Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020

NHỮNG KẾT QUẢ QUA CÁC ĐỢT ĐI THỰC TẾ SÁNG TÁC tác giả HỒNG CHIẾN - BÁO ĐẮK LẮK CUỐI TUẦN SỐ 48 ngày 13.12.2020

 





         

Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk (VHNT) có bảy chi hội chuyên ngành: Âm nhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Sân khấu – Điện ảnh, Văn học, Kiến trúc, Văn nghệ dân gian và hai chi hội địa phương: Chi hội VHNT huyện Krông Năng, Chi hội VHNT phía đông tỉnh Đắk Lắk.

Hàng năm được Quỹ hỗ trợ sáng tạo Văn học Nghệ thuật Trung ương cấp cho Hội 570 triệu đồng. Ban chấp hành Hội quyết định giao 40% tổng kinh phí cho 9 chi hội trực thuộc được tự chủ, tổ chức các hoạt động của chi hội; 60% kinh phí còn lại giao Thường trực Hội tổ chức các hoạt động chuyên sâu. Chính việc phân bổ kinh phí này đã góp phần quan trọng để các Chi hội tổ chức các hoạt động như: tọa đàm, hội thảo, tập huấn, hỗ trợ sáng tạo… và tổ chức đi thực tế theo đặc điểm của từng chuyên ngành.

Bên cạnh đó Thường trực Hội chủ động thực hiện xã hội hóa các hoạt động Văn học Nghệ thuật; phối hợp với các Sở, Ban, Ngành và Thị ủy, Huyện ủy, UBND các huyện, thị trên địa bàn tỉnh để mở trại sáng tác văn học nghệ thuật; đưa văn nghệ sỹ bám sát cuộc sống, phản ánh cuộc sống, phục vụ cuộc sống. Trung bình mỗi năm mời hơn 100 lượt hội viên tham gia từ một đến hai trại và trên chục chuyến đi thực tế sáng tác; không những ở trong tỉnh mà còn đi đến nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Cụ thể:

Năm 2016, tổ chức hai trại sáng tác và 11 chuyến đi thực tế cho các hội viên tham gia: Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực, Triễn lãm Mĩ thuật khu vực, đi thực tế các tỉnh đồng bằng Nam bộ và các chuyến hoạt động thực tế tại các huyện: Krông Ana, Krông Bông, Krông Pắc... Phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức 04 chuyến đi thực tế sáng tác đến các Đồn Biên phòng, vùng biên giới cho hơn 100 lượt hội viên tham gia.

Năm 2017, cử hội viên tham gia Trại sáng tác VHNT do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức tại Nha Trang. Tổ chức 12 chuyến đi thực tế cho các hội viên tham gia: Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực, Triễn lãm Mĩ thuật khu vực, Liên hoan Âm nhạc khu vực; đi thực tế các tỉnh Nam miền trung và các chuyến đi đến các huyện: Krông Pắc, Cư Kuin... Phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức 03 chuyến đi thực tế sáng tác đến các Đồn Biên phòng trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, hưởng ứng tuyên truyền cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ” do Bộ Công an phát động, Hội đã phối hợp với Công an tỉnh tổ chức hoạt động thực tế sáng tác tại các đơn vị thuộc Công an tỉnh cho 20 văn nghệ sĩ các chuyên ngành: Âm nhạc, Văn học, Nhiếp ảnh và Sân khấu - Điện ảnh, trong thời gian 5 ngày; sau chuyến đi có gần 100 tác phẩm được hoàn thành.

Năm 2018, Thường trực Hội phối hợp với Huyện ủy, UBND các huyện: Krông Búk, Ea H’Leo và Thị ủy, UBND Thị xã Buôn Hồ tổ chức 03 Trại sáng tác tổng hợp mời hơn 30 lượt hội viên tham gia.

Nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động VHNT, đưa văn nghệ sỹ, bám sát cuộc sống, phản ánh cuộc sống, Thường trực Hội phối hợp với Công an tỉnh Đắk Lắk tổ chức Cuộc vận động viết bút ký chủ đề: “Công an Đắk Lắk bản lĩnh nhân văn, vì nhân dân phục vụ”. Trong năm Hội đã phối hợp với Công an tỉnh tổ chức 4 chuyến đi thực tế sáng tác cho 34 lượt hội viên chuyên ngành: Văn học, Âm nhạc, Mỹ thuật đến các đơn vị Công an trong tỉnh. Phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức 2 đợt đi thực tế sáng tác tại các Đồn Biên phòng trong tỉnh. Qua các các chuyến đi, các văn nghệ sỹ đều có tác phẩm mới được hoàn thành, được báo và tạp chí chuyên ngành ở trung ương và địa phương đăng tải.

Năm 2019, Hội đã tổ chức 13 chuyến đi thực tế trong và ngoài tỉnh cho hơn 100 lượt hội viên tham gia. Phối hợp với Công an tỉnh cử 42 lượt hội viên tham gia 06 chuyến đi thực tế sáng tác đến các huyện Công an: Krông Buk, Krông Ana, Cư Kui, Lắk, Ea Suop và Phòng Cảnh sát Giao thông. Liên kết với Huyện ủy và UBND huyện Cư M’Gar tổ chức Trại sáng tác VHNT Cư M’Gar. Qua các chuyến đi thực tế và dự Trại sáng tác, nhiều tác phẩm đã hoàn thành, đạt chất lượng cao; được tặng giải thưởng trong các cuộc thi, liên hoan, trưng bày triển lãm khu vực.  

Năm 2020, do tình hình dịch bệnh COVI 2019 bùng phát nên Thường trực Hội không tổ chức các Trại sáng tác VHNT tập trung, nhưng vẫn tổ chức được 06 chuyến đi thực tế sáng tác cho hơn 60 lượt hội viên đến các tỉnh bạn. Qua các chuyến đi, nhiều tác phẩm đã hoàn thành được công bố và dư luận đánh giá cao.


Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

CỤ NGHÈ VŨ TÔNG PHAN TRƯỚC VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM tác giả VŨ BÌNH LỤC - CHƯ YANG SIN SỐ 339 tháng 11 năm 2020

 



Sổ tay Thơ:

 


(Về bài thơ QUAN CỰU QUỐC TỬ GIÁM của Vũ Tông Phan)

 

 

Phiên âm:

 

QUAN CỰU QUỐC TỬ GIÁM

 

Hiền quan tân xưởng Đại Nam kỳ,

Cựu giám lâu tường bán dĩ phi.

Ngô đạo bất duyên tang lễ cuộc,

Thử bang thiên quán phế hưng ky (cơ).

Bách vương ảnh hướng hàn nha thụ,

Thiên cổ phong thanh triện điểu bi.

Trùng ức thiếu niên du học xứ,

Xiển Do đừng hạ phỏng tà huy.

 

Dịch nghĩa:

 

THĂM QUỐC TỬ GIÁM CŨ

 

Cửa hiền tài mới được dựng ở kinh kỳ nước Đại Nam

Lầu tường Quốc Tử Giám cũ đã điêu tàn quá nửa.

Đạo ta không quan hệ gì với cuộc bể dâu,

Chỉ đất nước này gắn bó với cơ trời suy thịnh.

Bóng dáng và âm hưởng của trăm đời đế vương,

Chỉ còn là đám cây lạnh lẽo quạ đậu.

Phong hoá và tiếng tăm của nghìn xưa,

giờ chỉ còn thấy những tấm bia rạn nứt như in dấu chân chim

Nhớ lại nơi từng du học thời niên thiếu,

(Nhưng) dưới mái giảng đường Xiển Do chỉ còn gặp lại bóng chiều tà…

 

Dịch thơ

 

Miếu Văn dựng ở Đại Nam,

Quốc Tử Giám cũ điêu tàn đã lâu.

Đạo ta ngoài cuộc bể dâu,

Cơ trời suy thịnh  nhuốm màu tang thương.

Vàng son ngàn thuở đế vương,

Còn đây lạnh lẽo thê lương thế này !

Nghìn xưa phong hóa sâu dày,

Giờ trơ mấy tấm bia gầy xác xơ.

Nhớ xưa một thuở mộng mơ,

Mà nay Văn Miếu bơ phờ hoàng hôn.

                                                            (VŨ BÌNH LỤC-Phỏng dịch)

Tiến sĩ Vũ Tông Phan (1800-1862), được người đời rất kính trọng, thường gọi là Cụ Nghè Tự Tháp. Đó là một nhà giáo khả kính, bạn thân của Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu…Thi đỗ tiến sỹ, làm quan dưới triều Nguyễn đến chức Đốc học Hà Nội, rồi cáo bệnh từ quan về sớm, mở trường dạy học bên hồ Gươm, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Học trò ông làm quan nhan nhản ở kinh thành Huế. Ông cùng với Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu…nổi bật lên như những danh sỹ Bắc Hà, làm rạng danh cho Hà Nội, cho đất nước. Cũng như Cao và Nguyễn, Vũ Tông Phan sáng tác nhiều bài thơ về Hà thành. Nhìn chung, những sáng tác của các ông (và của cả các bà như Nguyễn Thị Hinh, tức Bà Huyện Thanh Quan) ở thời điểm này, phần lớn đều lấy cảm hứng hoài cổ, tiếc thương một kinh đô hoa lệ xưa đã trở thành hoang tích, khi làn gió lịch sử đổi chiều. Bài thơ “Thăm Quốc Tử Giám cũ” của Vũ Tông Phan chính là một trong những bài thơ như vậy!

Mở đầu bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả viết:

“Cửa hiền tài mới được dựng ở Kinh kỳ nước Đại Nam

Lầu tường Quốc Tử Giám cũ đã điêu tàn quá nửa”

Hai câu thơ, mà khái quát cả một thiên lịch sử đau buồn, với bao biến cố thăng trầm, gió mưa thế cuộc. Khi mà Triều Nguyễn đã đánh bại nhà Tây Sơn, đã bỏ Kinh thành Thăng Long, đặt đô ở Thuận Hoá, rồi cho dựng Văn Miếu ở Kinh đô mới, lại đặt tên nước (Quốc hiệu) là Đại Nam, thì đương nhiên, thành Thăng Long, đã mau chóng trở thành cố đô hoang phế. Chữ “Thăng Long” (Rồng bay) cũng bị người ta thay đổi, làm cho nó méo mó đi, không thể “bay lên” được nữa. Thành Hà Nội chẳng những bị hạ cấp về quy mô thực địa, mà còn bị hạ cấp về mặt hành chính, chỉ còn là cái Bắc Thành trực thuộc tỉnh Hà Nội (gồm cả huyện Lý Nhân của tỉnh Hà Nam ngày nay). Kinh đô mới của triều Nguyễn đặt ở Thuận Hóa (Huế), Văn miếu đương nhiên sẽ là ở Huế. Quốc Tử Giám xưa một thời tôn nghiêm, là biểu tượng văn hóa của cả nước trải qua nhiều triều đại vẻ vang, cũng không là ngoại lệ. Nó cũng bị bỏ rơi, cũng đã “điêu tàn quá nửa”!...

Hai câu thơ tiếp theo, tác giả nghĩ suy, luận bàn về lẽ hưng vong của đất nước, sự thịnh suy của các triều đại, về vật đổi sao dời thế cuộc. Vũ Tông Phan viết:

“Đạo ta không quan hệ gì với cuộc bể dâu

Chỉ đất nước này gắn bó với cơ trời suy thịnh”

“Đạo ta” là đạo nào, nếu không phải là đạo Nho mà Vũ Tông Phan và nhiều nhà Nho cùng thời đang nhọc lòng, khổ công theo đuổi, sao lại “không có quan hệ gì với cuộc bể dâu”? Tác giả chỉ đưa ra một nhận xét, về tính độc lập tương đối của đạo Nho chăng? Bởi thực tế thì triều đại đổi thay, Kinh đô dời chuyển, nhưng Văn Miếu vẫn còn, lại được tái sinh ở Kinh đô mới! Thế nghĩa là “Đạo ta” không đồng nghĩa với chính trị “bể dâu”. Nó là bất biến, trong cái thường biến của vận mệnh dân tộc, của “cơ trời suy thịnh” khác nhau mà thôi! Phải chăng, theo tác giả, mặc dù Kinh đô đã dời chuyển đi nơi khác, nhưng ở đây, ở chính đất Thăng Long cố đô văn vật này thì  “đạo ta” tức đạo thánh hiền vẫn không thể mất. Nó vẫn sống trong lòng người, dường như chẳng quan hệ gì với sự đổi thay thời thế, với bể dâu cơ trời suy thịnh? Hai câu thơ, nếu xét về vị trí của luật thơ, thì phải đảm nhiệm chức năng tả thực, nhưng tác giả đã không tuân theo cái luật thông thường ấy, mà ông đã sử dụng vị trí này bằng hai câu thơ có nội dung bàn luận. Bàn luận về đạo Nho và thời thế, theo đó là một chút cảm hoài, như một tiếng thở dài được nén lại.

Nhưng trước mắt vẫn là một Quốc Tử Giám điêu tàn hoang phế. Lòng thi nhân cồn lên bao nghĩ ngợi, tiếc thương, xót xa cho một cố đô hàng nghìn năm tuổi, thực tế là hơn nghìn năm tuổi, từng trải hàng trăm đời đế vương, bóng dáng và âm hưởng như còn phảng phất đâu đây. Tất cả, giờ chỉ còn là quá vãng mờ mịt xa xôi, chỉ còn là “đám cây lạnh lẽo” cho lũ quạ làm tổ! Thật là đau xót biết chừng nào. Chỉ vài chi tiết chân thực, hiện thực, tác giả đã cho ta hình dung thấy mồn một quang cảnh hoang lương tàn tạ của Quốc Tử Giám, của cố đô một thời vang bóng, lòng xiết bao cảm hoài chua xót…Nhưng đó là một Quốc Tử Giám vật thể hiện hữu, đã đành. Lại còn một Quốc Tử Giám phi vật thể, một Thăng Long phi vật thể, là “phong hoá”, là “tiếng tăm” của nghìn xưa…bây giờ có còn chăng? Còn đấy, nhưng “chỉ còn thấy những tấm bia rạn nứt như in dấu chân chim” đang chau mặt với thời gian vô cảm mà thôi!...

Kết thúc bài thơ, tác giả viết: “Trùng ức thiếu niên du học xứ / Xiển Do đường hạ phỏng tà huy” (Nhớ lại nơi từng du học thời niên thiếu / Nhưng dưới mái giảng đường, Xiển Do chỉ còn gặp lại bóng chiều tà”).

Tác giả thăm lại Quốc Tử Giám, như thăm lại ngôi trường xưa cổ kính, nơi chính ông cũng đã có những năm tháng dùi mài kinh sử ở nơi đây, thời niên thiếu. Nhưng dâu bể thế thời đã khiến cái trường đại học đầu tiên danh tiếng nhất, trở thành điêu tàn hoang phế. Ông ví mình cũng như Xiển, như Do, những môn sinh đạo Khổng, chỉ gặp lại Miếu Văn này, như “gặp lại bóng chiều tà” mà thôi…

Bài thơ thất ngôn bát cú, “biến tấu” chức năng trật tự các câu thơ, như một kiểu Việt hoá thơ Đường, chỉ xoáy vào một điểm nhìn cận cảnh là Quốc Tử Giám, mà ẩn chứa biết bao nỗi niềm tâm sự của một sỹ phu Bắc Hà, vốn không ưa gì những chính sách thiển cận của triều Nguyễn. Vũ Tông Phan không làm được việc “đội đá vá trời” đầy khi phách lẫm liệt như Cao Bá Quát, nhưng ông biết chuyển hoá lòng yêu nước của mình vào một hành động cụ thể, cũng rất hữu hiệu và cao quý, ấy là đào tạo nhân tài cho tương lai, chấn hưng phong hóa theo cách của riêng mình. Và đó chẳng phải là một việc làm tiếp sức cho việc nối dài “phong hoá” và “thanh âm” đẹp đẽ của dân tộc hay sao!

Toàn bộ bài thơ là một thanh điệu trầm buồn, chất chứa bao nỗi niềm sâu thẳm của một bậc đại Nho, trước bể dâu thế cuộc. May thay, nỗi niềm xót xa của Cụ Nghè Tự Tháp Vũ Tông phan, đã được đời sau giải toả. Văn Miếu Quốc Tử Giám, giờ đã được hồi sinh cùng thời đại mới, như sự hồi sinh của Thăng Long – Hà Nội vậy!

                                                                                          VŨ BÌNH LỤC


Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

NGUY CƠ “SẠCH BÓNG” VOI NHÀ… tác giả HOÀI AN - CHƯ YANG SIN SỐ 339 tháng 11 năm 2020

 Đất và Người Đắk Lắk

 

 


 

Đắc Lắc có một sản phẩm du lịch độc đáo, không một địa phương nào ở nước ta có. Ấy là xem voi biểu diễn các tiết mục đá bóng, lăn cây, kéo gỗ, đua voi vượt sông, đua voi trên đường bộ, cưỡi voi đi dạo dọc sông Sê Rê Pốk... Từ xa xưa, voi đã được nuôi voi trong các gia đình người M’nông, Gia rai, Lào... Người ta đo đẳng cấp của một gia đình bằng số lượng voi nhà. Kèm theo việc nuôi voi nhà là cả một hệ thống tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa có liên quan đến con voi. Từ hơn ba chục năm trước, hễ nhắc tới Đắc Lắc không chỉ người ta nhớ tới cà phê, mà còn nhớ tới những lễ cúng, những cuộc đua voi... Bởi ai đã xem đua voi, đã cưỡi voi một lần sẽ nhớ mãi. Thế nhưng hiện nay Đắc Lắc đang đứng trước nguy cơ “sạch bóng” voi nhà…

Những con số giật mình

Cách đây mấy năm, gặp tôi, ông Y Ka, nguyên bí thư Đảng ủy xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) đã cầm tay tôi, nói một cách khẩn khoản, thiết tha, rằng:–“Nhà báo các ông phải lên tiếng làm sao đi chứ. Bản Đôn sắp hết voi rồi. Bản Đôn mà hết voi thì có còn hồn vía của Bản Đôn nữa không? Sẽ hết tất cả những lễ cúng, cầu mong thần Ngoắc Nguan ban sức khỏe cho voi, sẽ không còn lễ cúng nhập buôn của voi, không còn lễ cưới cho voi, sẽ hết luôn cả hội đua voi náo nức âm vang đất trời… Ngày ấy, không xa nữa đâu, nếu tỉnh không ra tay bảo vệ voi nhà một cách hiệu quả…”. Nói đến đó giọng ông trầm hẳn đi, nghẹn ngào. Tôi biết ông đang hết sức lo lắng cho số phận của đàn voi nhà của Bản Đôn, của Đắc Lắc, bởi những năm gần đây số lượng đã bị giảm quá nhanh chóng.

Tôi nhớ, khoảng cuối năm 2008, tôi và Khăm Phết Lào (con trai “Vua” săn voi Ama Kông) đến thăm Ây Nô, già làng của buôn Trí A (xã Krông Na) là người từ Lào sang cư trú ở đây từ năm 1945. Khi tôi hỏi chuyện Bản Đôn thời “đi khỏi nhà vài đoạn quăng dao” đã gặp rừng, Ây Nô kể say sưa, dòng ký ức tuôn chảy dào dạt, cuồn cuộn, như lâu nay bị dồn nén trong gan ruột nay có dịp bộc phát: – Mày không tưởng tượng được đâu, ngày ấy muốn ăn con cá, cầm xỉa xuống sông Sê Rê Pôk một lát là có ngay con lăng, con rô cờ… nặng vài ký, đưa về bọc lá bưởi, đặt lên bếp than, vài ba phút sau mùi cá nướng đã thơm lừng. Muốn ăn con chồn, con hoẵng cầm ná đi một hồi là có chồn có hoẵng vác vai trở về. Ngày ấy, nửa số nhà trong buôn này có voi, đếm trên ngón tay ngón chân không hết đâu, hơn trăm con mà. Cứ mỗi trưa voi ra sông tắm, cả bầy đùa giỡn nhau, chúng dùng vòi phun nước như mưa rào. Cứ chiều về, tiếng bước chân voi nện thình thịch trên đường buôn, hay trong các góc vườn nhà làm cho lòng tao bình yên và vui lắm. Nhưng bây giờ voi sắp hết rồi mày ơi…

Voi sắp hết rồi! Già làng Ây Nô nói điều đó. Nguyên Bí thư Đảng ủy xã Y Ka nói điều đó. Bao người khác nói điều đó. Giọng ai cũng thấm đẫm âu lo. Âu lo ấy “lây” sang cả tôi, buộc tôi phải tẩn mẩn ngồi lục lại tài liệu viết về voi nhà của Đắc Lắc. Theo cuốn sách Voi nhà trong đời sống văn hóa người M’nông của TS Trần Tấn Vịnh thì năm 1987 Đắc Lắc còn tới 503 con voi nhà. Nhưng 10 năm sau, tức năm 1997, chỉ còn 166 con, trong đó vùng Bản Đôn – Ea Súp  còn 64 con. Nhưng đến 2009 cả tỉnh Đắc Lắc chỉ còn 36 con. Riêng vùng Bản Đôn – Ea Súp chỉ còn 24 con, trong đó voi của dân chỉ có 12 con, còn lại là voi của Vườn quốc gia Yôk Đôn, của 3 doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn. Và hiện nay, cả tỉnh chỉ còn khoảng 20 con.

Quả là tốc độ suy giảm đàn voi nhà ở Đắc Lắc quá nhanh, nhanh đến giật mình, nhanh đến bàng hoàng. Không chặn được đà suy giảm này thì 5–10 năm nữa voi nhà ở Đắc Lắc sẽ “sạch bóng”. Ai từng sống trên mảnh đất này, hiểu về mảnh đất này, mới thấm thía hết mọi nhẽ của việc “Đắc Lắc hết voi”, mới thấy đó là nỗi đau lớn của cả vùng đất…

Cần sự quan tâm thực chất…

Nói cho “vuông” thì từ nhiều năm nay có nhiều vị lãnh đạo tỉnh Đắc Lắc cũng đã thấy được nguy cơ Đắc Lắc sẽ “sạch bóng” voi nhà. Và vì vậy trong nhiều văn bản của tỉnh đã đề cập tới việc phải bảo tồn bằng được voi nhà, bởi voi là biểu tượng của tỉnh nhà, của văn hóa, thiên nhiên Đắc Lắc, nó thấm sâu vào các mối quan hệ xã hội, tác động vào văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng, lễ hội, du lịch…của tỉnh. Nói cho “vuông” thì tỉnh cũng đã có nhiều cố gắng để tuyên truyền vận động nhân dân chăm sóc, gìn giữ đàn voi nhà, không bán sang nước bạn Lào và Campuchia (qua đường biên giới), không sử dụng con voi quá sức, cố gắng tìm tòi các biện pháp để voi nhà có thể sinh sản. Tỉnh cũng đã giao cho các ngành chức năng xây dựng “Đề án bảo tồn và phát triển đàn voi nhà” khá tốn kém…

Nhưng… Xin được đặt một chữ “nhưng” ở đây, vì tất cả những quan tâm đó có lúc đã “đặt” không đúng chỗ, vẫn phảng phất tính hình thức, tính lý thuyết, chưa gắn với thực tế. Và vì vậy chưa có hiệu quả thiết thực. Vì thế mà voi nhà của Đắc Lắc vẫn cứ “đội nón ra đi”, số “vượt biên”, số bị lâm tặc bắn lấy ngà bán cho những kẻ làm đồ trang sức, hoặc lấy xương bán cho các lò “cao tặc”.

Có phải vì thế mà ông Y Ka, nguyên bí thứ Đảng ủy xã Krông Na khi gặp tôi đã phải thốt lên lời mong mỏi: Tỉnh cần quan tâm bảo vệ voi nhà “thực lòng hơn”…

Tôi nhớ, năm 2007 tỉnh Đắc Lắc đã từng giao cho Sở Thương mại – Du lịch của tỉnh làm chủ “Đề án bảo tồn và phát triển voi nhà”. Vì không thuộc lĩnh vực chuyên môn này, Sở Thương mại – Du lịch Đắc Lắc phải thuê Trung tâm Sinh thái Môi trường và Tài nguyên của Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh xây dựng đề án. Hồi ấy đã có ý kiến cho rằng: Lãnh đạo tỉnh đã “đặt” sự quan tâm không đúng chỗ. Sao lại là Sở Thương mại – Du lịch mà không phải Sở NN & PTNT, hoặc Chi cục Kiểm lâm của tỉnh làm chủ đề án? Sao lại thuê Trung tâm Sinh thái Môi trường và Tài nguyên của Trường Đại học Công nghiệp mà không phải là Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật, một viện chuyên ngành về lĩnh vực nghiên cứu tài nguyên sinh vật, trong đó có nhiều chuyên gia đầu ngành của nước ta về động vật hoang dã xây dựng đề án? Có phải vì thế mà đề án đã chưa thuyết phục được nhiều vị lãnh đạo tỉnh, nhiều chuyên gia về động vật hoang dã trong tỉnh; và vì thế đến nay đề án này đã không hiệu quả?

Những việc cần làm ngay

Hiện nay đàn voi nhà ở Đắc Lắc chỉ còn vài chục con, không chỉ ít về số lượng mà còn kém về chất lượng, vì trên 70% đã cao niên (trên 50 tuổi), không còn khả năng sinh sản và gầy yếu. Trong điều kiện rừng bị thu hẹp, môi trường sống thuận lợi cho voi không còn, thì việc tìm cho voi một “bãi đáp” thuận lợi và tạo điều kiện cho những con voi nhà còn có  khả năng sinh sản có dịp tiếp xúc, “giao lưu trao đổi tình cảm” vào mùa động dục là hết sức cần thiết. Theo ông Y Vân, ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, sở dĩ lâu nay voi nhà sinh sản ít, là do vào mùa động dục nó rất hung dữ, có thể tấn công cả nài voi, vì thế người ta phải xích vào gốc cây lớn, bỏ đói nhiều ngày làm cho nó kiệt sức, nhằm kìm hãm tính hung dữ của nó. Nếu mùa động dục tất cả voi nhà đều được thả vào rừng để chúng được tự do “kết bạn” thì khả năng có bầu của những con voi cái còn trong độ tuổi sinh đẻ là rất cao. Vì thế trước mắt tỉnh cần giao cho một ngành chức năng, vận động và có chính sách hỗ trợ các hộ dân, các doanh nghiệp có voi, đến mùa động dục (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) đưa vào Vườn quốc gia Yôk Đôn thả, cho chúng được sống tự do.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng đã đến lúc cần tính đến biện pháp thụ tinh nhân tạo cho voi nhà. Tỉnh Đắc Lắc nên chủ động bàn bạc, phối hợp với Bộ NN & PTNT, mời các chuyên gia giỏi về voi, nghiên cứu cách làm này. Đây là phương pháp hiện ở nước ta chưa thực hiện, nhưng rất có khả năng thành công; từ đó sẽ mở ra một cách bảo tồn voi nhà có tính bền vững cao.

Một số cán bộ của huyện Buôn Đôn là người bản địa cũng đề nghị: Nhà nước nên xem xét và cho phép đồng bào mỗi năm vào rừng săn bắt một đến hai con voi rừng, đưa về thuần dưỡng để vừa bổ sung cho đội ngũ voi nhà vừa duy trì một sinh hoạt văn hóa nổi tiếng của Bản Đôn. Hiện voi rừng ở vùng Bản Đôn – Ea Súp (Đắc Lắc) còn  khoảng trên 30 con, hàng năm vẫn ra phá hoại hoa màu của đồng bào trong khu vực.

Nếu Đắc Lắc không cấp bách có ngay các giải pháp hữu hiệu bảo tồn voi nhà thì 510 năm nữa, voi nhà sẽ “sạch bóng”! Đó là lời cảnh báo hoàn toàn có căn cứ.

 


Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

MẦM NON MẮT LIM DIM truyện ngắn của HỒ HUY SƠN - CHƯ YANG SIN SỐ 339 tháng 11 năm 2020

 


 

1.

Bốn năm bước chân vào nghề, Yên chưa bao giờ gặp phải tình huống nào như vậy. Mọi thứ vẫn còn rõ ràng trong đầu. Hoang mang. Ngộp thở. Bấn loạn. Những từ này sợ cũng chưa diễn tả hết cảm giác của Yên. Cho đến khi lên giường, tắt điện rồi mà Yên vẫn không thể chợp mắt dù chồng động viên: "Chuyện đâu còn có đó. Em có thức trắng đêm cũng không giải quyết được. Ngủ đi, ngày mai xem chuyện thế nào rồi tính".

Chuyện là đầu hôm, vừa ngồi vào bàn chuẩn bị ăn cơm tối thì điện thoại của Yên rung liên tục. Cuộc gọi đầu tiên là của mẹ Duy Khánh, cậu học trò nhỏ của Yên. Yên vừa mới "A lô", đầu dây bên kia đã sa sả:

- Cô dạy dỗ lũ trẻ kiểu gì vậy cô Yên? 

Giọng mẹ Duy Khánh hôm nay có âm vực hơi bất thường. Yên nghe hỏi vậy lấy làm bất ngờ, nhưng bên kia chỉ “ném” lại cho Yên thêm một câu nữa trước khi tắt điện thoại:

- Ngày mai tôi sẽ lên trường làm cho ra ngô ra khoai!

Yên chưng hửng. Chưa kịp định thần thì cuộc gọi khác lại đến. Lần này là mẹ Hải Nam. Giọng chị nhỏ nhẹ mà Yên ngỡ như đang bị ngàn mũi kim chích vào da thịt.

- Lũ trẻ con như tờ giấy trắng, sao cô dạy chúng những lời lẽ thô tục. Cô có xứng đáng là cô giáo không cô Yên?

Còn hai hay ba cuộc điện thoại như vậy mà Yên không nhớ. Tất cả có cùng một nội dung, và cùng thuộc dạng lửng lơ con cá vàng. Thành ra, Yên chỉ được tiếp nhận, hoàn toàn không biết có chuyện gì, không biết phải trả lời thế nào. Mà thực ra, Yên cũng không có cơ hội để trả lời, vì những cuộc điện thoại kia đến và ngưng một cách đột ngột.

Lúc đó, Yên thấy chân tay rụng rời. Không muốn làm hỏng bữa tối, Yên đành ngồi vào bàn ăn nhưng không sao nuốt nổi. Đến chừng đi ngủ, thấy Yên trằn trọc, hết nghiêng trái lại nghiêng phải, chồng gặng hỏi mãi Yên mới kể. Yên không biết chuyện gì nên lẽ dĩ nhiên, chồng cũng vậy. Dù an ủi vợ nhưng anh cũng cảm thấy nôn nao, không thể nào nhắm mắt.

2.

Đúng “hẹn”, khi các lớp đã vào học được chừng ba mươi phút thì mẹ Duy Khánh, mẹ Hải Nam cùng hai phụ huynh nữa hẹn nhau đến phòng cô hiệu trưởng trường mầm non Ngôi Sao Ngày Mai. Nhìn khuôn mặt ai cũng hằm hằm, giận dữ, cô hiệu trưởng toan dùng kế mềm mỏng để trấn an những phụ huynh đang có nguy cơ “bùng cháy”. Nhưng cô hiệu trưởng chưa kịp mở lời, mẹ Duy Khánh đã sừng sộ:

- Không bao giờ tôi tin có một cô giáo như cô Yên. Tôi đề nghị nhà trường cho cô Yên nghỉ việc ngay lập tức.

Mẹ Duy Khánh nuốt một hơi đánh ực rồi nói tiếp:

- Nếu cô Yên còn tiếp tục đứng lớp, chúng tôi sẽ mang con về, gửi sang trường khác.

Cô hiệu trưởng giọng nhã nhặn:

- Mong các anh chị bình tĩnh. Nhà trường sẵn sàng lắng nghe ý kiến của các anh chị. Chẳng hay, các anh chị đang gặp phải chuyện gì làm khó chịu?

- Chiều qua, khi tôi đang đứng ở cổng trường thì thằng Tí nhà tôi chạy ào ra, miệng liến thoắng: “A mẹ cục kít. Mẹ cục kít tới rồi!”. Lúc đó, tôi sững hết người, không tin vào tai mình. Tôi mới hỏi thằng Tí: “Tí, con vừa nói gì đấy?”. “Mẹ cục kít!”, thằng bé trả lời xong rồi cười rúc rích. Thật là kinh khủng khiếp!

Mẹ Duy Khánh vừa ngắt lời, mẹ Hải Nam cũng vội lên tiếng, giọng đầy bức xúc:

- Cô hiệu trưởng không hiểu được cảm giác của tôi lúc nghe thằng con mình nói thế đâu. Cho đến tối về, thằng bé vẫn luôn miệng “cục kít, cục kít”. Tối qua vì bực quá, chồng tôi đã đét vào mông thằng bé mấy cái làm nó khóc rấm rứt cả đêm.

Khuôn mặt cô hiệu trưởng lúc này có phần tai tái, chỉ biết lắp bắp:

- Các anh chị… nói sao? Làm gì có chuyện như thế được...

Phụ huynh nam duy nhất bấy giờ mới lên tiếng:

- Chúng tôi cũng không tin. Nhưng cô hiệu trưởng thử nghĩ coi, một đứa thì không sao, đằng này chúng tôi đây có bốn người. Chúng tôi đề nghị nhà trường xem lại cách dạy dỗ của cô Yên.

Lời của phụ huynh nam duy nhất khiến cô hiệu trưởng không biết nói gì thêm. Sau cùng, cô hiệu trưởng đề nghị:

- Hay bây giờ thay mặt nhà trường, tôi mời các anh chị đến lớp cô Yến, rồi chúng ta sẽ cùng xem sự thể thế nào.

Bốn phụ huynh cùng cô hiệu trưởng xăm xăm đến trước cửa lớp. Khi đó, Yên đang ngồi giữa hai mươi đứa trẻ. Ngoài Yên, còn có cô bảo mẫu ngồi vòng ngoài, đang dùng khăn lau đồ chơi. Những đứa trẻ lên ba đang háo hức với trò chơi mà Yên làm quản trò, nhưng rồi Yên phải dừng ngang khi năm người xuất hiện ở cửa lớp. Yên đứng dậy, người cúi xuống thay cho lời chào bốn phụ huynh và cô hiệu trưởng. Vừa lúc đó, ở dưới lớp bọn trẻ đồng loạt ré lên:

- A mẹ cục kít!

- A mẹ cục kít!

- Mẹ cục kít!

- Bố cục kít!

- …

Những tiếng reo đầu tiên là của mấy đứa trẻ khi trông thấy bố mẹ ngoài cửa lớp. Còn những tiếng reo sau đó, giống như được kích ứng từ những tiếng reo đầu tiên, lũ trẻ thi nhau “cục kít, cục kít” rồi cười rinh rích.

Bấy giờ, mẹ Duy Khánh mới quay qua cô hiệu trưởng:

- Đó, cô hiệu trưởng hẳn đã thấy rồi!

Cô hiệu trưởng chết sững. Tất cả diễn ra hai năm rõ mười. Biết nói gì lúc này cũng khó, cô hiệu trưởng bèn cáo bận, hứa sẽ xem xét về chuyện này rồi rời đi. Lúc này, bốn phụ huynh quây lấy Yên. Trong khi Yên ngơ ngác, thì khuôn mặt của bốn phụ huynh lại đỏ bừng vì giận dữ.

- Chẳng hay trước đây cô Yên học trường nào ra? Sao cô lại dạy lũ trẻ như vậy hả cô Yên?

Miệng Yên méo xệch:

- Không phải như anh chị nghĩ đâu. Thực sự em cũng không biết vì sao lại có chuyện như vậy.

Yên thẫn thờ và co rúm người lại. Nhưng tình yêu dành cho con lớn hơn tất thảy nên cả bốn phụ huynh vẫn bảo toàn vẻ đằng đằng sát khí.

- Chúng tôi đi làm bạc mặt kiếm tiền cho con được học điều hay lẽ phải, không phải học những điều xấu xa cô Yên ơi!

- Cô có xứng làm cô giáo nữa không cô Yên ơi!

- Lớn lên, tụi trẻ sẽ thành người thế nào cô Yên ơi!

Mỗi câu “cô Yên ơi!” đay qua đay lại khiến Yên muốn ngã phịch xuống đất. Có cô giáo nào lại đi dạy học trò nói điều thô tục bao giờ. Yên thực sự không biết lũ trẻ nghe được ở đâu cái từ ấy, giờ có thanh minh cách nào cũng không làm mấy người này hết giận.

- Chúng tôi phải kiến nghị lên ban giám hiệu buộc cô thôi việc, để một cô giáo như vậy thì hỏng hết tương lai lũ trẻ.

Giờ học vẫn còn dang dở, lũ trẻ đang đợi Yên; vậy nên Yên muốn nhanh chóng thoát ra khỏi vòng vây này. Không còn cách nào khác, Yên quỳ xuống đất, trước những đôi mắt mở to của hai mươi đứa trẻ lên ba rồi lí nhí:

- Em xin lỗi các anh chị. Em hứa sẽ không để chuyện này xảy ra nữa.

Bốn phụ huynh có hơi bất ngờ trước hành động của Yên, nhưng có lẽ nhờ vậy họ mới chịu giải tán. Khi bốn phụ huynh kia đi rồi, Yên bắt đầu trở lại lớp học, cố gắng cười nói, múa hát với lũ trẻ như không có chuyện gì xảy ra.

3.

Nhưng qua ngày hôm sau thì có chuyện. Khi Yên vừa tới lớp, cô bảo mẫu nhìn Yên nửa rụt rè nửa bối rối. Yên gặng hỏi mãi, cô bảo mẫu mới đưa chiếc điện thoại về phía Yên. Yên mở clip lên và thấy… mình đang quỳ xin lỗi phụ huynh, đôi mắt đỏ hoe. Nếu trong clip không phải là mình, hẳn Yên sẽ thương cô gái đó biết chừng nào! Nhưng cô gái trong clip là Yên, vậy nên Yên thấy lòng nhói đau.

Đã có hàng ngàn lượt xem và chia sẻ clip. Rồi Yên đọc hàng trăm bình luận bên dưới. Ở đó giống như đang có một cơn thịnh nộ tập thể. Những cái tên xa lạ trút xuống Yên những lời lẽ cay nghiệt, tục tằn. Chưa dừng ở đó, Yên click vào mấy đường link của các trang báo mạng mà những cái tên xa lạ đăng trong phần bình luận. Hàng loạt bài báo hiện ra với những tiêu đề khiến ai cũng phải lao vào đọc: Thực hư chuyện cô giáo quỳ xin lỗi phụ huynh, Cô giáo mầm non dạy trẻ lời thô thiển, Cô giáo phải quỳ xin lỗi phụ huynh vì dạy trẻ nói tục. Thậm chí, có báo còn viết Quá khứ đau thương của cô giáo quỳ xin lỗi phụ huynh, mà Yên không hiểu bằng cách nào, họ đã đào xới cả quá khứ đau buồn của Yên, như một cách để lý giải cho hành động mà Yên đã làm hôm trước, trước mắt lũ học trò và các vị phụ huynh.

Yên bủn rủn trả lại chiếc điện thoại cho cô bảo mẫu, miệng đắng nghét. Mọi thứ trước mắt Yên trở nên nhòe mờ. Yên hít một hơi thật dài, sau đó lên nhờ ban giám hiệu thu xếp người đứng lớp thay mình, rồi về nhà nằm nghỉ.

Về đến nhà, Yên ngã vật xuống giường, rúm ró không khác gì con thú bị thương. Sao lại có chuyện như vậy? Yên yêu trẻ bởi nhiều lẽ. Trẻ con như nụ như hoa, chẳng cần phải đề phòng khi chơi với chúng. Và vì Yên mồ côi mẹ từ nhỏ, thiếu thốn sự săn sóc của đôi tay dịu dàng nên Yên muốn sau này mình sẽ yêu những đứa trẻ, trong đó có cả con mình, nhiều hơn. Chính vì lẽ đó nên Yên mới quyết định thi vào ngành Sư phạm Mầm non.

Tốt nghiệp, cả Yên và chồng quyết tâm trụ lại thành phố. Thực ra, nếu không ở lại thành phố, về quê với gia thế của mình, Yên cũng không biết xin vào đâu. Nhưng thành phố nhỏ bé mà những người như Yên, như chồng Yên thì đông như quân nguyên. Yên chật vật xin việc, quyết tâm theo đuổi công việc mình yêu thích. Sau cùng, Yên cũng xin được việc, nhưng là một ngôi trường mầm non ở ngoại thành. Để Yên được theo đuổi công việc mơ ước, cả Yên và chồng đồng ý dọn về ngoại thành sống. Chồng Yên có may mắn hơn khi được làm biên tập viên cho một công ty xuất bản. Hằng ngày, anh chạy xe hơn ba mươi cây số vào công ty làm việc. Có nhiều lần ngồi nghĩ, Yên thấy biết ơn chồng, thấy mình may mắn khi được làm vợ một người như anh.

Khi Yên đang nằm trên giường thì chồng đột ngột về nhà. Gọi là nhà nhưng thực chất là nhà thuê. Cửa không khóa nên anh mở toang cửa rồi sốt sắng:

- Em có bị làm sao không?

Chồng đến bên giường, đưa tay sờ lên trán Yên. Chừng như yên tâm vì Yên không có bệnh tật gì, anh quay sang nhìn chiếc điện thoại.

- Tạm thời, em tắt điện thoại đi. Không Facebook, đọc báo gì nữa.

Để chồng không phải lo lắng thêm, Yên với tay tắt điện thoại rồi cố gắng vỗ về giấc ngủ. Mọi chuyện đến với Yên quá đột ngột, Yên cũng không biết phải làm gì tiếp theo.

- Dậy ăn cơm thôi em!

Khi Yên đang lim dim ngủ thì chồng đến đánh thức. Yên ngồi dậy, thấy trong nhà dậy lên mùi thức ăn thơm phức. Yên rửa mặt rồi ngồi vào bàn. Cầm bát cơm đã ắp đầy thức ăn, Yên hỏi:

- Sao anh không quay lại công ty?

- Em như vầy sao anh đi nổi. Mà anh cũng đã xin phép nghỉ hôm nay rồi.

Cả Yên và chồng cùng chậm rãi nhai cơm. Cuối bữa, chồng kêu Yên lên giường nằm nghỉ, anh sẽ lo phần dọn dẹp. Yên nhìn chồng rưng rưng xúc động. Trước khi bê mâm cơm xuống bếp, chồng bảo Yên:

- Tạm thời em nên nghỉ ngơi ít ngày. Đợi mọi chuyện lắng xuống rồi đi dạy lại. Chiều nay anh sẽ lên trường xin phép ban giám hiệu.

Yên không nói gì. Có thể ý kiến của chồng cũng là giải pháp tốt nhất trong hoàn cảnh hiện tại. Nhưng tối hôm đó, như sực nhớ ra, Yên hỏi:

- Mấy cuốn sách tâm lý cho trẻ lên 3 hồi anh đưa về đâu rồi?

- Hình như đâu đó trong thùng sách. Chi vậy? - Chồng hỏi.

- Em có việc!

Yên trả lời chồng rồi cắm cúi tìm sách. Lấy ra những cuốn sách liên quan, Yên bắt đầu đọc, hết cuốn này đến cuốn khác. Yên đọc sách suốt đêm, rồi ngủ gục trên bàn lúc nào không hay.

4.

Sáng ngày hôm sau, Yên quyết định lên lớp. Ban đầu, chồng tỏ ra không vui nhưng sau cùng vẫn tôn trọng Yên. Bởi Yên, và cả chồng đều biết, trở thành giáo viên mầm non là lựa chọn của Yên. Yên đã từng hân hoan, từng hạnh phúc với lựa chọn ấy của mình, nhất là khi ngắm nhìn những khuôn mặt thơ ngây, đáng yêu như những thiên thần. “Không có lý gì khiến mình phải bỏ cuộc!” - Yên thầm nhủ trong lòng như vậy trên đường tới trường.

Hai mươi đôi mắt ngây thơ vui mừng khi thấy Yên. Tối hôm qua, Yên đọc được trong đống sách của chồng, biết rằng tâm lý của trẻ ba tuổi thường rất phức tạp. Lũ trẻ thường bắt chước bạn bè, và sẽ phấn khích với một từ mới nào đó. Nhất là khi được người khác chú ý, lũ trẻ sẽ càng trở nên phấn khích hơn. Nhưng chỉ vài ngày sau, khi có một sự quan tâm nào đó, chúng sẽ lại quên ngay.

Yên thấy trong lòng chộn rộn. Chẳng có lý do gì có thể ngăn cản Yên phải dừng công việc mà mình yêu thích. Yên không muốn đi tìm lý do nữa mà muốn tẩy xóa cái từ xấu xí trong đầu lũ trẻ. Yên hết kể chuyện rồi cho lũ trẻ chơi trò chơi. Những trò chơi Yên được học trong trường và tham khảo trong sách báo khiến lũ trẻ cười như nắc nẻ. Lúc đó, Yên cảm giác mình là cô Tiên đang lạc trong một khu vườn cổ tích, nơi có rất nhiều tiếng chim ríu ran. Trong trẻo và rất thánh thiện.

Yên lại dạy lũ trẻ đọc thơ. Giọng Yên trầm ấm, từng chữ từng chữ vút bay:

Mầm non mắt lim dim

Cố nhìn qua kẽ lá

Thấy mây bay hối hả

Thấy lất phất mưa phùn…!

Yên đọc từng câu để lũ trẻ đọc theo. Vừa dứt một câu, Yên dừng lại, chăm chú nhìn lẫn nghe lũ trẻ. Những khuôn miệng be bé, xinh xinh, dễ thương không khác gì những chiếc mỏ chim. Âm thanh đồng loạt vang lên, rộn rã.

Yên đứng, mắt lim dim nhìn xuống lũ chim non. Bỗng nhiên, Yên cảm thấy chóng mặt, váng đầu; liền sau đó là cảm giác buồn nôn. Yên bám vào thành bàn rồi tìm đến ghế ngồi. Bên tai Yên còn văng vẳng tiếng lũ chim non đọc thơ: “Mầm non mắt lim dim”.

  

1. Bài thơ Mầm non của nhà thơ Võ Quảng