn của Dự. Màn hình sáng, những kí tự. Những con chữ kéo Ni vào vùng xa xôi, mông lung.
Ni soi gương. Tóc nuôi dài lại cắt ngắn. Bán tóc hai lần. Cái mặt tròn hơn khi cắt tóc, rồi tóc dài, thật dài. Ni chải tóc, luồn tay vào những sợi tóc dài và vuốt xuống. Nuôi tóc thêm ít lâu nữa sẽ lại cắt bán, cũng có thêm được chút tiền.
Ni khô khan? Ni hay lo sợ? Những điều không tốt, không ổn từ đâu đó càng sinh sôi.
Nghe Dự hát trên youtube. Giọng ấm mềm. Đẹp. Dự hát cho đồng đội nghe, biển nghe, cá và cát sỏi nghe. Tài đàn hát dễ làm người ta chết lặng. Thế mới có chuyện Trương Chi. Cái nỗi sợ của Mỵ Nương cũng lớn. Sợ hãi kiểu con quan. Vẫn cứ phải sợ hãi. Con người ta, bi kịch, sao không kiểu này thì kiểu khác thế? Giờ người ta tìm hiểu nhau, gần nhau dễ dàng, thế mà vẫn đầy bi kịch vì không hiểu nhau. Tìm hiểu nhau, gần nhau dễ dàng cũng thành cái nỗi đáng sợ. Phương tiện xúm vào hỗ trợ con người tìm hiểu, yêu nhau, gần nhau, những hỗ trợ thần tốc, cấp bách làm tanh bành đời sống tinh thần con người, những tuyệt vọng, những thê lương, những hoan hỉ, náo nức.
Ni sợ, Ni im lặng thôi chứ không lạnh lùng. Ni cũng hay lưỡng lự, dùng dằng, Ni chậm, không ai kiên nhẫn, thì Ni biết làm sao?
Chiều như đổ xuống nhanh hơn. Nắng dịu hẳn. Ni khoá cửa đi ra ngoài. Một con vật vụt phóng qua khiến Ni giật mình. Con mèo. Nó nhẹ nhàng đi mãi sang bên kia đường. Bên kia, xa mãi là con đường, hàng cây, những căn nhà lầu đóng cửa, đóng cổng, im ỉm. Con mèo biến mất trong vài chỗ cây cỏ tốt um, những mảnh đất trống, rào chắn, và những bỏ ngỏ... Đất tăng giá, tiền trăm, tiền tỉ... Đó không phải chuyện của Ni, nhưng biết thế là cuộc sống ngấm ngầm bao thay đổi.
Cách nhau con đường mà bên này bên kia khác hẳn. Bên này bên kia, đến những khoảng sáng tối cũng khác nhau, bên thơ mộng lãng mạn bên lại băm bổ xộc xệch.
Hương ngọc lan dịu ngọt thoảng lan theo. Bước đi, Ni thấy nhẹ nhõm, nghe mơ màng, dịu dàng, nghe lòng... xanh mềm, và chỉ muốn gửi đến, gửi hết cho người ta những ẩn giấu, những bí mật, những mỏng manh và những nặng trĩu, cả những buồn bã âu lo và rất nhiều thiết tha.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

CON CHÓ BỊ XÍCH NGOÀI CỔNG SẮT - truyện ngắn của NGUYỄN ANH ĐÀO- CHƯ YANG SIN SỐ 311 tháng 7 năm 2018





Nhà chủ có một chiếc cổng sắt rất to và nặng, ông đem nó về và xích nó ở đó. Khi có ông ở nhà, cánh cổng mở ra, nó được ra vào cổng trong phạm vi sợi xích của mình, nhưng khi ông đi vắng, cánh cổng khép lại, nó lại bị đẩy ra bên ngoài cánh cổng. Lý do là vì bà chủ không thích, bà sợ nó đi vệ sinh làm bẩn sân của bà. Từ đó, nó yên vị ở bên ngoài cánh cổng sắt để vẫy đuôi chờ chủ đi làm về.
Ông chủ làm nghề gì nó không rõ, mà phận đầy tớ giữ nhà như nó thì cũng không được phép thắc mắc chủ mình giàu hay nghèo, chỉ cần trung thành và làm trọn nhiệm vụ của mình là đủ.
Từ ngày về xóm này, nó trở thành con chó lạ, chịu nhiều ánh mắt tò mò lẫn ghen tỵ của lũ cho trong xóm, tụi nó được đi hoang, tự do rong chơi mà không có sợi xích. Vài ngày nằm ở góc cổng nhà mình, nó nhận ra một điều, không phải cứ bằng lòng ở vị trí mình có mà yên thân đâu, đôi khi còn phải đấu tranh cho sự sinh tồn và bảo vệ tính mạng nữa. Tụi chó hoang đi đâu cũng đi cả đám, tới chỗ nó sủa váng lên hoặc ăn lấy thức ăn của nó, sau đó gằm ghè rồi bỏ đi. Nó từng bị thương nhiều lần khi phải chiến đấu để giữ khay thức ăn của mình. Chiều về ông chủ thương tình xuýt xoa vài câu, nó nghĩ, giá mà mình có bỏ mạng vì người chủ thế này cũng đáng! Vậy là đêm nó ngủ ngon và hài lòng với vị trí cạnh chiếc cổng sắt của mình.
Nhưng rồi mỗi sáng, khi nó nép mình qua một bên để những bánh xe của ông chủ lăn ra khỏi cánh cổng, nó sợ về với nỗi sợ hãi thường trực mỗi ngày, đó là đối diện với lũ chó hoang, à, không phải chó hoang, đó là lũ chó tự do trong xóm, phần thức ăn của nó vẫn bị cướp đi, phần nước uống cũng bị đánh đổ, rồi nằm mọp ở đó đợi buổi chiều về được ăn bù và nhận vài lời âu yếm xuýt xoa.
Một ngày, nó thấy bà chủ dắt về nhà một người đàn ông, nó gằm ghè sủa thì bị đánh cho một gậy vào lưng. Nó nằm buồn thiu ngó ra đường, mong đợi tiếng xe của người thương nó nhất. Một ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần, chiếc xe đó vĩnh viễn không quay về nữa. Nó bị đói và khát ngay chiếc cổng sắt nhà mình, bà chủ và người đàn ông lạ vẫn ra vô, nó thôi không sủa nữa.
Người đàn ông lạ đó nhìn nó bằng ánh mắt thương hại, tháo chiếc vòng cổ của nó ra “Mày muốn tự do không? Đi đi!”. Nó đứng dậy, vươn vai, hít thở bầu không khí tự do mà lâu nay nó mơ ước, rồi nó cũng như lũ chó ngông nghênh ngoài đường kia, thoải mái mà vui đùa. Nó chạy thẳng một mạch ra đường lớn rồi đứng tần ngần ở đó, một lát thủng thẳng quay về. Nó không biết đi đâu ngoài cánh cổng sắt, nó quen rồi, dẫu ở đó chẳng có nhiều niềm vui, thậm chí nguy hiểm nữa. Khi nó trở về và đứng chờ bên cổng sắt thì bà chủ ngạc nhiên, chống tay ngang hông “Mày còn về làm gì? Không đi đi!”. Nó biết nói thế nào với người chưa bao giờ giành chút tình thương nào cho nó, nó muốn đi lắm, nhưng nó biết đi đâu bây giờ? Nó muốn về đó để đợi ông chủ của nó, chỉ cần nó được nằm bên cánh cổng sắt đó thôi.
Cánh cổng vẫn đều đặn mở và đóng mỗi ngày, một hôm nó nhìn thấy bà chủ và người đàn ông lạ ngồi đó và nhìn nó, nó mệt mỏi vì ăn uống thất thường, nó quá mệt mỏi vì chờ đợi và rồi cũng chẳng biết mình sống vì điều gì tiếp theo, nó nằm thiêm thiếp ngủ. Nó nhìn thấy một người đàn ông khác chở theo một chiếc giỏ sau xe, bà chủ hỏi người lạ “ông mua nó bao nhiêu?”, khi người đàn ông chưa kịp trả lời thì người kia kéo tay bà “thôi em, cho người ta đi, bán buôn cái gì, nó còn bộ xương thôi mà!”. Nó đứng dậy, co giò chạy, nhưng không kịp, cổ nó bị một sợi dây thòng lọng siết chặt và bị lôi ngược về sau, trong vài giây định thần, nó đã kịp nhìn thấy mình trong chiếc lồng hôi hám của người đàn ông nọ.
Nó nằm mọp xuống, nước mắt chảy dài, vậy là hết. Cuộc đời của một con chó bắt đầu bằng sợi xích và sẽ kết thúc trong lò mổ. Người đàn ông chở nó trong chiếc lồng sau xe, bật băng cattset để rao “Ai bán chó, mèo không?”, chiều sập tối, chiếc lồng nó nằm có thêm một con chó khác, nhìn không khác nó là mấy.
Nó được ném vào một chiếc chuồng lớn hơn, có cả bầy chó ở đó, chúng hôi hám và sủa inh ỏi, nó chẳng buồn sủa, đúng hơn là chẳng còn sức mà sủa, nó nằm một góc chuồng rồi ngủ thiếp đi. Nó nằm mơ thấy ông chủ của nó, người đàn ông đã bỏ quên nó sau khi rời khỏi ngôi nhà, người duy nhất trong cuộc đời nó đã dùng những lời âu yếm và cho nó ăn. Nó gọi ông ấy, nó gọi khản giọng, ông ngoảnh lại nhìn, hình như ông rơi nước mắt, rồi ông bỏ nó đi. Nó giật mình, sủa váng lên, đứng thẳng bốn chân lên mà sủa. Nó sững lại một chút rồi nhìn quanh, chỉ là chiếc chuồng hôi hám với cả đàn chó, nó biết, đó là những con chó không được yêu thương. Nó bắt đầu tập ăn thức ăn đầy mùi hôi thối từ chiếc lồng đó, ăn để sống đã, ăn để đủ sức mà tìm đường thoát thân.
Sáng sớm, có nghe tiếng ồn ào, tiếng sủa inh ỏi, người ta mở chuồng và chọn ra những con to béo, nó biết, những đứa to con sẽ được đưa ra lò mổ. Trong chuồng nó ở cũng có một đứa được chọn, trong lúc con chó to béo đó vừa ra khỏi cửa chuồng với sợi dây xích cổ, nó tru lên một tiếng, những con còn lại đồng loạt xô cửa, phóng nhanh ra ngoài. Tiếng hò hét đuổi theo, tiếng chửi thề loạn cả lên, nó cứ cắm đầu chạy, băng mình qua cánh cổng cao, nó chạy đến khi nghe hai chân mình không còn cảm giác gì nữa, nó ngã lăn ra, trong cơn mệt, nó vẫn cố căng tai nghe tiếng truy đuổi, nhưng không có, và không có cả tiếng của những đứa cùng trốn thoát với nó, bây giờ, nó chỉ còn một mình.
Từ đó, nó trở thành chó hoang, sinh sống ở bãi rác. Bãi rác thôi mà lắm kẻ sống bám, như nó, nào chuột, nào mèo, nào những con chó mang trên mình đầy ghẻ chóc, còm nhom, và, có cả con người. Chúng không thể sống hoà bình ở đó, bởi ngày nào cũng có sự tranh giành địa bàn, tranh giành miếng ăn mà những chiếc xe rác cuối ngày mang về đổ xuống. Có lúc đói, bệnh, thấy mình kiệt sức, nó cũng muốn chết, nhưng chẳng biết cách nào để chết. Nó nằm thở hồng hộc, bọn chó hoang cùng cảnh ngộ, về ném cho nó cục xương hay miếng thịt thừa, rồi vài hôm nó lại lóp ngóp bò dậy ra bãi rác tự bới thức ăn cho mình.
Nó cũng bắt đầu ngứa ngáy và sinh ra ghẻ chóc như lũ chó hoang, thì cùng ăn trên một bãi rác ngập ngụa giòi bọ, làm sao mà sạch sẽ cho được. Những cơn đau, ngứa ngáy và những cơn sốt luôn làm lũ chó hoang thấy cuộc sống này thật kinh khủng. Nó, bỗng chốc thấy ghen tỵ và thèm thuồng những phút giây được sống đúng như một con chó, được có chủ, được cho ăn, được tắm rửa sạch sẽ thơm tho và ngủ bên chân chủ của mình mỗi tối.
Một ngày, nó nghĩ nếu mình muốn sống tử tế, muốn tránh xa bệnh tật, hãy tránh xa bãi rác. Và nó đi. Nó đi và nhìn thấy một nghĩa trang, nó lang thang tìm thức ăn ở khắp nơi rồi đêm về nghĩa trang mà ngủ. Ít ra, nghĩa trang vẫn sạch sẽ thơm tho hơn bãi rác. Thỉnh thoảng ăn được bánh trái mà người ta đến cúng. Rồi một sáng đẹp trời, vẫn là giấc mơ được gặp lại ông chủ của mình, nó thức giấc, nhìn lên đầu ngôi mộ mà nó đã tá túc đêm qua, tấm di ảnh của người đó, người mà đã bỏ nó đi không chịu về nữa, ông cười hiền từ nhìn nó. Không thể tả được là nó đã mừng như thế nào, nếu con người có thể ôm nhau mà khóc, nó cũng biết khóc, nếu con người có thể nói cả trăm câu nhớ thương, nó cũng có thể sủa cả trăm tiếng như thế. Và dẫu nếu con người có phản bội nhau sau những câu yêu thương đó, nó vẫn chưa học được cách phản bội, nên nó vẫn là con chó, vẫn yêu thương và trung thành.
Từ đó, nó lại có một mái nhà. Chỉ khác nhau, nó không còn là một con chó bị xích ngoài cổng sắt, nó tự do.

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

NGƯỜI THƯƠNG BINH LUÔN NẶNG NỖI TRI ÂN ghi chép của TRẦN ĐÌNH HẰNG - CHƯ YANG SIN SỐ 311 tháng 7 năm 2018




Dù gối mỏi chân chồn, dú sức đã gần về cội, nhưng may mắn đi qua cuộc chiến; còn sống thêm ngày nào thì sẵn lòng hiến dâng chút sức cùng lực kiệt cho những anh em không được hưởng niềm vui Nam Bắc một nhà, đang còn nằm lẻ loi, chưa có tên tuổi nơi mộ phần.
Thương binh ¾, Đại tá Trần Quốc Huy, đang nghỉ hưu tại số nhà 340, đường Phan Bội Châu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, là người luôn toàn tâm toàn ý tri ân đồng đội trong việc tìm hài cốt, trả lại danh tính cho Liệt sỹ, với tâm ý của những “hạt gạo trên sàng”, nên ông được nhiều người yêu mến, mệnh danh là: “Kho tư liệu sống, từ điển thông tin, triệu phú thông tin Liệt sỹ”… Ngay cả Chương trình “Trở về từ ký ức” của Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã gửi ảnh và thông tin đến để nhờ ông xác minh danh tính Liệt sỹ, thì đủ thấy uy tín của ông tới mức nào!
Vốn tính cẩn thận, mang nặng ý thức tâm linh nên chưa khi nào ông Huy cho phép mình đưa ra những kết luận hời hợt vô căn cứ, mà đều dựa vào nhân chứng, chứng lý và có đối chiếu, xác minh. Nhiều người mãi ghi nhớ chuyện thân nhân của hai Liệt sỹ Y T’Lam Byă và Y Hiên Niê đã nhiều lần gùi theo cơm đùm, cơm nắm cùng hai tấm bằng “Tổ quốc ghi công” tìm đến Tỉnh Đội; sở Lao động Thương binh & Xã hội; Ban quản lý nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Đắk Lắk, mong được chỉ dẫn phần mộ của con em mình. Xem ra việc này sánh ngang chuyện mò kim đáy bể.
Ông Huy thấy lòng mình rưng rức nỗi xót xa trước đề nghị của hai gia đình đồng bào dân tộc bản địa này và tự nguyện xắn tay vào cuộc “Phải tìm cho được thông tin chỉ đường mách lối”. Kết quả sưu tra tàng thư ở hai ban Quân lực và Chính sách thuộc Tỉnh Đội Đắk Lắk cho thấy: “Hai liệt sỹ  Y T’Lam Byă và Y Hiên Niê cùng hy sinh trong một trận phục kích chống càn, thuộc địa bàn giáp ranh giữa H1 và H8 (nay là hai huyện M’Drắk và Ea Kar).
Việc đầu tiên ông tìm gặp cho được Thượng uý Nguyễn Văn Đợi, nguyên Huyện Đội phó H1.
- Huy phải không? Đúng mày rồi! Hai mươi mấy năm “sếp mải lo việc nước”, nay cơn gió lành nào đưa rồng đến nhà tôm vậy?
- Anh giận tới mức nào thì tôi cũng phải chịu. Còn bữa nay  không phải nhờ gió mà do nước dẫn tôi tới đấy!
- Nước? Nước mưa hay nước mắt đây?
- Là nước mắt đấy anh ạ!
- Sao? Lại có đứa nào “quy tiên” nữa hả? Mà sao mày tìm được đến cái xó này!
- Dù anh có chui dưới chín tầng địa đạo hay trên chín tầng xanh thì tôi cũng moi ra được, dân trinh sát mà.
Nghe bạn trình bày vắn tắt sự việc, tuy đang tất bật với công việc của một lão nông, nhưng cựu chiến binh (CCB) Đợi vui vẻ bỏ việc ngang xương:
- Gì thì gì,chiều nay phải nhậu cái đã, đêm mày ngủ lại đây!
Huy biện lý:
- Tôi đang bận bù đầu, xin anh thư thả đến khi xong việc đã!
- Chỉ cần nhậu “tẹc ga”, ôm nhau ngủ tới sáng là mọi việc đâu vào đấy liền!
- Thôi đi cha nội! Chuyện nghiêm túc mà cứ dỡn.
- Sao dỡn? Có cả thằng Huỳnh Hoan ở Ea Quang, thằng Văn Vi Tiến ở Ea Sol, thằng Lê Văn Tín ở Ea Bút nữa, ba thằng đó mà tới được đây thì cũng phải tối mịt.
- Trời ơi! Lại còn gặp “năm trăm anh em” nữa thì tới khi nào tao mới dứt ra để lo công chuyện được.
- Cái rẹc! Một cái rẹc, mày hiểu chưa! Chỉ huy trận phục kích ấy chính là thằng tao đây này! Thằng Tiến là tổ trưởng ém quân bên bờ Đông và nó cùng thằng Hoan chôn cất Y T’lam Byă đấy! Còn thằng Tín là tổ trưởng với bốn tay súng trong đó có Y Hiên Niê ém quân mé bờ Tây con suối cạnh buôn Cam Rưng chứ còn ai khác. Bốn năm trước, chúng tao ghé thăm thì bà con cho biết là: “Hai ngôi mộ đã được đưa về nghĩa trang rồi mày ơi!”.
Huy xiết chặt tay từng người, mang biên bản và sơ đồ trận chiến có chữ ký của “năm trăm anh em” đến gặp Đại uý Nguyễn Xuân Mão, Đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sỹ (khi này chưa có đơn vị chuyên trách K51).
Anh Mão cho biết:
- Khi triển khai tìm kiếm ở địa bàn buôn Cam Rưng, chúng tôi tìm thấy và bốc cất được bộ hài cốt ở bờ phía Đông con suối thì phải dừng lại vì mưa to, nước suối lớn. Anh em đưa hài cốt về bàn giao cho Ban quản lý nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh và tạm nghỉ. Mười ngay sau mới “tập kích” qua suối để tiếp tục làm nhiệm vụ.
Căn cứ biên bản bàn giao và sơ đồ mộ chí tại nghĩa trang cùng biên bản làm việc có chứng nhận của các nhân chứng nên bia mộ Liệt sỹ Y T’Lam Byă (hy sinh bên bờ Đông) và Y Hiên Niê (hy sinh bên bờ Tây con suối) đã được xác lập đầy đủ thông tin.
Trường hợp khác nữa là thân nhân Liệt sỹ Nguyễn Quang Vinh – Phó chủ nhiệm Hậu cần Tỉnh Đội, đến nhờ chú Huy tìm hài cốt “nhạc phụ” hy sinh tại H4 (nay là huyện Krông Năng). Tìm kiếm trong “kho” của mình, ông Huy hiểu rằng: Thương binh đã được đưa về xưởng Quân giới của Tỉnh Đội để cứu chữa. Vậy là ông đã tìm gặp ông Hoan (Xưởng trưởng), ông Cần – Kỹ thuật và ông Bốn – Quân y. Các CCB này đều xác định: “Anh Vinh bị thương rất nặng khi vượt đường 21 (nay là quốc lộ 26). Anh ấy hy sinh lúc đang cấp cứu, chúng tôi đã chôn cất anh ấy rất chu đáo ngay ở mỏm đất nhô ra lòng suối Ea Dah, gần xưởng!”
Sẵn kinh nghiệm nghề rèn gia truyền tại quê Nam Trực, Nam Định, ông Huy xác định: “Dấu tích của xưởng Quân giới chính là rỉ sắt và sắt vụn”. Và chỉ cần có vậy, ông liền thông báo: “Đã xác định được toạ độ nơi bố cháu nằm” với chàng rể hiếu thảo của người đồng đội.
Theo phương án của ông Huy, Huyện Đội Krông Năng chỉ đạo cho dân quân xã Ea Dah truy tìm rỉ sắt. Thực tế thì những rỉ sắt – di vật của xưởng quân giới đã phát lộ từ rất sớm tại một rẫy cà phê, người chủ rẫy đã từng khổ sở với cái thứ cứt sắt chết tiệt có thể tồn lưu hàng trăm năm kia, chính nó cùng với các mẩu sắt vụn đầu thừa đuôi thẹo đã làm cho người nhà và người làm công cho ông bao phen khốn đốn. Nay nghe nói: “Ven suối Ea Dah, nơi nào có nhiều rỉ sắt, gần đấy có hài cốt liệt sỹ”, thì hiểu vai trò lịch sử của nó và lập tức báo tin. Thế là hài cốt Liệt sỹ Nguyễn Quang Vinh được tìm thấy khá mau lẹ.
Đầu năm 2001, với cương vị Tham mưu phó Tỉnh Đội Đắk Lắk, Trần Quốc Huy đã cùng với Bí thư huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện M’Drak, TrưởngCông an huyện K’rông Pak, cùng hai CCB từ Phú Yên lên (trừ ông Huy, số còn lại đều là bạn cùng chiến hào), đến H1 tìm hài cốt hai Liệt sỹ Lê Anh Phương và Huỳnh Thị Lài. Nhờ công tác dân vận tốt mà các nhân chứng là người địa phương đã chỉ giúp hố chôn chung (do lính Nguỵ vùi lấp khi xưa). Chẳng những thế, người dân còn mang hương, hoa, lễ vật, cuốc xẻng cùng các CCB lập bàn thờ và góp công đào bới.
Khi hai bộ hài cốt được phát lộ thì một trở ngại lớn thử thách trí tuệ của mọi người: “Làm sao phân tách được xương của từng người đây?” Trong làn khói hương nghi ngút, các đồng đội đều hình dung, cảm nhận được hình hài của hai liệt sỹ đang hiển hiển mà lẩn khuất đột nhiên ông Huy hỏi:
- Có ai còn nhớ được diện mạo của hai người không nhỉ?
- Nhớ chứ!
Các đồng đội đều lên tiếng. Anh Phương có khuôn mặt chữ điền, cao to lực lưỡng mà rất hay cười, còn cô Lài thì thấp bé, thường bẽn lẽn và hay hát một mình.
Lời nói vừa dứt, đột nhiên bát hương bốc cháy, ngọn lửa rần rật làm cho tâm trạng đang bần thần của mọi người trở nên rờn rợn. Sau giây lát bóp trán trầm ngâm, ông Huy đĩnh đạc lên tiếng:
- Theo tôi, chúng ta phân tất cả các loại xương từ xương sọ, xương chi, xương sườn v.v… làm hai bộ nhỏ riêng, lớn riêng, tuy nhiên chỉ có một chiếc xương chậu có hai hốc ở hai bên thì thuộc về bộ nhỏ, đấy là xương chậu của phụ nữ và chính là hài cốt chị Lài, bộ kia là anh Phương.
- Tạ ơn Trời Phật! Đúng là một chứng lý khoa học!
Mọi người đều ồ lên mừng rỡ sau lời nhận xét của ai đó.    
Người cựu chiến binh, thương binh - Đại tá Trần Quốc Huy hết lòng vì đồng đội; một tấm gương điển hình của người Đảng viên - thương bình trong Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là nét đẹp của “Anh bộ đội Cụ Hồ”.