Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

MỘT TRĂM NĂM KHÔNG CÔ ĐƠN CỦA PHỐ NÚI... (2) tác giả LÊ VĨNH TÀI - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

 

TAC-LAC VÀ DARLAC?

Cao nguyên Darlac được gọi tên vào năm 1892 khi BS Yersin thực hiện cuộc thám hiểm lần thứ hai của ông. Vĩ nhân Yersin trong chuyến này đã đi từ Nha Trang sang Stung Treng, và băng ngang qua cao nguyên Darlac ở vùng Hồ Lak bây giờ. "Người bản địa" lúc đầu mà ông gặp có lẽ là người M' Nông chứ không phải người Rhadé?

Những huyền thoại tên gọi…

Người M'Nông Gar sống chủ yếu ở vùng Huyện Lăk, xung quanh hồ Lăk thuộc tỉnh Đăk Lăk và vùng Tây Bắc của tỉnh Lâm Đồng. Tiếng M'Nông Gar là ngôn ngữ gốc của dân tộc M'Nông vì ít bị "hòa" bởi các ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Đắk Lắk hay Darlac (theo tiếng M'nông = Dak Lak [da#k la#k] (kéo dài, mềm đi và phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với Dak nghĩa là "nước" hay "hồ", như trong tiếng Việt là nước/nác.)

Từ DAK có những từ tương đồng như Dar, đạ, đà... Các từ này tương ứng với các từ chỉ "nơi chốn" như Đà Nẵng, Đà Lạt, Đạ Tẻn, Đak Hà .v..v... Từ Dak = Dar = Đạ = Đà... còn có nghĩa như "một vùng đất" là do có nguồn gốc xuất phát từ cách gọi của quốc gia Chăm Pa cổ xưa. Và bản thân từ Dar = dak = Đạ = Đà cũng còn có thêm một nghĩa khác là "nước". Do đó "nước" ở đây không chỉ để nói về "nước để uống" hay "nước dùng sinh hoạt", mà "nước" ở đây còn để nói về một "đất nước", một "vùng lãnh thổ", một dạng tiểu quốc. Vì các nhà nghiên cứu cũng cho rằng Champa xưa đã quản lí đất nước mình bằng các tiểu quốc như các bang trong các liên bang thời nay.

Mở ngoặc một chút:

Trong tiếng Việt hiện nay cũng hay dùng "nước" (nước Anh, nước Pháp...) để nói về "đất nước", trong khi tiếng Anh lại dùng "land/đất" để nói về "đất nước", ví dụ như my native land = đất nước / quê hương tôi.

Do đó mà từng đã có lần người ta cãi nhau về “Sông núi trên vai” và “Mountains and rivers on the shoulder”, vì thực ra dịch vậy không có gì sai, nhưng có điều bên Âu Mỹ người ta không dùng "sông núi" hay "núi sông" chỉ về Đất Nước mà dùng "land/đất, và có chữ “đất” thì người ta mới hiểu đó là tổ quốc, quê hương... Do đó, nếu ở Việt Nam thì sông núi (là tổ quốc) đang oằn lên vai các nhà thơ, theo kiểu "gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” thì bên Âu Mỹ phải là “motherland / homeland / fatherland” thì các nhà thơ mới biết mà đưa vai ra gánh.

Từ LAK thì từ tương đồng là LAC. Theo các già làng ở vùng cao nguyên cũng cho rằng từ LAC là phiên âm của từ LẠCH. (Theo đó thì người Lạch là các nhà buôn và trao đổi hàng hóa gốm sứ ở vùng cao nguyên (thương gia người dân tộc Lạch) từ thời Chăm Pa cổ. Các sử thi như sử thi Đăm Săn cũng nói về người Lạch.)

Và theo “văn bản”

Vào năm 1892 khi đặt chân đến vùng hồ Tak-Lak trong chuyến du hành thứ hai của mình, BS A. Yersin nghe dân địa phương nói về cái hồ lớn đó có tên là Tak-Lak (Tak = nước? Lak = ứ đọng, ngập lụt?) Nhưng Yersin đã ký âm là Darlac, và vào ngày 06-4-1894 ông công bố điều này trong các ghi chép của mình. Các tác giả Pháp sau đó như Tournier (1901) hay Henri Maitre (1912), A. Monfleur (1931)... đều xác nhận rằng A. Yersin đã ký âm nhầm chữ Tak-Lak thành Darlac (chắc như nay ta hay ký âm nhầm chữ #ư M’Blim thành Chu Liêm/Chư Lim, buôn Ko M’leo thành buôn KomLeo vậy). Để đến ngày 02-11-1899, khi chọn tên để đặt cho 1 tỉnh mới được thành lập, Toàn quyền Paul Doumer đã sử dụng ngay cái tên “Darlac” do Yersin gọi từ 5 năm trước để đặt cho cả cái vùng đất có cái hồ Tak Lak này vì chữ “Darlac” quen thuộc với người Pháp, dễ đọc, dễ nhớ, dễ ký âm hơn là chữ Tak Lak hay Dak Lak.

Từ 1904 – 1913, Darlac thuộc Phú Yên

Từ 1913 – 1923, Darlac thuộc Kontum.

Ngày 02.07.1923 Darlac mới chính thức tách thành một tỉnh riêng, và nghị định ngày ngày 06/09/1923 do Toàn quyền Rene Robin ký, sát nhập luôn M’ Drak nhập về Darlac, và Ban Mê Thuột lúc này chính thức trở thành thủ phủ.

BAN MÊ THUỘT VÀ BUÔN MA THUỘT 

Ngay từ đầu những năm 1900s, chúng ta đã thấy trên bản đồ người Pháp vẽ đã có tên Ban Don, Ban méthuot, Ban Mésao, Medrac… Thậm chí, vùng đất này (Ban Mé-thuot) lúc đầu còn được Cupet (1893) và Yersin (1894) gọi là Buôn MePleut (Buôn Mé-Plơi, Ama B’Lơi, người được coi là cha vợ Ama Thuột?)

Từ năm 1897, trong các báo cáo, và từ 1902 trên các bản đồ vẽ Đông Dương, người Pháp đã ghi chú địa danh Ban Mé Thuot. Đến 1905 thì đã có bản đồ vẽ riêng cho cái vùng đất Ban Mé Thuot.

Vì sao Ban Mé-thuot?

Tuy vùng đất của người Rhadé này đã biết từ thời An Nam, nhưng khi người Pháp, cụ thể là Đại úy Cupet thám hiểm lại cần sự hỗ trợ của người bản địa dẫn đường, và “người dẫn đường” đó không ai khác chính là vua săn voi Khunjonob (N’Thu, Y-Thu) một người Lào-M’nông, và cũng vì thời ấy vùng đất này còn thuộc tỉnh Stung Treng (lúc ấy thuộc Lào), nên các địa danh được người Pháp gọi theo cách phát âm của người Lào như Mé-Sao, Mé-Wal, Mé- Kheune… (Mé nghĩa là thủ lĩnh)

Đến năm 1921, dưới thời của viên công sứ Sabatier vùng đất này mới có tên gọi là Buôn Ma Thuột như một lẽ tự nhiên, vì người Rhade là sắc dân chính và có nhiều công lao ở đây. Hai tên gọi Ban Mê Thuột và Buôn Ma Thuột cùng song song tồn tại với nhau trong giai đoạn này. Ngay từ khi tách tỉnh (1923) Darlac đã được nhiều lần phân chia thành các tổng, lúc đầu có 20 tổng và đến lần chia ngày 30-5-1930 thì địa bàn tỉnh Dak Lak được chia thành 22 tổng (secteurs), trong đó có tổng trung tâm (tỉnh lỵ) chính thức là Ban Mé Thuột (nhưng vẫn có tài liệu, văn bản ghi là Buon Ma Thuot). Cho đến ngày 7/5/1931 Khâm sứ Trung kỳ ký ban hành Nghị định thành lập làng người Kinh tại Ban Mé Thuot (văn bản chính thức), và lấy tên làng là làng Lạc Giao, lúc này Darlac có 27 tổng.

Đến ngày 2-7-1958, tên gọi Ban Mê Thuột tiếp tục được sử dụng chính thức, Dak Lak lúc này có 5 quận gồm quận lỵ Ban Mê Thuột, Lạc Thiện, M’Drak, Dak Song, Buôn Hồ. Đến trước năm 1975, Dak Lak gồm có 4 quận Buôn Ma Thuột, Lạc Thiện, Buôn Hồ, Phước An. Tỉnh lỵ là thị xã Buôn Ma Thuột. (M’Drak là Khánh Dương, lúc này đang thuộc Khánh Hòa.)

Từ 1975 đến nay vùng đất này mới chính thức mang tên Buôn Ma Thuột, tên gọi của một ngôi làng xưa của Ama Y Thuột, làng của cha Y Thuột, vùng đất mang tên của một con người mà tiểu sử của ông vẫn còn sương khói…


Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

ẤN TƯỢNG THỊ GIÁC TRONG BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG CỦA TẾ HANH tác giả TRỊNH BÍCH THÙY - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

 

Từ rất sớm, người xưa đã đề cập đến vấn đề “thi trung hữu họa”của thơ ca. Bởi so với các thể tài khác, thơ mang tính tạo hình rất cao. Tính tạo hình vừa là đặc trưng vừa là yêu cầu sáng tạo của thơ. Thơ Tế Hanh tiêu biểu cho điều này. Thơ ông giàu tính tạo hình, mỗi tác phẩm như từng bức vẽ mà ở đó hình ảnh hiện lên hết sức sống động, gợi cảm. Một trong những thủ pháp tạo hình mà Tế Hanh thường xuyên sử dụng là ấn tượng thị giác. Điều này thể hiện rõ trong Quê hương, thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ ông, in trong tập Nghẹn ngào (1939), sau in lại trong tập Hoa niên (1945).

Mở đầu bài thơ, nhà thơ tự giới thiệu:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

Quê nhà của Tế Hanh là “một hòn cù lao trên sông Trà Bồng trước khi đổ ra biển”. Tuổi thơ của tác giả chắc hẳn gắn liền với những hình ảnh con thuyền, tấm lưới, những thanh âm của câu hát điệu hò chèo ghe… Trong bài viết “Kỷ niệm về một điệu hò trên sông Trà Bồng”, nhà thơ thổ lộ: “Trước khi tôi vào đời để làm thơ, tôi đã yêu thơ qua tiếng hát câu hò của những người đánh cá quê tôi” (Hồi nhỏ các nhà văn học văn, Nxb TP.Hồ Chí Minh). Không phải ngẫu nhiên mà Tế Hanh có những bài thơ rất hay về đề tài quê hương, đồng thời được xem là một trong những thi sĩ thành công nhất ở mảng đề tài này. Quê hương với cảnh sắc thanh bình, tươi đẹp chính là mạch nguồn cảm hứng sáng tạo, đồng thời là kho chất liệu nghệ thuật quý giá trong thơ ông.

Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người được thể hiện trong thơ Tế Hanh rất đỗi cụ thể, chân thực nhưng sinh động, đầy thanh âm, sắc màu. Ở Quê hương, bức tranh ấy được thể hiện từ đầu tác phẩm. Cả vùng trời tươi sáng hiện ra trước mắt người đọc chỉ với một dòng thơ: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng. Thiên nhiên được thể hiện bằng những gam màu sáng “trong”, “hồng”. Với gam màu này, đặc biệt là sắc “hồng” ở cuối dòng quy tụ sức gợi của cả câu thơ, ngay lập tức đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với thị giác tiếp nhận. Trước mắt người đọc như hiện lên cả một bầu trời trong veo với sắc ửng hồng phía mặt trời ló dạng. Hình ảnh thiên nhiên nhờ đó trở nên thi vị hơn, đồng thời gây được nhiều hiệu ứng thẩm mĩ hơn.

Khung cảnh thiên nhiên không chỉ đẹp vì vẻ trong trẻo, lãng mạn vốn có mà còn bởi hình ảnh con người với những hoạt động thường nhật. Tác giả chỉ dùng vài dòng thơ đầu để gợi tả cảnh sắc thiên nhiên nhưng lại dùng đến gần như toàn bộ phần còn lại của tác phẩm để khắc họa cuộc sống của con người vùng sông biển.

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

[…]

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Nếu như trong bức tranh thiên nhiên tác giả sử dụng từ chỉ màu sắc thuộc gam màu sáng thì với bức trang làng quê miền biển trong lao động, tác giả khắc họa với sự hòa hợp giữa cả hai gam màu sáng và tối. Gam sáng là màu trắng của “cánh buồm”, của “những con cá tươi ngon”. Màu trắng với cường độ mạnh đã gây kích thích trực tiếp thị giác người đọc. Hình ảnh cánh buồm trắng căng gió đưa thuyền “vượt trường giang”, những con cá thân bạc trắng tươi rói trên những chuyến thuyền đầy ắp trở về chắc chắn để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc về cuộc sống lao động đặc thù miền biển. Đây cũng là gam màu ám ảnh hồn thơ Tế Hanh. Vì mãi đến sau này, dù đi đến đâu, những hình ảnh ấy cứ luôn thường trực trong tâm trí nhà thơ: Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi.

Trên phông nền tươi sáng ấy, nổi bật lên là hình ảnh của con người lao động. Nhà thơ dùng gam màu tối để khắc họa hình ảnh người dân chài lười quê mình. Đó là các màu “ngăm”, “rám” của nước da người miền biển. Sau Cách mạng, trong bài Tiếng sóng, Tế Hanh cũng sử dụng lại gam màu này để miêu tả người dân chài lưới quê mình:

Da ngăm ngăm như một làn nước mặn

Miệng cười vui mặt biển ánh trăng nghiêng

Có chàng trai vai ngang như bến rộng

Có cô gái mày thanh như làn nước ven sông

Không phải ngẫu nhiên mà khi đặc tả hình ảnh con người miền biển, nhà thơ lại chọn chi tiết màu da. Có lẽ nước da rám màu nắng gió biển khơi và mặn mòi chất muối là một đặc trưng của người miền sông biển. Gam màu tối không gợi buồn mà ngược lại, đã làm nổi bật lên sự săn chắc, khỏe khoắn, can trường. Hình ảnh con người lao động hiện lên một cách chân thực, sống động hơn. Cũng như màu trắng, màu ngăm với cường độ mạnh đã gây nên ấn tượng thị giác mạnh, từ đó tăng cường hiệu ứng khắc họa hình tượng. Hơn nữa, hai gam màu sáng - tối được thể hiện một cách hợp lí đã triệt tiêu tính tương phản, gia tăng hiệu ứng bổ sung. Bức tranh thiên nhiên và con người nhờ đó trở nên thật hài hòa, sinh động.

Miêu tả phương tiện lao động là những chiếc thuyền ra khơi đánh cá, cùng với trường từ vựng chỉ màu sắc, nhà thơ còn sử dụng trường từ chỉ kích thước: “to”, “bao la”. Đi kèm với chúng là những tính từ, động từ mạnh: “hăng”, “phăng” “giương”, “rướn”. Tác giả còn sử dụng biện pháp so sánh, trong đó, đối tượng để so sánh là những hình ảnh hết sức độc đáo: “con tuấn mã”, “mảnh hồn làng”. Nếu “con tuấn mã” là biểu tượng của sức mạnh và vẻ đẹp kiêu hãnh thì “mảnh hồn làng” lại là hình ảnh thiêng liêng biểu trưng cho hồn cốt, truyền thống văn hóa của quê hương. Hình ảnh so sánh cùng từ ngữ ấn tượng đã gây nên những ấn tượng thị giác đặc biệt. Hình tượng cánh buồm, con thuyền vì thế cũng trở nên nổi bật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong sự liên tưởng, cảm nhận của độc giả.

Bên cạnh sử dụng trường từ vựng chỉ màu sắc, kích thước, biện pháp tu từ so sánh, tác giả còn sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Nói về thành quả lao động của dân chài lưới quê mình, nhà thơ viết: Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe/ Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ở đây, “ngon” đã được chuyển đổi cảm giác từ vị giác (ngon miệng) sang thị giác (ngon mắt). Ấn tượng thị giác nhờ thế được gia tăng. Ta còn nhớ, trước Tế Hanh hàng trăm năm, thi hào Nguyễn Gia Thiều cũng từng dùng biện pháp này khi tả người cung nữ qua cái nhìn của đấng quân vương: Đóa lê ngon mắt cửu trùng/ Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu (Cung oán ngâm khúc). Nếu “ngon” trong thơ cụ Nguyễn đã chuyển sang cả cảm xúc nhục thể thì “ngon” của Tế Hanh chỉ dừng lại ở xúc cảm thị giác. Cả hai chữ “ngon” đều là nhãn tự, được dùng hết sức tài tình. Trong câu thơ của Tế Hanh, cùng với “tươi”, “ngon” đã thể hiện được tối đa độ tươi, độ ngon của cá được đánh bắt về. Đó cũng là cách thể hiện ấn tượng về thành quả lao động biển cả của dân chài lưới quê hương nhà thơ.

Có thể nói, Quê hương là một đỉnh cao của thơ Tế Hanh. Bài thơ tràn ngập sắc màu và nhộn nhịp hình ảnh con người. Bằng ngôn ngữ của sắc màu, đường nét, hình khối và so sánh, nhân hóa, ẩn dụ có tác dụng gây liên tưởng thị giác, tác giả đã đem đến cho người đọc những ấn tượng khó quên về bức tranh thiên nhiên và đời sống lao động của con người miền sông biển. Với Quê hương, Tế Hanh đã góp vào gia tài thơ Việt Nam hiện đại một bài thơ hay, độc đáo, giàu hình ảnh về đề tài quê hương nói chung, miền sông biển nói riêng.

 

 


Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

MANG ƠN MÙI HƯƠNG ẤY CON ĐI… tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 


NHỚ HƯƠNG VƯỜN CŨ

 

Vườn nhà chồng cũ giờ chắc bưởi đã đầy hoa

Chỉ sợ xác rụng kín lối xưa làm xót lòng người tóc trắng

Mẹ chồng hayhái nấu nước cho dâu gội đầu

rồi ghì lấy hít hà khen tóc con thơm lắm

Mẹ sẽ để dành cả tháng giêng ấy phần con

Giờ xa

Chỉ đường này lối kia mà như cách biển ngăn non

Hoa bưởi thơm hương mẹ nhớ người dưng

chắc lại trốn một mình cuối vườn mà khóc

Úp mặt vào tay thấy lòng như gió lùa qua rối bời bời đâu đây vạt tóc

Tháng giêng đem trả hết cho trời

Hoa ơi

Thơm bao nhiêu hương mới qua hết phận người

Người đi hết mấy đời hoa còn dang dở

Mẹ nấu nước cho khói lên hương để thỏa thuê cơn nhớ

Biết rồi thương đến tận những mùa sau

Chiều nay con buông tóc gội đầu

Bên vườn bưởi nhà lạ

Bật khóc gọi tên từng cánh hoa trắng rã

Rụng bơ vơ hun hút tháng giêng dài

Mẹ ơi lối cũ bước gầy

Con không về qua ngõ xưa mẹ đừng ra ngóng nữa

Mỗi lần hoa bưởi thơm tháng giêng tóc con lại rối đầy trời tan tác nhớ

Mang ơn mùi hương ấy con đi…

PHẠM TÚ ANH

 

LỜI BÌNH:

MANG ƠN MÙI HƯƠNG ẤY CON ĐI…

 

Tôi chưa đọc thơ Phạm Tú Anh nhiều, nhưng dăm bài đã thấy lòng vương vấn. Thơ chị có vóc dáng riêng về phương diện ngôn ngữ và tình ý lại sâu nồng, dễ lay thức ta phải đọc thêm lần nữa. Trên tạp chí Hồng Lĩnh số tháng 5/2020, Phạm Tú Anh trình làng thơ thi phẩm Nhớ hương vườn cũ thật xúc động. Đây là bài thơ viết về tình cảm gia đình, lại là mảnh vỡ rất riêng tư, nhức buốt của một người con dâu nhớ về ngôi nhà chồng cũ. Ở đó hình tượng người mẹ chồng hiện lên thật cao đẹp được lồng trong sắc màu và làn hương hoa bưởi tháng giêng mênh mang như một nỗi niềm khiến người đọc rưng rưng nước mắt. Tấm lòng hiếu nghĩa, hàm ơn với mẹ chồng của người con dâu cũ - chủ thể trữ tình tác giả - nhờ đó dễ đánh thức trái tim chúng ta, nhắc nhở mỗi người hãy biết sống vị tha và nhân văn hơn trước cuộc đời.

Tôi vẫn nghĩ, thơ thường khởi nguồn từ hồi ức, kỷ niệm. Nỗi niềm với quá khứ càng sâu thẳm, thơ càng dễ chưng cất thành những cảm xúc vi diệu, lắng sâu. Nhớ hương vườn cũ mở đầu bằng những câu thơ thủ thỉ, tâm tình của người con dâu nghe như một nỗi buồn da diết. Đó là nỗi buồn không dễ giãi bày nên thành ra càng cay đắng và chua xót biết bao:

Vườn nhà chồng cũ giờ chắc bưởi đã đầy hoa

Chỉ sợ xác rụng kín lối xưa làm xót lòng người tóc trắng

Mẹ chồng hay hái nấu nước cho dâu gội đầu

rồi ghì lấy hít hà khen tóc con thơm lắm

Mẹ sẽ để dành cả tháng giêng ấy phần con

Thường vợ chồng chia tay nhau, đường ai nấy đi là cả một đoạn trường nghiệt ngã. Dù có bao dung cho nhau đến đâu, nhưng nghĩ và thương về mẹ chồng trong trái tim người con dâu vẫn không còn như trước nữa, huống nữa là tình cảm mẹ chồng - nàng dâu vốn ít khi “cơm ngọt canh lành”. Thế nhưng, ở dây, qua tâm trạng người con dâu cũ, hình ảnh người mẹ chồng hiện lên mới cao đẹp và nhân hậu làm sao. Mỗi mùa hoa bưởi về, người mẹ giàu tình thương ấy lại nấu nước hoa bưởi gội đầu cho dâu “rồi ghì lấy hít hà khen tóc con thơm lắm”. Chính tình cảm lớn lao ấy mà giờ đây người con dâu đau lòng khi biết mùa hoa bưởi đang về sẽ làm “xót lòng người tóc trắng”. Ý thơ nhờ đó khơi gợi tự nhiên vẫn khiến ta thảng thốt, nhẹ nhàng nhưng đọc lên dễ hoang mang nước mắt.

Sau khoảnh khắc hoài niệm miên man, đầy thương cảm là thực tại bẽ bàng nơi trái tim người con dâu trước cuộc đời nghiệt ngã. Vẫn hình tượng hoa bưởi và người mẹ chồng của quá khứ dịu dàng cứ xoắn xuýt vào nhau, không rời buông nhưng giờ đã “cách biển ngăn non”, ngàn trùng vời vợi. Người con dâu hình dung nỗi đau mẹ chồng “nhớ người dưng”, “trốn một mình cuối vườn mà khóc” với bời bời hương tóc giữa lòng tay nghe thật tha thiết. Vạt tóc kỷ niệm cứ xô lệch mãi giữa cơn gió đời hay đó cũng là cơn bão lòng tan nát? Nỗi đau mẹ chồng chỉ có nàng dâu thấu cảm, bởi lẽ chính nàng cũng đang đau xót biết dường nào trước cuộc phân ly. Vậy nên, tháng giêng mẹ dành hết phần con giờ đành trả lại cho trời:

Chỉ đường này lối kia mà như cách biển ngăn non

Hoa bưởi thơm hương mẹ nhớ người dưng

chắc lại trốn một mình cuối vườn mà khóc

Úp mặt vào tay thấy lòng như gió lùa qua rối bời bời đâu đây vạt tóc

Tháng giêng đem trả hết cho trời

Trên đây là những câu thơ tan chảy của cảm xúc, tuôn ra dào dạt khiến tác giả không dễ gì kìm nén được. Tuy nhiên, có lẽ những câu thơ hay nhất của Nhớ hương vườn cũ đã đẩy tình ý bài thơ lên chiều sâu triết lý về đời hoa, đời người phải kể đến những câu thơ dưới đây. Đời hoa với đời người, cả hai biết mấy nỗi niềm nông sâu! Phận hoa và phận người con gái có gì khác nhau đâu. Hoa là hương sắc mà cũng là lòng người trước muôn vàn đắng cay, nghiệt ngã: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Đặc biệt, chính cách ướm hỏi và biểu đạt tư tưởng có tính song trùng của tác giả đã khiến trái tim người đọc ngổn ngang biết bao nỗi niềm tâm sự, buồn đến nao lòng trước những dở dang, tan hợp của cuộc đời:

Hoa ơi

Thơm bao nhiêu hương mới qua hết phận người

Người đi hết mấy đời hoa còn dang dở

Mẹ nấu nước cho khói lên hương để thỏa thuê cơn nhớ

Biết rồi thương đến tận những mùa sau

Bài thơ khép lại bằng một cảnh ngộ khác, một không gian “bên vườn bưởi người lạ” - nơi người con dâu đang buông tóc gội đầu và hoài vọng hướng về ngôi nhà chồng cũ với mùi hương hoa bưởi nồng nàn. Từng cánh hoa bưởi trong ký ức đẹp tươi, thanh khiết, yên bình và thơm tho đến thế mà giờ đây “từng cánh hoa trắng rã/ rụng bơ vơ hun hút tháng giêng dài”. Từ xác hoa đến mùi hương bưởi cứ tan tác như một nỗi đời riêng. Hình tượng người mẹ chồng được nhà thơ một lần nữa nhắc lại nhưng với tâm thức hàm ơn về tình yêu thương, lòng độ lượng, sự cảm thông cho lòng con thơ dại. Thương mẹ chồng lắm, nhưng con dâu sẽ không bao giờ về qua ngõ xưa được nữa, chỉ lặng thầm “mang ơn mùi hương ấy con đi”. Con đi nhưng trái tim vẫn luôn nghĩ về mẹ, nhớ về mùi hương bưởi vườn nhà mà mẹ nấu nước gội đầu con dâu một thuở:

Mẹ ơi lối cũ bước gầy

Con không về qua ngõ xưa mẹ đừng ra ngóng nữa

Mỗi lần hoa bưởi thơm tháng giêng tóc con lại rối đầy trời tan tác nhớ

Mang ơn mùi hương ấy con đi…

Thơ dễ lấy nước mắt độc giả khi trái tim nhà thơ nói hộ những suy nghĩ nhân văn và cao đẹp của con người. Bài thơ Nhớ hương vườn cũ của tác giả Phạm Tú Anh viết về đề tài gia đình, cụ thể là tình cảm của nàng dâu với mẹ chồng nhưng ám ảnh tâm hồn người đọc nhờ vào cảm xúc chân thành, hình tượng thơ giàu biểu cảm và một tứ thơ thấm đẫm chiều sâu triết lý. Đọc xong thi phẩm, lòng mỗi người ít nhiều đều rung lên niềm cảm thông, sẻ chia sâu sắc; lắng đọng hơn, đó còn là bài học về đạo làm người, lòng hiếu nghĩa với mẹ cha.

 


 

 


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020

ĐỢI MƯA tản văn của DUY HOÀN - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020

 

 

Trường Sa mùa này…

Cảm xúc chờ đợi những cơn mưa của lính đảo chúng tôi như là một khát vọng cháy bỏng. Vào cuối mùa khô, nơi cuối chân trời đã bắt đầu xuất hiện những vệt chớp và ì ầm tiếng sấm gọi mưa. Quãng thời gian giao mùa dài miên man như con sóng. Mái tôn cũng oằn lên giữa nắng lửa chói chang. Gió thổi rang khô những dải cát, phả vào đường hào công sự hầm hập. Lớp lớp sóng bạc đầu chồm lên bê tông chắn sóng, hất tung bọt nước lên cao như một điều thách thức của mùa biển mặn. Mấy tuần nay, nước sinh hoạt ở khẩu đội chúng tôi đã phải tiết kiệm triệt để. Nhìn những vạt mùng tơi, muống, cải… như lả đi vì thiếu nước, lòng chúng tôi cứ buồn buồn, thương thương. Sau mỗi buổi tập ở ngoài công sự, chúng tôi lại tranh thủ che chắn cho những màu xanh ấy. Tội nhất là lũ gà con, chỉ loanh quanh bươi cát dưới gốc cây bàng vuông. Cậu lính trẻ nhất tiểu đội: Lê Mô Y Thái - chàng trai Tây Nguyên quê ở buôn Kô Tam là đứa em út hồn nhiên, ít khi buồn, vậy mà mấy bữa rồi thường hay lặng lẽ dõi mắt về phía xa mỗi khi nhắc tới quê nhà.

Đã quá nửa đêm, trời vẫn oi nồng. Cơn mưa đến thật bất ngờ, khi chúng tôi đang trằn trọc. Tiếng lộp độp thoảng nhẹ trên mái tôn nghe như mơ hồ. Rồi ào ạt… tất cả như vỡ òa, tất cả như bừng lên trong vũ điệu hoang sơ: Mưa…! Mưa…! Mưa thật rồi…! Tiếng mưa nghe thích quá. Chúng tôi choàng dậy để nguyên quần áo chạy ra tắm mưa. Áp mình xuống để nghe những tiếng trở mình của đất. Lính đảo hồn nhiên giữa thiên nhiên. Chúng tôi ôm nhau cười trong tiếng reo hò gọi mưa. Y Thái có lẽ là người vui nhất, cậu cứ lắc lư rồi lại nhảy choi choi trên cát. Niềm vui lan ra khắp đảo, vừa tắm mưa, chúng tôi tranh thủ lấy tất cả những gì có thể đựng được đưa ra hứng nước. Cơn mưa đầu mùa là món quà tặng hào phóng của thiên nhiên, tắm gội và gột rửa đi tất cả. Đám lá bàng vuông rung lên trong gió, sóng từng đợt đập ì ùm vào bờ kè, tiếng côn trùng râm ran trộn vào tiếng mưa rơi, tất cả đã tạo nên một bản hòa tấu sôi động, hồn nhiên. Đêm Trường Sa ấy, chúng tôi được thỏa thuê trong một bữa tiệc tắm mưa.Thật hạnh phúc bởi mỗi sớm mai lên được ngắm nhìn đảo nhỏ thân yêu với sự sáng trong, tươi mới, dịu mát đến xao lòng. Những ngày sống ở đây chúng tôi mới thực sự thấy được giá trị của những cơn mưa. Đi qua cơn khát dài của mùa khô nơi đầu cực Đông Tổ quốc, lòng tôi lại canh cánh thương cái hanh hao bụi đỏ nơi phía đại ngàn Trường Sơn.

Mùa mưa ở Tây Nguyên…

Cũng như ở Trường Sa, trên cao nguyên mùa mưa năm nay đến muộn. Đối với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên - nước là một biểu tượng thiêng liêng của sự sống. Đến với Tây Nguyên thời mở cửa, khi những nương rẫy cà phê, cao su đang được mở rộng và trải dài theo cánh chim chơ rao; cuối mùa khô khi những hồ đập cũng đã đi vào mực nước chết thì những giọt mưa đầu mùa còn quý hơn vàng. Sáu tháng mùa khô đã từ từ khép lại. Cơn mưa đầu mùa thật hối hả. Những hạt mưa hồn nhiên nông nổi đang tung tóe giữa trời. Mây sà xuống thấp, gió ào ào như thác cuốn tung mù bụi đỏ, rồi mưa mù trời cuốn phăng từng mảng đất đỏ nơi triền dốc. Cả một thảo nguyên mênh mang tràn ngập tiếng mưa. Mưa như hiểu lòng người, như muốn trả lại cho tất cả sự chờ đợi, khát khao, mong mỏi. Những chàng trai, cô gái Êđê ào ra từ những ngôi nhà dài hồn nhiên tắm mưa. Tiếng mưa như đánh thức những tiềm tàng phập phồng ẩn náu trong mỗi con người. Những tấm lưng trần của người con trai, vồng ngực căng tròn của thiếu nữ Bahnar như được tiếp thêm sinh lực mới. Mưa đã trả lại màu xanh tươi cho đại ngàn, tưới tắm cho ruộng nương, cây cỏ và con cá con tôm được vẫy vùng thỏa thuê. Tây Nguyên mùa mưa - mùa tắm gội, từng hạt cảm xúc thấm sâu và lan tỏa trong tôi “Tây Nguyên vào mùa mưa em ơi/ Lúc trầm tĩnh, lúc ào ào hối hả/ Như chàng trai Đam San có phép thần kỳ lạ/ Cho đại ngàn xanh màu mỡ phù sa”. Đi giữa cơn mưa đầu mùa, đi giữa màu xanh hoa cỏ và cây trái, lòng tôi chợt se lại khi nhớ về những khoảnh khắc đợi mưa ở Trường Sa. Hạt mưa vẫn thầm lặng đi về giữa hai đầu thương nhớ. Tiến Đạt - chàng trai đất Cam Ranh tâm sự: “Khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, điều em mong ước là được ở lại làm công dân của Trường Sa. Ở đây đã có nhiều người đồng hương quê em ra ngoài này định cư”. Khát khao đó sẽ là sự thật và đó cũng là điều mong mỏi của nhiều bạn trẻ, bởi lẽ giờ đây khoảng cách giữa đất liền và đảo đâu còn xa nữa. Trường Sa - Tây Nguyên, nơi hai đầu tít tắp ấy, ngày mỗi ngày đang gần lắm với nhau. Biển cho ta hương vị mặn mòi, rừng cho ta hương cà phê lan tỏa. Tuổi trẻ hôm nay với bao điều mơ ước, khát vọng được khẳng định mình, được khám phá những tiềm năng từ trong lòng đất và sâu thẳm dưới đáy đại dương.

Mưa Tây Nguyên, mưa Trường Sa - dòng cảm xúc ấy cứ dào dạt vỗ trong tôi. Cũng là những cơn mưa của quê hương mình sao mà lắng sâu đến vậy. Tháng sáu mùa mưa, dòng Srêpôk cuồn cuộn tung bọt trắng giữa đại ngàn xanh ngút, cũng chính là lúc ở nơi xa ấy đồng đội tôi không còn phải thao thức chờ mưa nữa.