Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2019

CÁNH CHIM ĐẦU ĐÀN CỦA MỘT ĐƠN VỊ QUYẾT THẮNG ký của TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Nhà văn TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG 


Tại Hội nghị tuyên dương điển hình tiên tiến trong phong trào Công an Nhân dân làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy giai đoạn 2013 - 2018 vừa qua do Công an tỉnh Đắk Lắk tổ chức, Đại tá Nguyễn Văn Bôn là một trong những điển hình xuất sắc được vinh danh và được mời tham gia giao lưu trực tiếp tại hội nghị.
Đại tá Bôn sinh năm 1965, là con thứ 9 trong một gia đình nông dân nghèo có 11 anh em ở huyện Kim Động (tỉnh Hưng yên). Năm 1987 anh theo gia đình vào sống tại thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) và thi đậu vào Học viện Cảnh sát Nhân dân tại Hà Nội chuyên ngành Điều tra tội phạm. Năm 1992 sau khi tốt nghiệp, anh được điều động về công tác tại Phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk.
Với nhiệt huyết tuổi trẻ, tình yêu nghề cháy bỏng lại được phân công về Phòng Cảnh sát điều tra đúng với sở học, anh nhanh chóng hòa nhập và đem kiến thức, kỹ năng đã học vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế công việc. Nhiều vụ án lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh đã được anh và đồng đội đấu tranh làm rõ, bắt các đối tượng phạm tội ra trước vành móng ngựa, trả lại tài sản cho người mất; được nhân dân tin yêu và lãnh đạo Công an tỉnh tin tưởng bổ nhiệm vào nhiều chức vụ quan trọng. Năm 2004 anh được bổ nhiệm chức Trưởng phòng Điều tra Công an tỉnh, sau đó là Trưởng công an thị xã Buôn Hồ (2011- 2014) và Trưởng phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an tỉnh từ 2014. Đến cuối năm 2018, anh được giao trọng trách mới: Trưởng công an thành phố Buôn Ma Thuột.
Hơn 30 năm gắn bó với công việc, nỗ lực, phấn đấu hết mình xây dựng hình ảnh người chiến sĩ công an nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, trải qua biết bao vui buồn, sướng khổ nhưng đối với anh, giai đoạn 2008 – 2011 khi theo học thạc sĩ chuyên ngành Điều tra tội phạm tại thành phố Hồ Chí Minh rồi được điều về làm Trưởng Công an thị xã Buôn Hồ (2011-2014) là những khoảng thời gian anh băn khoăn, lo lắng nhiều nhất. Bởi lúc đó chị Sao (vợ anh) đang làm Phó Công an phường Tân An cũng bận rộn nhiều việc trong khi hai con đang tuổi ăn tuổi lớn rất cần có bố mẹ bên cạnh quan tâm dạy bảo. Để anh yên tâm công tác, những đêm trực, chị Sao đưa cả con gái đi cùng. Cũng nhờ có một hậu phương vững chắc, một người vợ tháo vát, sắp xếp mọi việc chu toàn, hai con đều ngoan ngoãn học giỏi nên anh yên tâm phấn đấu hết mình trong công việc. Khi nghe anh nói về người vợ của mình, tôi nhận thấy trong đôi mắt của người Đại tá ấy luôn tràn ngập sự tin yêu, tôn trọng.
Trong 4 năm làm Trưởng công an thị xã Buôn Hồ, Đại tá Nguyễn Văn Bôn luôn trăn trở suy nghĩ, tham mưu cho Thị ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân thị xã đề ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản chỉ đạo công tác đảm bảo an ninh trật tự. Với trách nhiệm “thủ lĩnh” của lực lượng Công an thị xã, Đại tá Bôn cũng dành sự quan tâm đặc biệt đối với các lĩnh vực an ninh dân tộc, tôn giáo, nông thôn, chính trị nội bộ, văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội luôn. Nhờ vậy, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thị xã luôn ổn định, không xảy ra bị động, bất ngờ. Nhiều năm liền Công an thị xã Buôn Hồ là lá cờ đầu trong phong trào thi đua Vì an ninh Tổ quốc cấp cơ sở.
Tháng 5.2014, Đại tá Bôn được Giám đốc Công an tỉnh điều động về đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy, Trưởng Phòng PC45 Công an tỉnh Đắk Lắk. Là thủ trưởng của một đơn vị chủ công trong đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội (TNXH) trong toàn tỉnh, Đại tá Bôn thường xuyên làm tốt công tác tham mưu cho Giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh triển khai các mặt công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, đôn đốc chỉ đạo lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội toàn tỉnh tổ chức thực hiện có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, TNXH, tội phạm mua bán người… Bên cạnh đó, anh chú trọng sắp xếp bố trí lại bộ máy hành chính, cán bộ, chiến sĩ theo đúng năng lực, trình độ nghiệp vụ, củng cố vai trò lãnh đạo của đảng ủy, cấp ủy các chi bộ; quan tâm chỉ đạo sát sao các mặt chuyên môn nghiệp vụ của đơn vị; xây dựng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; kịp thời, khách quan trong thi đua khen thưởng; thận trọng trong phê bình, kỷ luật, chú trọng giải quyết các khâu yếu, việc khó nhằm phát huy tốt chất lượng, nâng cao hiệu quả công tác; thường xuyên quan tâm đề xuất giải quyết các chế độ chính sách cho cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo giúp đỡ, động viên các đồng chí có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn… Qua đó đã tạo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Từ năm 2014, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Bôn, Phòng PC45 đã triển khai thực hiện 12 đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, TNXH; xác lập và tổ chức xác minh giải quyết gần 60 hiềm nghi; tổ chức đấu tranh 28 chuyên án, khám phá gần 250 vụ án, bắt gần 500 đối tượng phạm tội; phát hiện triệt phá 44 băng nhóm tội phạm có tổ chức với 314 đối tượng; triệt phá 55 tổ chức đánh bạc và 38 tụ điểm mại dâm; điều tra khám phá gần 500 vụ án nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bắt trên 750 đối tượng; tỷ lệ phá án thành công luôn đạt trên 95%.
Nhiều chuyên án đặc biệt nghiêm trọng đã được Đại tá Bôn và Phòng PC45 đấu tranh làm rõ. Chẳng hạn như Chuyên án 916GH về giết người, hiếp dâm trẻ em. Cụ thể, cháu Đinh Thị Kim Tuyền (sinh năm 2009) là con anh Đinh Xuân Vĩnh và chị Cao Thị Lượng, trú tại thôn Giang Thọ, xã Tam Giang, huyện Krông Năng. Sáng ngày 17-9-2016 anh Vĩnh và chị Lượng đi làm thuê chỉ có cháu Tuyền ở nhà chơi với chị, em gái. Đến buổi chiều về không thấy cháu, vợ chồng anh Vĩnh cùng mọi người đi tìm, đến 18 giờ 30 phút thì phát hiện cháu Tuyền bị chết ở tư thế nằm ngửa không mặc quần áo trong vườn cà phê nhà ông Phạm Sỹ Cương cùng thôn, nên đã trình báo với Cơ quan điều tra. Nhận định đây là vụ án giết người, hiếp dâm trẻ em với tính chất đặc biệt nghiêm trọng, địa bàn xảy ra vụ án là khu vực sinh sống chủ yếu của người đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc, ngày 19.9.2016, Đại tá Nguyễn Văn Bôn và phòng PC45 đã tham mưu Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk xác lập chuyên án mang bí số 916GH để đấu tranh làm rõ. Qua hai ngày truy tìm và sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, ngày 19.9.2016 Ban chuyên án đã bắt giữ được đối tượng Phạm Văn Duy (sinh năm 1989) cũng ở thôn Giang Thọ và buộc Duy phải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Dưới sự chỉ đạo của Đại tá Bôn, ngoài việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng, chống tội phạm,  Phòng PC45 còn thực hiện tốt các phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn và các hoạt động giúp đỡ nhân dân trong khó khăn hoạn nạn; lồng ghép vận động, tuyên truyền quần chúng nhân dân tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phòng PC45 đã giao cho chi đoàn, hội phụ nữ tổ chức gần 40 đợt hướng về cơ sở để tặng quà cho đồng bào buôn kết nghĩa; kết hợp với các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện hai đợt khám, chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho người nghèo tại buôn kết nghĩa xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ; tổ chức nhiều đợt làm đường, dọn vệ sinh khu vực buôn kết nghĩa, tham gia các đợt hiến máu nhân đạo cứu người... với tổng trị giá hơn một trăm triệu đồng. Qua đó góp phần xây dựng, củng cố mối quan hệ tốt đẹp với quần chúng nhân dân.
Tôi rất tâm đắc với những lời Đại tá Bôn hay tâm sự với cán bộ chiến sĩ: Nếu là điều tra viên, trước hết phải khách quan, tránh tiêu cực, không làm oan người ngay, không bỏ lọt tội phạm; nếu là trinh sát, trước hết phải tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện tính độc lập tác chiến; nếu là lái xe, trước hết phải trung thực, thật thà, luôn “yêu xe như con, quý xăng như máu”; nếu là cán bộ tham mưu tổng hợp thì càng phải tận tụy như con ong làm mật, như tằm nhả tơ…
Với những thành tích đạt được trong công tác và chiến đấu, 5 năm qua, tập thể cán bộ chiến sĩ Phòng PC45 được các cấp khen thưởng trên 400 lượt. Ban Chỉ đạo phòng chống tội phạm, TNXH tỉnh khen thưởng đột xuất hơn 10 lần; có 10 lần được quần chúng gửi thư khen ngợi về thành tích trong đấu tranh phòng chống tội phạm, gương người tốt việc tốt. Tổng kết phong trào thi đua các năm 2013, 2014, 2016, 2017, Phòng PC45 đều đạt danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng” và nhận “Cờ thi đua của Bộ Công an”, “Cờ thi đua của Tổng cục Chính trị Công an nhân dân”, đạt danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”; 5 năm liên tục đơn vị đạt danh hiệu “Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân”. Đảng bộ và các chi bộ trực thuộc 5 năm được công nhận tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Tập thể cấp ủy, lãnh đạo, cán bộ chiến sĩ đơn vị đang tiếp tục phấn đấu để xây dựng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang.
Với những đóng góp của mình, Đại tá Nguyễn Văn Bôn nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở; năm 2016 đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn lực lượng Công an Nhân dân, được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tặng nhiều Bằng khen vì đạt thành tích xuất sắc trong công tác và chiến đấu. Đặc biệt, năm 2018, Đại tá Bôn được cử đi dự Hội nghị tổng kết 5 năm phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” giai đoạn 2013 – 2018 gắn với sơ kết 2 năm học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Bộ Công an tổ chức tại Hà Nội.
Đại tá Đoàn Quốc Thư, Phó giám đốc Công an tỉnh nhận xét: Đại tá Nguyễn Văn Bôn xứng đáng là cánh chim đầu đàn của một đơn vị quyết thắng, một cán bộ có năng lực thực sự, có trách nhiệm cao trong công tác, bản lĩnh, nhạy bén trong chỉ đạo điều tra phá các vụ án hình sự, góp phần vào cuộc sống bình yên cho Nhân dân. Trong cuộc sống, đồng chí Bôn luôn giản dị, hòa đồng và quan tâm tới cán bộ, chiến sĩ…
Với cương vị mới, Trưởng Công an TP Buôn Ma Thuột, tôi tin tưởng anh tiếp tục phát huy tinh thần “bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” để góp phần làm cho thành phố Buôn Ma Thuột xứng tầm là đô thị trung tâm của khu vực Tây Nguyên.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

SÁNG MÙNG MỘT TẾT NĂM ẤY truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Tặng em gái HOÀNG THANH

  
Uỳnh!
Sáng mùng một Tết, mọi người đang chìm vào giấc ngủ, bỗng bị đánh thức bởi tiếng bom nổ trên đỉnh đèo 919. Căn hầm chữ A rung lên, tôi choàng tỉnh dậy, theo phản xạ lăn khỏi võng xuống mặt đất. Ngoài cửa hầm, trời mới tờ mờ sáng.
Sơn mắc võng nằm gần tôi cũng bị giật mình, ngồi bật dậy nói:
-Thằng Mĩ ác nhơn thật, đã kí cam kết đình chiến trong ba ngày Tết âm lịch, thế mà nó lại mang bom hẹn giờ rải vào các trong điểm giao thông của ta. Thế này sao gọi là đình chiến?
-Mới sáng mùng một Tết mà lẩm bẩm cái gì thế, hay bị bom nổ làm hỏng con “cá gỗ” mang theo rồi?
-“Ăn rau má phá đường tàu” qua nhà người ta sáng ngày mùng một Tết xông đất mà lại gây sự thế à?
Lâm từ hầm bên cạnh chạy qua trêu Sơn – quê Hà Tĩnh. Sơn cũng không vừa đối lại ngay với Lâm – quê Thanh Hóa. Không biết từ bao giờ, dân gian truyền miệng những câu chuyện vui về đặc điểm các vùng như dân Nghệ Tĩnh là dân “cá gỗ” vì ngày xưa thầy đồ nghèo đi dạy học luôn mang theo một con cá gỗ trông y như con cá rán; đến bữa ghé nhà dân bên đường mượn dĩa, xin tí nước mắm dầm con cá… gỗ để ăn cơm nắm mang theo. Còn dân xứ Thanh thì chuyên ăn rau má thay cơm. Rau má dưới đồng hết nên lên bươi đá trên đường tàu hái rau, vì thế mới đúc kết thành câu: “Ăn rau má phá đường tàu”. Không biết con “cá gỗ” của Nghệ Tĩnh có được bao nhiêu phần trăm sự thật chứ câu: “Ăn rau má phá đường tàu” thì… đúng trăm phần trăm.
Làng tôi gần ga Thị Long, phía nam thị xã Thanh Hóa - nơi hàng ngày có các chuyến tàu hỏa chạy qua. Thời Mĩ tạm ngưng ném bom miền Bắc, tôi ở nhà dì - khu Lò Chum, gần cầu Cốc ngoài thị xã Thanh Hóa để học bồi dưỡng. Thứ bảy hàng tuần, vào khoảng bốn rưỡi, năm giờ chiều có chuyến tàu chợ Hà Nội – Vinh, chạy qua làng; mẹ tôi hoặc em gái út ra ngõ đứng đợi tàu. Nếu tôi về sẽ đứng bên cửa sổ tàu giơ mũ vẫy, mẹ hoặc em trông thấy, vẫy lại rồi vào nhà nổi lửa nấu cơm. Tôi xuống ga đi bộ về đến nhà, mẹ cũng đã nấu cơm vừa chín tới cho ăn. Sau này giặc Mĩ bắn phá ác liệt, lương thực khan hiếm, rau má mọc ở bờ ruộng cũng bị hái hết, lũ trẻ chăn trâu đi dọc đường ray xe lửa, thấy lá rau má nào chui lên khỏi lớp đá to như nắm tay là mừng như bắt được vàng, tranh nhau bươi đá để nhổ tận gốc những cụm rau má xanh tươi đó về ăn. Khi ấy chúng tôi chỉ lo bươi đá hái được rau rồi bỏ đi chứ ai nghĩ đến chuyện phải lấp đá lại. Vì thế ngẫm ra câu nói về Thanh Hóa – những nơi có đường tàu hỏa chạy qua như làng Vân Trang, xã Tượng Sơn quê tôi thì chính xác trăm phần trăm.
Chuyện chỉ nói cho vui, nhưng khi vào bộ đội, biết cầm súng đánh Mĩ, nhiều thanh niên các vùng miền cũng chỉ vì câu nói đùa như thế mà nổi khùng lên, thậm chí còn sẵn sàng giơ nắm đấm tranh luận với nhau.
Hôm nay, sáng mùng một Tết, cả không gian có chút thanh bình sau những ngày đêm rền vang tiếng gào thét của máy bay, bom, đạn… hình như không lúc nào ngớt; nhưng rồi vẫn bị xé toạc bởi bom nổ chậm của giặc Mĩ ném xuống. Khó khăn gian khổ chồng chất, nhiều lúc cái sống và cái chết chỉ cách nhau một ánh chớp vụt lên, thế nhưng những anh bộ đội mới được tăng viện từ miền Bắc vào, tuổi mười tám, mười chín, chưa học hết phổ thông vẫn vô tư như những ngày ở quê vác cuốc đi làm đồng. Họ trêu ghẹo nhau những lúc rảnh rỗi.
Còn tôi học xong cấp ba chưa kịp mừng khi nhận giấy báo trúng tuyển vào Trường Đại học Vinh đã phải lên đường ra trận. Thấm thoắt được ba năm, trở thành cựu binh chốt ở cung đường có trọng điểm 919 ác liệt trên dãy Trường Sơn. Còn Sơn và Lâm mới bổ sung vào đơn vị được đúng một tuần thay thế hai đồng đội vừa hy sinh khi ra rẫy trồng sắn.
***
-Ơ, hai cậu định đánh nhau thật đấy à?
Thấy hai người lao vào quần nhau ngay trong hầm, tôi kêu lên, nói thêm:
-Hôm nay mùng một Tết đấy nhé.
Hại người vội buông nhau ra, cười xòa, nhìn tôi ngượng nghịu như cậu học trò mắc lỗi. Tôi hỏi Lâm:
-Dân Nông Cống, hồi còn ở nhà có bao giờ đi hái rau má trên đường tàu chưa?
-Nhà em trên Vạn Hòa, lên Bến Sung thị trấn huyện Như Xuân gần hơn xuống ga Minh Khôi; chỉ nghe nói đến tàu qua sách vở và đài thôi. Mãi khi đi bộ đội mới được đi tàu hỏa lần đầu.
-Thì ra vậy, thế chắc chắn chưa biết hái rau má trên đường tàu hỏa rồi.
-Vâng. Thế mà nó dám bảo em “Ăn rau má phá đường tàu” mới ức chứ!
-Thanh Hóa cũng có từng vùng đói mới hái rau má trên đường tàu để ăn. Rau má mọc hai bên đường tàu thường xanh tốt hơn dưới bờ ruộng đấy.
Nói với Lâm làm tôi bồi hồi nhớ tới quê. Theo như bố mẹ kể lại, tôi sinh ra tận bên Thái Lan, bố tôi làm chủ thầu xây dựng. Năm 1950 gia đình nghe theo tiếng gọi của Bác, trở về Việt Nam sinh sống khi tôi mới hơn hai tuổi. Có lẽ vì lý lịch như thế nên vào Nam chiến đấu, tôi được giao nhiệm vụ vào tổ rèn, chuyên sửa chữa cuốc, xẻng, xà beng… cho bộ đội, không được trực tiếp cầm súng đánh Mĩ. Ngoài việc rèn và sửa công cụ, vũ khí ra còn có thêm nhiệm vụ trồng sắn, dự trữ lương thực tại chỗ cho đơn vị. Ba năm vào chiến trường, tôi cũng được cầm súng nhiều lần nhưng đó là những khẩu súng cần phải sửa chữa, vậy thôi. Từ người lính, tôi cũng được giao trọng trách làm tổ trưởng sau ba năm bám trụ nơi đây;  không ít lần bị bom vùi, người bầm dập và mảnh bom hỏi thăm; nhưng hình như cái số nó cao nên chỉ bị phần mềm, chưa mất mảnh xương nào cả.
Còn Sơn, dân miền biển. Sơn kể: Biển Thạch Hải đẹp lắm, chỉ cách thị xã Hà Tĩnh hơn chục cây số thôi. Mùa hè bọn trẻ rủ nhau tắm biển, mò ghẹ, bắt ốc, bắt sò rồi kéo nhau lên đồi cát vơ cành sa mọc khô mang lại nhen lửa nướng ăn. Ăn xong mồm mép đứa nào cũng nhọ nhem như mèo. Bố đi biển, mẹ ở nhà trồng khoai, trồng lúa. Lúa ít, còn khoai nhiều hơn; đến hè, mọi nhà đào khoai xắt lát phơi khô đựng vào chum độn cơm ăn quanh năm. Hôm nào bố đi biển đánh được cá, nộp cho Hợp tác xã xong cũng để lại một xoong mang về nhà, ăn cá no luôn.
-Cá quê em ăn vừa bùi, vừa ngọt, ăn với khoai khô nấu nhừ ngon lắm.
Sơn nói xong, mắt nhìn xa xăm ra triền đồi trước mặt chỉ còn trơ những gốc cây bị bom chém cụt sát mặt đất, khẽ nuốt nước miếng rồi nói tiếp:
- Hôm nào biển động thì bố ở nhà, tháng bảy, tháng tám cũng có lúc bị đói, nhưng chưa bao giờ đứt bữa. Bọn con trai đi học về, đói bụng thì lẻn vào buồng, mở chum vốc trộm một nắm khoai lang khô bỏ vào túi quần, thế là đi chăn trâu khỏi lo đói.
-Sướng thế!
Lâm kêu lên ghen tỵ.
***
Ùng!
H… ùm!
Tiếng bom nổ trên đỉnh đèo, cùng lúc với tiếng hổ gầm làm cả ba giật thót mình. Gần lưng đèo một cụm khói bốc cao che lấp cả khoảng trời, tiếng ô tô vẫn nối đuôi nhau hối hả chạy qua. Sơn nói:
-Không có tiếng súng kèm theo sau tiếng bom, vậy là không có chuyện gì xảy ra rồi. Mà sao giữa vùng bom đạn ác liệt này lại có hổ đến thủ trưởng nhỉ?
-Chắc con hổ này ở xa đi lạc qua đây thôi – Lâm trả lời.
-Buổi sáng thú dữ phải đi ngủ sau một đêm kiếm ăn, đâu có chuyện đi lang thang lúc mờ sáng?
Sơn không đồng ý nên bẻ lại. Lâm giảng hòa:
-Thôi kệ nó. Sáng nay ta ăn gì đây thủ trưởng?
-Thủ trưởng cho đào một bụi sắn để ba anh em mình ăn Tết nhé.
Sơn nhanh nhẩu đề nghị, mắt nhìn tôi như cầu xin, Lâm cũng đồng tình:
-Bây giờ mà có củ sắn luộc ăn no thì sướng nhất đời. Ngày xưa, sáng mùng một Tết kiêng không phải quét nhà mà trưa bao giờ cũng được ăn no đấy ạ.
Tôi cũng như hai đồng đội trẻ, đều bị cái đói dày vò thường xuyên. Nhưng đã là lệnh phải chấp hành, không thể khác được. Đói quá không còn lương thực thì vào rừng hái rau, đào củ ăn cầm hơi để hoàn thành nhiệm vụ được giao chứ nhất định không đụng đến dù là một củ sắn. Gần nơi tổ chúng tôi ở là khu vườn sắn rộng lớn trên triền đồi chắc phải vài chục mẫu, có vùng đã trồng hơn hai năm nhưng chưa có lệnh, không ai dám đào lên ăn cả. Quân đội thời chiến là vậy.
Nhưng hôm nay ngày Tết, thôi thì… tôi tặc lưỡi, trả lời:
-Hôm nay ta ăn cơm.
Nghe tôi trả lời, Lâm và Sơn reo lên như trẻ con thấy mẹ đi chợ về:
-Hoan hô thủ trưởng!
Sơn hỏi:
-Ta nấu bao nhiêu gạo ạ?
-Miệng chén thôi.
-Thế cũng tuyệt vời rồi.
Nhìn hai đồng đội trẻ, tôi thấy cay cay trong mắt. Đang tuổi ăn, tuổi lớn, mùng một Tết ba anh em chỉ có miệng chén gạo, nấu lên chắc chỉ được mỗi người một chén cơm không đầy, thế mà vẫn vui như… Tết!
-Để em đi xuống suối lấy nước.
Lâm xung phong, Sơn gạt đi, nói:
-Để Sơn đi cho, Lâm ở nhà kiếm củi.
Đường từ hầm xuống suối khoảng hơn ba trăm mét, cây cối đã bị bom đạn và thuốc độc hóa học làm chết hết. Nghi quân ta đồn trú ven suối, bọn Mĩ thỉnh thoảng vẫn rải bom xuống đó. Vì vậy ta chọn nơi đóng quân phải ở xa bờ suối một khoảng cách nhất định, tránh bị bom giặc đánh trúng. Sơn bê chiếc xoong bị bom làm cho méo mó, đi xuống suối; Lâm ra khỏi hầm nhặt củi. Tôi lấy mấy viên vitamin C bỏ vào bát giả nhỏ, thêm ít nước sôi, trộn với rau má hái chiều hôm qua làm món nộm - công việc của mỗi người chuẩn bị bữa ăn sáng mùng một Tết là thế!
***
-Uỳnh!
-C… ứu, c… ứu, c… ứu, c… ứu em với!
Tiếng bom nơi lưng chừng đỉnh đèo vừa dứt, bỗng nghe tiếng kêu thảnh thốt của Sơn vọng đến, tôi với khẩu AK lao xuống suối; Lâm cũng ném luôn ôm củi, vác dao chạy theo. Từ chỗ đóng quân trên triền đồi nhìn xuống, tôi thấy Sơn đang cố ôm cây bằng lăng chết khô bên bờ suối, thân to bằng đầu người, leo lên. Leo lên được một đoạn lại từ từ tụt xuống, rồi lại leo lên, lại tụt xuống…
-Ơ, thằng Sơn làm trò gì lạ thế thủ trưởng kìa?
Thở hổn hển, chạy phía sau Lâm ngạc nhiên hỏi tôi. Thấy tiếng kêu líu cả lưỡi như vậy chắc chắn Sơn đã gặp chuyện không hay, nhưng còn chuyện gì thì… quả thật không hiểu được nếu không đến tận nơi. Tôi cố gắng chạy nhanh hết mức có thể, khóa súng bật sẵn để ở nấc liên thanh, sẵn sàng nhả đạn. Chạy gần đến chỗ Sơn đang cuống quýt leo lên rồi lại tụt xuống, rồi lại leo lên… tôi bật cười, ngồi bệt xuống đất, mồm mũi tranh nhau thở. Lâm chạy đến bên tôi cũng nằm vật ra, ôm bụng cười như bị ma làm. Trong khi ấy, Sơn vẫn hoảng hốt kêu:
 -C… ứu, c… ứu, c… ứu, c… ứu em với!
Bên gốc cây bằng lăng khô Sơn đang leo lên tụt xuống, một con lợn rừng khá lớn, thân dài gần sải tay, lông bờm hoe hoe vàng, nằm phủ phục như đang tựa vào cây. Còn Sơn leo lên được một đoạn, chắc cây trơn quá nên trượt xuống, chân đụng vào lưng lợn, hoảng hốt lại leo lên. Dứt cơn cười, Lâm hét to:
-Leo nhanh lên, lên cao tý nữa không lợn rừng cắn chết đấy.
-Thôi đừng trêu Sơn nữa, xuống đi, không phải leo thế đâu.
-Con lợn… con lợn rừng, đuổi nó đi hộ em.
-Nó chết rồi thì sao cắn được, xuống đi.
Nghe tôi nói vậy, Sơn mới buông tay đứng trên lưng lợn rừng, mặt trông tái xanh, nói:
-Em vừa cúi xuống để múc nước thì nghe đánh ầm một cái, nhìn lên đã thấy con lợn rừng hai mắt trắng dã, mồm sùi bọt mép cả cục, nhằm em lao tới. Em vội quẳng xoong, chạy lại leo lên cây bằng lăng để tránh nó. Không ngờ cây trơn quá, cứ leo lên được một khúc lại trượt xuống… Nhưng tại sao nó lại chết được nhỉ?
Lâm nắm lấy lông bờm con lợn kéo mạnh làm nó đổ nghiêng một bên, để lộ vết thương trên bụng dài cả ngón tay, lòi cả khúc ruột ra ngoài. Sơn thấy thế kêu lên:
-Nó bị thương, không trách được nó dữ đến thế. Lỗi tại thằng Mĩ sao lại nhè tau trả thù?
-Chắc nó bị hổ đuổi ở đâu đó, chạy về đây bị quả bom nổ lúc nãy làm bị thương, hoảng quá chạy lung tung thôi. Giờ làm sao thủ trưởng?
Nghe Lâm hỏi, Sơn bật cười bảo:
-Sao với giăng gì nữa, quà tặng của trời cho anh em mình ăn Tết đây mà. Để em về lấy xẻng đào bếp, ta đun nước ngay cạnh suối làm thịt cho tiện.
Cuối mùa mưa năm 2018

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

ĐI VÀO LÒNG DÂN - Bút ký của Hồng Chiến





Sáng ngày 7 tháng 4 năm 2008 chúng tôi đến Đồn Biên phòng Ya Tmốt. Qua khỏi cổng đồn trước mắt chúng tôi hiện ra một vườn xoài rộng hơn hai sào, xanh um, cao ngang vai người, nhiều cành đã chớm đơm bông; bao quanh vườn là con đường rải bê tông rộng khoảng năm mét dẫn vào nhà chỉ huy. Ra đón đoàn có Đồn trưởng - Thiếu tá Nguyễn Thế Vĩnh và Chính trị viên – Đại uý Bùi Quang Tuyến. Trong không khí ấm cúng như những người bạn lâu ngày gặp lại, Thiếu tá Đồn trưởng Nguyễn Thế Vĩnh sau khi giới thiệu vắn tắt tình hình địa bàn Đồn phụ trách, nói ngắn gọn: Tình hình là như vậy, có gì cần tìm hiểu thêm các anh trao đổi với anh Tuyến. Chính trị viên – Đại uý Bùi Quang Tuyến cho chúng tôi biết thêm một số tình hình trong công việc hàng ngày cán bộ chiến sĩ Đồn thường làm như: chăn nuôi, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống v.v… Nhìn chung các đồn biên phòng dọc biên giới ta với nước bạn Cam Phu Chia đạt kết quả rất tốt trong công tác tự túc hậu cần tại chỗ, cải thiện đời sống cho chiến sĩ. Chúng tôi không những được nghe báo cáo của lãnh đạo các đồn, mà còn được tận mắt thấy những vườn rau xanh tốt trồng như những vườn hoa xung quanh các doanh trại, tạo cho người ta cảm giác như đang đi trong một công viên hơn là ở một đồn biên phòng. Dưới bóng mát của các cây điều, cây mít… từng đàn heo đông đúc lim dim ngủ. Chỉ những cảnh đó thôi cũng đã nói lên tất cả những thành quả mà cán bộ, chiến sĩ ta ở các đồn biên phòng đã làm được. Như đoán được tâm trạng của chúng tôi, Đại uý Bùi Quang Tuyến kết luận:
- Nhìn chung Đồn Ya Tmốt, cũng giống như tất cả các đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh Dak Lak đã làm khá tốt công việc chăn nuôi, tăng gia trồng rau xanh cải thiện đời sống cho đơn vị. Riêng Đồn chúng tôi có một vài điểm khác so với các Đồn bạn trong cách vận động quần chúng nhân dân trên địa bàn phụ trách thực hiện nếp sống văn hoá như: vận động đồng bào dân tộc ít người ăn ở hợp vệ sinh, đưa trâu bò ra khỏi gầm sàn. Đây là việc làm rất khó. Đồng bào các dân tộc ít người ở phía Bắc di cư tự do vào đây lập làng và có thói quen đưa trâu, bò, heo, gà… nhốt chung dưới gầm sàn, người ăn ngủ ngay phía trên. Mùa mưa gầm sàn không những bốc mùi hôi thối khó chịu mà còn là nơi sinh sôi nảy nở của ruồi, muỗi, kèm theo đó là các loại bệnh tật. Lãnh đạo Đồn lập các đội công tác đặc biệt kết hợp với Đảng uỷ và chính quyền địa phương, vận động quần chúng, làm chuồng trâu, bò, gà... ra xa nhà, đảm bảo vệ sinh và khó khăn nhất có lẽ là vận động nhân dân làm nhà vệ sinh. Người dân có thói quen cứ đại tiện ra chỗ nào mà mình ưng ý, không cần biết nó có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh như thế nào. Làm thế nào để mọi người chịu đi đại tiện vào nhà vệ sinh là cả một vấn đề. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng thật sự đối với tập quán của người dân.
Tôi suýt bật cười khi nghe ông Bùi Quang Tuyến - Chính trị viên Đồn, phải gọi là anh mới phải, vì còn khá trẻ, tuổi đời chắc chỉ “băm”, nhỏ con, người hơi gầy, có dáng của một nhà giáo hơn là một Sĩ quan Biên phòng - báo cáo việc vận động quần chúng khó khăn nhất, cái việc nghĩ như đơn giản và buồn cười: đi vệ sinh... đúng chỗ! Nhưng ngẫm ra lại có lí và có lẽ đó là việc làm khó khăn thật. Khó khăn ở đây là vận động bà con phá bỏ một thói quen có từ lâu đời, cái thói quen ấy đã thấm sâu vào nếp sinh hoạt của mỗi người, và càng khó hơn khi người chiến sĩ Biên phòng phải nói như thế nào, để người dân hiểu ra, thực hiện được cái việc, cái chuyện… mà lại không thể nói thẳng cái từ mà mình muốn nói, muốn diễn đạt vì lí do tế nhị. Tất cả chúng tôi đều bật cười khi nghe đến đây.
- Cái khó ở đây là anh em hầu hết là người Kinh ngôn ngữ bất đồng, vì thế vừa học nói, vừa vận động quần chúng và giải thích vấn đề tế nhị đó như thế nào để dân người ta hiểu, người ta nghe và người ta làm theo đúng ý của mình.
Qua trình bày của Đại uý Chính trị viên – Bùi Quang Tuyến chúng tôi hình dung ra cách tiếp cận của các anh bắt đầu từ tầng lớp thanh thiếu nhi, thông qua các đội công tác cắt tóc miễn phí của các chiến sĩ Biên phòng, kết hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội địa phương. Những người lính và cũng là những tay “thợ hớt tóc” tài ba đi vào dân, vừa cắt tóc, vừa học tập tiếng của đồng bào để vận động thực hiện nếp sống văn hoá kết hợp với việc làm cụ thể giúp dân làm nhà tiêu, hố tiểu xa nhà, cách sử dụng. Từ niềm tin vào “ông thợ – người lính” cắt tóc, các thanh niên trở thành tuyên truyền viên cùng đội công tác vận động cha mẹ mình làm theo. Đến nay một trăm phần trăm các gia đình đã đưa gia súc, gia cầm ra xa nhà và các hộ gia đình đã có nhà cầu.
Nghe đến đây nghệ sĩ nhiếp ảnh Chính Hữu - thành viên trong đoàn - thích quá liền hỏi:
- Hiện nay các đội cắt tóc miễn phí của Đồn ta có còn hoạt động nữa không?
- Nhu cầu cắt tóc là nhu cầu thường xuyên của đồng bào, cắt tóc là biện pháp giúp dân và thông qua đó chúng tôi còn nắm được hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình để có biện pháp giúp đỡ cụ thể.
- Hay quá, các anh bố trí cho chúng tôi đi ngay bây giờ xuống một điểm nào đó có tổ công tác đang cắt tóc cho nhân dân được không? Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chính Hữu đề nghị.
- Được ạ!
Chiếc U oat của Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng rời Đồn Ya Tmốt đưa chúng tôi đến thôn 14 xã Ia Rwê. Trung tá Trưởng ban Tuyên huấn bộ đội Biên phòng tỉnh Dak Lak Lê Huy Thành, người được cử đi hướng dẫn đoàn, quay sang nói với tôi:
- Đường hơi xa và khó đi, nhưng đến nơi các bác sẽ thấy thú vị đấy.
- Trước đây thủ trưởng Thành làm Đồn phó phụ trách chính trị Đồn Đá Bàn một thời gian nên nắm địa bàn ở đây rõ lắm - Chính trị viên  Bùi Quang Tuyến nói thêm - Địa bàn chúng ta đến có một phân hiệu thuộc trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Thị Định, phân hiệu này cách trường chính hơn 20 km, năm cô dạy bảy lớp với hơn 180 em học sinh từ Mầm non đến lớp 5, tất cả học sinh đều là con  em đồng bào các dân tộc ít người. Trường kết hợp với Đồn làm khá tốt công tác vận động quần chúng, góp phần đáng kể vào công cuộc xây dựng đời sống văn hoá tại đây.
Theo chỉ dẫn của của người dân địa phương, xe chúng tôi đến nhà ông Bàn Văn Phụng, nơi đội công tác đang cắt tóc cho nhân dân. Thiếu uý – tổ trưởng Trương Văn Hành còn rất trẻ, tuổi đời chắc chưa quá hăm lăm,  đang cùng hai chiến sĩ “hành nghề” trong vòng vây của hơn chục thanh thiếu niên. Thấy chúng tôi đến mọi người tỏ vẻ ngạc nhiên. Anh Bùi Quang Tuyến giới thiệu đoàn với mọi người. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chính Hữu hồ hởi nói: Các bạn cứ làm việc tự nhiên để mình xin mấy kiểu hình. Trung tá Lê Huy Thành cũng lấy máy ảnh ra. Bấm lia lịa. Đám đông học sinh, người dân hiếu kì xúm lại xem.
Tôi và Đại uý Bùi Quang Tuyến tranh thủ ghé vào nhà ông Bàn Văn Peo, đây là một trong ba gia đình vừa được anh em Đồn Biên phòng Ya Tmốt giúp đỡ làm nhà trong năm nay. Ngôi nhà ba gian, mái lợp tôn, xung quanh thưng ván, bờ hè đang được bốn chiến sĩ Biên phòng xây móng. Mời chúng tôi vào nhà uống nước, và không cần nghe hỏi, ông chủ nhà đã hồ hởi nói ngay:
- Như anh Tuyến đây đã biết, thôn 14 này toàn người Dao Đỏ ở phía bắc di cư tự do vào, vì nghèo quá nên phải bỏ quê đi kiếm ăn xa. May, ở lại đây được bộ đội Biên phòng giúp đỡ, dựng nhà, dạy cách làm ăn nên bớt khổ, con cái được học hành, ai cũng mừng nên tin và nghe theo bộ đội.
- Thôn mình có đông người không?
- Cả thôn này có 36 hộ với 216 khẩu, chúng tôi ở cùng một địa phương phía Bắc, cùng rủ nhau vào mà!
Nhìn ánh mắt, cử chỉ, lời nói của ngươi dân, chúng tôi hiểu được các anh, những người lính Biên phòng Đồn Ya Tmốt đã mang đến cho người dân nơi đây, vùng đất xa xôi của miền Biên giới Tây Nam Tổ quốc không những có được cuộc sống bình yên mà còn có cả sự ấm no, hạnh phúc. Thật bất ngờ đối với chúng tôi khi tận mắt thấy những người lính Biên phòng vẫn hàng ngày quen với cây súng trên tay vì sự bình yên của Biên giới Tổ Quốc và giờ đây tại vùng đất Biên cương này lại được thấy cũng bàn tay cầm súng ấy chuyển qua cầm dao, cầm kéo… sao mà mềm mại điêu luyện đến thế. Các anh cắt tóc đẹp đến mức không kém gì các ông thợ ở các tiệm lớn trên thành phố mà tôi từng biết. Tôi tò mò tìm hiểu thêm thì được biết các “ông thợ – người lính ấy” đều được đào tạo tại chỗ. Người biết dạy cho người chưa biết, trước hết phải thực tập cắt tóc cho đồng đội trong đơn vị, khi “tốt nghiệp” mới được “hạ sơn” hành nghề trên các địa bàn đơn vị phụ trách. Nhờ những đội cắt tóc miễn phí của các chiến sĩ Biên phòng mà cánh thanh niên địa phương không còn ai đầu tóc bờm xờm, các em học sinh đến trường đầu tóc gọn gàng; điều đó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển dân trí nơi đây.
Nhìn những căn nhà dân được xây dựng theo một quy hoạch khá đẹp mắt, dù nhà sàn truyền thống hay nhà trệt, phía trước sân là vườn rau xanh được rào dậu cẩn thận, phía dưới những ngôi nhà sàn là nơi để nông cụ và củi được xếp khá gọn gàng, cách phía sau nhà một quãng là chuồng trâu, bò, heo, gà, nhà cầu…. Cuộc sống của người dân đã có bước chuyển mình rõ rệt không những về kinh tế mà còn cả về văn hóa, dân tríù...
Trước khi lên xe trở về, tôi hỏi thêm Đại uý Chính trị viên Đồn Ya Tmốt, Bùi Quang Tuyến:
Việc tổ chức các Đội công tác xuống địa bàn cắt tóc miễn phí cho dân là một sáng kiến rất hay, độc đáo, tại sao tôi chưa thấy có cơ quan nào đề cập đến?
- Đây là công việc thường ngày của anh em trong đơn vị thôi mà, có thành tích gì đâu để báo cáo. Nhà Báo có viết xin nêu những anh em trong đội công tác đang lặn lội với địa bàn, chịu khó, chịu khổ với công việc;  đừng nêu tên em đấy nhé.
Chia tay các anh những người lính bảo vệ biên cương, lòng tôi bồi hồi xúc động như phải chia tay với người thân trong gia đình trước khi đi công tác xa lâu ngày. Ngẫm lại, có những thành quả như hôm nay trên địa bàn Đồn Ya Tmốt phụ trách, chắc chắn là nhờ có sự lãnh đạo sâu sát của Đảng bộ và chính quyền địa phương xã Ia Rwê, huyện Ea Suôp, tỉnh Dak Lak nói chung và tâm huyết của những cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ya Tmốt nói riêng. Vì sự bình yên của Biên giới Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, các anh những người chiến sĩ Biên phòng, mang truyền thống anh Bộ đội Cụ Hồ: đi dân nhớ, ở dân thương; đã xây dựng được phòng tuyến biên giới vững chắc từ lòng dân. Xin chúc các anh, những người chiến sĩ Biên phòng luôn luôn hoàn thành suất sắc nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao cho.


Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

DẺO THƠM HẠT CƠM LÚA MỚI Tùy bút của H’LINH NÊ - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Nhà văn, Nhạc sỹ, Nhà ngiên cứu văn hóa Tây Nguyên - Linh Nga Niê Kdăm
(Bút danh H'Linh)


Chuyện cũ nhớ lại:
Có hai loại xôi được đem ra cúng lúa và mời khách trong Lễ ăn cơm mới của người Thái ở xã Ea Kuêh, huyện Cư M’gar (Đắk Lắk) đều được gói trong những chiếc bịch nilon nhỏ. Nắm tròn trong tay theo cách ăn của người miền núi, thấy thoảng thơm mùi nắng từ hạt lúa mới được gặt về. Có những gói xôi là nếp thường, hạt cơm trắng muốt, trong veo. Có những gói xôi màu hơi ngà ngà, hạt gạo có đường viền mờ mờ màu xanh nhạt, là loại gạo truyền thống, mang từ quê cũ ở Tương Dương, Nghệ An vào đây gieo trồng, giã bằng chày tay, nắm cơm dẻo, hít hà hương thơm tỏa ra thật đặc biệt quyến rũ. Xôi này bày trên mâm cúng dưới cột nêu, giữa sân rộng trước cửa nhà sinh hoạt cộng đồng, và chỉ dành cho những mâm khách đặc biệt. Trưởng buôn Thái ấn vào tay tôi một bịch xôi trắng mờ này vừa cười vừa bảo “cất vào túi đi”. 
Gần một tuần nay, chuẩn bị cho lễ Kin khẩu mờ - ăn cơm mới - cả buôn Thái chộn rộn suốt ngày đêm. Lễ này diễn ra tương tự như lễ ăn cơm mới của người Êđê, sau khi nhà nhà đều đã cắt về những thúng lúa đầu tiên, Ban tự quản lo thu tiền và hiện vật đóng góp, mỗi gia đình 200.000 đồng và lúa gạo tùy theo khả năng. Từ 10 năm trở lại đây cuộc sống của buôn Thái đi dần vào ổn định, cà phê, lúa, cây ăn trái trồng xen đều có năng suất cao, kinh tế phát triển, nên việc đóng góp lễ lạt theo tập quán truyền thống không còn là việc khó khăn. Hơn nữa mấy đơn vị đóng chân trên địa bàn xã như Công ty cà phê Cư M’gar, Ngân hàng Nam Á… đều hỗ trợ. Nhưng ồn ào và sôi động nhất là đám tập văn nghệ, 3 nhóm nhảy sạp, hai nhóm múa quạt. Vui nhất, đông nhất là vòng xòe gồm đầy đủ phụ nữ tất cả mọi lứa tuổi (chỉ trừ các mẹ, các chị được phân công nấu nướng đồ cúng và cơm mời khách) sau những giờ bận rộn chăm sóc gia đình và ruộng rẫy, suốt mấy buổi tối, những bước chân nhún nhảy, những cánh tay vung khăn sang phải, sang trái, rồi vươn cao lên trên đầu; cả thân hình và đôi tay nghiêng như cánh chim đang bay lên. Động tác nào cũng phải cho thật đều, thật duyên dáng. Các ông chồng chẳng cằn nhằn câu nào, lại còn kiêm bớt cả việc nhà lẫn giữ con cái cho vợ đi tập. Cứ nghĩ mà xem, phụ nữ nhà mình điểm một chút má hồng trên làn da trắng bóc, thêm một tý tẹo son đo đỏ lên môi, ai cũng trở nên xinh đẹp lắm, tự hào lắm chứ.   
Tương Dương, là một huyện miền núi vùng cao nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh gần 200 km, là huyện có diện tích tự nhiên rộng nhất trong các huyện của Việt Nam, gấp hơn 3 lần tỉnh Bắc Ninh và gần gấp đôi tỉnh Thái Bình, nhưng trong đó đất nông nghiệp chỉ có 0,32% diện tích tự nhiên của huyện, còn lại là đất lâm nghiệp và các loại đất khác. Toàn bộ huyện nằm trong vùng có độ cao trung bình từ 65 – 75 m so với mực nước biển, địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn. Khí hậu và thời tiết khắc nghiệt. Là một trong 3 huyện nghèo của tỉnh Nghệ An. Chính vì vậy mà năm 1992, ông Lô Quốc Hợi, một kỹ sư kinh tế, quyết bỏ lại sau lưng cả nghiệp kế toán lẫn đất đai ít ỏi, cằn cỗi, nghe theo lời rủ rê của một giám đốc là người đồng hương, cùng 2 gia đình nữa, gần như tay trắng, lếch  thếch dắt nhau vào giữa rừng Ea Kuêh. Ngày lên xe, mắt dõi nhìn bóng quê ngày một rời xa mà lòng dạ ai cũng rối bời, không biết cuộc sống gia đình rồi sẽ ra sao. Từ làm thuê rồi lần hồi mua đất trồng cà phê, khai hoang ruộng cấy lúa, 3 gia đình ngày ấy nay chỉ còn hai, vì một hộ đã chuyển đi Đăk Nông, nhưng có thêm hàng chục hộ khác ở quê, thấy cung cách làm ăn thuận lợi của ông Hợi, đã cùng nhau chuyển cư. Buôn Thái bây giờ có tới 207 hộ với hơn 800 nhân khẩu. Đều là người Thái gốc huyện Tương Dương, chỉ có 4 hộ người Êđê, do sự kết hợp hôn nhân mà chuyển sang cư trú tại đây. Ama Phi Dư, người đàn ông Êđê chất phác, vui vẻ kéo cô con dâu người Thái xinh xắn đến khoe với chúng tôi sự kết hợp thuận thảo giữa hai tộc người.
Mái tóc ông Hợi giờ không chỉ lưa thưa, mà còn trắng màu bông, minh chứng cho những vất vả gây dựng để tồn tại, chứng minh với bà con dân bản sự lựa chọn bỏ lại mồ mả ông bà, rời quê hương đi tìm vùng quê mới xa ngái, mua dần lại những diện tích rẫy qua nhiều năm canh tác, chỉ còn là những mảng cỏ tranh còi cọc phất phơ trong gió (loại cây cỏ cuối cùng mọc tự nhiên trong quy trình sản xuất luân khoảnh trên cao nguyên đất đỏ) của người Êđê buôn Win. Chăm bẵm, vun xới, cải tạo bằng thói quen sử dụng phân xanh ngoài quê, nay gia đình ông Hợi làm chủ tới 5 ha đất canh tác, ngoài cà phê, điều còn có 3000m2 lúa, đều tốt bời bời. Ông cũng chứng kiến hơn 20 năm qua, bằng những bàn tay chai sần chăm chỉ, cái đói không còn thường trực nơi cửa mọi căn hộ, mà nhiều nhà gạch mái tôn xanh, mái ngói đỏ mọc lên thay thế nhà gỗ cũ kỹ ban đầu. Điện giăng lưới trên những nẻo đường bê tông dọc ngang trong làng, trường học cận kề cho con cháu sớm chiều ê a đánh vần. Đã có gia đình không chỉ là sắm xe máy, ti vi, tủ lạnh… mà còn mua được cả ô tô. Trạm xá vẫn luôn có những bóng áo trắng tươi cười, nhưng vắng vẻ, vì người người trong buôn luôn mạnh khỏe… “Phú quý sinh lễ nghĩa”, các cụ xưa dạy thế, nên tập quán tộc người lại được nhắc nhở. Mùa xuân năm 1997, lần đầu tiên hội Sên Mường đón xuân được phục hồi, rồi các năm tiếp đến lễ Kin khẩu mờ - ăn cơm mới - cứ 3 năm lại tổ chức một lần. Năm 2018 này đã là lần thứ 7, có lẽ là năm vui nhất. Bởi đời sống đã thực sự ổn định, lại được sự hỗ trợ của Ngân hàng Nam Á, mấy chiếc máy dệt mang theo vào quê mới làm ngày đêm không đủ, phải về tận Nghệ An đặt thổ cẩm, đàn bà con gái cả làng, lớn nhỏ, ai cũng cũng có bộ váy áo đúng tập quán truyền thống. 
Hội vui cơm mới:
Cái sân rộng trước cửa nhà văn hóa cộng đồng, từ hôm trước lễ đã được căng lều, xếp ghế, trồng cây nêu; cờ, hoa sặc sỡ sáng bừng không gian suốt từ ngoài vào trong như mời gọi. Những bản nhạc mang âm hưởng dân ca Thái liên tục phát đi trên loa phóng thanh theo gió tràn khắp không gian, khiến người người thêm nao nức. Khác với sự trang trọng hơi đơn độc của cây nêu những tộc người xung quanh, cây nêu của làng Thái Ea Kuêh dường như thể hiện đầy đủ cho sự no ấm của cả cộng đồng. Từ mờ sáng, sát chân cột ngoài dựng nguyên cây bắp, cây lúa, cây mía, còn là những thúng thóc, thúng bắp hạt, các ghè rượu. Dọc theo thân cột có treo kín những rẻo vải các sắc màu rực rỡ, tung bay, còn có cả những con chim, con bướm, con cá đan bằng tre, khắc bằng gỗ, những ngôi nhà nhỏ, cánh diều bằng len các màu… thể hiện cho sự trù phú của bản làng thi nhau mà đung đưa dỡn đùa với gió cao nguyên. Mâm cỗ cúng cũng đã được các mệ, các ôông chuẩn bị từ tinh mơ con gà gáy sáng, để bây giờ bầy lên đủ đầy chiếc đầu heo đỏ bóng, con gà quay nâu vàng ươm, thịt bò sấy khô trên gác bếp, các loại xôi trắng ép trong ếp, trong ống nứa (cơm lam), bánh gói lá dong, rượu nếp thơm đến ngửi mùi cũng say… toàn thức ăn sạch của các gia đình đóng góp, cho mâm cỗ thảo thơm tạ ơn các vị thần đất, thần lúa, bắp… linh thiêng đã phù trợ cho bản làng một mùa vụ bội thu.
Khách đã nườm nượp đổ về trên mọi phương tiện. Chỉ mới ngoặt từ trục đường chính của buôn vào cổng nhà văn hóa thôi, những chiếc máy ảnh, điện thoại các loại đã thi nhau mà nháy, xoành xoạnh chớp sáng liên tục trước hình ảnh đoàn thiếu nữ trong trang phục Thái xinh như các hoa hậu, đứng dọc hai bên cổng vào, tươi cười chào đón. Màu sắc rực rỡ của những chiếc váy ken dầy hoa văn trắng đỏ, lóng lánh ánh bạc từ hàng khuy những chiếc áo cóm, và nụ cười lóa sáng dưới vành khăn hoa đội đầu của hàng trăm chị em phụ nữ, khiến du khách cứ chen vào mà đòi chớp lấy những bức hình có mặt mình cùng người đẹp. Và cứ thế, tiếng nhạc Inh lả ơi dân ca Thái rộn ràng, tiếng chiêng trống tung tung nổi lên, điệu múa sạp nhịp nhàng trong tiếng va côm cốp náo nức của những thân tre và nhịp khua luống lộp cộp từ những chiếc chày giã gạo, khiến lòng người không thể không chộn rộn. Líu cả lưỡi để hàn huyên, rồi lại buông nhau ra, tay cầm vội lấy dùi trống điểm nhịp cho 3 chiếc chiêng tung tẩy và bước chân các đội múa sạp rộn ràng. Trong khi chờ vào lễ chính, các chàng trai tranh thủ luyện lại tay nỏ, những mũi tên trúng vào vòng 9 hay bay vụt ra ngoài cũng khiến tiếng cười rộ lên hào hứng. Len qua những thanh niên đang vòng trong vòng ngoài cổ vũ rất nhiệt tình các bạn lom khom vung những con vụ quay tròn, nữ họa sỹ Trần Hồng Lâm nhớ lại kỷ niệm tuổi thơ, xin được thử ném một lần. Con quay giật ra khỏi sợi giây dài, xoay tít vòng, khiến các bạn trẻ xung quanh ồ lên kinh ngạc. Ô trò chơi quay này, từng xuất hiện trong các sử thi Tây Nguyên như Đam San, Zing Chơ Ngă… như một thú vui không thể thiếu của trai làng, lâu lắm mới lại được thấy.
Tiếng loa vang vang báo hiệu giờ hành lễ bắt đầu. Thày cúng (đang là bí thư chi bộ buôn) mặc áo đỏ, trịnh trọng khấn vái. Lời ông ngân nga câu hát vần rằng “Tháng 4 gieo giống, tháng 5 cấy lúa/ Hạt nảy mầm đẹp như tôm tươi, đẹp như vườn cải vườn, rau muống/ Tháng 10 liềm gặt lúa về phơi khô, xay giã/ Hôm nay bản mình về đây cúng lúa mới…” Tiếng nhạc bay lên trời xanh. Âm thanh trống chiêng vịn vào mây trắng. Lời khấn tạ luồn xuống ba thước đất, bay lên chín tầng cao, gọi ngay ông trời đổ xuống một cơn mưa xuân nhỏ. Lão ông Lô Quốc Hợi bảo “mưa đem lại điềm lành đấy cô ạ”. Và như thế, trời cứ mưa, niềm vui vẫn cứ đong đầy trong cả khách lẫn chủ. Thày cúng đã rót rượu cần từ ghè ra bát, tưới cho cây bắp, cây lúa như một nghĩa cử cảm ơn trời đất và các cây giống đã cho bản làng một niềm vui lớn lao từ những hạt lúa hạt bắp nhỏ bé mà nặng nghĩa tình, trả cho những giọt mồ hội mặn đổ xuống. Ông mời các khách quý ngồi xuống quanh cây nêu cầm lấy cần rượu. Ngọt ngào quá những hạt gạo trên quê hương mới, làm nên men rượu nồng say say.
Xong phần lễ. Hội bắt đầu. Trời vẫn nhẹ nhàng thả những giọt nước xuân mát rượi xuống trần gian. 3 vòng xòe đã được khởi bước, hàng trăm phụ nữ đủ mọi lứa tuổi. Hình như vòng hẹp nhất sát cột nêu là các bà, vòng thứ hai là các mẹ, và ngoài cùng rộng nhất là những cô gái trẻ. Gấu váy hoa văn thổ cẩm đỏ trắng xanh lả lướt theo những bước chân tiến lên, lùi xuống; khăn xanh thắt ngang eo thon khiến thân hình thêm uyển chuyển. Cánh tay dịu dàng vung khăn choàng các màu chấp chới bay bay. Hãy nhập vào vòng xòe nào bạn, cho niềm vui nhân lên cả từ chủ lẫn khách nhé. Hay là ra gần cổng, tay quay tít những quả còn rồi vung lên sao cho qua chiếc vòng tròn trên cây cột cao vút kia, để bạn trai, bạn gái nào phía bên kia kịp đỡ lấy. Ngày trước ném còn là tín hiệu kết đôi trai gái đấy. Còn hôm nay bạn cứ ném đi, chỉ cần quả còn bay lên, dẫu trúng vào vòng hay bay ra ngoài, vẫn thấy niềm vui ăm ắp đấy. Điệu múa xòe quạt như những cánh bướm muôn màu chấp chới tung bay, tưởng là kết thúc lễ hội, nhưng chính thức cuộc thi tài của những chiếc nỏ, con quay, đẩy cây, ném còn… lúc này mới bắt đầu. Hội Xuân ăn cơm mới sẽ còn kéo dài qua cả lúc hoàng hôn buông choàng xuống.
Mừng cho mùa xuân này buôn Thái Ea Kuêh có được cuộc sống ấm no, bình yên. Càng mừng hơn khi truyền thống đẹp của tổ tiên được giữ vẹn nguyên trên quê hương mới. Cầu các thần linh cho hạt lúa trĩu bông, bắp ngô đầy hạt và cà phê, tiêu chín đỏ nặng cành, ân tình Thái – Êđê càng thêm ấm áp dưới những mái nhà trên miền đất đỏ ba zan...