Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

NGHỆ THUẬT LÀM NÊU CỦA NGƯỜI M’NÔNG TRONG SỬ THI “LÊNG ĐI LÀM NÊU” tác giả TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ: 324 tháng 8 năm 2019





Sử thi “Lêng đi làm nêu” là một trong những sử thi độc đáo nằm trong bộ sử thi liên hoàn đồ sộ của người M’nông. Sử thi kể rằng: Bon Tiăng con Kop cùng chung bà tổ với bon Tiăng con Rõng, là một bon giàu có nhất vùng. Một hôm, Tiăng con Kop gọi hai em Ting, Mbong đến và bảo: Đàn ếch ta nuôi đã lớn, suối cá ta nuôi đã nhiều, đàn trâu bò ta nuôi đã to béo, nó sinh con đẻ cháu đầy bãi trước, chật bãi sau, nay ta phải làm lễ cúng thần để tạ ơn. Một con cá, một con ếch ta muốn đãi nhiều người. Một nồi cơm ta muốn mời trăm khách. Một con trâu ta muốn mời ngàn khách. Do vậy ta muốn làm lễ ăn trâu để cúng sức khỏe. Ta giao cho hai em đi đến bon Tiăng con Rõng mời anh em họ hàng đến đây dự lễ ăn trâu. Nghe anh Tiăng con Kop nói vậy, hai chàng Ting và Mbong lên đường đi ngay.
Ở nhà, Tiăng con Kop giao cho cậu bé Lêng con Rung mới được năm mùa rẫy đi vào rừng chặt đá làm cây nêu. Lêng tha chiếc rìu lớn hơn đầu mình đi vào rừng. Lêng đi đến suối Klong Srung, Klong Bông rồi cầm rìu chặt đá. Lêng cố gắng vung rìu lên chặt đá, nhưng đá vẫn trơ như không. Lêng vung rìu lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng đá vẫn không hề gì. Lúc này mồ hôi Lêng vã ra như tắm. Lêng vừa đói vừa khát, vừa mệt, vừa kiệt sức. Cậu ta thở hổn hển như heo bị chọc tiết, cố sức bò lại gốc cây đa dựa lưng vào thân cây rồi lịm dần.
Ba ngày sau, hai nữ thần Bing, Jông con Vach đi ra suối tắm. Vừa đến bờ suối, hai thần đã thấy một cậu bé chết còng queo bên gốc đa. Hai thần hoảng hốt chạy về báo cho hai anh mình biết. Hai thần Yung, Jrêng vội vàng chạy ra bờ suối thì thấy một cậu bé nằm còng queo bên gốc cây đa. Thần Yung liền lấy củ ngải thần ra nhai kỹ rồi thổi vào người Lêng. Một lúc sau Lêng đã cử động chân tay và từ từ mở mắt ra. Cậu bé ngồi dậy nhìn mọi người thấy toàn là người lạ định bỏ chạy. Nhưng thần Yung nhanh tay giữ lại và hỏi: Em là ai, từ bon nào đến đây? Tại sao chết ở nơi này?
Lêng liền nói: Các anh hãy nói tên tuổi, bon làng trước thì em mới nói sau!
Thần Yung nói: Anh là thần Yung con Vach. Còn đây là thần Jrêng, thần Bing, Jong con Vach, cùng họ với Ting con Bong và Tiăng con Rõng.
Nghe thần Yung con Vach nói vậy, Lêng liền thưa: Em là Lêng con Rung, là em của Tiăng, và Yang con Rõng, con cháu mẹ Bong, cùng dòng họ với các  anh. Đầu mùa rẫy năm ngoái, Tiăng con Kop đến nhà anh Tiăng con Rõng xin em về để làm cây nêu cho lễ ăn trâu cúng sức khỏe. Em mới năm mùa rẫy, nhưng anh Tiăng con Kop vẫn bắt em tha chiếc rìu to và nặng đi vào suối Klong Srung, Klong Bong chặt đá làm cây nêu. Đến đây em vung rìu chặt đá rồi kiệt sức và nằm ngủ luôn. Bây giờ em không làm được nêu, em về nhà Tiăng con Kop sẽ đánh em. Em nhờ các anh giúp em làm nêu có được không?
Thần Yung nghe Lêng nói vậy liền nói: Các anh cũng chưa làm nêu bao giờ, nhưng thử làm giúp em. Rồi tự nhiên những cái rìu hiện ra, các thần Yung, Jrêng, Bing, Jông cầm rìu đẽo đá làm nêu. Một lúc sau cây nêu đá đã được làm xong. Cây nêu cao tận trời tỏa ánh sáng cả một vùng. Cây nêu có khắc hình người ở giữa. Hình người giống nàng Bing con Kop.
Bên trái hình người có khắc hoa
Bên phải hình người có khắc hoa
Tiếng nhạc nêu vang khắp rừng núi
Tiếng nhạc nêu vang khắp mọi vùng.
Làm nêu xong thần Yung, thần Jrêng giao cho Lêng. Lêng nhận nêu vui sướng, cúi đầu cảm tạ các thần. Một lúc sau Lêng nói: Em còn nhỏ không mang nổi cây nêu này, nhờ các thần thổi cho em to lớn, khỏe mạnh để mang nêu về. Thần Yung nghe Lêng nói liền lấy củ ngải thần giã nát cho Lêng uống. Vừa uống xong Lêng đã trở thành một dũng sĩ cao lớn như người khổng lồ. Hai thần còn truyền cho Lêng có phép thần để thu cây nêu lại nhỏ bằng nắm tay và giấu trong bụng. Lêng thu người nhỏ lại như cũ. Làm xong mọi việc, Lêng chia tay các thần rồi chặt một cây gòn trơn kéo về nhà.
Về đến nhà, Tiăng con Kop hỏi Lêng cây nêu đâu rồi. Lêng trả lời: em chặt đá không vỡ, nên không làm nêu được. Em đành chặt cây gòn gai mang về cho các anh làm nêu vậy. Tiăng tức giận quắc mắt nhìn Lêng, chửi mắng Lêng thậm tệ. Đến ngày lễ, anh em Tiăng con Kop đành chôn cây gòn gai của Lêng mang về làm nêu. Rồi họ làm lễ buộc trâu vào gốc nêu:
Bên ba, bên ba họ cột trâu mẹ
Bên ba, bên năm trâu đực ở giữa
Bên năm, bên mười trâu Dăm Bri ở giữa.
Sau đó họ bưng ra hàng trăm ché rượu ngon để cúng yàng. Lúc này các đoàn khách bon con Rõng, bon Bu M’Biat, Bu R’Đê, Bu R’Ông, Bu Siêng… lần lượt mang rượu, mang heo, mang trâu đến mừng lễ hội của bon con Kop. Chủ nhà và các đoàn khách cùng nhau diễn tấu cồng chiêng, vừa đi vừa múa hát xung quanh cây nêu. Một lúc sau họ cùng nhau ăn uống vui vẻ cho đến khuya.
Lúc này, Lêng nhớ lời dặn của thần Yung: “Chờ đêm tối, mọi người ngủ say thì em mới ra sân dựng nêu thần.” Thế rồi Lêng lấy củ ngải ra nhai kỹ và phun khắp nhà. Lúc này mọi người đã ngủ lại càng ngủ say hơn. Làm xong Lêng bước ra sân đập tay vào đùi mình, bỗng nhiên cây nêu thần mọc lên ngay giữa sân tỏa ánh sáng rực rỡ: “Tiếng nhạc nêu vang lên từ đồng cỏ. Tiếng nhạc nêu vang lên từ cánh đồng. Nêu tượng người dựng ngay trước nhà. Nêu cao vút tỏa sáng cả vùng trời. Nêu dựng lên sáng hơn ban ngày. Nêu khắc hoa văn không thể nào chê. Khắc hình tép, đàn tép biết bò. Khắc hình cua, đàn cua biết đi. Khắc hình chim, đàn chim biết hót. Khắc hình người giống hệt nàng Bing con Kop. Đôi chân nàng như có ai đẽo. Mái tóc nàng như có ai cắt. Nàng đeo xâu cườm uốn cong như cần rượu. Tượng gỗ hình người có thể nói được. Tượng gỗ hình người có thể cười được. Tượng gỗ tình người có thể hát được.
                Gió thổi nhẹ cành nêu đã rung
               Những hoa bạc, hoa vàng cây nêu ngân vang.”
Nhạc cây nêu vang khắp núi rừng, nó vang đến các bon làng gần xa làm cho người dân các bon này không ngủ được. Họ trèo lên ngọn đa xem thì thấy bon con Kop có cây nêu sáng rực, tiếng nhạc nêu ngân vang nghe thật vui tai. Họ thán phục bon con Kop làm được cây nêu này và khao khát có được cây nêu như bon con Kop.
Lúc này Tiăng, Ting, Mbong con Kop thức dậy, họ bước ra ngoài sân và thấy cây nêu đá thần kỳ đã dựng sừng sững giữa sân, tỏa ánh sáng rực rỡ đủ màu sắc, tiếng nhạc nêu du dương trầm bổng ngân vang khắp núi rừng. Họ gọi Lêng dậy xin lỗi vì đã mắng oan em. Rồi Tiăng con Kop sai con cháu mang ra hàng trăm ché rượu, thui con bò to béo làm lễ cúng thần linh đã phù hộ cho bon con Kop làm được cây nêu thần bằng đá, có nhạc, có ánh sáng, có chim hót, có hình người biết nói mà xưa nay chưa bon nào có được.
Sử thi “Lêng đi làm nêu” là một sử thi đẹp. Nó phản ánh nghệ thuật làm nêu của người M’nông cổ đại; đồng thời ca ngợi những con người có bàn tay vàng đã làm nên cây nêu thần kỳ. Bên cạnh đó sử thi còn ca ngợi tình yêu thương, đùm bọc của con người. Đó là hình tượng các vị thần Yung, Jrêng con Vach. Họ đã cứu sống em Lêng và giúp Lêng làm cây nêu đá thần kỳ cho bon con Kop mà không bon làng nào sánh được. Ngôn ngữ sử thi theo dòng thơ dân gian, gần gũi với nhịp điệu dân ca của người M’nông, như Nau Mpring (hát giao duyên), Ốt M’pơ (hát đối đáp), Jo nau Nheng (hát vui), Tăm hôr (hát đố)… giàu hình tượng, giàu chất huyền thoại làm cho người nghe bị lôi cuốn, dễ nhớ, dễ lưu truyền. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của văn hóa đương đại, ảnh hưởng mặt trái kinh tế thị trường, ảnh hưởng của đô thị hóa nông thôn, nên sử thi M’nông nói riêng và sử thi các tộc người bản địa ở Tây Nguyên nói chung đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy vậy những giá trị đích thực của nó vẫn sống mãi trong đời sống cộng đồng.


Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

ĐẶT TÊN CHO TÁC PHẨM ẢNH tác giả HOÀI AN - CHƯ YANG SIN SỐ: 324 tháng 8 năm 2019

 

Trao đổi về nhiếp ảnh - bài 3


  

Với tác phẩm ảnh báo chí khi đăng báo người ta phải ghi chú thích. Chú thích ảnh nhằm cung cấp thêm các thông tin mà hình ảnh chưa thể hiện. Ví dụ bức ảnh chụp cảnh nông dân đang cấy lúa bằng máy trên đồng ruộng, thì hình ảnh chụp không thể nào thể hiện được các nội dung: Ở đâu? Thời gian nào? Giống lúa mới hay cũ? Bao nhiêu phần trăm diện tích được cấy bằng máy? Tiến độ nhanh hay chậm so với các năm trước?... Vì vậy chú thích phải làm nhiệm vụ thông tin các nội dung trên; có như vậy người xem ảnh mới nắm được đầy đủ thông tin của bức ảnh; bức ảnh mới hội đủ điều kiện của một tác phẩm báo chí độc lập.
Với tác phẩm ảnh nghệ thuật trước khi được gửi đến tòa soạn để đăng báo, hoặc gửi triển lãm, dự thi, tác giả phải đặt tên cho bức ảnh. Đấy cũng là một hình thức khai sinh cho đứa con tinh thần mà người nghệ sĩ đã ấp ủ, “mang nặng đẻ đau” (bởi quá trình đi thực tế dầm mưa, giãi nắng tìm người, cảnh vật, đón, đợi khoảnh khắc, xử lý hậu kỳ...). Điều khác biệt trong đặt tên cho tác phẩm ảnh nghệ thuật là: Yêu cầu thông tin về bức ảnh chỉ là thứ yếu, trong nhiều trường hợp là không cần thiết; yêu cầu chính là phải gợi được cảm xúc thẩm mỹ cho người thưởng ngoạn, gợi được những điều sâu sắc ẩn chứa sau màu sắc, đường nét, hành động của nhân vật trong ảnh, nếu không có tên ảnh người thưởng ngoạn sẽ khó nhận biết hơn. Do đó, đặt tên cho tác phẩm ảnh nghệ thuật phải có tính văn học, phải thoát ra khỏi nghĩa đen thông thường mà hình ảnh đã thể hiện. Cũng vì thế đặt tên cho tác phẩm ảnh nghệ thuật không hề là công việc dễ dàng, buộc tác giả phải huy động trí tưởng tượng cao, suy nghĩ thận trọng, kỹ lượng trên nền cảm xúc thực sự của tâm hồn tác giả khi bấm máy. Bởi vậy có người nói: Việc đặt tên cho bức ảnh cũng giống như nhà thơ tìm tứ thơ (đối chiếu với tên ảnh “Mặt trời của mẹ” của Vũ Khánh - giải nhất cuộc thi ảnh Trẻ em Việt Nam và mối quan tâm của chúng ta (1991), chụp một bà mẹ trẻ người dân tộc thiểu số địu trên lưng đứa con của mình, khuôn mặt cháu tròn trĩnh đầy vẻ hớn hở; người mẹ khẽ quay đầu nhìn về đứa con với ánh mắt, nụ cười thể hiện niềm vui và sự tự hào về đứa con của mình... thì cách ví von trên hoàn toàn đúng; với bức ảnh đó sẽ chẳng có cái tên nào khác hay hơn). Cũng vì thế rất nhiều người phải lao tâm khổ tứ suy nghĩ nhiều ngày đêm, tham khảo ý kiến nhiều người để tìm một cái tên cho bức ảnh của mình.
Thế nhưng trong thực tế hiện nay ta thấy bên cạnh những người rất chịu “đầu tư” cho việc đặt tên đứa con tinh thần của mình, lại cũng có nhiều người quá ư dễ dãi. Những người này xuất phát từ quan niệm đơn giản “Tên ảnh thì thế nào chẳng được, điều quan trọng là chụp sao cho đẹp”, nên những người này thường không dành nhiều thời gian, công sức cho việc suy nghĩ đặt tên tác phẩm...  Chụp ảnh đàn cò đang bay, nhảy, chao lượn trên cánh đồng làng khá đẹp, một NSNA đặt tên là Đàn cò trên cánh đồng(1). Chụp ảnh cà phê đang nở trắng cả một vùng đồi, một NSNA đặt tên ảnh là Hoa cà phê (2)... Đây là những cách đặt tên theo đúng nghĩa đen mà hình ảnh đã thể hiện, không gợi, không nói thêm được điều gì cho bức ảnh, 100 % từ ngữ trong các tên ảnh trên là thừa. Với bức ảnh (1), nhìn vào người ta thấy ngay đàn cò đang ở trên cánh đồng, không cần cái tên ảnh đó người ta vẫn biết. Đặt tên như thế khiến người xem suy luận: “Ông này may mắn thấy cảnh đàn cò đèm đẹp thì chụp chứ chẳng có cảm xúc, suy nghĩ gì sâu sắc gì cả”. Giá như từ hình ảnh quần tụ đông đúc, chao lượn đùa vui trên cánh đồng của đàn cò, khi bấm máy tác giả đã có cảm xúc về  sự thanh bình của đồng quê, hoặc cảm xúc về một vùng quê có môi trường thiên nhiên tốt, sinh cảnh được chăm sóc bảo vệ, không bị săn bắn phá hoại, hoặc là cảm xúc về sự sum vầy đầm ấm, vui vẻ, hạnh phúc của cuộc sống... thì nhất định sẽ có những tên ảnh khác gợi được những cảm xúc nhân văn, sâu sắc cho người xem. Với bức ảnh (2) cũng vậy, nhìn vào ảnh người ta biết ngay đó là hoa cà phê mà chẳng cần tên ảnh. Người nghệ sĩ khi bấm máy nếu có cảm xúc thực sự trước màu hoa cà phê nở trắng, hương thơm ngan ngát cả một vùng, nếu có những suy nghĩ sâu sắc về sự thay đổi của một vùng đất đỏ ba dan (xưa, đây là rừng hoang, nay bát ngát cà phê); hoặc từ màu hoa đẹp, từ hương thơm quyến rũ đó, người chụp nghĩ ngay đến một sản phẩm du lịch mới của vùng đất này... thì nhất định tên ảnh sẽ phải khác hoàn toàn với nghĩa đen vốn có mà tác giả đã thừa công gắn cho nó. Từ quan niệm đặt tên ảnh dễ dãi đó đã đẻ ra hàng loạt tác phẩm có tên ảnh giống nhau, ví như Buổi sáng, Nắng chiều, Vũ Điệu, Nhịp điệu, Đôi mắt, Thời gian, Tuổi xuân... Người đầu tiên nghĩ ra những cái tên ảnh như thế có thể là hay, là phù hợp với hình ảnh đã chụp, nhưng những người đi sau cũng đặt lại tên tác phẩm của mình như thế là bắt chước, là sáo mòn, là dễ dãi với chính đứa con tinh thần của mình.
Trong quá trình biên tập ảnh để in báo chúng tôi còn bắt gặp một số cách đặt tên ảnh khác rất đại ngôn, khoa trương, hoặc tỏ ra minh triết cao siêu để gắn cho một bức ảnh tù mù về nội dung, không biết đâu là chủ đề, đâu là nội dung chính của bức ảnh (chúng tôi sẽ trao đổi về những cách đặt tên ảnh như thế trong một dịp khác).

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

KHÔNG EM NHƯNG VẪN HÁT lời bình của HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ: 324 tháng 8 năm 2019







(Đọc Tôi hát về ngày không em –
Thơ Bùi Minh Vũ – NXB Hội Nhà văn – 2018)



Quê hương không có chân nhưng có mắt
Nhìn rõ mặt ai cắn vào quê hương ăn quê hương
Vò xé linh hồn quê hương.
Đó là mấy câu thơ trong bài Quê hương yêu thương. Cứ tưởng thơ Bùi Minh Vũ phiêu du trong tình trường, thế mà lại nặng tình quê hương như vậy. Không có chân nên chẳng đi đâu, cứ tồn tại vĩnh hằng ở đó. Có mắt nên nhìn rõ kẻ: cắn, ăn, vò xé – những động từ mạnh, liên tiếp lên án những kẻ đổi quê hương lấy vàng, đô la đã và đang diễn ra ở nhiều nơi.
Liền mạch quê hương có bài Cánh diều:
Ngôi biệt thự
Mọc trên cánh đồng
Làm đứt cánh diều trẻ thơ.
Chỉ vỏn vẹn mười ba âm tiết nhưng nhiều điều được gợi ra. Cái ngôi biệt thự ở trên cánh đồng, thu hẹp lại khoảng trời xanh vui chơi của trẻ thơ. Đứt cánh diều cũng là xóa đi ước mơ, hy vọng bay cao của lớp trẻ quê hương.
Có một bài cực ngắn, chỉ có hai dòng:
Bia chảy lênh láng xuống nền nhà
Đồng tiền nằm khóc
                                                                        Đồng tiền
Người đọc có thể cảm nhận tâm trạng của tác giả chất chứa ẩn ức qua hình ảnh đối lập: Bia lênh láng – tiền nằm khóc. Bia cứ chảy tràn xuống nền nhà thì đồng tiền bất chính kia chính là máu, nước mắt, mồ hôi của dân đóng góp. Tiền do lao động chân chính mà có không lãng phí thế.
Một hôm cây đổ
Tiếng khóc vọng quanh
Giai điệu cắt tiết
Như cái đầu rơi trên sa mạc
                                                                        Ngọn lửa
Nạn phá rừng tiếp diễn. Cây còn đổ là còn tiếng khóc của rừng. Nhưng so sánh: Giai điệu cắt tiết thì chưa ai viết. Tiếng máy cưa gầm rít đúng là cắt tiết rừng. Đầu rơi trên sa mạc càng mau chóng cạn kiệt máu, sự tàn khốc đẩy lên cực điểm. Kết thúc bài thơ, Bùi Minh Vũ láy lại câu mở đầu và nâng lên cảm xúc:
Một hôm cây đổ
Tiếng khóc vọng quanh
Khắc lên trời xanh
Ngọn lửa.
Bài Lời thẳm sâu là sự đồng cảm, sẻ chia với những cô gái dứt áo ra đi, thương phận nghèo của mẹ, lại bị thiên tai hung dữ mà chẳng làm được gì cho mẹ:
Em quẳng gánh ra đi nước mắt nhỏ trên vai
Ướt nhòe đời mẹ...
Nhỏ xuống ngàn lời thẳm sâu
Trong không gian bồng bềnh mùa nước lũ.
Quẳng gánh – tưởng dứt khoát mà dùng dằng vì nước mắt còn ướt nhòe đời mẹ nên mới có ngàn lời thẳm sâu từ trong tâm khảm.
Hạt bắp nếp trên đường
Chẳng ai thấy
Như gương mặt bỏ quên.
                                                                        Hạt bắp
Hạt bắp nếp thì dẻo thơm, đáng quý nhưng vô tình lại bị bỏ quên. Nhiều người, cả nam và nữ cũng như hạt bắp bị quên lãng giữa cuộc đời tấp nập.
Em mang theo chiếc áo rách thời gian
Vá bằng âm thanh
Tru tréo.
                                                                        Vắng mặt nhau
Đã xa nhau, thời gian qua đi, áo rách là giả định. Nhưng vá bằng âm thanh làm lạ hóa cho thơ. Chẳng còn dịu êm mà tru tréo. Dẫn đến cái kết:
Vắng mặt nhau
Những bài thơ tình
Chẳng còn ngọt ngào để phổ nhạc ru con.
Cái kết buồn, dư vọng một cuộc tình không trọn vẹn.
Thơ Bùi Minh Vũ nhiều bài ngắn chỉ có ba dòng nhưng lại mang tính triết lý:
Người câm
Trái tim biết nói
Người nói trái tim câm
                                                                        Trái tim
So sánh đối nghịch giữa miệng và tim, giữa nói thành lời và sự im lặng đáng quý.
Mùa xuân
Không bao giờ trần truồng
Vì có hương hoa che kín.
                                                                        Mùa xuân
Cái đẹp thực sự chỉ được phủ che bằng sự tao nhã, thanh khiết như hương hoa bao bọc mùa xuân.
Bài Tôi hát về ngày không em được lấy tên chung cho tập sách dài tới 33 đoạn (hoặc gọi là 33 bài cũng được). Những cung bậc cảm xúc của tình yêu được phản ánh, có giận hờn, tan vỡ, chia ly, tiếc nuối. Không em nhưng vẫn hát:
Tôi hát về ngày không em
Tiếng đàn đêm
Rót vào tôi mềm nhũn
Tôi hát về ngày không em
Trăng vỗ tay bần thần
Quên nhặt những vì sao rụng muộn.
Đoạn thơ trên có chút mông lung, phiêu bồng trong hư ảo, không gian đồng cảm với người. Trăng bần thần, quên nhặt những vì sao rụng muộn khi không có em.
Bùi Minh Vũ viết khỏe, nhiều thể loại, có điều kiện in ấn nên đã cho ra mắt hàng chục đầu sách. Thật đáng mừng!
Riêng tôi chú ý đến Vũ mảng nghiên cứu phê bình. Khi tôi làm chủ nhiệm đề tài khoa học: Tổng tập Văn học Đắk Lắk, tôi đã để Vũ viết phần văn học thời kỳ cách mạng và kháng chiến 1945-1975 (Trương Bi viết phần văn học dân gian, Khôi Nguyên viết phần từ sau 1975). Vũ đã hoàn thành phần việc của mình, sau này có sửa chữa, bổ sung, được đưa vào Địa chí Đắk Lắk.
Quay lại với tập thơ, cái đọng lại là tình yêu day dứt, có cả lãng mạn, bồi hồi, lo lắng. Có tình với quê hương mùa lũ mà đồng cảm. Có cả triết lý dù chưa thật thành công.
Cả tập thơ là thơ tự do, tùy hứng. Vắng bóng hoàn toàn các thể thơ truyền thống. Thơ
Bùi Minh Vũ khó đọc và kén người đọc.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

“NGƯỜI KIÊN CƯỜNG”- NỒNG ĐƯỢM TÌNH ĐỒNG ĐỘI lời bình của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ: 324 tháng 8 năm 2019


  






(Nhân đọc tập ký : “Người Kiên Cường” - NXBQĐND-2018)



Nguyễn Liên không chỉ viết ký mà anh còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn  thậm chí anh còn làm họa sĩ trang trí sân khấu, viết kịch bản phim, phóng sự có thời gian làm truyền hình nữa. Anh quả là người năng động và sung sức.
Tập ký: “Người Kiên Cường” là tập sách được NXBQĐND ấn hành vào tháng 6 năm 2018. Đây là tập ký thứ ba, trước đó anh đã cho ra mắt hai tập: “Xôn xao lòng rừng” do Nhà xuất bản VHDT ấn hành năm 2004 và “Cửa Hà dòng sông Gấm” do NXB Văn học ấn hành năm 2008. Vừa ra mắt, tập ký này đã tạo được sự chú ý của bạn đọc bởi nó làm rất tốt chức năng cơ bản của văn học nghệ thuật đó là chức năng  giáo dục tư tưởng, dựng xây phẩm chất, nhân cách con người.
Trong tập ký, Nguyễn Liên dựng lên mười bốn bức chân dung, có bức chân dung là vị tướng, có bức chân dung là cựu chiến binh, có bức chân dung là Anh hùng lực lượng vũ trang, có bức chân dung là  một tập thể chiến sỹ hy sinh vì nước, có bức chân dung là cả tập thể người dân rất đỗi bình thường. Nghĩa là đối tượng phản ánh của Nguyễn Liên đa dạng, phong phú. Mười bốn bức chân dung ấy mỗi bức chân dung có một vẻ đẹp khác nhau nhưng đều có một vẻ đẹp sáng nhất đó là: khát khao độc lập dân tộc, khát khao cho dân hạnh phúc, ấm no, an lành. Mười bốn bức chân dung ấy đều có một đặc điểm chung nổi bật đó là: dũng cảm, thông minh, mưu trí, nghị lực phi thường. Mười bốn bức chân dung ấy đều có một trái tim lớn: nồng ấm tính nhân văn sâu sắc và tấm lòng cao cả.
Lật mở từng trang trong tập ký, người đọc trước hết cảm phục tư cách làm người của họ. Họ giản dị, mộc mạc, chân thành và trong sáng vô cùng. Dù là tướng, là chỉ huy, thủ trưởng hay là lính nhưng không có lằn ranh ngăn cách. Họ tôn trọng yêu thương cả đối thủ một mất một còn của mình khi đối thủ đã thảm bại. Còn nhớ, tác giả trực tiếp kể tôi nghe một sự việc rất nhỏ về Trung tướng Khuất Duy Tiến khi ông chỉ huy trận đánh với Lữ đoàn dù 3 ngụy quân tại cao điểm 1015, phía địch gọi là căn cứ Sác-ly nằm ở bờ tây sông Pô-Cô (Ngọc Hồi-Kon Tum). Đó là vào tháng 4 năm 1972, trận đánh ấy diễn ra vô cùng ác liệt và cam go song cuối cùng ta chiến thắng và bắt sống được tên Lữ đoàn trưởng – Đại tá Nguyễn Văn Thọ. Khi cấp dưới giải tên Lữ đoàn trưởng lên báo cáo với tướng Khuất Duy Tiến (khi ấy ông là Trung đoàn Trưởng trung đoàn 64). Cử chỉ đầu tiên của ông là đỡ Thọ ngồi xuống và hỏi có đói và sợ không rồi ông lấy sữa bột pha cho Thọ uống với vẻ mặt rất thân tình. Tôi rất tiếc khi chi tiết này lại không có trong bài ký viết về tướng Khuất Duy Tiến – bài: “Những người một thời với Tây Nguyên”. Một chi tiết nhỏ nữa cũng vô cùng cảm động về lòng nhân ái của Đại tá Chính ủy Đinh Hữu Tấn. Đó là trưa ngày 18 tháng 3 năm 1975 đang trên đường làm nhiệm vụ, ở ven đường có đám đông  nhốn nháo, một cụ già chừng 80 tuổi đói lả, Chính ủy liền bảo dừng xe và lấy sữa đưa cụ uống, chính ủy còn khuyên mọi người hãy trở về nhà làm ăn sinh sống bình thường, bộ đội cách mạng cũng là dân nên không phải sợ và ông ra lệnh cho bộ đội khuân những bao gạo trên xe xuống phát cho dân (Ký ức tháng ba). Những chi tiết như thế tưởng là nhỏ nhưng tôi lại đánh giá rất cao vì chính những chi tiết nhỏ ấy mới là những chi tiết lột tả được bản chất của đối tượng cần biểu hiện.
Tập ký: “Người Kiên Cường” chỉ gói gọn chưa đến 200 trang sách (khổ 13x19) nhưng đựng chứa trong đó rất nhiều điều. Có thể nói rằng đối tượng đọc của  tập ký rất đa dạng phù hợp cho mọi giới, mọi thành phần. Với người nhiều tuổi sẽ đem lại niềm vui với  lòng tự hào về  truyền thống đấu tranh cách mạng, với thanh thiếu niên đó là niềm khao khát tự vươn lên để trở thành người có ích cho cuộc sống, với các em đang ngồi trên ghế nhà trường khi đọc tập ký này như là một lần thử thách ý chí, nghị lực và hơn hết là giáo dục truyền thống cách mạng của cha ông, giáo dục nhân cách làm người, giáo dục lý tưởng sống đúng đắn và đẹp đẽ. Mười bốn bức chân dung trong tập ký là mười bốn tấm gương để người đọc soi vào mà ngẫm nghĩ suy tư về cha ông, về dân tộc, về lịch sử oai hùng của quân dân ta. Tôi tin rằng nếu ai đó đã đọc dù chỉ một lần thôi cũng tự rút ra cho mình điều gì đó bổ ích. Đó là sự thành công của tập ký mà Nguyễn Liên đem đến cho người đọc.
Không gian-thời gian trong tập ký: “Người Kiên Cường” là không gian thời gian thực nhưng thay đổi liên tục theo mạch kể của từng câu chuyện. Đây cũng là một yếu tố làm nên sự hấp dẫn của tập ký. Không gian được trải khắp các vùng của Tây Nguyên. Khi ở cao nguyên Đắk Lắk người đọc được gặp tướng Y Blôk Êban, từ một anh lính khố xanh đã phấn đấu không ngừng để trở thành một vị tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam với tài bắn ná có một không hai (Cây kơ-nia vẫn thẳng). Về bản làng Đắk Nông, tác giả cho người đọc gặp đại tá Niê Kdam Sok với những suy tư trăn trở tại sao đồng bào của ông không thoát ra được tư tưởng cố hữu của người nông dân miền núi, ỷ lại tiềm năng của núi rừng, làm đâu ăn đó, nhà cửa tạm bợ (Già làng bon Blăn). Tới sông suối Kon Tum người đọc không thể quên tướng A Sang, một người mang đậm chất của núi rừng Dăk Glei tận nơi thượng nguồn dòng Pô Cô (Lão tướng Giẻ Triêng). Ghé thăm sông núi của Gia Lai người đọc cảm phục, tự hào mảnh đất anh hùng Krông Pa đã sinh ra các anh hùng trong đó có một người con dân tộc Gia Rai, thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Rơ Ô Cheo với những chiến tích lẫy lừng trong từng trận đánh (Người cưỡi ngựa trắng). Đến nước non Lâm Đồng tác giả cho chúng ta gặp thiếu tướng Phạm Văn Kha với sự giản dị, mộc mạc đến không ngờ, vẫn phảng phất đâu đó nét chất phác, đôn hậu của một ông già nông dân vùng đồng bằng sông Hồng - Bắc Bộ. Và còn nhiều, nhiều nữa… Người đọc không thể không nghiêng mình cảm phục, yêu kính họ.
Người viết ký đi nhiều, cẩn thận từng số liệu, tỉ mỉ từng chi tiết, sự việc bởi ký tôn trọng sự thật, không có yếu tố hư cấu, Nguyễn Liên đã làm được điều này. Anh không làm công việc của người viết thống kê. Anh không thuần túy đưa các số liệu, sự việc… theo kiểu liệt kê, trình bày mà anh biết cách chêm xen theo mạch kể cho phù hợp nên tạo được giọng riêng của mình. Có người cho rằng ký trước hết là thực tế cuộc sống. Đúng song chưa đủ, đó mới chỉ là điều kiện cần, để đủ và hoàn chỉnh; người viết ký phải từ cái thực tế cuộc sống ấy mà làm cho sự thật sáng lấp lánh lên, cái sự thật ấy là cốt lõi của ký. Như vậy nhiều khi sự việc xảy ra trong thực tế cuộc sống nó vẫn chưa phải là sự thật khách quan, nó mới chỉ là chất liệu ban đầu, tạo tiền đề cho nhà văn thâm nhập, chuyển hóa vào đối tượng mình cần biểu hiện. Việc khai thác tâm trạng nhân vât để bật nổi cá tính mà vẫn không hư cấu đó là cái khó đối với người viết ký nhưng trong một số bài ký Nguyễn Liên đã làm được đó lại là một thành công nữa của anh trong tập ký này. Đương nhiên có bài còn sơ lược, cần đầu tư kĩ lưỡng hơn.
Văn phong trong tập ký là văn phong của một người lính thực thụ: giản dị, bộc trực, thẳng thắn, chân thành không ám chỉ, vòng vo. Có được điều này hẳn Nguyễn Liên đã từng luồn rừng, mai phục, ém quân, bám địch, điều nghiên, trinh sát… sống chết trong gang tấc với đồng đội nên văn của anh là văn của những giọt mồ hôi đổ xuống từng quãng đường anh đã đi qua, là văn của chi tiết, sự việc, số liệu còn tươi ròng sự sống. Mỗi trang viết của anh là một trải nghiệm, là một nghĩa cử ân tình nồng đượm với đồng đội, thời gian sẽ qua nhưng ân tình còn vương đọng mãi trong lòng mọi người.