Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

DẠY VĂN, HỌC VĂN – ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 


 

 

1. “Rằng hay thì thật là hay…”

Xưa nay, người ta thường nói “Dạy toán, học văn” có ý cho rằng: dạy toán và học văn là dễ, là sung sướng lắm! Việc dạy toán thì miễn bàn vì tôi là người ngoại đạo, nói không khéo lại phiền đến các bậc “mũ áo cân đai” còn việc học văn, xem ra phải tốn bút mực đàm đạo.

Xét về hình thức, trên giờ học văn, người học không phải “Trán như nổi sóng biển luân hồi” để tính toán, cân đo. Đối với những bài văn hay, với những thầy cô giáo giỏi, học sinh còn được thưởng thức những giờ học đầy cảm xúc thẩm mỹ, sinh động và hấp dẫn. Về bản chất, học văn không chỉ là học tập một môn khoa học mà còn là một quá trình tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, quá trình rèn luyện các năng lực văn và năng lực hoạt động ngôn ngữ. Nội dung dạy - học văn chủ yếu là các tác phẩm văn chương, các quá trình và hiện tượng văn học, do đó, người học văn không chỉ vận dụng tư duy khoa học mà còn phải vận dụng tư duy nghệ thuật, không chỉ nhận thức lý tính mà còn phải vận dụng nhận thức cảm tính, cụ thể, sinh động. Đến với tác phẩm, người dạy, người học trước tiên phải đọc, phải cảm thụ cái hay, cái hấp dẫn và ghi nhận ấn tượng ban đầu của mình rồi mới đi vào quá trình phân tích, đánh giá về tác phẩm.            Tác phẩm văn chương là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất về nhiều phương diện nội dung và hình thức, thống nhất trong quá trình sáng tạo của nhà văn, thống nhất các yếu tố trong và ngoài tác phẩm. Tác phẩm sau khi rời quá trình sáng tạo của nhà văn đã đi vào một đời sống riêng của từng bạn đọc ở những mức độ khác nhau, đi vào đời sống văn học như một chỉnh thể độc lập với người đã sáng tạo ra nó. Người đọc (người học) tuỳ theo vốn sống, vốn văn hóa, sự trải nghiệm và năng lực văn chương của mình mà cảm nhận, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, thế giới hình tượng của tác phẩm. Không sống hết mình với tác phẩm, vui buồn, sướng khổ, đi đứng, nói năng, khóc cười cùng nhân vật thì không thể cảm nhận được giá trị đích thực của nó.

Tính chất đa thanh, đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật ngôn từ làm cho việc tiếp nhận của người học, người đọc gặp nhiều khó khăn và có thể khác biệt nhau. Vì vậy, chân lý nghệ thuật có phần khó xác định hơn so với chân lý khoa học, việc lượng hóa các đơn vị kiến thức ở một bài dạy - học văn cũng khó khăn hơn so với các môn học khác. Điều này tạo ra “cái dễ” về hình thức và “cái khó” về bản chất trong quá trình tiếp nhận văn học, quá trình dạy - học văn. “Cái dễ” bề ngoài ấy thường đánh lừa người ta nên nhiều người cho rằng học văn là dễ, là sung sướng lắm! Ai mà chẳng học được! Nhiều sĩ tử chọn ngành học, đi luyện thi đại học cho rằng: học Toán, Lý, Hoá, Sinh… thì khó quá, mình học yếu nên không theo được; học Sử, Địa, Ngoại ngữ thì phải học thuộc bài nhiều, suốt ngày phải “chi hồ dả dã”, mệt lắm! Tốt nhất là học Văn, vừa khoẻ vừa đỡ đau đầu. Người ngoại đạo ngộ nhận đã đành, ngay cả sinh viên Ngữ văn năm thứ ba nhiều khi còn ngỡ ngàng, có sinh viên không hiểu vì sao học văn thấy dễ thế, thích thế mà bài thi lại được điểm kém, hay là thầy cô giáo khó tính hoặc trù úm mình chăng?

Học văn là hạnh phúc, là niềm vui lớn đối với những người đam mê văn chương, biết rung động trước cái đẹp của hình tượng nghệ thuật, biết cháy hết mình với nó. Ngược lại, học văn không chỉ khó khăn mà còn là một cực hình đối với những học sinh không yêu thích và thờ ơ với nó, những người không biết rung động trước những hình tượng, cảm xúc thẫm mỹ của tác phẩm. Chân lý nghệ thuật dẫu không rạch ròi như chân lý khoa học nhưng là cái đích phải đến của người học văn, của quá trình tiếp nhận văn học. Bản chất của văn học chân chính bao giờ cũng phản ánh chân lý của đời sống, chân lý của lịch sử và sự thật của lòng người. Không thể vì cấu trúc nhiều tầng nghĩa của hình tượng văn học mà cho rằng, muốn hiểu ý nghĩa hình tượng văn học một cách chủ quan thế nào cũng được. Đấy là một thái độ thiếu nghiêm túc, một lối nguỵ biện thường gặp trong đời sống văn học, trong dạy văn, học văn.

Học văn học, tiếp nhận văn học đã khó, giảng dạy văn học lại càng khó khăn hơn. Dạy văn đâu chỉ là việc truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là quá trình hoạt động hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tác phẩm, thâm nhập và cảm nhận thế giới nghệ thuật, nắm được giá trị thẩm mỹ của tác phẩm và ý đồ nghệ thuật của nhà văn, nắm bắt được các hiện tượng văn học, trên cơ sở đó mà rèn luyện năng lực văn, phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Muốn giảng dạy tốt, thầy cô giáo phải thực sự có năng lực văn, khả năng cảm nhận và phân tích văn học, đồng thời phải có năng lực sư phạm cần thiết. Kể ra những khó khăn từ đặc điểm bộ môn như thế, không phải là cực đoan, quan trọng hoá vấn đề mà là để nhận thức và ý thức được tầm quan trọng của vấn đề, từ đó để có thái độ và hành động đúng đắn.

2. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…”

Cụ Nguyễn Tiên Điền đã dùng câu thơ này để nói về vai trò của chữ “tâm” trong đời sống cũng như trong sáng tác văn chương, suy rộng ra, câu ấy cũng đúng với bất cứ nghề nghiệp, công việc nào, trừ những việc bất lương. Dạy văn, học văn đương nhiên là cần tài năng. Chữ “tài” ở đây được hiểu là năng lực văn, năng lực dạy, năng lực học. Năng lực bao gồm nhiều yếu tố: năng lực sử dụng ngôn ngữ, xây dựng văn bản, năng lực hoạt động lời nói và đặc biệt là năng lực cảm nhận, phân tích tác phẩm văn chương và các hiện tượng văn học… Năng lực ấy không tự nhiên có được mà là kết quả của một quá trình học tập, trải nghiệm, tích lũy lâu dài. Đương nhiên, tư chất cá nhân, những yếu tố bẩm sinh, di truyền là quan trọng và không thể phủ nhận, nhưng cái quyết định vẫn là ý thức tự vượt lên mình, là niềm đam mê khát bỏng của con người, của mỗi cá nhân đối với văn chương, đối với nghề nghiệp. Như vậy, trong nhận thức văn học, trong việc xây dựng năng lực dạy văn, học văn, chữ “tâm” mới thật quan trọng và có ý nghĩa quyết định. Nói đến chữ “tâm” là nói đến ý thức, nói đến lòng nhiệt tình và đam mê. Văn chương như một cô nàng xinh đẹp và khó tính, nó không chấp nhận thái độ lãnh đạm, thờ ơ, vô hồn, vô cảm.                 Văn chương cũng không chấp nhận sự giả dối và cẩu thả bởi vì sự cẩu thả trong nghề Văn là một điều “đê tiện” như cách nói của nhà văn Nam Cao. Chúng ta không thể thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm nếu không biết xúc động trước những số phận bi kịch, không sống cùng nỗi đau và tâm trạng, niềm vui và khát vọng của nhân vật trên những nẻo đường đi tìm nhân cách. Chúng ta không thể hiểu được một bài thơ nếu không lắng mình rung động cùng những cảm xúc tinh tế, những rung động từ tâm hồn, những ấn tượng tinh vi từ tâm linh của người nghệ sĩ ngôn từ và tiếng đồng vọng từ sâu thẳm trái tim người đọc.

Tôi đã tham gia dự giờ khảo sát, thi giáo viên giỏi THCS và PTTH nhiều năm, thật xúc động và ấn tượng trước những giờ dạy hấp dẫn, đầy cảm hứng của những giáo viên giỏi nhưng nhiều khi cũng rất thất vọng vì những giờ dạy vô hồn, vô cảm, kém về tri thức và kỹ năng của một số bạn đồng nghiệp. Có người chuẩn bị thật nhiều mô hình, sơ đồ này nọ đưa ra nhưng không thật phù hợp, chẳng có mấy tác dụng cho bài dạy, có người lại lạm dụng công nghệ thông tin, chiếu hết cái này đến cái kia, biến giờ dạy văn thành một buổi thuyết trình lan man về các hình ảnh sao chụp được các yếu tố ngoài tác phẩm và chẳng đọng lại ấn tượng gì trong học sinh.

Thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, người ta lười đọc sách, kể cả một số thầy cô giáo. Người ta thường dán mắt vào Internet, vào màn hình điện thoại di động, mọi thông tin đều lấy từ Google. Có lần tôi yêu cầu sinh viên khoa Văn năm thứ 3, hệ Cao đẳng Sư phạm, đọc một bài Thơ mới (1932 – 1945) bất kỳ mà cả lớp không ai đọc được, sau một lúc tìm trong Google rồi mới có người giơ tay xin đọc. Đó là những chuyện đáng buồn. Không ai phủ nhận những giá trị và lợi ích to lớn mà công nghệ thông tin đem lại cho loài người nhưng cũng có những mặt trái, tiêu cực của nó khi người dùng nhận thức không đúng. Việc đọc sách nói chung, đọc tác phẩm văn học nói riêng vẫn luôn là điều hết sức quan trọng và thiết thực cho nhận thức và phát triển nhân cách của con người. Đối với giáo viên và học sinh, việc đọc tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trường lại càng quan trọng và là một yêu cầu không thể thiếu và cũng không phải chỉ đọc theo lối hình thức “cưỡi ngựa xem hoa”. Trong dạy và học văn, đọc và cảm thụ tác phẩm vẫn luôn là thao tác, việc làm cơ bản nhất vì đó là con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn.

3. “ Mai sau dù có bao giờ…”

Sau này, khoa học, công nghệ có phát triển đến đâu thì bản chất thẩm mỹ của tác phẩm văn chương vẫn không thay đổi, phương pháp dạy học có hiện đại đến mấy nhưng những kinh nghiệm dạy văn, bình văn truyền thống vẫn còn nhiều giá trị cần được khai thác và phát huy. Như đã nói, dạy văn, học văn là một việc rất khó khăn, dạy cho hay, cho hấp dẫn lại càng khó khăn hơn, đòi hỏi sự phát huy cao độ trí tuệ và tâm huyết của thầy cô giáo và sự hứng thú, nhiệt tình của học sinh. Có như thế, chúng ta mới có những giờ dạy - học văn hấp dẫn đầy cảm xúc thẩm mỹ và nhân văn, gây được xúc động và ấn tượng sâu sắc cho học sinh. Dạy tác phẩm văn học không có sẵn nội dung cần truyền thụ như những môn khoa học khác, sách giáo khoa chỉ có văn bản tác phẩm và một số câu hỏi gợi ý tìm hiểu bài (đó cũng là một cái khó). Thầy cô giáo phải cảm nhận, phân tích tác phẩm kết hợp với các tài liệu khác như sách hướng dẫn, các bài nghiên cứu, phê bình của các học giả, các nhà văn để chuẩn bị nội dung bài dạy. Phần cảm nhận và phân tích trực tiếp của người dạy là quan trọng và không thể thay thế, không nên chỉ dựa vào sách hướng dẫn vì dù sách viết rất hay nhưng cũng là kiến thức và cảm nhận của người khác, cần chuyển hóa những tri thức đó thành cái “của mình” trong quá trình chuẩn bị bài dạy. Học sinh, trên cơ sở đọc và cảm nhận tác phẩm, cũng chuyển hoá những tri thức và cảm xúc tiếp nhận được trong giờ học thành cái “của mình”.

Quan điểm dạy - học hiện nay yêu cầu thầy cô giáo thiết kế hệ thống thao tác và việc làm và chỉ đạo quá trình hoạt động để học sinh chủ động tiếp nhận tác phẩm. Đó là quan điểm đúng đắn và hiện đại. Tuy nhiên, quan điểm mới lại coi nhẹ, thậm chí phủ định vai trò của việc học thuộc lòng và thầy cô giáo không yêu cầu học sinh học thuộc lòng tác phẩm, đây là điều không đúng. Theo tôi, học thuộc lòng tác phẩm là một cách học rất cần thiết và bổ ích. Thế hệ chúng tôi trở về trước thường học thuộc hàng chục, thậm chí hàng trăm bài thơ và đoạn trích thơ, văn xuôi hay, có người thuộc lòng Truyện Kiều, đọc thuộc vì yêu cầu bắt buộc của thầy cô giáo, đọc thuộc vì yêu thích và hứng thú. Đọc thuộc lòng giúp chúng ta không chỉ cảm nhận, phân tích tác phẩm tốt hơn, sâu hơn, chủ động hơn mà còn tích lũy được một vốn tri thức to lớn về tác phẩm và đời sống. Những người có tri thức uyên bác về văn học trước hết là những người thuộc nhiều tác phẩm thơ văn. Đối với thầy cô giáo dạy văn, nên học thuộc các bài thơ hoặc đoạn trích khi dạy cũng như phải thuộc nhiều bài, đoạn thơ hay để liên hệ, so sánh. Thuộc nhiều thơ văn cũng giúp thầy và trò phát triển ngôn ngữ và khả năng hoạt động lời nói. Vì thế, theo tôi, không nên coi nhẹ hoặc bỏ qua yêu cầu học thuộc lòng tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm thơ.

Dù phương pháp dạy - học có thay đổi thế nào thì giờ dạy học tác phẩm hoặc các hiện tượng văn học nói chung cũng không thể thiếu những việc phân tích chi tiết nghệ thuật như tình huống truyện, diễn biến hành động và tâm trạng của nhân vật qua các mối quan hệ xã hội (tác phẩm tự sự) hay hình ảnh, nhịp điệu, âm hưởng, cảm hứng, các thủ pháp nghệ thuật ngôn từ (tác phẩm trữ tình). Không nên quá sa đà mất nhiều thời gian vào các yếu tố ngoài tác phẩm như chuyện đời tư và phong cách của nhà văn, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Tất nhiên các yếu tố này cần thiết cho việc cảm nhận tác phẩm nhưng hoạt động chính của thầy và trò vẫn là cảm nhận, phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm. Đặc biệt, giờ dạy văn không thể thiếu những lời bình giảng chính xác, sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc, gây được xúc động sâu xa trong lòng người. Muốn làm được điều này, thầy cô giáo phải hết sức nỗ lực để có vốn tri thức phong phú, sức liên tưởng dồi dào và phải sống hết mình với cảm xúc của nhà văn, phải làm sống dậy những tình cảm, thân phận và tính cách của nhân vật. Như vậy, người dạy, người học và người đọc văn nói chung sẽ là người đồng sáng tạo với nhà văn, tự giác tham gia vào đời sống văn học.

Dạy văn thật là khó, có những bài dạy đến cả chục lần vẫn cứ thấy áy náy, có gì đó bất ổn, không thoả mãn, tôi lại lục tìm từ tài liệu tham khảo đến văn bản tác phẩm và những cảm nhận của mình để cố gắng thay đổi. Thời này chúng ta soạn bài trên máy tính, vì vậy, việc sửa chữa, thêm bớt, bổ sung các ý tưởng mới thật dễ dàng. Nhiều khi đang giảng bài, cảm hứng thăng hoa bất ngờ và những ý tưởng mới xuất hiện trực tiếp, tôi thường ghi nhận lại, bổ sung vào bài giảng cho lần sau, cứ thế tích lũy dần để bài giảng lần sau hay hơn lần trước và ngày càng hoàn thiện hơn.

Mấy chục năm say mê, miệt mài và nhọc nhằn trên bục giảng, có những bài giảng thành công, gây được ấn tượng và cảm xúc tốt cho học sinh, sinh viên nhưng cũng có những bài giảng chưa thật thoả mãn, thậm chí thất vọng. Nhìn lại quá trình dạy - học văn ấy, tôi thấy có nhiều niềm vui và cũng có nhiều trăn trở, suy ngẫm về nghề nghiệp, công việc của mình và của đồng nghiệp. Tôi viết lại những suy tư về nghề dạy văn của mình, mong được sự đồng cảm của các thế hệ đồng nghiệp, mong góp một tấm lòng, một tiếng nói để góp phần nâng cao chất lượng dạy - học văn trong nhà trường.

 

 

 


Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

CÂU HÁT DÂNG NGƯỜI “LẶNG LẼ BƯỚC TIÊN” tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 



CÂU HÁT TRƯỚC LÚC NGƯỜI ĐI XA

 

 

 

Lòng con sao cứ nghẹn ngào

Cái chiều hôm ấy được vào thăm cha

Được mang câu hát quê nhà

Hát cho Người lúc đi xa đỡ buồn

 

Trong câu hát có suối nguồn

Sông Lam thấp thoáng cánh buồm lá sen

Trong câu hát có ngọn đèn

Soi cho con bước những đêm vắng Người

 

Bác đi khắp bốn phương trời

Nghe bao khúc hát không nguôi nhớ làng

Trong câu hát có Nam Đàn

Có làng Sen với muôn vàn bông sen

 

Cát thì trắng, đêm thì đen

Một câu ví giặm mà nên xứ mình

Mà thêm sâu nặng nghĩa tình

Trước khi nhắm mắt Người dành cho con

 

Trong câu hát có nước non

Chiều nay như Bác vẫn còn đang nghe

Vẫn mong con với bạn bè

Hát câu ví giặm giọng quê Nam Đàn.

                                                    NGUYỄN HƯNG HẢI

LỜI BÌNH:

CÂU HÁT DÂNG NGƯỜI “LẶNG LẼ BƯỚC TIÊN”

 

Đề tài Bác Hồ trở thành mạch nguồn cảm hứng thiêng liêng không bao giờ vơi cạn trong văn chương nghệ thuật. Từ âm nhạc, hội họa, sân khấu… cho đến thơ ca, hình tượng Bác hiện lên vô cùng đẹp đẽ và tôn kính, đồng thời cũng gần gũi và thiết thân như người cha, người ông với con cháu mình. Có lẽ chính điều đó đã làm xúc động trái tim ta mỗi khi nhớ về Bác, người đã khai sinh ra Tổ quốc Việt Nam từ mùa thu Cách mạng tháng Tám 1945 lịch sử.

Trong các nhà thơ đương đại, có lẽ ít có thi sĩ nào lại dạt dào cảm xúc, dành nhiều tâm huyết và bền bỉ viết về Bác Hồ nhiều và hay như Nguyễn Hưng Hải. Theo chỗ tôi biết, anh có hẳn hai tập thơ riêng viết về Bác Hồ là “Cây bụt mọc trong vườn Bác” và “Ươm từ vườn Bác”, tổng cộng có đến hơn 100 bài thơ. Thơ Nguyễn Hưng Hải là tiếng lòng chân thành và ngưỡng vọng về Người với nội lực cảm xúc lớn lao tưởng chừng vô tận. “Câu hát trước lúc Người đi xa” là bài thơ nhắc nhớ thời khắc “Bác đã lên đường nhẹ bước tiên” về với thế giới Người Hiền vĩnh cửu.

Mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Hưng Hải khơi gợi lại giây phút thiêng liêng trước lúc Bác Hồ đi xa, để lại muôn vàn tình yêu thương cho nhân dân Việt Nam và thế giới. Khát khao nghe lại câu hát quê nhà với điệu ví giặm ngọt ngào và da diết, chính điều ấy đã trở thành câu chuyện nhuốm màu sắc huyền diệu, thần tiên. Cảm xúc “nghẹn ngào” được mang câu hát quê nhà vào hát cho Bác nghe, tác giả đã đặt tiếng lòng mình vào một hoàn cảnh đầy xót xa và cảm động. Hát cho Bác nghe lần cuối cùng những làn điệu quê hương xứ sở đã khiến Nguyễn Hưng Hải rưng rưng nỗi niềm không sao cầm được nước mắt. Thể thơ lục bát bật ra tự nhiên như suối nguồn muôn thuở, như câu hát nghĩa tình của xứ Nghệ thân thuộc ngàn đời:

Lòng con sao cứ nghẹn ngào

Cái chiều hôm ấy được vào thăm cha

Được mang câu hát quê nhà

Hát cho Người lúc đi xa đỡ buồn

Trên nền cảm xúc chung ấy, nhà thơ tiếp tục triển khai tứ thơ qua nhiều góc nhìn thẳm sâu từ cuộc đời bao la của Bác. Chính câu hát cội nguồn xứ sở ấy đã hun đúc nên một con người vĩ đại đã “tìm đường đi cho dân tộc theo đi” (Chế Lan Viên). Thế nên, câu hát mà Bác muốn nghe hôm nay trước phút đi xa chính là câu hát về làng Sen xứ Nghệ, nơi có dòng sông Lam thấp thoáng cánh buồm, có loài sen thanh khiết giữa chốn đầm lầy ao cũ. Cao đẹp và sâu lắng hơn, chính câu hát nơi quê nhà xứ Nghệ đã thắp lên ánh sáng của ngọn đèn trái tim, soi sáng cho tác giả và bao người mai này khi không còn Bác nữa:

Trong câu hát có suối nguồn

Sông Lam thấp thoáng cánh buồm lá sen

Trong câu hát có ngọn đèn

Soi cho con bước những đêm vắng Người

Đâu chỉ thế, câu hát cũng là cội nguồn cao đẹp, gợi nhà thơ liên tưởng đến những tháng năm bôn ba cứu nước của Người. Trong ba mươi năm xa nước, có phút giây nào Bác không nhớ nước non, nhớ làng Sen sâu nặng ân tình. Một món cà xứ Nghệ, một hàng rào râm bụt đỏ đơm hoa, một mái nhà tranh bên lũy tre xanh biếc… Tất cả điều đó đã chưng cất thành câu hát làng Sen - câu hát Nam Đàn bồi hồi thương nhớ:

Bác đi khắp bốn phương trời

Nghe bao khúc hát không nguôi nhớ làng

Trong câu hát có Nam Đàn

Có làng Sen với muôn vàn bông sen

Đọc những câu thơ trên, lòng chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động nhớ đến những câu thơ sâu nặng lòng biết ơn và giàu chất suy tưởng của Chế Lan Viên khi viết về hành trình cứu nước và nỗi nhớ nhà đến khắc khoải rưng rưng của Bác trong đêm xa nước đầu tiên: “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ/ Sóng dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương/ Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở/ Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương” (Người đi tìm hình của nước). Hai phong cách thể hiện, hai cách nhìn và cảm nghĩ về Bác, song tất cả đều toát lên tâm tình kính trọng, thấu hiểu nỗi lòng Người lúc dấn thân tìm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Trong hai khổ thơ cuối bài, nội dung tư tưởng vẫn được triển khai từ mạch nguồn cảm xúc ban đầu nhưng sâu lắng và rộng mở hơn. Câu hát trước lúc Bác đi xa đâu chỉ ám gợi về quê hương làng Sen - Nam Đàn của Bác. Câu hát, câu hò, điệu ví giặm xứ Nghệ kia còn là cõi nước non, là thiêng liêng Tổ quốc trường tồn và bản sắc ngàn đời không đổi. Vẻ đẹp cao quý đó được kết tinh thành tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho toàn thể dân tộc ta trước giờ phút đi xa mãi mãi:

Trong câu hát có nước non

Chiều nay như Bác vẫn còn đang nghe

Vẫn mong con với bạn bè

Hát câu ví giặm giọng quê Nam Đàn.

Có lẽ “Câu hát trước lúc Người đi xa” được Nguyễn Hưng Hải thơ hóa từ bài hát “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Hoàn. Đó là nhạc phẩm làm người nghe không sao cầm được nước mắt suốt mấy chục năm qua, và có lẽ mãi mãi sau này. Bây giờ đọc bài thơ này của Nguyễn Hưng Hải, với lời thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, hồn thơ đậm đà tính dân tộc qua thể lục bát, lòng mỗi chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ về Người. Kỷ niệm 51 năm ngày Bác về cõi vĩnh hằng, đồng thời thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người để lại cho toàn dân tộc, bài thơ trở thành nén tâm hương thành kính dâng lên Bác của tác giả và của mỗi người dân nước Việt.

  LÊ THÀNH VĂN

 

 

 


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

"CHA MẸ ĐẶC BIỆT" CỦA BỆNH NHI SƠ SINH PHÒNG KÍNH ký của H’XÍU HMOK - CHƯ YANG SIN SỐ 337 THÁNG 9 NĂM 2020

 


 

 

Phòng Nhi sơ sinh, khoa Hồi sức cấp cứu nhi và nhi sơ sinh, Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên đặc biệt hơn so với nhiều khoa phòng khác. Tại đây, những “mầm sống” vừa sinh ra đã buộc phải chăm sóc trong môi trường vô khuẩn với nhiều thiết bị kỹ thuật trên người. Mọi việc chăm sóc điều trị và đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các cháu đều được các bác sĩ và nhân viên bệnh viện đảm nhận. Bằng tình yêu thương và trách nhiệm, các bác sĩ và điều dưỡng ở đây đã và đang ngày đêm chăm sóc, điều trị cho những bệnh nhi sơ sinh để các cháu thực sự được “chào đời”.

Những bệnh nhân đặc biệt

Chăm chú ngắm nhìn cháu nội qua lớp tường kính phòng sơ sinh, Khoa Hồi sức cấp cứu nhi và nhi sơ sinh, Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên, bà H’Rai Niê ở buôn Tơng Jú, xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk không khỏi xúc động, rơi nước mắt. Cháu bé sinh non, chỉ nặng 1,8kg, phổi và tim chưa phát triển đầy đủ. Bé được các bác sĩ chuyển vào đây ngay sau khi sinh chiều hôm trước. Nhìn cháu nội nhỏ xíu mà máy móc, dây dợ chằng chịt khắp người, bà H’Rai không khỏi xót xa. "Tôi chỉ được nhìn cháu từ ngoài phòng qua cửa kính, còn lại đều do các bác sĩ chăm sóc. Chỉ khi nào họ gọi bảo mang tã, sữa thì mình chuẩn bị sẵn để mang vào đưa họ. Họ cũng quan tâm, chăm sóc tốt lắm. Tôi chỉ mong cháu mình qua khỏi bệnh tật, có thể lớn lên, khỏe mạnh bình thường. Đây là cháu nội đầu lòng nên tôi thương lắm"- bà H’Rai chia sẻ.

Nằm cạnh cháu nội bà H’Rai là một bé gái khác mới sinh được khoảng 2 tuần, cháu bị đa dị tật, không tự ăn được mà phải truyền thức ăn qua đường ống. Mẹ cháu là chị H’Bê Hy Byă, 21 tuổi, dù còn yếu do mới sinh nhưng vẫn cố gắng túc trực bên ngoài để được nhìn thấy con mỗi ngày. Chị H’Bê Hy tâm sự, chưa kịp vui mừng khi sinh được đứa thứ 2 là con gái thì không may con lại bị bệnh tật như vậy, gia đình cũng buồn lắm nhưng không biết làm sao, thôi thì còn nước còn tát, đành nhờ cậy các y bác sĩ chăm sóc, cứu chữa cho con. Chỉ mong sao con sẽ vững vàng vượt qua giai đoạn này, lớn lên khỏe mạnh để sớm được về nhà.

Phía bên trong phòng kính, đi khắp lượt từng giường bệnh, điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền cẩn thận kiểm tra lại vị trí đặt ống bơm, thiết bị hỗ trợ và khăn tã cho từng bé. Với chị và các điều dưỡng viên đang công tác tại khoa, đây là việc cần làm thường xuyên để xem các cháu có đang ổn định hay không, bởi như chị Hiền nói, người lớn mà có bị lệch kim, trật ven khi đau còn biết nói, biết gọi, chứ với các cháu nhỏ thì việc đó là không thể. Vậy nên, lỡ không để ý mà kim truyền hay ống dẫn bị lệch ra ngoài sẽ rất nguy hiểm, thậm chí có thể dẫn đến những sự việc đau lòng.

Những bệnh nhi nằm trong phòng kính đều là những em bé mới sinh còn đỏ hỏn. Nhiều cháu sinh non thiếu tháng, cân nặng chỉ vài trăm gram, nhiều chức năng cơ thể chưa hoàn thiện. Có cháu lại bị đa dị tật hay bị các nhiễm trùng. Có cháu được người dân đưa đến cấp cứu vì bị bỏ rơi khi vừa mới sinh, nhau rốn vẫn còn nguyên. Không có người thân của các cháu hỗ trợ, các y bác sĩ và nhân viên điều dưỡng lại vừa làm nhiệm vụ chăm sóc, điều trị vừa làm luôn nhiệm vụ tìm kiếm nguồn hỗ trợ, nhờ Khoa hoặc các tổ chức từ thiện quyên góp chi phí tã, sữa cho các cháu. Có cả những trường hợp bệnh nặng không qua khỏi, người nhà không có tiền đưa về, các nhân viên y tế lại quyên góp mỗi người một chút để hỗ trợ. “Nhiều bé vào viện nhìn rất thương, mình cảm thấy có sự đồng cảm. Nhiều ca khiến các y bác sĩ phải rơi nước mắt vì quá tội. Bản thân mình chăm sóc các cháu cũng đòi hỏi cẩn thận, tỉ mỉ một chút” – Điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền chia sẻ.

Bệnh đông không sợ bằng bệnh nặng

Với 5 bác sĩ và 23 điều dưỡng, trung bình mỗi ngày Phòng Nhi sơ sinh chăm sóc và điều trị cho khoảng 60 bé. Thời gian cao điểm, số lượng bệnh nhi có thể lên đến hơn 100 cháu/ngày. Theo bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Đức Toàn, Quản lý Phòng với hệ thống trang thiết bị đặc chủng và những cán bộ y tế tận tâm tận tình, Phòng có thể đáp ứng tốt việc chăm sóc và điều trị cho các bệnh nhi sinh non thiếu tháng hoặc mắc các bệnh lý, dị tật... Từ khi được thành lập năm 2014 đến nay, Phòng đã điều trị thành công cho rất nhiều trường hợp; mức tỉ lệ sơ sinh tử vong dưới 5%. Đối với mỗi bác sĩ, khi tiếp nhận một trường hợp bệnh nhi, việc đầu tiên là thăm khám, kiểm tra khả năng sinh tồn của bệnh nhi cũng như các vấn đề mà các cháu đang gặp phải, rồi từ đó nhanh chóng đưa ra các hướng chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Hàng ngày, mỗi nhịp sinh học của các cháu, từ ăn, uống, thay tã, lấy máu xét nghiệm hay thực hiện y lệnh của bác sĩ đều do các điều dưỡng viên thực hiện. Mỗi buổi sáng, việc đầu tiên của các điều dưỡng viên phòng kính khi vào ca là kiểm tra xem các cháu có bị đờm, nhớt không và phải vệ sinh, hút đờm cho các cháu. Tiếp đó là vệ sinh rốn, thay tã và quần áo, làm thuốc, lấy máu xét nghiệm, cho ăn và thực hiện y lệnh. Việc thay tã và cho ăn được các cô thực hiện thành nếp, cứ 4 tiếng thay tã một lần và 3 tiếng cho ăn một lần. Cứ như vậy, công việc nối tiếp nhau thành thói quen, các cô luôn chân luôn tay đều đặn chăm sóc các bé. Người thân của các cháu cũng nắm được lịch sinh học này và phối hợp nhịp nhàng với các điều dưỡng viên. Trước giờ ăn của các cháu, người nhà chuẩn bị sẵn tã sữa để vào nơi quy định để các cô lấy cho ăn. Các cô còn tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ như bôi Vaserlin vào môi các bé để tránh khô môi khi các cháu nằm trong phòng kính máy lạnh.

Việc chăm sóc các bệnh nhi sơ sinh cũng khó khăn hơn bình thường bởi nhiều em bé sinh non hoặc thiếu tháng có thể trạng yếu và cân nặng ít. Nhiều cháu chỉ nặng vài trăm gram, đỏ hỏn, bé xíu. Trong khi đó, trên người các cháu phải sử dụng nhiều thiết bị kỹ thuật với đủ lớp bông băng, keo dính. Chỉ riêng việc tắm cho một cháu cũng cần sự hỗ trợ của 2 đến 3 người. Thế nên, các cô điều dưỡng cố gắng sắp xếp thời gian làm sao để có thể đáp ứng hết những nhu cầu cơ bản của từng bệnh nhi, và tranh thủ những thời gian trống để chăm sóc kỹ hơn những ca bệnh nặng. Những công việc như nhịp sinh học, được các y bác sĩ thực hiện hàng ngày. Nhiều y bác sĩ phòng kính tâm sự, dù bệnh đông, công việc nhiều hơn bình thường nhưng với họ bệnh nhân đông không sợ bằng bệnh nặng. Chỉ cần có một ca nặng, nhất là vào ban đêm thì tất cả ê kip trực phải thức trắng đêm, căng sức gồng mình dồn sức để cứu chữa, giành lại sự sống cho các cháu.

Những kỷ niệm khó quên

Điều dưỡng Cao Thị Thu Hiền chia sẻ, hơn 11 năm gắn bó với Phòng Nhi sơ sinh, với chị có rất nhiều kỷ niệm đặc biệt và đáng nhớ. Vào năm 2010, khi chị mới về công tác tại khoa được hơn 1 năm, lần đầu tiên chị phụ trách chuyển tuyến cho một ca bệnh nặng là bệnh nhi non tháng, con của một cặp vợ chồng hiếm muộn. Cháu bé sức khỏe rất yếu và tiên lượng không khả quan. Thời điểm đó, việc chuyển tuyến do một điều dưỡng đi theo phụ trách, xe chuyển tuyến cũng chưa được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng như hiện nay. Chị Hiền nhớ lại, hành trình dài gần 400km từ Buôn Ma Thuột đi thành phố Hồ Chí Minh khi đó rất gian nan, đường xấu, bệnh nhi không tự thở được và có những thời điểm bị ngưng tim. Suốt 8 tiếng đồng hồ trên xe, chị Hiền vừa theo dõi sức khỏe bệnh nhi vừa phải bóp bóng trợ thở và thực hiện các thao tác cấp cứu, xoa bóp tim. Sau này em bé được cứu sống, lớn lên khỏe mạnh, gia đình có đưa cháu quay lại thăm chị và gửi lời cảm ơn bệnh viện. Mẹ cháu bé cũng đặt tên con là Hiền để thay lời cảm ơn và ghi nhớ hành trình gần 400km giành lại sự sống đầy gian nan.

Theo bác sĩ Nguyễn Đức Toàn và nhiều bác sĩ khác tâm sự, điều đặc biệt khiến họ cảm nhận một cách rõ ràng nhất, cũng là lý do đặc biệt của họ khi gắn bó với Khoa, đó là ẩn sâu trong những thân thể bé nhỏ kia là sức sống và khả năng phục hồi rất mãnh liệt và kỳ diệu. Bác sĩ Nguyễn Đức Toàn kể: "Một đứa trẻ nhập viện bị ngưng tim, ngay lập tức các y, bác sĩ thực hiện nhanh, chuẩn các thao tác xử trí cấp cứu. Khi tim của bệnh nhi đập trở lại thì cơ địa của trẻ đáp ứng rất nhanh, tỉnh táo và không để lại di chứng. Khi trẻ rút được ống nội khí quản, ngưng thở máy, trẻ tỉnh táo, không để lại di chứng thì đó là niềm hạnh phúc của các thầy thuốc".

Có lẽ, niềm vui và hạnh phúc lớn nhất của các y bác sĩ Phòng Nhi sơ sinh là thấy các bé yên ổn từng giờ, đủ sức khỏe để ra viện, trở về với vòng tay yêu thương của người thân.