Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

NHỮNG DÒNG SÔNG DÂN CA ĐẤT NƯỚC… Tùy bút NGUYỄN NGỌC PHÚ - CHƯYANGSIN SỐ: 313 - THÁNG 9 NĂM 2018




Khi viết về Tổ quốc, về đất nước trong chúng ta ai cũng có một dòng chảy văn hóa trong máu thịt của mình về với nguồn cội với truyền thống con Lạc cháu Hồng cùng chung bọc trứng với tâm nguyện: “Hàng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giổ Tổ”. Đất nước Việt Nam từ hình thể địa lý, kiến tạo bao đời đã tạo ra bao tượng hình Tổ quốc. Có nhà thơ ví hình dáng đất nước: “Giống như nàng tiên múa/ lại hóa thành ngọn lửa lúc cuồng phong”. Mềm  mại và quyết liệt, nhu và  cương đã tạo ra cốt cách bản lĩnh và khí phách tâm hồn Việt. Lại có người nhận ra đất nước mang dáng “Con đê trên bán đảo” - lưng dựa vào Trường Sơn, mặt đối diện với biển Đông sóng gió. Bởi lịch sử mấy nghìn năm giữ nước và dựng nước  từ những trang sử hào hùng cái thuở chú bé Thánh Gióng phi ngựa sắt với bụi tre  đằng ngà làm vũ khí giết giặc. Hình ảnh cây tre là biểu tượng cho những phẩm chất dẻo dai, bền bỉ và thẳng thắn  tạo ra sức mạnh diệu kỳ làm nên những pháo đài đan chặt vào nhau như một  tấm áo giáp. Và đặc biệt trong dòng chảy của truyền thống lịch sử văn hóa, đất nước Việt Nam ta bao giờ cũng gắn bó với những dòng sông đã làm nên bao chiến tích. Sông Bạch Đằng đời nhà Trần đã từng đánh tan quân Nguyên với khi phách: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù”.  Sông Mẹ - Sông Hồng cuộn chảy  phù sa như một thanh gươm cài bên hông thành phố thủ đô Hà Nội. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng hào sảng: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm/ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng!”. Sông chảy đến đâu thì bắc lên câu hò, câu hát đến đấy. Bởi có một nguồn mạch văn minh văn hóa sông, trầm tĩnh sông, lắng đọng sông. Đó là phù sa chắt lọc từ tâm hồn con người sống dọc sông đã tạo ra những luyến láy, những nhịp điệu những hào sảng mênh mang, những lắng dịu thẳm sâu…
Sông là nơi bắt đầu cho bao khát vọng để tuôn về, đổ về biển khơi. Sông là nơi khởi thảo những điệu dân ca mang hồn dân tộc. Sông đã mang và chuyển tải bao cung bậc. Sông bên lở bên bồi. Sông có phận sông, và chính con đò trên sông đã tải bao nỗi niềm của sông. Có chồng chềnh, có mấp mé, có duyên phận: “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy/ Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc” (Hữu Thỉnh). Khi đặt tên sông ta cũng muốn hiền hòa có hậu. Như sông Hương, sông Thương, sông Hiếu, sông Cầu, sông La, sông Lam… với nhịp bằng trôi mãi, êm mãi về xuôi. Nhưng thiên nhiên đâu có chiều lòng người với bao ấm lạnh bất thường đã va đập đã cuộn xiết đã trắc trở để thành sông Mã phi bờm thác trắng để thành sông Hàn lạnh thấu người, để thành sông Kỳ Cùng như một vắt kiệt hết mình trăn trở. Không vì thế mà sông lại không trở thành những cảm hứng đi vào thơ ca nhạc họa. Một “Sông Đuống nghiêng nghiêng…” của nhà thơ Hoàng Cầm, một “Trường ca sông Lô” của nhạc sỹ tài hoa Văn Cao. Một “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận. Và thật dào dạt mênh mông phóng khoáng về với chín khúc sông Cửu Long giang bát ngát tình người với đất phương Nam với: “Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông”. Ta có thể ví những dòng sông đất Việt giống như những dòng kẻ nhạc với bao thăng giáng, thăng trầm. Ca dao Việt Nam đã viết rất hay: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Nguồn đó là nguồn mạch dân ca truyền từ đời này qua đời khác và bao đời con lớn lên từ lời ru của mẹ. Lời ru có gì lạ đâu từ những câu hát thật ân tình mộc mạc. Âm điệu thì mô phỏng động thái lao động khi xuống biển lên rừng để thành câu hò, câu ví.
Tình yêu quê hương, tình yêu Tổ quốc bắt đầu từ tình yêu khúc hát dân ca, tình yêu dân tộc. Dân ca chính là tiếng lòng sâu thẳm nhất, trung thật nhất. Đó là lời ăn tiếng nói, là ứng xử giao hòa, là kinh nghiệm sống bao đời được chắt lọc đúc kết. Đó là ước vọng, là niềm tin, là cõi thiêng của tâm linh dân tộc. Ta cứ thử hình dung những luyến láy của dân ca sẽ vẽ ra những dáng hình lãnh thổ địa hình thần thái đất nước. Có nhịp mênh mang đắm đuối, có nhịp trắc trở gập ghềnh, có tiếng sáo Mèo vi vút trên không, có nhịp đàn tơ rưng Tây Nguyên cuôn cuộn. Hình như có rất nhiều nhạc cụ dân tộc làm bằng tre nứa, rất nhiều làn điệu dân ca lại gắn với nhịp chèo, có luyến láy, có ví von chứ không thăng bằng khô rắn, không dễ gãy cũng không dễ cong - đó là bản chất của nước, của dân ca nước Việt - Sông Thương gắn với dân ca quan họ Bắc Ninh, sông Mã gắn với điệu hò “Dô tả, dô tà”. Sông Lam gắn với làn điệu dân ca ví giặm, sông Hương dùng dắng với điệu hò mái nhì. Rồi Lý ngựa ô rong ruổi lắm đèo nhiều đốc qua miền Trung sông suối dày tơ nhện. “Một miền Trung núi choài ra biển/ Nên gập gềnh câu Lý ngựa ô qua” (Phạm Ngọc Cảnh). Rồi câu vọng cổ ngân nga nơi rất nhiều kênh rạch ngổn ngang như nỗi lòng...
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương “Đất nước” của trường ca “Mặt đường khát vọng” đã chiêm nghiệm rất hay: “Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà khi về đất nước mình thì bắt lên thành câu hát/ Người đến hát khi chèo đò kéo thuyền với thác/ Gợi trăm miền trên trăm dáng sông xuôi”. Sông không những tạo ra dáng hình đất nước, phẩm cách và tâm hồn con người mà sông còn là nơi giao lưu gặp gỡ chia sẻ những mạch nguồn văn hóa của dân tộc ra ngoài bờ cõi. Nhưng vẫn giữ trong sâu thẳm lòng mình trọn vẹn lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, ứng xử văn hóa, không chỉ bằng ngôn ngữ giao tiếp mà bằng cả phong thái cốt cách phong  vị tạo ra cái “vỉa” văn minh lâu đời của người Việt. Sông như một bảo tàng  lưu giữ, đắp bồi, làm phong phú thêm những mùa lúa mùa khoai, mùa đánh bắt tôm cá mà là còn đắp bồi mùa nhân hậu tình người, mùa dân ca đắm đuối, ân tình. Những lễ hội tưng bừng trên bờ đê lộng gió cũng lấy sông làm giải lụa thắt ngang. Chầu quan họ trầu têm cánh phượng cũng lưu luyến níu chân người ở lại. Người đã phải lòng nhau, thương nhau cũng bắt đầu hò hẹn từ sông Thương mà thành đôi thành lứa. Sông dắt ta về tận ngõ, bởi có một dòng sông lai láng trong lòng. Ta yêu đất Việt yêu từ bờ tre xóm nhỏ, từ chợ họp bên sông. Nhà thơ Tế Hanh đã từng đắm say: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi  tóc những hàng tre”. Và ông đã từ mênh mang sông để thảng thốt nhận ra: “Cánh buồm Dương to như một mảnh hồn làng”. Rồi không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ miền núi phía bắc Dương Soái đã chắp cánh cho âm nhạc Thuận Yến bay lên với giai điệu giao đãi bắc nhịp cầu dân ca: “Anh ở đầu sông, em cuối sông/ Uống chung  dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Và phải yêu đất nước mình thấm vào máu thịt và tâm thức, tâm hồn của người nông thôn Việt được tắm trong dòng sông dân ca bất tận, thi sĩ Lai Vu mới  có những vòng sóng dập dờn thăng hoa cho âm nhạc Đoàn Bổng: “Dòng sông Đáy quê em/ Sông trăng hay sông lụa/ Nong kén vàng như lúa/ Tròn vạnh một góc trời./ Dòng sông Đà quê anh/ Đã dựng ghềnh, dựng thác/ Nước reo thành điệu nhạc…” Vâng, tâm hồn Việt đã khơi nguồn đã bắt nhịp đã lan tỏa đã thẩm thấu ngân vang  đồng vọng từ những khởi nguồn, mạch đất, nguồn  sông như thế…
Tôi đã nhiều lần di dọc đất nước mình trên con đường số một như một dây đàn bầu thẳng căng và gặp bao dòng sông với bao lưu vực. Sông như một chứng nhân của lịch sử. Có một Hiền Lương đằng đẵng chia cắt đất nước và xa hơn là sông Gianh thời chúa Trịnh - Nguyễn. Nhưng sông chỉ có một màu nước – dù đôi bờ giới tuyến. Nhưng đó chỉ là ngăn cách tạm thời. Và dân ca lại về liền nhịp trọn vẹn cho dòng sông liền một mạch thống nhất đất nước. “Ai đã  đặt tên cho dòng sông”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng hỏi thế. Và ông lý giải bằng “Ai đã sinh ra những dòng sông”, và dòng sông đã sinh những gì không chỉ có phù sa châu thổ địa tầng. Vâng đúng thế, sâu thẳm nhất, lắng đọng nhất vẫn là trầm tích văn hóa. Có những dòng sông tình cảm rất sâu nên rất đỗi lững lờ hiền hòa man mác. Con sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của một nền văn hóa, toàn bộ âm nhạc cổ điển của Huế đã được sinh sôi trên mặt sông này và hơn thế khắp lưu vực sông. Những điệu hò thấm đẫm chung tình, thấm đẫm lời thề của sông Hương trước phút chia tay với Huế mà trôi về biển cả. Sông đã đánh thức trong ta bao khát vọng vừa sinh sôi vừa hào sảng. Sông len lỏi chảy qua bao luồng lạch nhưng không bao giờ luồn lách bởi một sức mạnh nội tâm cao thượng cường tráng dù có qua bao trận lũ lụt để cuốn  phăng bọt bèo khô rác. Sông lắng lại trả lại trong veo xanh thẳm mộng mơ, chấp  chới vào dào dạt sóng vỗ lòng Bởi: “Sông chảy vào lòng đất nước rất sâu” từ cội nguồn dân ca bất tận…







Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018

ĐỌC LẠI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP... bài viết của NGUYỄN DUY XUÂN - CHƯYANGSIN SỐ: 313 - THÁNG 9 NĂM 2018


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước hàng vạn người dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ra đời trong hoàn cảnh đó, “Tuyên ngôn Độc lập” được đánh giá là áng văn lịch sử tiêu biểu, là thiên cổ hùng văn. “Tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân Tiên).
Mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Hồ Chí Minh nêu “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bất ngờ nhất là “những lẽ phải” ấy lại được Hồ Chí Minh  rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nước Pháp và nước Mĩ. Không chỉ người Việt Nam, mà ngay cả người Mĩ cũng bàng hoàng khi nghe lời mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một “lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Để làm nổi bật tính phổ biến của những lẽ phải, Hồ Chí Minh còn dẫn một câu trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Sở dĩ Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn như vậy là vì mấy lẽ:
Thứ nhất, bản “Tuyên ngôn Độc lập” không phải nói với đồng bào trong nước mà còn tuyên bố trước nhân dân thế giới, tuyên bố cho bọn đế quốc thực dân đang lăm le cướp nước ta một lần nữa.
Thứ hai, Hồ Chí Minh muốn cho nhân dân ta và nhân dân thế giới biết là dân tộc Việt Nam đứng về phía “lẽ phải”, về phía văn minh của nhân loại.
Cách lập luận đó còn là tiền đề cho việc kết tội thực dân Pháp.
Những “lời bất hủ” trong bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp đã trở thành cơ sở pháp lí để Hồ Chí Minh kết tội thực dân, đế quốc: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
Sau khi kết tội thực dân Pháp một cách khái quát, Hồ Chí Minh nêu những dẫn chứng cụ thể, lột cái mặt nạ bảo hộ của thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại.
“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Lối kể tội của tác giả hùng hồn và đanh thép. Cách lập luận trùng điệp như: “Chúng thi hành…”, “Chúng lập ra…”, “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác chồng chất của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Cách dùng hình ảnh của tác giả làm nổi bật sự tàn bạo của thực dân Pháp. “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.
Về kinh tế, Hồ Chí Minh cũng kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ thể: “Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”. Hồ Chí Minh quan tâm đến tất cả các hạng người như “dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”, “chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. Lập luận như thế là Hồ Chí Minh muốn tranh thủ sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bảo vệ nền độc lập.
Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp là đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”.
Tác giả cũng không bỏ sót những tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”, tội “thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa”, tội “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.
Kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy, tác giả nhằm đạt được mấy ý nghĩa sau đây:
- Phơi bày bản chất tàn bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ “khai hoá”, “bảo hộ” của chúng trước nhân dân toàn thế giới.
- Khơi dậy lòng căm thù của nhân dân ta đối với thực dân Pháp để nhân dân ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được.
- Biểu dương sức mạnh của nhân dân ta trong công cuộc chống thực dân phong kiến để giành lấy nền độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”.
- Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí đấu tranh để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp. Mặt khác, nhằm cảnh cáo những kẻ thù ngoại bang mà nguy hiểm nhất là thực dân Pháp lúc bấy giờ vẫn chưa từ bỏ mộng “bảo hộ” nước ta một lần nữa.
Đoạn văn trên được tác giả diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ (“Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”) mà Hồ Chí Minh dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta.
Hồ Chí Minh cũng khéo léo tranh thủ sự ủng hộ của Đồng minh đối với nền độc lập mà dân tộc ta đã đổ xương máu để giành lại: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.
Sau khi trình bày những lí lẽ hùng hồn và đanh thép, thấu lí, đạt tình, Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Với lời tuyên bố hùng hồn và đanh thép đó, một lần nữa, Hồ Chí Minh dẹp tan mối hoài nghi của một số người trong nước và nhân dân thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Người cũng nêu lên nhiệm vụ trọng đại của dân tộc ta trong giai đoạn này là “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
“Tuyên ngôn Độc lập” là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của cả một dân tộc từ nô lệ bùn đen vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành độc lập tự do cho nước nhà.
Với “Tuyên ngôn Độc lập”, lần đầu tiên nước Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do và độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Tầm vóc của dân tộc có thể nói lớn dần lên từ đó trong con mắt nhân loại.
Kỉ niệm Ngày Quốc khánh, đọc lại “Tuyên ngôn Độc lập” – áng văn bất hủ của Hồ Chí Minh – lòng ta càng thêm tự hào về truyền thống anh dũng bất khuất của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha; càng thêm tự hào về vị lãnh tụ kính yêu, đã hi sinh cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
“Tuyên ngôn Độc lập” mãi mãi ngân vang trong tim mỗi người dân Việt Nam về hào khí một thời của cha anh. Nó tiếp thêm sức mạnh, cổ vũ chúng ta trên con đường đi tới tương lai vì một nước Việt Nam hùng cường, độc lập, tự do, hạnh phúc!


Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

HÒN ĐÁ THẦN - truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯYANGSIN SỐ 313 THÁNG 9 NĂM 2018




 Tặng cháu Remi Trần



Buổi liên hoan tổng kết năm học của lớp 5A1 diễn ra hết sức vui vẻ vì có sự góp mặt của thầy Hiệu trưởng nhà trường và toàn thể phụ huynh của 35 em học sinh. Sau lễ trao thưởng, thầy Hiệu trưởng phát biểu và đề nghị:
- Năm học vừa qua lớp ta có một hiện tượng đặc biệt, một học sinh suốt bốn năm học và cả học kỳ một chỉ xếp loại trung bình thôi, vậy mà học kỳ hai bỗng nhiên đạt học sinh xuất sắc. Điều gì giúp em đạt thành tích kỳ diệu như vậy? Thầy đề nghị em nhân buổi tổng kết và chia tay với Trường Tiểu học lên chia sẻ cùng với các bạn. Đó là em... Trần Nguyễn Đức. Mời em!
Cả hội trường vỗ tay rầm rầm. Tiếng mấy bạn trai kêu lên: Đức đâu, lên mau!
Một cậu bé không cao lắm nhưng mập, dấu hiệu của hiện tượng ăn hơi nhiều thịt, cá, mặt tròn hơi hồng lên một chút từ tốn bước lên bục cúi chào mọi người rồi nói:
- Kính thưa thầy Hiệu trưởng! Kính thưa cô chủ nhiệm! Kính thưa các bậc phụ huynh, thưa các bạn lớp 5A1. Thực ra em không có bí quyết gì đâu ạ, mà đầu năm nay ông ngoại em đi công tác ở đảo xa về tặng cho em một “hòn đá thần”. Nhờ hòn đá đó mà em học tiến bộ như vậy đó ạ!
Cả hội trường ồn ào cả  lên, nhiều bạn cùng lớp xuýt xoa: Thằng Đức có đá thần, không trách...! Đá giỏi chứ có phải nó giỏi đâu? Thằng này ăn may... Cô chủ nhiệm lớp phải đứng dậy:
- Các em trật tự nào. Em có thể cho các bạn xem “hòn đá thần” đó không?
- Thưa cô, nó đây ạ.
Đức nói xong móc trong túi áo ra một hòn đá đen bóng, hình gần như tròn, to hơn ngón chân cái người lớn một chút, giơ cao lên quá đầu. Các bạn cùng lớp lại ồ cả lên: Đức bốc phét. Hòn đá đó có gì đâu mà bảo “hòn đá thần”. Đức xạo...! Cô chủ nhiệm lại phải đứng dậy dẹp “loạn” nói:
- Các em trật tự nào. Đức có thể “bật mí” hòn đá đó đã giúp em như thế nào được không?
Cả hội trường lặng ngắt, nghe rõ cả tiếng kêu của mấy con ve đậu trên cây phượng phía ngoài sân trường. Mọi người đều tròn mắt nhìn lên bục, mong nghe tiếp câu chuyện.
- Dạ! Qua tết Nguyên đán mấy ngày, ông ngoại em đi công tác ngoài đảo về tặng em hòn đá này và nói: Đêm ba mươi tết, ông đón giao thừa với bộ đội trên đảo xong rồi lang thang ra bờ biển. Mặt biển đen sì, sóng vỗ nhè nhẹ lên bãi cát. Bỗng một vệt sáng xanh lét lao từ ngoài khơi xa vào bờ biển cách ông chừng chục mét, tắt lịm. Ông lại gần thấy hòn đá này nổi bật trên mặt cát nên nhặt lên xem. Giữa đêm khuya là thế mà hòn đá nằm trên bãi biển, cầm lên tay ấm như mới được ai đó hơ qua ngọn lửa. Thấy lạ, ông bỏ vào túi áo, định mang về cho cháu chơi. Sáng hôm sau mấy anh em văn nghệ sỹ trong đoàn mượn một chiếc xuồng bơi ra xa đảo để ngắm cảnh. Ra được một đoạn, xuồng chết máy, không trôi vào bờ mà cứ trôi dần ra xa. Mọi người bàn nhau bỏ xuồng nhảy xuống biển bơi vào bờ. Ông lục trong túi áo tìm giấy tờ bỏ hết vào bóp trước khi nhảy xuống biển thì thấy hòn đá nhặt được khi đêm trong túi nên nắm chặt trong tay định ném xuống biển. Hòn đá bỗng nóng rực lên và thoảng trong gió như có tiếng thì thào: “Bình tĩnh, suy nghĩ kỹ trước khi quyết định”. Ông thoáng giật mình, vội kêu lên: “Khoan hãy nhảy xuống biển. Chúng ta đang ở trên xuồng, còn có chỗ dựa để chờ người trên đảo ra cứu; còn nếu nhảy xuống biển dù có áo phao nhưng bơi xa thế có vào được đảo không, hay lại bị cuốn ra đại dương thì làm thế nào?”. Mọi người nghe ông nói vậy nên không nhảy xuống biển nữa mà thay nhau đứng trên xuồng đánh tín hiệu cầu cứu. Một lúc sau các anh bộ đội trong đảo nhìn qua ống nhòm thấy tín hiệu, cho thuyền ra kéo về. Ông dặn: “Cháu giữ hòn đá này bên mình, gặp vấn đề gì khó khăn phải nắm chắc hòn đá trong tay, suy nghĩ kỹ rồi hãy quyết định”. Nhớ lời ông dặn em luôn bỏ hòn đá trong túi áo ngực.
Một lần em đi chơi đạp xe lao xuống dốc, thắng không kịp, tông phải hòn đá ngã lăn ra đất. Người chỉ bị xây sát chút xíu, nhưng xe bị cong vành không đi được nữa. Trời giữa trưa nóng lắm, em định bỏ xe đi bộ về nhờ bố mẹ ra mang xe về. Sực nhớ lời ông dặn, em thò tay vào túi lấy hòn đá, nắm chặt. Giữa trưa mà hòn đá lạnh như nước đá. Em nhắm mắt lại và chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu: “Bỏ xe đi về lỡ ai đi qua nhặt mất thì sao, đành phải đợi người đi qua nhờ giúp”. Thế là em vào gốc cây bên đường ngồi đợi, một lúc sau có người chạy xe máy qua, em chạy ra giơ tay vẫy xin được quá giang một đoạn để sửa xe. Xe dừng, bác chạy xe máy là người gần nhà vui vẻ xuống nhấc xe đạp, đặt chổng ngược lên yên rồi cho em ngồi phía sau giữ, chạy đi. Về tới nhà, bác ấy nói với bố mẹ đang đứng đợi ở cổng: “Thằng này khá, hư xe giữa chỗ vắng, biết đợi người đến giúp”.
Trong một lần ra chơi, bạn Tuấn chơi trò đuổi bắt khi chạy qua em, vung tay trúng mặt em. Em định lao theo đấm cho bạn mấy cái trả đũa. Nhưng chợt nhớ đến hòn đá nên lấy ra, nắm chặt lại. Hòn đá lạnh như que kem nằm trong lòng bàn tay, chợt một suy nghĩ lóe lên trong đầu:
- Tuấn là bạn học cùng lớp, chỉ vô tình thôi, nếu đánh bạn, bạn đánh lại thì cả lớp mang tiếng, mất điểm thi đua.
- Nhưng nó tự nhiên đánh mình, chịu sao được nếu không trả thù. Một ý nghĩ khác lướt qua dầu.
- Tuấn vô tình đâu có chủ ý, đánh bạn là có tội với cả lớp đấy.
Nghe thế, em quyết định không chạy theo đánh bạn nữa. Một lúc sau Tuấn lại chạy qua em kêu lên: “Đức giúp mình với, nó sắp bắt được mình rồi kìa”. Nghe thế, mọi bực tức bay đi cả, em chạy theo giúp bạn.
Lại một hôm đã hơn 12 giờ, mắt buồn ngủ lắm nhưng có một bài toán giải mãi không được, em định thay quần áo đi ngủ. Lúc cởi áo, đụng vào hòn đá trên túi ngực, em lấy ra nắm chặt. Bỗng nhiên trong đầu em như nghe được câu hỏi: “Lúc sáng cô dạy toán thế nào?”. Rồi như một cuộn phim được trình chiếu lại, em nhớ ra lúc cô đang giảng, có bầy chim chào mào đẹp quá nô đùa với nhau trên cành phượng. Có con tinh nghịch chui vào túm lá xanh mượt mà như trốn tìm. Có con còn nghiêng cái đầu đội mũ nhọn hoắt như đang quan sát lớp học... Lúc đàn chim bay đi thì cô cũng giảng xong bài tập. Lỗi tại lũ chim chào mào làm em không chú ý nghe giảng. Một ý nghĩ thoảng qua đầu: Mở sách giáo khoa đọc lại đoạn cô giảng mà mình không chú ý. Em làm theo, đọc một lần, một lần nữa và một lần nữa thì chợt hiểu ra cách giải; bài toán làm xong. Từ đấy em tự hứa với mình: Không bao giờ nhìn ra ngoài cửa sổ khi cô đang giảng bài. Bài tập làm không được phải xem lại bài cô dạy, không bỏ cuộc khi chưa làm xong bài hay chưa thuộc bài; nhờ vậy mà em học khá lên như hôm nay đấy ạ.
Đức dứt lời, mọi người vỗ tay ầm ầm. Mấy bạn lại được dịp reo lên: Cho tớ mượn một hôm. Cho tớ mượn trước. Tớ mượn trước...
Cô chủ nhiệm tươi cười bước lên bục, không nói gì nhưng tất cả 35 khuôn mặt ngước lên nhìn cô rồi từ từ trật tự được vãn hồi. Mọi người ngồi ngay ngắn lại chú ý nhìn cô chủ nhiệm và Đức mặt đỏ bừng đứng sát bên cô. Cô nói:
- “Hòn đá thần” của Đức thật là kỳ diệu, vì từ khi có nó em đã suy nghĩ kỹ  trước khi hành động cũng như học tập. Các em chưa có “đá thần” như Đức nhưng cũng suy nghĩ, cân nhắc trước mỗi câu nói, việc làm hay hành động của mình thì cô chắc chắn sẽ có “vị thần” xuất hiện. Vị thần ấy đang ở trong đầu các em nhưng chưa thức dậy đấy thôi. Các em về thử xem sao nhé.
Lớp 5A1 qua năm học sau vào lớp sáu, không hiểu sao lực học khá hơn hẳn các lớp khác. Tuần nào chào cờ cũng được thầy giáo khen, tuyên dương trước toàn trường, trở thành lớp mẫu. Các bạn lớp khác tò mò muốn biết “bí quyết” về sự đoàn kết, học giỏi của lớp mẫu, nhưng mọi người giấu kín, không ai tiết lộ. Nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy học sinh lớp mẫu hình như trong túi áo ai cũng có một viên đá nhỏ, có điều chúng không phải chỉ có đen mà còn nhiều loại, nhiều màu khác nhau. Khi có việc cần suy nghĩ, cân nhắc, quyết định, học sinh lớp mẫu hình như đều nắm trong tay viên đá của mình.
Tháng 6 năm 2018




Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

VÌ SỰ BÌNH YÊN CHO MỘT VÙNG ĐẤT bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯYANGSIN SỐ: 312 - THÁNG 8 NĂM 2018




Đại tá Nguyễn Quang Trung - Trưởng Công an huyện M'Drak 

Trên đường từ thành phố Buôn Ma Thuột về Công an huyện M’Drắk, Thượng tá Dương Tấn Bình - Phó trưởng phòng PX 15 nói với tôi: “Công tác ở một huyện có địa hình phức tạp, đường sá đi lại khó khăn, dân di cư tự do vào nhiều, nhưng cán bộ, chiến sỹ ở đây làm tốt công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội liên tục trong nhiều năm liền. Trưởng công an huyện là cán bộ có năng lực, trưởng thành tại chỗ, chắc chắn các nhà văn sẽ có nhiều đề tài để khai thác”. Mới nghe giới thiệu thôi, tôi đã thấy ấn tượng rồi, bao nhiêu kỷ niệm một thời với huyện M’Drắk ùa về...
Tháng 11 năm 1977 tôi được phân công về huyện M’Drắk dạy học, khi đến cây cầu 70, hai bên Quốc lộ 21A (nay đổi tên thành Quốc lộ 26), xác xe cháy chất đống chạy dài lên tận chân đèo 519. Phía sau những khung sắt hoen rỉ ấy là rừng già xanh xen cỏ tranh bạt ngàn, trải dài như vô tận. Thời ấy khoảng 17 giờ, không một chiếc xe tải, xe khách nào dám lưu thông qua đây vì sợ bọn phản động Fulro phục kích; có hôm mới hơn 16 giờ chúng đã kéo ra chặn đường, xả súng vào xe khách, giết người, cướp của ngay đầu cầu 70 - nay là ranh giới của hai huyện Ea Kar và M’Drắk. Còn hôm nay, nhà cửa san sát, nhiều ngôi nhà cao tầng đã mọc lên nhìn như một dãy phố kéo dài theo quốc lộ 26 lên tận đỉnh đèo 519. Cánh đồng mía xanh thẫm nối nhau trải dài thay thế cho cánh rừng già khi xưa nơi đây. Khung cảnh thay đổi như ngầm giới thiệu với người qua đường về một vùng đất thanh bình, trù phú.
Xe dừng trước cửa khu nhà làm việc cao tầng, sỹ quan trực ra tận xe chào đoàn và một người tầm thước, khuôn mặt nhìn phúc hậu, trên vai mang quân hàm đại tá, tươi cười bước ra đón đoàn, bắt tay từng người thật chặt. Khi bắt tay nhà thơ Hữu Chỉnh, vị đại tá xuýt xoa: “Bác có mệt không? Đường sá xa xôi, tuổi cao như thế mà vẫn về với các cháu, quý hoá quá”! Nhà thơ Hữu Chỉnh hóm hỉnh trả lời: “Tớ hai năm nữa mới tròn tám mươi, nhờ trời vẫn còn khoẻ cả sức đi và lực viết”. Mọi người cùng cười. Thượng tá Dương Tấn Bình giới thiệu với đoàn: Đại tá Nguyễn Quang Trung - Trưởng công an huyện M’Drắk!
Trong căn phòng làm việc của Đại tá Trưởng công an huyện có hai chiếc bàn kê hình chữ T, sáu chiếc ghế tựa để hai bên vừa đủ cho sáu vị khách. Đại tá nhờ anh em lấy thêm chiếc ghế nhựa đặt cuối bàn, ngồi tiếp khách chứ không ngồi chiếc ghế của Trưởng công an huyện kê phía trong; chỉ một cử chỉ nhỏ đó thôi cũng để lại ấn tượng đậm nét trong lòng những người lần đầu đến tiếp xúc, làm việc; tạo tâm thế gần gũi, thân quen như người nhà lâu ngày gặp lại. Đại tá Nguyễn Quang Trung vui vẻ nói: “Đi đường xa mời bác, các cô, chú uống nước nghỉ ngơi một chút rồi ta lên hội trường làm việc”.

Hội trường trên tầng hai, các cán bộ chủ chốt của Công an huyện đã tập trung đông đủ đợi đoàn. Nhìn các sỹ quan đứng dậy chào chúng tôi, đa số còn rất trẻ, nhiều người tuổi đời chưa đến bốn mươi mà sao có nét quen quen như đã gặp ở đâu rồi, làm tôi có một chút bối rối, xúc động...
Ngày ấy cách đây tròn 35 năm tôi rời huyện M’Drắk đi học rồi chuyển công tác qua huyện khác; khi đi qua đây, chính tại nơi tôi đang ngồi chỉ là một ngôi nhà xây cấp bốn lợp ngói; còn phía sau có thêm mấy căn nhà gỗ lợp tôn, lợp ngói tạm bợ. Anh Y Pic - Trưởng công an huyện, anh Nguyễn Văn Hương - Phó công an huyện là những người cán bộ đầu tiên về nhận nhiệm vụ khi thành lập Công an huyện M’Drắk ngày 30 tháng 8 năm 1977. Sau này tăng cường từ ngoài bắc vào có thêm Trung uý Nguyễn Văn Huy và Thiếu uý Trần Xuân Tuyến... mấy anh em chơi thân với nhau lắm. Khi ấy bọn Fulro còn hoạt động mạnh, chúng liều lĩnh tấn công vào trường nội trú M’Drắk, đốt nhà dân, giết cán bộ... gây nhiều tổn thất. Nhưng với lòng dũng cảm, mưu trí, công an bóc gỡ dần các cơ sở ngầm, phát động quần chúng vận động những người lạc lối về đầu thú để nhận sự khoan hồng của chính quyền, cuộc sống nhân dân đi dần vào ổn định, từng bước xoá đói, giảm nghèo...
Đại tá Nguyễn Quang Trung “bật mí” hai bí quyết cơ bản để Công an huyện M’Drắk nhiều năm liên tục giữ vững danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Một là phát huy tính dân chủ trong cơ quan đơn vị, tạo sự đồng thuận cao độ và từ đó cán bộ chiến sỹ tự giác chấp hành nhiệm vụ, khuyến kích được các tài năng phát triển. Cũng từ dân chủ ta tìm ra nguồn cán bộ đủ tài, đức, uy tín với đồng đội để đề bạt cất nhắc đảm nhiệm các chức vụ trong cơ quan. Hai là đối với địa bàn phải có cơ sở mạnh, giúp ta nắm bắt, giải quyết ngay được những vần đề vừa mới nảy sinh mâu thuẫn từ cơ sở.
Nghe qua “bí quyết” thấy đơn giản quá, hình như cơ quan, đơn vị nào cũng đang thực hiện; nhưng để thật sự phát huy được dân chủ trong đội ngũ đảng viên, cán bộ chiến sỹ trong đơn vị không mấy dễ dàng. Người thủ trưởng đơn vị phải thực sự là thủ lĩnh, công tâm, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác thì trong mọi công việc mới phát huy được hết tài năng của anh em, gắn kết anh em thành một tập thể đoàn kết. Để thực sự là thủ lĩnh, đối với bản thân người chỉ huy phải luôn luôn rèn luyện, tu dưỡng: cần, kiệm, liêm, chính; thực sự là tấm gương sáng để đồng đội noi theo. Đối với đồng chí, đồng đội phải xem nhau như anh em trong một nhà, uốn nắn những cái sai, cái chưa được để làm cho đúng, cho tốt. Đối với công việc phải vui vẻ nhận khi được phân công, cố gắng hoàn thành tốt. Người chỉ huy thực hiện được như vậy anh em mới kính phục, tôn trọng và đó quả là một “bí quyết” hay, nhờ vậy hôm nay Công an huyện M’Drak mới có một tập thể mà đa số cán bộ còn trẻ, trưởng thành tại chỗ để đĩnh đạc đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong cơ quan.
Để thực hiện “bí quyết” thứ hai Đại tá Nguyễn Quang Trung còn cho chúng tôi biết thêm, anh đã chỉ đạo thành lập các tổ ba người tại các thôn, buôn, tổ dân phố trên địa bàn huyện nhà để kết hợp với chính quyền giải quyết ngay các mâu thuẫn mới nảy sinh từ chuyện sinh hoạt hàng ngày, chuyện vợ chồng, làng xóm... đến các mâu thuẫn lớn hơn như: đất cát, chế độ, chính sách, tín ngưỡng, tôn giáo... Chính nhờ vậy không còn hiện tượng khiếu kiện đông người, vượt cấp; nhân dân trên địa bàn yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh... Thêm một “bí quyết” của người lãnh đạo, lấy dân làm gốc, mọi việc được giải quyết ngay từ khi nó mới nảy sinh như ngọn lửa mới loé lên ta đã dập ngay, không để bùng phát, loang ra thành đám cháy lớn. Quả thật đây là một ý tưởng hay, thể hiện được bản lĩnh, sự nhạy bén đối với một công việc mà xã hội đánh giá là gai góc, nặng nề, và hết sức phức tạp, khó khăn.
Tôi làm nghề dạy học, rồi chuyển qua làm báo, viết văn và quản lý văn nghệ; trong thời gian 5 năm ở huyện M’Drắk tuy thời gian không nhiều với một đời người rồi phải đi xa lâu ngày, nay vì công việc trở lại đây nhìn ai cũng có nét quen quen. Cuối buổi làm việc, khi anh em đứng dậy ra về, Đại tá Nguyễn Quang Trung lại làm tôi bất ngờ khi giới thiệu: “Đại uý, thạc sỹ, Phó trưởng Công an huyện trẻ nhất trong số anh em lãnh đạo cơ quan là Bạch Văn Cường - con trai của Trưởng Công an huyện mới nghỉ hưu năm 2016”. Tôi bật kêu lên ngạc nhiên: “Con Đại tá Bạch Văn Trọng?” “Dạ, đúng rồi chú”. Thảo nào tôi thấy quen quá mà không nhận ra.
Buổi chiều, tôi đến thăm Đại tá Bạch Văn Trọng, anh ở nhà một mình. Lâu ngày gặp lại có bao nhiêu chuyện để nhớ về những người đồng đội một thời ở với nhau, người còn người mất, người nghỉ hưu về quê hay đã chuyển qua tỉnh khác... Tôi hỏi: “Quang Trung, Trưởng công an huyện con cái nhà ai mà em nhìn quen quen?” “Chú mày còn nhớ ông lái xe bệnh viện sau đó lái xe cho đội chiếu bóng ở cái xóm cũ nhà chú mày không?” À ra thế, thảo nào tôi thấy có nét quen như gặp ở đâu. Quang Trung bố lái xe, mẹ không có việc làm, nhà nghèo đông anh em, học xong phải đi làm kiếm sống và phụ với gia đình, sau trúng tuyển vào học Trường Trung cấp Công an, rồi phấn đấu, học thêm... Đại tá Bạch Văn Trọng cho biết: “Trung là người thông minh, xử lý tình huống táo bạo, với công việc luôn luôn nhận phần khó khăn nguy hiểm, nhường thuận lợi cho đồng đội. Một người thẳng tính, sống có tình nên anh em trong cơ quan kính trọng lắm”. Tôi hỏi thêm: “Anh có an tâm khi bàn giao trách nhiệm cho Quang Trung đảm nhận không?” “Khi làm công tác nhân sự Trung nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của anh em. Chuẩn bị Đại hội Đảng bộ huyện, mình chủ động xin nghỉ hưu trước tuổi để tổ chức giới thiệu Trung thay và cơ cấu vào Thường vụ Huyện uỷ.” Câu trả lời của Đại tá Bạch Văn Trọng về người đồng đội thay mình đảm nhiệm chức vụ Trưởng công an huyện M’Drắk thật tế nhị và ngầm khẳng định niềm tin tưởng tuyệt đối vào thế hệ kế kiếp, gánh trọng trách khi được tổ chức phân công.
Sáng hôm sau, tôi gặp đồng chí Phạm Văn Khoa - Phó ban Tổ chức Huyện uỷ M’Drắk, đồng chí vui vẻ cho biết: “Khi em làm Kế toán trưởng Công ty Lương thực có nhận Quang Trung vào làm hợp đồng bốc vác cho Công ty, tuy là học trò vừa mới rời ghế nhà trường, sức khoẻ có hạn nhưng chịu khó lắm. Sau này đi học rồi về công tác tại Công an huyện, phấn đấu lên Đội phó, Đội trưởng, Phó rồi Trưởng công an huyện. Về chuyên môn thì bên em không đánh giá, nhưng về quan hệ, đối nhân xử thế, được anh em trong cơ quan cũng như ngoài cơ quan đánh giá là người có bản lĩnh, hoà đồng trong cuộc sống đời thường, nhưng với công việc hết sức nghiêm túc, xử lý công việc có lý có tình”.
Có lẽ tuổi thơ của người Đại tá Nguyễn Quang Trung - Trưởng công an huyện M’Drắk vất vả, nhưng được tình thương yêu của bạn bè bố mẹ giúp đỡ, cưu mang; khi trưởng thành được về công tác tại chính vùng đất mà mình đã lớn lên, nên tất cả tâm trí, hoài bão của cả đời chỉ mong cho mảnh đất nơi đây được bình yên, để mọi người an tâm làm việc tạo nên cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Và chính ước mơ ấy đã thôi thúc anh hành động một cách quyết liệt trong công việc mà mình từng đảm nhận để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Mừng cho M’Drắk hôm nay đã “thay da đổi thịt”, phố huyện có nhiều nhà cao tầng. Người dân các xã vùng sâu, vùng xa như: Cư San, Cư Prao, Ea Trang M’Doal... đã có điện lưới quốc gia, trường học, trạm xá... phục vụ cuộc sống, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc. Nhiều gia đình mua được ô tô, máy cày, xe máy và những trang thiết bị đắt tiền khác, cuộc sống vật chất ngày một được cải thiện và nâng cao, biến vùng đất khô cằn, cỏ tranh bạt ngàn ngày xưa thành làng quê trù phú, rộn rã tiếng cười.
Tuy nhiên M’Drắk hôm nay vẫn còn có hộ nghèo, đường giao thông nhiều vùng chưa thuận lợi do nhiều xã ở cách xa trung tâm huyện, trong vùng núi cao, suối sâu, đi lại khó khăn, đất đai khô cằn, khí hậu khắc nghiệt... nhưng con người ở đây sống với nhau có tình làng, nghĩa xóm dù nơi sinh ở khắp 63 tỉnh thành cả nước. Có được điều đó vì liên tục nhiều năm liền tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội nơi đây được đảm bảo. Thành tích ấy là công lao của tập thể đảng bộ, chính quyền các cấp, nhưng vai trò người Công an là nòng cốt, quyết định. Và trong chiến công chung ấy, không thể thiếu vai trò người “đứng mũi chịu sào”, Đại tá Nguyễn Quang Trung - Trưởng Công an huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. Xin được lấy lời nhận xét của đồng chí Vũ Hữu Nhân - Quyền bí thư Huyện uỷ M’Drắk thay cho lời kết của bài viết này: “Đại tá Nguyễn Quang Trung, Uỷ viên thường vụ Huyện uỷ, Trưởng Công an huyện M’Drắk là người cán bộ có năng lực, hoà đồng với mọi người, tận tuỵ với công việc, có uy tín với đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân. Luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”.