Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2019

SĂN TRÂU RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - Báo Giáo dục&Thời đại số: 29 tháng 7 năm 1997



Y Leng dẫn tôi đến bên chòi làm bằng mấy đoạn cây gác chéo lên cành cây lồng bàn cách mặt đất độ ba mét quay lại nói:
-Thầy ngồi đây chờ khi nó chạy lại gần hãy bắn.
- Có chắc nó chạy qua đây không?
- Chắc chứ! Thầy xem dấu chân hắn đi qua đây về phía tây. Nếu chúng em lùa từ phía tây, nó phải chạy qua đây về Sông Ba. Bọn thú rừng khôn lắm, chúng luôn luôn chạy về đúng đường chúng đã đi.
Y Leng vừa giảng giải vừa lúi húi vạch cỏ gianh chỉ vết chân con Min để lại trền nền đất. Mười bốn cái đầu cùng xúm xít vạch lối xem dấu và ồ lên:
- Con này to lắm!
-Chắc phải to bằng con voi đấy!
-Lụôc một miếng rõ to mà ăn nhỉ !
-Bắn được phải xiên cây nướng ăn ngay tại chổ mới ngon.
Y Leng bật cười, bảo:
-Chưa bắn mà tính ăn thịt là xuôi rồi. Ngừng một lát nuốt nước miếng; Y Leng nói tiếp - Chúng ta đi thôi, đừng có theo dấu chân nó, sợ nó ngửi thấy mùi chạy theo hướng khác mất.
                     Nhìn các em tuổi mười sáu, mười bảy tay chân khỏe khoắn, rắn chắc vác trên vaithanh xà gạc nhìn dấu chân mà nuốt nước miếng ứa ra, tôi thấy thương vô hạn. Bóng các em rẽ cỏ gianh đi xiên xiên theo triền đồøi khuất dần về phía tây bắc.
Tôi leo lên cây lồng bàng, kê súng lên giá bắn ngắm thử. Phải công nhận mấy cậu học trò chu đáo, lát sàn chòi bằng năm khúc gỗ to bằng bắp chân dài hơn mét buộc chặt vào cành cây rất chắc chắn. Đứng hay ngồi bắn đều thỏai mái. Giá bắn được buộc bằng một cây tre thẳng, nếu ngồi xuống sàn, đặt súng lên giá bắn, chẳng khác gì bắn bia. Tôi ngắm thử thấy thoải mái quá và nghĩ bụng: chắc trong vòng một trăm mét khó có con vật nào thoát khỏi họng súng cho dù đó là nai, heo hay con mang cũng vậy.
Điểm chọn làm chòi rất tốt, không những nó là cái đèo thấp nhất trong dãy đồi nối liền nhau kéo dài ba, bốn kilômét từ nam qua bắc mà hai phía đông tây đèo có vạt rừng gìa kéo thành vệt dài gần lên đến đỉnh. Đỉnh đèo khá bằng phẳng, rộng chừng năm chục mét toàn cỏ gianh khô nằm chống chát lên nhau . Hai phía bắc, nam đèo cỏ gianh khô phủ kín các đỉnh đồi kéo dài đến hút tầm mắt. Các cây lớn chỉ mọc được ở hai bên bờ suối lớn và các nhánh nhỏ thành từng vạt rậm rạp. Đứng trên chòi nhìn xuống thấy cánh rừng già giống một cây đại thụ khổng lồ xòe những cành cây xanh mượt, khẳng khiu, ngoằn nghèo trên nền cỏ gianh bạc phếch chĩa ngọn ra phía bắc, gốc cây duỗi dần về phía nam với chùm rễ dài cắm vào bờ sông Krông Năng xanh thẳm.
Đã hơn ba tháng nay hơn ba trăm thầy trò trường nội trú quanh đi quẩn lại chỉ có rau muống và cá khô phân phối. Còn mấy ngày nữa sẽ đến tết, tiền có nhưng không làm sao mua được con heo hay bò cải thiện cho các em có bữa ăn tươi. Nếu như không cấm đốt cỏ gianh thì chỉ cần một mối lửa nhỏ hàng ngàn héc ta đồi gianh sẽ biến ra tro và như vậy đêm đêm có thể đội đèn đi bắn hươu, nai, mang... cải thiện cho các em.
Ngày chủ nhật vừa rồi Y Leng đi tìm hoa phong lan phát hiện dấu chân con min đi qua con Sông Ba về Sông Hai liền tìm điểm làm chòi phục bắn. Các em tin tôi, vì bắn ban ngày chưa trượt bao giờ cho dù đó là: heo, mang hay mấy chú khỉ tinh ranh đi nữa. Hôm nay trọng trách của tôi được giao phải hạ con min để lấy thịt cho các em ăn tết.
Tiếng hò reo, tiếng chiêng gõ ầm ĩ từ bờ Sông Hai vọng lại mỗi lúc một rõ dần. Tôi hướng mũi súng vào bìa rừng chờ đợi. Bổng khoảng rừng già trước mặt chim bay loạn xạ cùng lúc với tiếng cây gãy như có người bẻ mỗi lúc một lại gần. Tôi căng mắt nhìn như không tin vào mắt. Một con trâu qúa lớn, đen trũi bốn chân màu bạch kim lao ra cách bìa rừng độ ba mét dừng lại ngấc cao đầu nhìn bốn phía xung quanh. Cặp sừng trên đầu nó mới to làm sao. Phần sát đầu phải bằng bắp đùi người lớn, sần sùi đầy nếp nhăn cong vòng lại với nhau, nhìn giống như một hình tròn. Đôi mắt to như cái ly lớn lồi ra đen nhánh đảo quanh. Đầu ruồi mũi súng tôi đặt ngay vào tai con vật, thước ngắm chia đôi. Ngón tay trỏ kéo nhịp thứ nhất. Với khoảng cách chưa đến năm chục mét chắc chắn con vật ngốc ngếch cứ đứng lì lợm, trợn mắt nhìn xung quanh kia chỉ một viên AK của tôi sẽ xuyên từ tai này qua tai bên kia dễ dàng. Và với bảy tám tạ thịt lọc thầy trò tha hồ ăn tết, và có cả phần phơi khô ăn dần cả tháng giêng chưa chắc đã hết. Bên cạnh món cá chuồn, cá liệt khô muôn thuở thương nghiệp cấp, các em sẽ có thêm món thịt luộc, món thịt xào và cả món thịt nướng quấn lá lốt ăn tết. Thây trò sẽ hú hí với nhau cho vơi nỗi nhớ nhà. Mấy cô giáo sẽ bớt đi những giọt nước mắt đêm giao thừa.Tôi địng kéo có súng tiếp nấc thứ hai... Nhưng ngón tay bổng cứng lại khi chợt nhận ra chú bê xinh xắn bộ lông phớt vàng từ trong rừng lao ra, hai tai dựng đứng, cái đuôi cong vút lên, xõa túm lông nhỏ bé hoe vàng rũ xuống lưng. Chú bê nhảy vọt lên, run rẩy, lại nhảy vọt lên nép sát vào bụng mẹ.
Tôi ngẫn người từ từ hạ súng mở mắt nhìn hai mẹ con con min đang nép vào nhau. Không biết con min con quá sợ hãi trước tiếng hò hét của con người, nên phải nép vào mẹ nó. Hay chính mẹ nó linh tính thấy nguy hiểm cố dựa vào con lấy chút cang đảm vượt qua trảng trống trước khi về rừng già.
Đôi mắt min mẹ không còn viền lồng trắng quanh con ngươi đen nữa mà màu trắng đã hằn lên tia đỏ. Nó nhìn tôi đôi mắt long lanh một màu đỏ như sắp bật ra như những giọt lệ màu hồng. Nó chờ con nó và nhìn tôi như  cầu khẩn xin tha mạng. Tha nó ư? Thầy trò lấy gì ăn tết? Lấy gì cải thiện cho các em học sinh đang đói đây?
Bộ sừng màu ngọc thạch kia chắc phải đổi được con bò lớn nữa. Thầy trò tha hồ cải thiện. Nhưng con vật đẹp quá, bộ lông màu đen kéo dài từ vai xuống tận đuôi trông mượt như nhung. Chiếc đầu to như cái thúng lớn nhìn tôi như dò hỏi, van lơn và cả con bê xinh xắn chắc chắn sẽ chết nếu như con mẹ đổ xuống. Thiên nhiên ưu đãi cho Tây Nguyên biết bao loài thú quý hiếm nhưng đang bị mất dần. Không biết mẹ con nó có phải là con cuối cùng của cánh rừng này không ? Nếu giết mẹ con nó ta sẽ có lỗi với hậu thế có tội với thế hệ mai sau. Bắn hay không băn?!
Con min bước từng bước một như đếm tiến gần lại chòi, đôi mắt mở to nhìn thẳng vào mắt tôi. Con bê cố bước kịp mẹ ngước cặp mắt ngây thơ như một dấu hỏi nhìn tôi. Hàng lông mi của con bê vừa đen, vừa dài cong vút trông thật quý phái. Mất chiếc lông màu nâu phớt trắng xỏa xuống móng chân màu thạch giống như người ta buộc lại để trang điểm bốn bàn chân cứ tiến dần, tiến dần lại sát chổ tôi ngồi. Càng nhìn càng thấy đẹp, một vẽ đẹp vừa mộc mạc, vừa huyền bí khó có dịp thưởng thức. Hai mẹ con nó đi qua sát chòi, vừa khép nép lại vừa như len lén luồn qua.Tôi bỏ súng nhìn theo, nhìn mãi cho đến khi hai mẹ co khuất hẳn vào bìa rừng mới giật mình bừng tỉnh khi Y Leng hỏi vọng lên:
- Sao thầy không bắn?
- Ôi, hai mẹ con nó đẹp quá, chúng là loài thú quý hiếm có tên trong sách đỏ đấy, không được bắn đâu. Thôi hãy để nó làm đẹp thêm núi rừng của chúng ta các em ạ.
Mười bốn cặp mắt ngây thơ nhìn tôi vừa như trách móc, vừa như an ủi, cảm thông. Tôi trèo xuống với các em, lòng buồn vui lẫn lộn.
- Thầy!
Tiếng Y Leng thoảng bên tai, tôi quay lại nhìn em, em nắm chặt tay tôi:
- Đừng buồn thầy ạ. Mình không bắn là đúng đấy. Nó có con nhỏ, con nó cần mẹ, bắn mẹ thì tội nghiệp con con lắm.
Các em vây quanh tôi, an ủi làm tôi không còn biết nói sao.
- Ta về đi thầy, kẻo thầy cô và các bạn trông.
Y Leng giục và kéo tay tôi. Trời về chiều, từng cơn gió mát đùa giỡn, đồi cỏ gianh cuộn lên như sóng vỗ nối tiếp nhau chạy dài. Các em bước theo nhau thành một vệt dài vừa đi vừa tíu tít kể cuộc chạm trán con min và tả chi tiết vẽ đẹp của nó cho tôi nghe, cứ như tôi chưa được thấy bao giờ.

XUÂN 1982


Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2019

NHỮNG CÂU CHUYỆN VUI VỀ HEO Ở CHIẾN TRƯỜNG của TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019


Đuổi cọp giành lại heo:
Đoàn văn công Đắk Lắk thuộc cơ quan Tuyên - Văn - Giáo khu căn cứ kháng chiến K’rông Bông, nhờ thực hiện tốt sự chỉ đạo của cấp trên về tự túc lương thực, với tinh thần “thực túc binh cường”, nên cuối năm 1967, đoàn đã thu được trên 3 tạ  lúa rẫy và nuôi được trên 50 con heo, gần 100 con gà. Đàn heo ban ngày thì thả rông, ban đêm thì nhốt vào chuồng để phòng thú dữ. Một  hôm, gần tết Nguyên đán, trăng sáng mờ mờ, khoảng nửa đêm, mọi người trong đơn vị đang ngủ say sưa, bỗng nhiên có tiếng heo kêu dữ dội. Tổ chị nuôi ở sát chuồng heo bật dậy la lớn: “Cọp bắt heo! Cọp bắt heo! Các đồng chí ơi!”. Nhanh như ngọn gió, đồng chí T (trưởng đoàn), cầm khẩu AK nhảy lên miệng hầm bắn ba phát chỉ thiên. Rồi mọi người cùng chạy ra chuồng heo. Đếm đi, đếm lại vài lần, chị H (tổ trưởng tổ chăn nuôi) báo cáo: “Thưa thủ trưởng! Mất một con heo đực to nhất đàn”. Nghe chị H nói vậy, mọi người cùng đi tìm và phát hiện dấu chân cọp kéo lê con heo ra suối. Mọi người theo xuống suối thì mất dấu. Lúc này, đồng chí T bảo: “Có thể con cọp lúc tha con heo xuống suối, nghe tiếng súng nổ liền thả heo để chạy thoát thân. Các đồng chí hãy xuống suối tìm xem!”. Quả đúng vậy, anh em trong đơn vị vừa mới bước chân xuống suối thì thấy con heo được vất lại bên bờ. Con heo nặng khoảng trên 60 kg. Anh em trong đơn vị vui mừng vì đã đuổi được cọp, giành lại heo, tất cả cùng nhau khiêng heo về làm thịt. Hôm ấy đã 23 Tết, tổ chị nuôi làm giò chả, giò lụa, nấu thịt đông, chuẩn bị cho cả đơn vị ăn Tết trước để phục vụ Chiến dịch Xuân 1968.
Tay không bắt heo:
Sau Chiến dịch Mùa khô năm 1968, bộ phận tuyên tuyền, báo chí, và in ấn thuộc cơ quan Tuyên - Văn - Giáo, Khu kháng chiến K’rông Bông trở về căn cứ đã là 27 Tết. Toàn đơn vị có khoảng trên 30 người mà chỉ còn 10 kg gạo, 1 kg muối. Đồng chí C (Trưởng bộ phận) thấy vậy vô cùng lo lắng: “Biết lấy gì cho anh em ăn Tết và bồi dưỡng sức khỏe chuẩn bị vào trận chiến đấu mới đây?” Nghĩ vậy, đồng chí liền cử 5 anh em có sức khỏe tốt, thạo địa hình rừng núi đi vào rừng kiếm rau và săn thú về cải thiện bữa ăn trong ba ngày Tết. Thế là 5 anh em, do đồng chí Y Thih làm trưởng nhóm vừa ăn sáng xong đã vội vã lên đường. Đoàn đi rừng vượt qua ba cái rẫy, vừa đến một con suối thì thấy cả đàn heo hơn 10 con đang đứng bên suối uống nước. Thấy vậy, đồng chí Y Thih bảo anh em trong đoàn cầm mỗi người một cành cây chạy ào xuống suối đuổi đàn heo. Nghe tiếng động, heo mẹ chạy trước, các chú heo con lúc nhúc chạy theo sau. Chỉ loáng một cái cả đàn heo đã biến mất. Bỗng nhiên anh em trong đoàn nghe tiếng heo con kêu ở phía đầu suối, liền chạy đến xem thì thấy ba chú heo con rơi xuống một cái hố sâu. Thấy vậy, đồng chí Y Thih chặt dây rừng làm thòng lọng thả xuống thắt vào bụng từng con heo rồi kéo lên. Năm anh em chia nhau đi kiếm rau rừng, măng rừng rồi mang heo trở về đơn vị. Về đến nơi, đồng chí C thấy vậy rất vui mừng, nhưng nhìn ba chú heo con đang còn bú sữa mẹ thì không đành giết thịt. Đồng chí liền bảo với Y Thih: “Chú mang ba con heo này vào buôn đồng bào M’nông gần đây đổi gà về ăn Tết, chứ làm heo con cho anh em ăn tết tôi thấy tội lắm. Đơn vị ta còn 1 cân đường, và 1 cân muối, chú mang theo mỗi thứ nửa ký đổi gạo nếp về làm bánh tét cho anh em ăn Tết!”. Nghe thủ trưởng nói vậy, đồng chí Y Thih gật đầu rồi rủ thêm hai người trong đơn vị mang ba con heo, đường, muối đi vào buôn Tâng Juh. Đến chiều tối ba anh em mang về 9 con gà trống choai, 5 kg gạo nếp 10 kg gạo tẻ. Thế là anh em bộ phận tuyên truyền, báo chí, in ấn có một cái Tết vui vẻ, đầm ấm.
 Mất một heo, được cả đàn heo:
Đã đến ngày 25 tết rồi mà vẫn chưa thấy anh chị em đi gùi gạo, thuốc men và hàng Tết trở về. Văn Tâm trong tổ anh nuôi ở bộ phận Dân y, khu căn cứ kháng chiến K’rông Bông vô cùng nóng ruột, cứ đi vào đi ra lo lắng chờ đợi. Văn Tâm liền nói với đồng chí H (Trưởng bộ phận Dân Y): “Nếu các đồng chí đi gùi gạo, thuốc men và hàng Tết không về kịp thì lấy gì cho anh em ăn Tết đây? Hai con heo đang nuôi lớn nhanh như thổi thì cách đây một tháng tự nhiên mất đâu một con, quả là chó cắn áo rách”. Nói xong Văn Tâm ra mấy gốc cây gần công sự nhặt củi. Bỗng nhiên nghe tiếng heo kêu “ịt, ịt…”, Văn Tâm ôm bó củi về bếp thì thấy con heo mẹ dẫn hơn chục chú heo con bụ bẫm chui vào chuồng heo bên cạnh bếp. Văn Tâm vui vẻ lấy củ mì thái nhỏ đổ vào máng cho đàn heo ăn. Cả đàn heo xúm lại ăn ngon lành. Heo mẹ vừa ăn vừa nhìn chủ một cách trìu mến. Đồng chí H vui mừng bước đến nói với Văn Tâm: “Theo kinh nghiệm của đồng bào Êđê, M’nông cho hay, khi heo mẹ được nuôi ở nhà đến ngày đẻ thường vào rừng tìm chỗ sinh con, chờ khi heo con cứng cáp (khoảng sau 1 tháng) thì heo mẹ dẫn con về với chủ. Vì giống heo của đồng bào chính là heo rừng được thuần hóa, nhưng bản năng sinh sản của nó còn mang đặc tính heo rừng.” Nghe đồng chí H nói vậy, Văn Tâm phá lên cười rồi nói: “Thế mà em cứ tưởng con heo mẹ bị cọp vồ, ai ngờ nó đến “trạm xá” để đẻ và dẫn con về với chủ”. Tối hôm ấy, anh chị em đi gùi gạo, thuốc men và hàng Tết từ Phú Yên trở về, thế là chúng tôi có một cái Tết năm 1970 vui vẻ, đầm ấm ở chiến khu K’rông Bông.
Đôi bạn thân tình:
Ở trạm giao liên Khu căn cứ kháng chiến Chư Juh tỉnh Đắk Lắk có Y Bal ÊBan, là người dân tộc Êđê có tài bắt chước chim thú kêu giống y hệt. Một hôm Y Bal được cử đi công tác. Trên đường về, Y Bal dẫn thêm hai cán bộ cùng về, sợ trời tối nên Y Bal dẫn đi tắt đường rừng để về cho kịp đơn vị. Mọi người đi đến một dòng suối cạn thì nghe tiếng heo rừng kêu “ụt ịt, ụt ịt!” thấy vậy, Y Bal bắt chước nhại lại tiếng heo kêu. Một lúc sau có một chú heo con chạy tới vẫy đuôi ra vẻ vui mừng. Sẵn có thức ăn trong ba lô, Y Bal lấy ra một mẩu mỳ luộc bẻ vụn cho chú heo ăn. Heo con ăn một cách ngon lành rồi theo Y Bal và hai cán bộ đi về đơn vị, đến nơi thì trời vừa tối. Anh em trong trạm vui mừng đón tiếp hai cán bộ và Y Bal trở về an toàn. Khi thấy heo con, ai cũng ngạc nhiên. Y Bal kể lại chuyện gặp chú heo bên suối, nhại đúng tiếng heo kêu, nó chạy lại, em cho heo ăn củ mì và nó đi theo về đây. Nghe Y Bal kể vậy, ai cũng cười và khen tài nhại tiếng chim thú của Y Bal. Từ đó chú heo con trở thành người bạn của Y Bal. Hàng ngày Y Bal đi đâu chú heo cũng đi theo. Anh em trong đơn vị gọi đùa là “đôi bạn thân tình”.
Bẫy nhím trúng heo:
Trong những năm chống Mỹ cứu nước, bộ phận báo chí, in ấn của ban Tuyên - Văn - Giáo thuộc khu căn cứ K’rông Bông tuy ít người, và bận rộn công tác, nhưng vẫn tích cực tăng gia sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm. Mùa rẫy năm 1972, lúa rẫy rất tốt, đến mùa lúa chín, chim thú kéo về ăn suốt ngày đêm. Để bảo vệ lúa, đơn vị chặt cây rào và làm hình nộm đặt quanh rẫy, đồng thời cử người thay nhau canh rẫy. Hôm ấy đồng chí Y Thih và Y Thiêm được giao nhiệm vụ canh rẫy. Hai anh đã quen làm bẫy thú từ nhỏ nên cùng nhau làm rất nhiều bẫy đặt xung quanh rẫy. Hai anh chỉ làm những cái bẫy nhỏ, chủ yếu là bẫy nhím và thỏ thôi vì thỏ và nhím hay về ăn lúa phá rẫy. Chiều hôm ấy vừa đặt bẫy xong, hai anh em xuống suối tắm. Trong lúc đang tắm, hai anh nghe tiếng heo kêu eng éc ở phía cuối rẫy. Tắm xong, hai anh nhanh chóng chạy đến chỗ có tiếng heo kêu thì thấy một con heo rừng bị mắc bẫy. Y Thih và và Y Thiêm liền lấy dây rừng trói heo lại. Trói xong Y thiêm chạy về đơn vị gọi anh em ra khiêng con heo về làm thịt. Con heo rừng khá lớn nặng khoảng 1 tạ. Năm ấy có lúa rẫy, có heo rừng làm giò chả, nấu giả cầy, nấu thịt đông, anh em trong bộ phận báo chí, in ấn ở khu căn cứ kháng chiến K’rông Bông có một cái Tết vui vẻ.
                                                         
                                                  
Sưu tầm theo lời kể của các anh: Y Tuyên, Minh Kha, Y Thih, Ngọc Lợi.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

KHÚC CẢM HOÀI QUA TỜ LỊCH CUỐI NĂM lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019


TỜ LỊCH CUỐI NĂM



Mỏng manh tờ lịch cuối năm
Nhẹ tênh rơi xuống chỗ nằm ...
             Vọng âm
Thoảng như hơi gió vương trầm
Thoảng như sương khói môi thầm thĩ xa

Mơ màng trở lại lật qua
Ngày chia hai nửa trẻ - già đây ư?
Nửa xanh chớm nhạt ngôn từ
Nửa vàng như đã lại như chưa vàng

Cháy thầm trong lửa thời gian
Vui buồn cũng hóa tro than vô tình
Cuối năm mình tiễn tuổi mình
Mỏng manh tờ lịch rập rình...
Gió bay!
                                     NGUYỄN NGỌC HƯNG

LỜI BÌNH:


Hơn ba mươi năm nằm bệnh, trở trăn với biết bao đau thương của số phận đời mình, Nguyễn Ngọc Hưng làm thơ như một căn duyên tiền định. Thời gian biến thiên dời đổi, thoắt thôi mái đầu xanh ngày nào đã hóa thành một vùng mây trắng, phiêu hốt bay qua năm tháng cuộc đời. Một ngày cuối năm, cầm tờ lịch trên tay, nhà thơ bồi hồi xúc động, để rồi bâng khuâng trong một mối cảm hoài qua bài thơ Tờ lịch cuối năm.
Bài thơ được làm theo thể lục bát, gồm mười hai câu, ngắt thành ba khổ nhưng đã có những biến hóa, cách tân về hình thức nghệ thuật. Mượn tờ lịch cuối năm "nhẹ tênh rơi xuống chỗ nằm", thi phẩm có tính tổng kết, chiêm nghiệm về đời người, về thời gian trong cõi nhân sinh vốn dĩ vô thường, hư ảo. Có lẽ sự tồn sinh đầy kỷ niệm dứt day ấy được Nguyễn Ngọc Hưng chạm khắc trong khổ thơ đầu khá điêu luyện bằng thể lục bát biến hóa tài tình:
Mỏng manh tờ lịch cuối năm
Nhẹ tênh rơi xuống chỗ nằm ...
             Vọng âm
Thoảng như hơi gió vương trầm
Thoảng như sương khói môi thầm thĩ xa
Với con người bình thường, mỗi khi năm hết Tết về, nhìn tờ lịch cuối cùng rơi xuống, đã nghe lòng dâng bao nỗi xuyến xao đan xen muôn ngàn bâng khuâng, tiếc nuối. Hơn ai hết, Nguyễn Ngọc Hưng thấu rõ điều này, bởi anh mắc chứng bệnh nan y, chân tay co rút, đau thương lắng lại giữa bốn bức tường xám ngắt, cô đơn. Chính phút giây lắng đọng trong thời khắc giao mùa, dù tờ lịch "mong manh" rơi xuống "nhẹ tênh", tác giả vẫn nghe chỗ nằm của mình một khúc "vọng âm". Hai từ "vọng âm" được nhà thơ vắt thành một dòng thơ độc lập, đầy ám ảnh. Thế mới biết, chính hoàn cảnh đặc biệt đã sinh nên cái tình thi sĩ quá lớn lao, nó là một cuộc trở trăn không dễ gì bù đắp nổi. Bao nhiêu kỷ niệm ùa về chan chứa, tất cả thơm tho "như hơi gió vương trầm", "như sương khói môi thầm thĩ xa". Đó là "vọng âm" của tình yêu xa cách, là thanh âm cuộc đời đã với quá tầm tay. Thương cảm và đắng chát, nhìn tờ lịch cuối năm, thêm một lần nữa Nguyễn Ngọc Hưng day dứt đến phận người. Dù không bi thiết như Đặng Trần Côn: "Trăm năm rồi có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì", tác giả vẫn dào lên bao nét suy tư, cảm thán về sự nghiệt ngã của thời gian quá vội:
Mơ màng trở lại lật qua
Ngày chia hai nửa trẻ - già đây ư?
Nửa xanh chớm nhạt ngôn từ
Nửa vàng như đã lại như chưa vàng
Khổ thơ hay ở câu hỏi tu từ mang mang nỗi niềm tiếc nuối. Cầm tờ lịch "mơ màng trở lại lật qua" để rồi nhận ra hai nửa "trẻ - già" trong một thực thể tồn sinh của kiếp người đau buốt. Những câu thơ chứa đầy trắc ẩn, không những cất lên từ chính cuộc đời tác giả mà nó còn là quy luật muôn thu của cõi thế vô thường. Thảo nào xưa cụ Nguyễn Du từng hô gọi trong một tâm thức hiện sinh: "Sống nay không rót cạn bình/ Chết rồi tưới rượu mồ mình, biết ai?". Cụ Nguyễn Công Trứ thì cảm thán về thời gian ngắn ngủi đời người: "Ôi nhân sinh là thế đấy/ Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao". Đến Nguyễn Ngọc Hưng, sau câu hỏi tu từ đầy trắc ẩn, là cả một chuỗi suy tư sâu lắng đến ngậm ngùi: "Nửa xanh chớm nhạt ngôn từ/ Nửa vàng như đã lại như chưa vàng". Tất cả cứ dở dang, phiền muộn đến nao lòng!
Hai khổ thơ đầu là tâm chấn của nỗi đau thời gian hiu hắt, chóng phai quất vào cõi lòng thi nhân mối sầu dâu bể. Sau những cảm xúc "mơ màng trở lại lật qua" đầy dứt day, chua xót ấy, nhà thơ dường như bừng ngộ để rồi nhận ra cái lẽ thường tình của cõi nhân gian. Tất cả rồi "cũng hóa tro than vô tình" như một quy luật tất yếu. Xuyên thấu lẽ đời, khát vọng "cháy thầm" trong khoảnh khắc giao mùa khi tờ lịch cuối cùng sắp hết, tác giả bâng khuâng "mình tiễn tuổi mình". Dường như chính trong cái tàn phai, rơi rụng kia lại bắt đầu cho một điều gì sinh sôi mới mẻ. "Ô hay, cái mất lẫn trong cái còn" mới là cảm thức mà tác giả muốn nói với ta chăng? Thì đây, chính cái giọng điệu của khổ thơ cuối bài đã phần nào làm vơi bớt nỗi sầu vạn cổ về sự mong manh, hữu hạn của kiếp người:
Cháy thầm trong lửa thời gian
Vui buồn cũng hóa tro than vô tình
Cuối năm mình tiễn tuổi mình
Mỏng manh tờ lịch rập rình...
Gió bay!
"Cháy thầm" để rồi sinh hóa một mầm sống mới. Tờ lịch cuối năm rơi để bắt đầu khai mở cho mùa xuân tươi đẹp lại về, xênh xang cùng hoa bướm thần tiên.
Không mòn sáo trong nghệ thuật của thể lục bát quen thuộc, cảm hứng nhân sinh phổ quát được nhìn qua lăng kính của phận đời mình, bài thơ Tờ lịch cuối năm của Nguyễn Ngọc Hưng thấp thoáng một nỗi buồn cô đơn dịu vợi, một cảm thức mong manh, hư ảo của kiếp người. Song, cao hơn hết, đó còn là phút giây "cháy thầm" hiến dâng lặng lẽ để mang đến mùa xuân bất tận cho đời. Không hiểu sao, tôi vẫn có cảm giác là "tờ lịch cuối năm" của Nguyễn Ngọc Hưng vẫn treo vào thời gian bất tử, nó không rơi xuống bao giờ, như "chiếc lá cuối cùng" trong đêm mưa gió của nhà văn O. Henry vĩ đại.
                                                                       

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG TẬP THƠ "ĐỦNG ĐỈNH TRĂNG VỀ" CỦA TRẦN PHỐ bài viết của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Nhà thơ TRẦN PHỐ


Thơ ca hấp dẫn từ cổ chí kim bởi không những dễ làm xúc động và lấy đi nước mắt của người đọc, có khả năng từ trái tim đi thẳng đến trái tim mà còn giúp ta bừng ngộ và khám phá ra bao chân lý ở đời thông qua tính triết luận sâu sắc. Đó chính là sự hài hòa thẩm mỹ giữa cảm xúc và lý trí, giữa sự rung ngân của con tim biết hát và một trí tuệ giàu suy tưởng về lẽ người, lẽ đời. Đọc tập "Đủng đỉnh trăng về" của nhà thơ Trần Phố, ta bắt gặp cảm hứng triết luận trở thành cảm hứng chủ đạo của thi tập, dù vẫn biết một sô tác giả đã nghiên cứu qua các phương diện khác, nhưng tôi cũng xin lạm bàn thêm vấn đề trên như góp một tiếng nói cá nhân trước đứa con tinh thần của người thầy, người anh mà mình quý mến.
Hiểu một cách thông thường nhất, triết luận là triết lý và luận bàn về một vấn đề, một khía cạnh của đời sống nhân sinh từ những chiêm nghiệm, nhờ đó giúp cho nhà thơ có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc hơn về cuộc đời và con người thông qua hình tượng nghệ thuật. Tính triết luận trong thơ làm cho bài thơ sắc cạnh, độc đáo và dễ ấn tượng hơn với người đọc nhờ vào tứ thơ đã siêu thăng thành quan niệm sống của cá nhân thi sĩ. Vì vậy, triết luận thiên về suy tưởng, biện giải nên bao giờ cũng thấm thía và có chiều sâu nhận thức. Bên cạnh tính triết luận là tính trữ tình trong thơ. Đó là trạng thái cảm xúc của tác giả được thăng hoa và kết đọng lại trong lòng người đọc những rung cảm thẩm mỹ. Nếu triết luận thiên về lý trí, suy tưởng và mang tính logic thì trữ tình lại đi thẳng vào trái tim, khơi dậy những rung động ở lòng người. Tuy nhiên, triết luận là một khái niệm có nội hàm phong phú, nó bao chứa cả triết lý và cả hình thức triển khai tính triết lý ấy trong một chỉnh thể nghệ thuật. Vì vậy, tính triết luận trong thơ thường chi phối đến bút pháp nghệ thuật và hình thức kiến tạo tác phẩm của nhà thơ.
Ngay từ nhan đề đề thi tập, "Đủng đỉnh trăng về" đã gợi mở ra một quan niệm, triết lý của tác giả về lẽ sống, về khát vọng hướng đến. Ánh trăng là không gian soi chiếu kỳ vĩ của vũ trụ. Từ xa xưa, trăng đã trở thành niềm mơ ước, là vẻ đẹp thanh cao mà con người khao khát chiêm ngưỡng hầu mong thấu suốt những chuyển động vô cùng, vô lượng của đất trời vi diệu. "Đủng đỉnh" lại là một trạng thái thong thả, chậm rãi và hầu như rất lặng lẽ. Đó là vẻ đẹp từ tốn tỏa ra từ trong cuộc sống đời thường. Ánh trăng kỳ vĩ giữa tầng không xanh thẳm, nhưng chỉ với trạng thái "đủng đỉnh", nhàn du quả là một ám dụ nghệ thuật. Hai từ láy "đủng đỉnh" kết hợp với cụm danh từ "trăng về" đã làm nên sự đối thanh giàu ý nghĩa, đầy tình ý mà tác giả muốn gửi gắm chăng ? Tính triết luận có lẽ cũng nằm ở chiều sâu ấy. "Đủng đỉnh trăng về" trở thành một lời tâm niệm, một mong ước về đời sống thanh bình, yên ả; một khao khát vĩnh hằng về cái đẹp sẽ ngự trị, lên ngôi.
Chúng ta đều biết, tính triết luận là một phẩm chất quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, góp phần làm nên phong cách thơ cho tác giả. Trong 62 bài thơ của tập "Đủng đỉnh trăng về", tính triết luận hầu như bàng bạc, xuyên thấm qua nhiều tác phẩm. Lý giải cho điều này, tôi nghĩ trước tiên nằm ở cái tạng thơ của thi sĩ Trần Phố. Hơn nữa, khi đã chạm đến tuổi lục tuần, đi qua một vòng hoa giáp, con người ta nhìn đời, nhìn người với những chiêm nghiệm, day trở và lắng sâu hơn âu cũng là chuyện thường tình. Qua tập thơ, ta bắt gặp một Trần Phố triết luận từ rất nhiều đề tài khác nhau trong cuộc sống. Anh luận bàn, triết lý về tự do; anh cảm khái về "tài mệnh tương đố", lợi danh - quyền chức; anh suy tưởng về sự dấn thân rong ruổi; anh chất vấn, trăn trở về thời cuộc - vận nước; anh triết luận về hạnh phúc - thành công; anh xót xa, dằn vặt trước những đau khổ hàng ngày mà con người phải gánh chịu; thậm chí cả cái tôi - bản thể, ... cũng được nhà thơ Trần Phố đào sâu, "nội soi" bằng những câu thơ giàu triết luận. Vẫn biết bản chất của thơ là cảm xúc trữ tình, nhưng nhờ tính triết luận thông qua vốn sống, vốn văn hóa phong phú của tác giả đã mang lại cho tập thơ "Đủng đỉnh trăng về" tính tư tưởng sâu sắc.
Tự do vốn là một khao khát vĩnh cửu và thường trực của con người. Nhẹ nhàng mà sâu lắng, trần tình mà đậm chất suy tưởng, bài thơ Hai cây khế là một đối sánh giàu tính triết luận: "Cây khế ngoài vườn thân thẳng vút cao/ Cây khế trong chậu sành vặn cong vì cắt tỉa/ Đời chật chội làm cảnh mà vô nghĩa.../ Cây khế trong chậu sành mơ được tự do". Quả vậy, Hai cây khế cũng chính là cái nhìn nhân sinh đầy ẩn dụ của tác giả. Lấy lòng mình để cảm lòng ngoại vật, thấu hiểu được "cây khế trong chậu sành mơ được tự do" là một triết luận sâu sắc, tứ thơ nhờ đó cũng được đẩy xa hơn, khắc khoải hơn trong lòng người đọc. Bên cạnh triết luận về tự do, ở bài Lệ Chi Viên, ta lại bắt gặp một triết luận khác của nhà thơ Trần Phố. Cái án tru di tam tộc Nguyễn Trãi sau sáu trăm năm vẫn còn nhỏ máu trong lòng hậu thế. Nỗi đau phận người đã đành, xót xa cho một tấm lòng "đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" (Thuật hứng 5 - Nguyễn Trãi) khiến tác giả day dứt, trăn trở về "tài mệnh tương đố". Trần Phố thấy Nguyễn Trãi "cao vời" mà "cô độc đứng giữa đời", hiểu được mặt trái của nhan sắc cũng "châm ngòi ma quỷ" để rồi cảm khái mà ngậm ngùi thương tiếc một vĩ nhân: "Tất cả vì đời mà sao Khuê bỗng tắt/ Héo mòn cây cỏ, buốt ngàn thu".
Dường như đối với nhà thơ Trần Phố, nhìn sự vật, hiện tượng gì trong đời sống nhân sinh anh cũng muốn đưa ra một quan niệm sống của chính mình. Chính tư duy có nhu cầu biện giải, tấm lòng muốn trải ra với cuộc đời gần như thuộc về bản năng ấy đã giúp thơ anh đến gần với triết luận. Một dòng sông, mặt hồ, ao cá hay biển cả bao la... đều được Trần Phố soi ngắm, chiêm cảm bằng chiều sâu của tư duy và suy tưởng đậm màu triết luận. Nhìn đàn cá trong hồ ao thi nhau đớp mồi, thi nhân nghĩ ngay đến cái duy lợi ở đời. Đàn cá kia thấy "béo bở miếng mồi" thì "lên lúc nhúc". Không dừng ở lợi danh thuần túy, cái mặt hồ bị "ăn nát" kia đâu chỉ là chuyện của một người, một nhà mà là nỗi đau của phận nước non. Nhờ đó, nỗi xót xa và phẫn nộ của tác giả được bùng vỡ trong bài thơ dù rất ngắn và giản dị này: "Nước suối trong/ Nước hồ ao đục/ Béo bở miếng mồi cá lên lúc nhúc/ Chúng tranh ăn nát mặt hồ" (Cá ao hồ). Thấu hiểu lẽ đời, nhà thơ Trần Phố thấy lợi danh kia với mình "lởn vởn trược đường đời" nên tâm hồn nhẹ thênh mà tự hát rằng: "Con chim hạ cánh trong vườn trúc/ Nằm giữa giao mùa tự hát chơi" (Tự hát). Triết luận thế là hay, nhẹ nhàng mà vô cùng thấm thía. Cũng triết luận về lợi danh, có lúc thơ anh bộc trực thẳng thẳng, nhất là nói với tuổi trẻ - thế hệ rường cột của nước nhà: "Đừng vào cổng thấp/ Dễ còng lưng, vỡ trán/ Mê chi danh hảo, mộng hờ/ Cúi đầu hèn hạ/ Chẳng làm kẻ yếu mềm, vâng dạ/ Làm con chim vỗ cánh vút trời xanh !" (Nói với tuổi trẻ thời hội nhập).
Trong tập thơ "Đủng đỉnh trăng về", tôi vẫn thích một số bài thơ vừa giàu màu sắc triết luận nhưng cũng đậm chất trữ tình. Hai đặc điểm trí tuệ và cảm xúc kết hợp hài hòa đã làm nổi bật tứ thơ, đồng thời làm tăng giá trị biểu cảm. Hãy nghe nhà thơ triết luận về sự dấn thân, hi sinh để "tô hồng phù sa" của một "đời sông": "Chảy qua mưa nắng xôn xao/ Chảy qua ghềnh thác càng cao tấc lòng/ Chảy qua đục để rồi trong/ Một đời chảy để tô hồng phù sa" (Đời sông). Hình tượng thơ nhờ đó phiêu hốt, hấp dẫn và dễ đi vào lòng người. Từ sự biết hi sinh, dấn thân để đắp bồi cho tương lai của một "đời sông" đến triết luận về sự an hòa, yêu thương của một đức vua là một điều không quá bất ngờ. Triết luận về lý tưởng nhân nghĩa, hòa ái, đức trị thể hiện khá nổi bật trong bài thơ Vua Trần Thánh Tông. Với nhà vua, thân dân là diệu kế, là điều kiện cho đất nước thái bình, thịnh trị, giữ âu vàng muôn thuở: "Hòa ái, thân dân, nhân hậu/ Người vì dân, dân nước an bình/ Rèn súng, đúc thuyền tập trận.../Người anh minh cao vút tầm nhìn" (Vua Trần Thánh Tông). Học tập từ vị vua anh minh, nhà thơ khuyên bạn mình trong ngày nhậm chức: "Chặn sông, sông sẽ thét gào/ Thân dân diệu kế thâm cao/ Đức trị thẳm trong pháp trị/ Một vùng vui tựa Thuấn, Nghiêu" (Tặng bạn ngày nhậm chức). Từ nói với bạn đến khuyên con về hạnh phúc, thơ Trần Phố trước sau vẫn sâu lắng tâm tình, bày giãi nỗi lòng lồng trong một quan niệm sống đầy triết lý. Có điều những triết luận của anh tùy vào đối tượng, vì lẽ nói với con nên dịu dàng, lắng dịu: "Đường đời không có hoa hồng/ Sự nghiệp của tiền không từ trời rơi xuống.../ Sông cũng phải thác ghềnh lận đận/ Mới chảy về tới biển bao la" (Nói với con về hạnh phúc)
Cảm hứng thế sự với những gì đang diễn ra hàng ngày đã giúp nhà thơ thể hiện quan niệm sống, bày tỏ những suy tư trước cuộc đời là mảng thơ khá đặc sắc của tác giả "Đủng đỉnh trăng về". Thâm trầm trong chiều sâu nhận thức, Trần Phố triết luận về thời cuộc, vận nước từ một bài thơ nhỏ nhắn mà tinh tế, sắc sảo. "Gởi tráng sĩ" hay đó là tấc lòng của thi nhân ký thác đến mọi người với tư cách công dân: "Xưa sông dịch lạnh ghê/ Tóc dựng ngược ra đi/ Ngày biển Đông nổi sóng/ Tráng sĩ nói câu gì ?" (Gởi tráng sĩ). Rồi bao nhiêu nỗi đau, đổ vỡ, mất mát tang thương trong cuộc sống hàng ngày giữa một thế giới bất an đã khiến nhà thơ chạnh niềm thương cảm. Ô tô cán chết một em bé trong lòng phố ở Trung Quốc, đường Láng Hòa Lạc tai nạn xảy ra trong sự thét gào đau đến tận cùng của cõi nhân gian nào ai thấu hiểu ? Tiếng chuông nhà thờ, chuông chùa vẫn trôi vào hư vô, tượng vĩ nhân ngơ ngác, chỉ có nhà thơ đau nỗi đau trần thế như người rơi xuống vực sâu: "Nhà thơ/ Rớt xuống dòng/ Ôm ngực/ Nén cơn ho" (Tin hàng ngày) Từ đó, nhà thơ triết luận về cái thiện và cái ác đôi khi cùng song hành tồn tại, không dễ gì trừ khử ngay được: "Có loài sâu đê hèn, độc ác/ Chui luồn, đục khoét hại cây/ Có loài chim thơm thảo, thẳng ngay/ Hôm sớm bắt sâu, bạn cùng hoa lá" (Chim và sâu).
Ngoài sự mở lòng mình để hướng đến cuộc đời rộng lớn, bày giãi cảm quan đối với tha nhân, nhà thơ Trần Phố đã có nhiều bài thơ súc tích, đậm tính triết luận khi đào sâu vào cái tôi - bản thể để nhìn ngắm, chiêm nghiệm. Thơ Trần Phố dễ đi vào lòng người chính nhờ khả năng cảm hóa, thấu hiểu với tha nhân vậy: "Cái tôi càng bé nhỏ/ Đất trời càng bao la/ Trong gió mưa quay quắt/ càng thương người, thương ta !" (Trong gió mưa). Trong tình yêu, thơ Trần Phố chủ yếu là cảm xúc nồng nàn, yêu thương hoài nhớ, song ta vẫn bắt gặp những câu thơ ánh lên màu sắc triết luận về cái tôi tình yêu siêu thực, hư hao: "Tôi đi tìm trăng, trăng đã xế/ Trăng lạc cuối trời đêm mênh mông/ Thăm thẳm đường xa, thăm thẳm tối/ Tôi lạc thân tôi giữa mịt mùng" (Tìm trăng).
Đọc tập thơ "Đủng đỉnh trăng về" của nhà thơ Trần Phố, thiết nghĩ rằng, chính tính triết luận đã làm nên nét riêng biệt và độc đáo của thơ anh về mặt giọng điệu. Bởi lẽ, dù viết với bút pháp hết sức dung dị, song nhiều bài thơ trong thi tập đã mang một giọng điệu riêng do chi phối từ tính triết luận. Nhà thơ Trần Phố, có khi từ một hiện thực rất đơn giản của đời sống mang lại, cũng đủ giúp anh xây dựng nên một tứ thơ khá hay. Hãy nghe chất giọng trang nghiêm - triết lý trong bài thơ Lời chim: "Chim sẻ/ lách chách sân nhỏ/ Chim hồng/ im lặng/ ngàn mây". Lá trở lại là giọng thơ trắc ẩn về phận người trong cuộc sống nhân sinh: "Gió chiều trở phiến lá xanh/ Mong manh như thể tơ mành chênh chao/ Chập chùng đồi thấp núi cao/ Bao nhiêu lá trở, bao nhiêu phận người". Bài thơ Nhìn lại thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về thời gian, sự vô thường của kiếp người. Đó là kiểu triết luận không mới, nhưng xúc động nhờ vào giọng điệu u hoài - trắc ẩn của tác giả. Chính từ cảm thức "ta chạm vô thường, chạm sắc không", nhà thơ mới ngộ ra rằng cuộc đời "xem ra mọi chuyện cũng con con": "Mới đó, trăm năm đà tỉnh thức/ Rồi đây, muôn thuở sẽ phiêu bồng/ Những tưởng nắng chiều trăm sự hiểu/ Đâu ngờ mưa sớm vạn điều không" (Nhìn lại).
Tính triết lý chi phối đến giọng điệu nghệ thuật, giọng điệu lại được tạo thành từ các biện pháp nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả. Nhà thơ Trần Phố, chí ít là trong tập thơ này, đã sử dụng thủ pháp đối lập trong rất nhiều thi phẩm khá thành công: Cực đoan, Hai cây khế, Đời sông, Cá hồ ao, Thông điệp đầu xuân, lời chim, Sâu và chim, Trong gió mưa... Ta hãy đọc một đoạn thơ trong bài Thông điệp đầu xuân: "Trời đã vào xuân đời vẫn đông/ I - rắc, Xi - ry vẫn rét về/ Thương lắm đó đây còn ngập máu/ Mẹ già con trẻ khóc ly quê". Anh triết luận về chiến tranh, về bạo tàn, về quyền lực thông qua thủ pháp đối lập, vì thế đã tạo nên chất giọng nghiêm trang, nhờ đó mà tính triết luận thêm thâm trầm, sâu sắc. Ngoài ra, nghệ thuật sử dụng câu hỏi tu từ để tạo nên giọng điệu vừa trang nghiêm, vừa chất vấn nhằm làm nổi bật tứ thơ cũng như tính triết luận qua nhiều thi phẩm của "Đủng đỉnh trăng về". Tôi đã thống kê ra đây một số câu thơ như thế: "Thánh thần có hờn ghen/ Hỡi núi cao biển rộng/ Còn bao Lệ Chi Viên/ Còn bao nhiêu ác mộng ?" (Lệ Chi Viên). "Phật trời từ thuở lên ngôi/ Hình như quên mất nỗi đời bất công/ Mất còn, sống chết, sắc không.../ Sự đời phó mặc vô thường phải chăng ?!" (Hỏi). "Sông khi bồi, khi lở/ Hồ lúc nông, lúc sâu/ Vạn vật rồi hưng phế/ Cuộc đời rồi bể dâu.../ Vẫn hiểu là quy luật/ Mà sao còn nhói đau ?" (Quy luật). "Phật đã dạy ngàn lần trung hậu/ Sao còn phục dưới vườn hoa ?" (Gởi rắn). "Cửa xẻ, lửa reo, cây đổ.../ Tượng nhà mồ hốt hoảng/ Xe kéo, xe câu... gỗ về đâu ?/ Dã quỳ ngơ ngác/ Suối trơ xương đêm trường im tiếng hát/ Hoảng hoạn chim rừng rã cánh canh thâu.../ Ta làm gì cho thế hệ mai sau ?" (Chuyện rừng). "Nhẹ bước hoàng hôn/ Bạn cùng hoa bướm/ Hình như còn vướng/ Cuộc đời quắt quay ?" (Vướng ?)...
Tóm lại, đọc tập thơ "Đủng đỉnh trăng về" của nhà thơ Trần Phố, thấy thơ anh mang hơi hướng cổ điển, phảng phất ý vị triết luận mà anh học được từ các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... trong văn chương trung đại Việt Nam. Chính màu sắc triết luận đã làm cho nhiều bài thơ trong thi tập giàu ý tứ, sâu sắc về tư tưởng. Nhìn chung, tính triết luận trong thơ Trần Phố phần lớn tan hòa, kết hợp nhuần nhị với thế giới cảm xúc đậm chất trữ tình. Nhờ đó, vẻ đẹp nhân văn được phóng chiếu; niềm vui thong dong, nụ cười đôn hậu và niềm tin yêu vào cuộc sống vẫn tỏa sáng lung linh xuyên suốt 62 bài thơ súc tích, ngân lên từ trái tim thấm nỗi tình đời.
                                                                                    Buôn Hồ, tháng 12.2018