Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Nhà văn NGUYỄN VĂN THIỆN
(Hội viên Hội VHNT Dak Lak) 


MẮT BIẾC

                      Truyện ngắn


Bạn hỏi: “Cậu nói thật cho tớ biết đi, mắt của tớ màu gì?” Mình cười rất to, trả lời: “Mắt của cậu màu xanh, đẹp lắm!”. Bạn hỏi lại: “Đừng nói xạo nhá?” Mình nói: “Thật đấy, bạn tin đi!”. Và hầu như ngày nào, bạn cũng hỏi mình câu đó. Màu xanh, màu nâu, màu đen… màu đen, màu nâu, màu xanh… Câu hỏi trở nên quen thuộc, câu trả lời cũng đã trở nên quen thuộc, từ lâu, khi mình bắt đầu gặp nhau.
Thực ra, mình không thể trả lời khác được.
Hàng ngày, bạn ngồi trước hiên nhà nhìn ra đường phố tấp nập. Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh nằm sát cạnh đường phố lớn của thị xã. Mỗi ngày, mình và bạn ngồi nhìn ra. Bạn nói: “Mùa này, bắp nướng rất thơm, mà chị bán bắp nướng tóc rất đen, rất dài!”. Mình cười: “Làm gì có, cậu chỉ tưởng tượng!”. Khi bạn cười, mắt bạn màu đen, long lanh.
Một hôm, bạn nói: “Cậu thấy không, những chú ve trên cành phượng ấy, chúng rất gầy, và cánh rất mỏng, từng đôi chụm đầu lại với nhau chơi trò thi hát, như trong ti vi ấy!”
Mình hỏi: “Cậu có xem ti vi nữa hả?”
Bạn không trả lời, lơ đễnh nhìn ra đường, mắt của bạn màu xanh, như một hồ nước đầy.
Có những ngày, bạn ốm. Bạn nằm trên giường, buồn xo. Mình cũng không muốn đi ra ngoài nhìn phố nữa. Không có bạn, ngồi một mình, chán lắm. Bạn nói: “Tớ thèm nhìn dòng người qua lại, nhìn chị bán bắp, nhìn những chú ve con trên cành phượng già sắp nở hoa!”. Mình cúi xuống sát bạn, động viên: “Cậu cố gắng khỏe lại nhé, đừng ốm nhé, cuộc sống còn đẹp lắm!”. Bạn cười trong cơn sốt, nụ cười như lửa cháy, hầm hập, nói, mình thấy cơn gió màu hồng vừa đi qua đây. Lúc ấy, mắt của bạn màu nâu.
Bạn sốt mê man, vẫn hỏi mình: “Cậu nói thật cho tớ biết đi, mắt tớ màu gì?”. Tôi trả lời: “Có lúc màu xanh, lúc màu đen hoặc có lúc màu nâu…”
Trong hồ sơ của bạn, phần họ tên cha mẹ, cô giáo luôn để trống. Bạn thường nói với mình, bạn không hề biết mặt bố mẹ. Tớ chưa nhìn thấy họ bao giờ cậu ạ, chắc bố mẹ mình đẹp lắm, bạn thủ thỉ như vậy trước những giờ đi ngủ. Mà tôi thì có hơn gì, đã ba năm nay rồi, bố mẹ tôi không còn vào thăm nữa.
Trước đó ba năm, bố mẹ đã bán những vuông đất cuối cùng để trả tiền viện phí. Tôi đi chăn bò, tôi nghịch viên bi sắt, và tiếng nổ, và trước mặt nở hoa, như một lời nguyền của số phận. Bố ôm tôi vào lòng, khóc không ra tiếng. Bố nói với mẹ:
“Bán hết đi, ruộng rẫy, mấy con bò nữa, bán hết lấy tiền…”
Những đồng tiền ít ỏi ấy mãi mãi ra đi, còn tôi thì mãi mãi…
      Mẹ nói trong tiếng nấc:
 “Thôi, trời bắt vậy chịu vậy, nó vào ở với người ta còn có cơm ăn áo mặc, ở với mẹ cha thì…”.
 Tôi nghe những tiếng sụt sịt, nghe tiếng của nước mắt rơi đâu đó trong đêm. Ngày đó cũng đã rất lâu rồi. Bố mẹ bây giờ chắc đang ở tận đâu đâu. Còn bố mẹ của bạn thì hình như chưa tồn tại trên đời. Bạn kể, người ta nhặt được tớ trên đống rác lúc nửa đêm, kiến đen bu đầy mặt và rốn. Lũ chuột cắn vào tai. Bạn thường nói: “Đến giờ, mỗi lần thấy xe chở rác màu xanh chạy qua trước cổng, ngửi thấy mùi rác, là tim mình lại đau như có ai bóp mạnh. Mình sợ mùi rác, ẩm lạnh, hôi hám. Mình sợ bước chân của lũ chuột cống trong đêm, suýt chút nữa chúng đã gặm tai mình”.
Bây giờ chúng mình mới ở đây.
Bây giờ, tôi ngồi cạnh bạn để chờ bạn cắt cơn sốt. Rồi bạn sẽ khỏe, sẽ ra cổng ngồi với tôi xem dòng người ngược xuôi hối hả sắc màu.
Chị bán bắp gương mặt ửng hồng có mái tóc dài đen nhánh.
Những chú ve sầu cánh mỏng màu nâu.
Cây phượng già nở hoa màu đỏ.
Cơn gió màu hồng vừa đi qua…
Cuộc sống của chúng tôi rạng rỡ đủ sắc màu.
Ở Trung tâm này, cô giáo dạy chúng tôi học chữ, học hát và học vẽ. Tôi và bạn đều thích môn vẽ. Cô giáo mặc áo dài trắng thướt tha, nhận xét:
“Tranh của em phối màu rất tốt, chú ý nét vẽ, không được đứt quãng như thế!”
 Tôi vẽ một bức tranh làng quê ven sông, nơi tôi sinh ra, nơi gọi là quê hương. Mái nhà, tôi tô màu nâu. Hàng cây trước ngõ, tôi tô màu xanh. Tất nhiên , mặt trời phải là màu đỏ, còn đàn bò, những người bạn thân của tôi, chúng có màu vàng. Bạn nói:
 “Dòng sông có màu xanh lục nữa, tô đi, đậm vào!”
 Cô giáo đứng sau lưng, góp ý:
“Theo ý cô, hàng cây cho vươn cao thêm chút nữa, cho thêm trù phú, xanh tươi…”
Còn bạn, bạn nói, mình không có làng quê nào để vẽ. Mình sẽ vẽ một ngôi nhà thật lớn, phía trước có sân chơi, có hồ bơi! Bạn hỏi cô giáo: “Thưa cô, bức tường, sơn màu gì thì đẹp nhất ạ?”. Cô giáo cười: “Tùy theo sở thích, họa sĩ ạ!”. Thế thì bức tường màu trắng, ngói màu hồng. Tôi và bạn say mê đắm chìm vào thế giới màu sắc mê hoặc. Chúng tôi vẽ hàng ngày, vẽ chán, lại bắc ghế nhìn ra đường xem dòng người hối hả ngược xuôi.
Thực ra là trong đêm đầu tiên đến với thế giới loài người, bạn đã bị kiến bu vào hai hốc mắt. Thực ra là trong buổi sáng đẹp trời chăn trâu, đạn pháo đã nở hoa trước mặt tôi. Mắt của bạn là một nét vẽ mảnh dẻ cắt ngang khuôn mặt bầu bĩnh. Mắt của tôi là hai hốc sâu hoắm nhòe nhoẹt nước. Thực ra là cô giáo cũng suốt ngày đeo cặp kính màu đen của người khiếm thị. Cô lớn lên ở đây trong Trung tâm này, kể từ khi người mẹ mù lòa dắt tay con đi ăn xin không còn đủ sức nắm lấy bàn tay nhỏ xíu đi tiếp nữa.
Nhưng mỗi ngày, chúng tôi vẫn nhìn thấy, và thấy rất rõ ràng.
Mỗi ngày, chúng tôi vẫn vẽ lên giấy những bức tranh đầy màu sắc, chúng tôi vẽ giấc mơ của mình.
Bởi vì, chúng tôi đã có những đôi mắt khác, nằm trong sâu thẳm, nhìn ra…






















Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả LÊ THÀNH VĂN

Tác giả LÊ THÀNH VĂN
(Hội viên Hội VHNT Đăk Lăk)




Mùa xuân
và khúc dương cầm Đại tướng




Sẽ không còn vang trong đêm mùa xuân
Tiếng dương cầm Đại tướng
Ngôi nhà số 30 giờ đây tĩnh lặng
Phố Hoàng Diệu rưng rưng chiếc lá rơi buồn

Vẫn nhớ đêm nào đất nước vào xuân
Vị tướng của nhân dân nhấn nốt đàn dìu dặt
Cả cuộc đời nằm gai nếm mật
Giành tự do… cho cả tiếng đàn!

Bản sonate năm nào tràn ngập ánh trăng
Ánh trăng từ Cao Bằng chợt hiện lên giữa lòng Hà Nội
Vị Đại tướng trầm ngâm nhớ những ngày lửa khói
Và tiếng đàn lắng biết mấy tâm tư!

Mùa xuân này vắng một khúc đàn xưa
Vĩnh biệt khúc dương cầm từng vang trong đêm xuân vắng
Nhưng nhân dân mãi nhớ về Đại tướng
Nén nhang lòng cháy đỏ phút xuân sang…



CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả H’SIÊU BYĂ

Nhà văn H' SIÊU BYA
(Hội viên Hội VHNT Dak Lak) 


NÚI MỜ SƯƠNG

Truyện ngắn



Tôi ghét tiếng gà buổi sớm, nó đánh thức và gáy ra rả vào tai tôi, “Guôp, mày chỉ là đứa con nhà nghèo tay nứt chân nẻ, lưng cong vai thô, váy hai màu vải, da dẻ đen xì như hạt dưa hấu, đừng nằm ườn như con mèo lười trên đống tro như thế, dậy lấy nước và lên rẫy thôi”.
Tôi bịt tai phải thì nghe bên tai trái, tôi bịt tai trái thì tiếng gáy của nó chui ngay giữa đầu, “Guôp mày chỉ là…, mày chỉ là…, mày chỉ là…”. Tôi tức mình bật dậy thình thịch đến bên vách lấy gùi, xếp những chai nhựa xuống cầu thang đi về phía giếng nước chung của buôn cạnh cây h’rê to đùng như người sắp nằm một chỗ. Nhiều amí amai đang đợi ở đấy, mùa này M’đrăk khô khốc thiếu nước nặng, giếng nước của nóc nhà nào cũng nhìn thấy đất chỉ trừ giếng chung của buôn thôi. Amí nói giếng nước này có từ thời Pô Pin Ea  Y’ Tai đến lập buôn. Ban đầu nó chỉ là cái hốc nhỏ nằm giữa hai khe đá, đàn ông đi làm mệt ghé vốc vài ngụm, đàn bà gùi củi nặng dừng chân nghỉ lấy hơi, dần dần người ta đào nó sâu thêm, khoét rộng ra, xếp đá, trét xi măng thành giếng như người Kinh vẫn gọi. Gùi nặng cong lưng, tôi vơ hết sức của người con gái mới lớn nhấc bổng mắc vào hai vai. Giọt nước từ những chai nhựa rỉ tong tong tạo thành sợi chỉ dài đứt quãng. Sương giăng kín, dáng người loạng choạng không nhận ra nhau. Về đến nhà thì chiếc váy đang mặc ướt sũng, tôi không xếp chai nước lên pra , việc đó có amí tôi làm, quen rồi, tôi ra hiên giũ váy. Mệt mỏi và thấy buồn. Sương vẫn giăng, gió thổi mùi cỏ hăng hắc từ quả đồi Seng mới đốt hôm nọ. Seng phát cỏ đốt ba quả đồi, đẽo bảy cán cuốc, vác chín bao lúa nặng đổ vào bồ. Seng mê tôi như con dê ưa đọt măng non, như chim non thích sâu bọ. Amí ưng lắm, gật gù khen mãi “Siêng phát cỏ thì sẽ có rẫy lớn. Siêng đẽo cột thì sẽ có nhà mới. Siêng làm rẫy thì sẽ có lúa nhiều. Mày đeo được vòng vào tay nó thì đời mày sướng to”. Tôi lơ đãng nhìn ra cửa sổ mở ra hướng tây. Xa xa cảnh phố thị tấp nập, xe chạy bon bon, những cô gái nước da trắng bóc tóc xoăn đang ngồi khoanh chân trong ngồi nhà cửa sổ bằng kính. Tôi bị ám ảnh bởi bộ phim từng coi khi ngực mới nhô đằng trước, búi tóc gọn lỏn phía sau, gặp con trai mới lớn biết ngại, người già hỏi chuyện suy nghĩ trước mới nói. Bộ phim kể về những cô gái trong thành phố, họ sạch sẽ và giàu có. Tôi cũng thích thế. Thế nên tôi ghét mỗi sáng nghe tiếng gà. Ghét lê chân lên quả đồi nhét hạt bắp giữa kẽ đất khô khốc. Ghét mùi cỏ cháy và ghét luôn Seng. Tôi không cần thứ hạnh phúc mà amí nói. Con gái Êđê vất vả từ lúc chui từ bụng mẹ cho đến khi về bên kia núi với ông bà. Lòng quặn thắt mỗi khi thấy chị Xinh cõng bé Len thòng lòng đằng trước, chiếc gùi củi ngập mặt phía sau còn anh rể chỉ đủng đỉnh vác xà gạc huýt sáo. Đám tang, đám cưới là cớ để đàn ông tụ tập trong ngôi nhà dài khật khưỡng qua nhiều lần mặt trời đi qua đỉnh núi. Các amí, amai lại tìm, cõng về nhà, cái vai cõng nhiều đứa con rồi lại cõng chồng. Khổ quá. Tôi rấm rứt kể với amí, amí cười khề khề nhổ toẹt nước bọt xuống tro bếp, “Đã bao đời nay rồi. Đi chặt cây le phải có đôi. Đi chặt cây nứa phải có cặp. Mày không cõng nó về rồi mày đi rẫy chung với ai?”. Tôi không cãi amí. Hậm hực chẻ trái cà xoay lưng. Tôi giận amí, cả ngày không muốn nhìn thấy mặt. Thế nào tôi cũng xếp váy đi về phía tây nhộn nhịp và sung sướng ấy. Và tôi đã đi thật. Đó là một ngày bắt đầu mùa mưa. Sương tù mù lành lạnh ôm lấy buôn nhỏ dưới chân núi. Tôi ném chiếc gùi nước cạnh cây h’rê, chai nhựa tung tóe, chị Xinh nhìn tôi tối sầm mặt, tôi cúi gầm và tất tưởi chạy về phía đường cái lớn để đón chuyến xe đầu tiên.
Tôi đang ở thành phố đông đúc và ồn ào. Quân - bạn trai người Kinh xin cho tôi một chân phụ việc tại tiệm ăn hè phố. Không như Seng, Quân cao lêu nghêu và trắng hếu như ruột của măng non, dặt dẹo yếu đuối như con bê mới đẻ. Tôi gặp Quân trên chuyến xe trốn chạy amí lên thành phố. Quân nhìn tôi hau háu, “Đúng rồi, em đẹp thế làm sao ru rú mãi chân núi được, lên thành phố đi có khó khăn gì anh giúp”. Ngày hai lần Quân ghé qua quán ăn, tôi không quen cái nhìn lấm lét như con mèo ngó miếng thịt khô treo lên bếp của hắn. Nhưng tôi không nói, tôi chỉ có mỗi Quân là bạn, tôi muốn ở phố, tôi ghét nằm nhà dài, trống trải và đau lưng. Có lần quán vắng, Quân dí sát vào người tôi, xọc tay vào ngực sờ soạng, xé toạc chiếc áo mỏng rồi vục mặt vào đấy hung hãn như con hổ bị dính bẫy của Seng cách đây ba năm. Tôi đứng trơ. Nếu là Seng tôi sẽ tát bôp bốp vào mặt, gào toác mồm lên hô hoán, mọi người xung quanh sẽ tới, “Đã nhìn tận mắt, bắt tận tay kẻ phạm tội. Phải đền rượu mười ghè, heo mười con cho người nó làm cho xấu hổ”. Tôi không làm thế, ở đây không phải buôn làng tôi, tôi muốn ở phố, tôi ghét mùi cỏ và hơi sương. Tôi đứng im như pho tượng nhà mồ, trong đầu chấp chới thấy Seng, thấy ánh mắt sang sáng như trăng dưới lông mi cong vút của anh ấy. Quân nhàu nát tôi đến khi bà chủ trở về. Đó là người đàn bà béo tròn, đôi mắt như mắt cáo. Thay vì tru tréo bà ném cái nhìn lạnh lùng về phía Quân, “Chỗ tôi làm ăn chứ không phải nhà chứa. Cút ngay cho”. Quân vội vàng quên mang tôi đi. Tôi chới với chạy theo như em bé lạc mẹ trong rừng. Có lẽ Quân không nghe thấy hoặc có nghe nhưng hắn giả vờ. Bóng Quân mất hút giữa đám đông phố thị. Tôi ngồi bẹp đầu hẻm nức nở. Người ta chỉ trỏ vào tôi như một người đàn bà bị bắt quả tang dan díu với chồng người khác. Phải rồi, chiếc áo tôi đang mặc xộc xệch. Tôi muốn ở phố, người đàn ông đang bước xuống xe màu trắng lóa đang đi về phía tôi. Tôi chợt nhớ đến bộ phim những cô gái trong thành phố, tôi vò đầu cho tóc rối tung và thút thít như con nai tội nghiệp. Người đàn ông tên Thành nhẹ nhàng dìu tôi lên xe, tôi kịp nhếch mép cười nụ với những người đàn bà tò mò thích xói mói. Xe phóng đi trong cơn mưa chiều tầm tã. Và hả hê!
Nhiều mùa trăng hờ hững đi qua, tôi trở thành nhân tình trong vài nhân tình của Thành - người đàn ông nhìn nghiêng thấy bụng đi trước, nhìn thẳng thấy cổ rụt ra phía sau, nhìn ngang nhìn dọc người chỉ ngắn bằng cán cuốc. Giọng Thành trầm và ấm dạy tôi biết nhiều tiếng Kinh. Đôi khi còn quên dấu nhưng tôi đã nói chuyện lớn sang sảng, trả giá sát rạt những áo váy treo móc ngoài tiệm đắt tiền. Họ sợ tôi hay sợ túi tiền của Thành tôi không quan tâm, tôi đã trở thành cô gái thành phố, da trắng tóc xoăn, ngồi khoanh chân trong ngôi nhà có cửa sổ bằng kính. Tôi không muốn nhớ mình là con gái Êđê, tôi bắt Thành kiếm cho tôi cái tên người Kinh. Thành làu bàu “Có ngụy trang hàng đống thứ khác, em vẫn là em thôi”. Trong bữa tiệc gặp bạn bè Thành giới thiệu tôi với nhiều gã bụng bự “Đây là Ly, bồ em”. Tôi thích thú đón nhận tên mới như mầm le đón nhận cơn mưa rào. Rồi cảm giác xấu hổ ập đến. Ánh mắt giận dữ của bà ngoại quấn lấy đầu tôi.
H’Guôp - cái tên bà ngoại đã làm lễ thổi tai đặt tên khi tôi còn đỏ hỏn, amí nói đó là tên của người bà họ xa đã mất nhiều năm tuốt ở buôn Sông Hinh. Tại buổi lễ thổi tai, Pô Riu Yang nói: “Nay ta đặt tên cho cháu, nếu cháu ưng tên ta đặt thì cháu hết khóc và ngủ thật ngon. Nếu không thích tên này, cháu hãy khóc thật to”. Sau đó Pô Riu Yang đọc lần lượt tên người quá cố trong dòng tộc, đọc đến tên H’Guôp thì tôi hết khóc và tên trong tiếng Êđê có nghĩa là “hài hòa” ấy theo tôi hơn mười tám mùa rẫy nay. Bây giờ là Ly chứ không phải H’Guôp, tôi luôn đính chính trong giấc ngủ chập chờn.
Buôn Ama Thuột đổ mưa. Những hạt mưa nghiêng nghiêng tạt mạnh vào ô cửa. Tôi lấy chai hứng đầy. Chợt nhớ đến chai nước trên pra. Người Êđê không quen uống ly, chỉ thích ngửa cổ tu chai nước ừng ực. Tôi nói với Thành tôi thích ăn bốc, ăn bốc cơm nóng với lá mì giã nhỏ xào khô đựng trong lá chuối hơ, ngon lắm, thơm lắm. Thành bảo thôi đi cách sống nguyên thủy. Sao lại nguyên thủy? Nguyên thủy là gì? Tôi thắc mắc. Thành cười nheo con mắt trái, híp con mắt phải phô diễn hàm răng vàng như nghệ: “Tắt điện đi em sẽ thấy bầu trời nguyên thủy”. Tối hôm đó tôi đã buồn thật nhiều.
Tôi hay ngồi ghế tựa lưng hướng mặt ra vườn. Vườn nhỏ xíu tím rịm nhiều dải phong lan như cô gái gội đầu tóc xõa. Trông chúng buồn bã và héo quắt. Tôi nhớ đến giỏ phong lan Seng mang tặng cạnh giếng, chắc giờ chúng cũng đang bung hoa. Tôi nghĩ đến Seng và amí. Chắc họ ghét tôi như ghét đứa nuôi ma lai, hận tôi như hận người trồng thuốc độc. Tôi đã giũ bỏ họ như giũ một con sâu róm bám lên áo để tìm hạnh phúc mơ hồ nơi phố thị. Không có đêm nào tôi không mơ xấu, tôi mơ thấy amí chết vì thương nhớ tôi, tiếng khóc hờ chật ních từ gian khách đến gian bếp, tiếng trống đánh lên mặt da trâu cái thùng thình, tiếng ching k’năh u buồn báo hiệu có người đi xa. Hồn amí đứng trên cầu thang bảy bậc, amí nói atâu yang đừng đón amí đi sớm, amí chờ con gái từ buôn Ama Thuột trở về. Tôi thức dậy lau mắt. Mở cửa sổ nhìn về hướng đông, man mác!
Người phụ nữ trẻ đẹp quỳ sọp dưới chân, cầu xin tôi đừng yêu Thành nữa. Thành đã có vợ và hai đứa con. Chị ấy khóc như dòng thác chảy. Tôi động lòng thương xót, tôi chưa từng yêu Thành, tôi chỉ mượn bóng râm để nghỉ chân thôi. Người Êđê chỉ quỳ gối khi người đó có tội nặng, tội trộm cắp, tội bất hiếu với mẹ cha, tội ngoại tình, “đi thuyền sang đất của người ta”,… Còn chị? Chị có tội gì? Tội không đủ sức buộc chỉ vào chân vì chồng có tính “dao có rồi còn đi kiếm sắt, cơm có rồi còn đi kiếm lúa, cá có rồi còn đi bắt nữa” sao? Tôi áp mặt mình vào lưng chị. Chị sụt sùi. Người phụ nữ người Kinh cũng khổ sở như chúng tôi.
Tôi để lại cho Thành một đôi tất em bé trong ngăn kéo. Đôi tất nhỏ xíu màu xanh hiện mờ tên Guôp màu vàng chính giữa. Tôi đã đan trong những ngày hoang hoải nhớ núi. Chắc Thành không biết ý nghĩa đôi tất ấy. Mà tôi cũng không cần. Tôi trở về vùng núi mờ sương của tôi.
Mưa lã chã. Nước cống đen ngòm tràn lênh láng lối đi. Trong ngôi nhà cửa kính, người chồng đang vung nắm đấm khỏe như trâu rừng vào khuôn mặt vợ, tiếng khóc thét, tiếng đổ vỡ hòa lẫn với tiếng mưa. Tôi rùng mình sợ phố thị. Sải bước chân dài về phía dốc núi mờ sương.

KTX, 25.7.2014



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 269&270 - tác giả LINH NGA NIÊ KDAM






CHƯ YANG SIN SÔ 269&270 - tác giả VŨ DY

Nhà thơ VŨ DY



THẮP NẾN MÙA XUÂN




1. Những ngọn nến không tắt
 Cuộc sống khiến người ta thắp nến nhiều lần trong đời. Đẹp nhất là thắp nến sinh nhật. Đó là ghi dấu một trưởng thành, một lớn khôn. Và ở một nghĩa nào đó chứng minh rằng ta còn đang sống, đang hiện hữu trong vòng quay cuả cuộc đời. Mùa xuân, thắp nến cho tổ tiên, thắp nến để đoàn tụ, quây quần. Thắp cho mình và cho bè bạn. Ánh sáng những ngọn nến thắp lên bao giờ cũng mới, cũng một chút hư ảo và, đôi khi, soi tỏ một thân phận. Trong đó ta đã từng hạnh phúc, từng được, mất, khổ đau…
 Đi qua tháng mười hai, còn chuyến mưa cuối mùa rớt lại. Cao Nguyên tinh khôi mới vừa tắm gội. Lá biếc, trời lam, nắng vàng hổ phách. Đất thở nồng nàn và lá khô mục ải chất chồng. Giữa ban mai chợt thấy thiên nhiên thắp nến đợi mùa trên lá. Mới biết làm sao ta cưỡng lại được đất trời, cưỡng lại tuần hoàn của vũ trụ, cứ để cát bụi và nắng mưa phiêu hốt những miền còn rất hoang vu của tâm hồn. Ngày mai, những con đường mưa vẫn đầy ắp những bông dã quỳ khô nâu mùa cũ nhưng đã thấp thoáng chút sắc vàng xanh vài nụ mầm mới dưới mặt trời chói chang. Rồi bụi đỏ lại bốc lên, phiêu hốt, cuốn theo bao mùa gió mới. Ngày đi. Đêm đến. Ánh sáng và bóng tối tuần hoàn. Còn ta, thảng hoặc vẫn cứ cố thắp lên trong hồn một cây nến mới, dù lẻ loi, lay lắt, và có thể chợt tắt bất cứ lúc nào, để thấy rằng giữa đa đoan đời này trong ta vẫn còn một khoảng ấm áp, lung linh đủ để soi tỏ dấu chân đi để khỏi một lần bước lệch. Cuộc sống là một họa phẩm đầy ắp màu sắc, nên đôi khi nến tắt, dẫu có thêm một màu đêm cũng chẳng hề gì.
Thật lạ, trong tất cả những thứ ánh sáng thì ánh nến là một đặc biệt. Chỗ của nó là những thời khắc trang trọng. Người ta thắp nến khi rất vui và cũng là khi rất buồn. Cả lúc kết hợp, cả khi chia lìa. Tôi vẫn thường vô cảm trước ánh điện màu rực rỡ nhưng không thể dửng dưng trước ngọn nến đang cháy. Đôi khi thấy lòng mềm như sáp nóng. Đôi khi mơ hồ nghe một đời nến rất riêng, chẳng mấy khác người, càng rực rỡ, càng mau lụi tàn. Bấc cứ cháy, lửa cứ bừng sáng, hoa nến vỡ reo tanh tách trước tôi chập chờn... nến cứ ứa từng dòng như lệ, hiến dâng đến giọt cuối cùng. Nhìn cây nến ngắn dần, cứ nghe một chút mất mát, buồn tiếc vu vơ. Thuở nhỏ, mỗi khi mất điện tôi thường lục tìm trong ngăn kéo những đoạn nến cũ mò mẫm thắp lên để được hưởng cái niềm vui thắp lên ánh sáng giữa đêm đen và cảm giác rất lạ được trở về từ bóng tối. Cứ thế, những mẩu nến thừa lại tiếp tục cháy lên ngọn lửa tinh khôi như mới bắt đầu, làm bừng sáng niềm vui, đam mê và hy vọng. Mùa xuân, tôi muốn nói đến chút đam mê văn chương còn lại.
2. Tản mạn với Chư Yang Sin
Trước mặt tôi là vô số tạp chí với cơ man ảnh hình, thông tin, tiếp thị và quảng cáo. Chúng luôn hấp dẫn nhưng cũng làm tôi nhiễu loạn và nghi ngại (không nghi ngại sao được khi mà sách báo hiện nay in ấn tràn lan?). Lẫn trong ấy là ấn phẩm Chư Yang Sin - Tạp chí sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật, đứa con của Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk. Thế đấy, Chư Yang Sin bao giờ cũng là một ngọn nến khiêm tốn, nhỏ nhoi và còn rất lạ như cái tên của mình, một đỉnh núi heo hút khuất lấp giữa đại ngàn. Nhưng tôi biết, để thắp lên được ngọn nến văn học nhỏ nhoi ấy Chư Yang Sin đã thể hiện một nỗ lực không khiêm tốn chút nào. Và tôi tin, như tôi, nhiều thế hệ đã yêu mến, gắn bó với Chư Yang Sin, đã tự nguyện sẻ chia và nâng niu những giá trị thực còn lại của cuộc sống như nâng niu, giữ gìn chút nhiệt huyết và mơ mộng của một thời tuổi trẻ. Để đứng vững đến ngày hôm nay, những người làm tạp chí đã phải phấn đấu không mệt mỏi. Những lớp đàn anh sáng lập ngày ấy phải kể đến nhà thơ Hữu Chỉnh, nhà thơ Phạm Doanh, nhạc sĩ Nguyễn Lưu, Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chính Hữu, rồi nhạc sĩ Linh nga, nhà báo Đinh Hữu Trường sau này. Còn bây giờ có nhà báo, nhà thơ Đặng Bá Tiến, nhà văn Khôi Nguyên, nhà văn Hồng Chiến, Họa sĩ An Quốc Bình… và rất nhiều anh chị em khác đã gắn bó với tạp chí từ những ngày đầu như Lê Vĩnh Tài, Lê Thị Minh nghiệm, Sơn Thúy, Tiến Thảo, Trần Chi...
 Cuộc sống vốn không dễ dàng gì đối với những đam mê của những người làm văn nghệ. Đặc biệt trong thời đại mà người ta luôn không đủ thời gian thì với nhiều người, đọc và viết đã trở thành cái gì đó xa xỉ, thậm chí phù phiếm và xa lạ. Còn những người yêu văn nghệ như tôi và bè bạn, cứ mãi đi tìm những điều hiếm hoi tưởng đã mất trong những trang viết âm thầm nhưng không chút dối lừa ấy. Những trang viết làm bất chợt thảng nhớ, thảng quên ấy cứ lấp lánh giữa cuộc đời quá nhiều đa đoan như mưa bão. Nhiều khi vẫn hồn nhiên tin rằng mình sẵn sàng đánh đổi chút tiện nghi hiện tại để được viết, được nói lên một điều gì đó dù nhỏ nhoi cho cuộc sống này hay chỉ để được sống lại một kí ức như được về lại một bờ cũ khuất chìm. Đó là liều thuốc trợ lực, một an ủi, một xoa dịu khi bị vấp ngã, bị cuộc đời quất cho những roi đau điếng. Đôi khi tôi tự vỗ về mình trước trang bản thảo viết về cơn mưa, về con đường rêu mất ngủ, về một tình yêu mong manh như không có thật. Hay về một vạt núi lở, một cánh rừng hôm qua đã biến mất dưới bàn tay tàn bạo của con người, hay thường khi hơn là viết về cuộc sống bề bộn, đầy ắp, ngổn ngang thời sự của một thời đại năng động và đổi thay chóng mặt… để rồi hàng tháng, cầm trên tay quyển tạp chí còn thơm mùi giấy và mực in mới thấy những cố gắng duy trì để tồn tại, cố gắng làm mới, cả việc đấu tranh để nâng mức nhuận bút cho người viết, rồi tổ chức những trại sáng tác, những chuyến đi thực tế, những lần giao lưu gặp mặt, những hội thảo, những chuyên đề nâng cao chất lượng, những vun đắp kiếm tìm và chống chọi quyết liệt của những người làm tạp chí trước sự xâm thực tàn bạo của cơn lốc thị trường thật là đáng nể. Đáng để nhiều người phải nhìn lại mình và ngộ ra một điều rằng cuộc đời đâu phải chỉ là chiếm đoạt tiện nghi và những toan tính thực dụng. Ra đời năm 1990, mùa xuân này tạp chí đã tròn hai mươi bốn năm tuổi với 270 số ra đều đặn hàng tháng (tôi có nhầm không?). Một con số đáng để làm nhiều Hội Văn nghệ tỉnh khác ước ao. Cứ thế, Chư Yang Sin đã sống và trưởng thành với bao thăng trầm. Thảng hoặc, đó đây có những trang viết còn non tay, còn quá dễ dãi. Đã từng có những số tạp chí chưa hay, chưa hấp dẫn người đọc và có lúc, những tưởng đã không còn trụ vững vì thiếu kinh phí. Nhưng ngọn nến ấy vẫn cứ được thắp lên, lúc mong manh, lúc bừng sáng, như tên gọi của nó, bền bỉ và kiêu hãnh, dần đã lấy lại vị thế, đã khẳng định được mình, xứng đáng là một trong những tạp chí đáng đọc. Và đến nay đang bắt đầu thấp thoáng tầm vóc của một tạp chí văn nghệ có khả năng vượt thoát ra khỏi biên giới một tỉnh và mang dấu ấn rất riêng của cả vùng Tây Nguyên (tôi quá lạc quan chăng?).
 Mùa xuân, thắp lên 24 ngọn nến mới làm ấm lại một sinh nhật hồng. Với tạp chí, chúng ta có quyền hy vọng, chờ đợi như vẫn từng. Và như một người lính, Chư Yang Sin lại bắt đầu một cuộc dấn thân mới với bao nhiệt huyết mà vẫn tràn đầy mơ mộng như thuở ban đầu.
 Hoang nguyên, mùa xuân về chậm. Cỏ đã vàng khô từ lâu đang chờ mưa và đợi dấu chân người. Rất thừa những cơn gió ngang tàng nhưng thiếu chút lã lay của heo may bờ phố. Lá mưa từng chuyến trên những con đường rừng nhiều cỏ gai bông dại cùng dấu chân nhọc nhằn của những người miền rừng đi tìm cuộc mưu sinh. Ngoài kia trầm mặc bóng núi cây rừng. Đã nghe nhớ bạn bè rất xa. Những gương mặt từng nhiều năm đồng hành cùng Chư Yang Sin. Những ảnh hình chập chờn đâu đó trên từng trang tạp chí một ngày chưa cũ. Người đã biệt mù, người đã cát bụi. Ai thắp nến cho cho Bùi Vũ Anh, Cho Nguyễn Phi Trinh, Huệ Nguyên chiều nay? Người nhớ ít, người quên đã nhiều, còn bao nhiêu anh em, bè bạn để mà tưởng tiếc?
3.   … và đêm trên núi
Cuối năm, một chuyến đi trên núi. Cả ngày phờ phạc với gai rừng đá núi chỉ mong tìm chút mộng mơ và cảm xúc. Ngồi, nhóm lửa. Bây giờ trước mặt tôi là những que củi - những ngọn nến đang cháy lên bập bùng trong một đêm xuân trên núi tháng chạp. Hát một đoạn bài Happy Birthday to You và chất thêm củi vào. Một mình với đêm Cao Nguyên thật thơ mộng. Dưới kia lấp lánh ánh đèn, với tôi đã là một thế giới khác
Nhiều khi cuộc sống chung quanh vẫn còn những rủi ro, cạm bẫy đang mai phục đâu đó nhưng hy vọng khi chu môi thổi tắt ngọn nến sinh nhật sẽ hiện lên trong giấc mơ mỗi chúng ta vầng sáng tuyệt đẹp của cơn mộng lành, phải không bè bạn?
Trên kia, đỉnh Chư Yang Sin im lìm, tưởng ngủ nhưng vẫn đang âm ỉ thức.
Khuya xuống, nghe mình nhòa dần vào đêm, bất chợt một thoáng tưởng tôi là ngọn nến cháy lên dẫu chỉ để kiệt cùng.                

                                                                 Krông Bông, tháng 12 năm 2014

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

TRUYỀN THUYẾT CHƯ PAL truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 269+270 tháng 1&2 năm 2015



                                                          

Dãy núi Chư Pal cao sừng sừng sững, kéo dài từ dãy Chư Yang Sin lao ra phía bắc, tạo bức tường thành phía tây chắn gió cho cái buôn Jai nhỏ bé có hơn năm chục nóc nhà dài định cư. Sáng sớm hay chiều về, khi ông mặt trời sắp đi qua phía tây để ngủ, lũ vượn thường ra sườn núi nô đùa, buông mình từ ngọn cây này bay qua ngọn cây khác, hò hét inh rừng.
          Theo ngoại kể: ngày trước trên dãy núi này có một đàn sơn dương đông cả trăm con, con nào cũng có bộ lông đen bóng như hòn than cây kơ nia mới đốt. Con đực đầu đàn to bằng con bò cái, sừng cong vút về phía sau, nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, một tháng đôi lần chúng kéo nhau ra sườn núi, phía sau buôn, nơi chỉ có cỏ gianh vây quanh những hòn đá lớn chồng lên nhau như những mái nhà để nô đùa. Con đực đầu đàn bao giờ cũng chọn một hòn đá lớn nhất, cao nhất so với cả vùng, leo lên đứng để nhìn xuống buôn như đang nghiền ngẫm điều gì trọng đại lắm, bộ râu dưới cằm dài hơn hai gang tay người lớn vểnh ngược ra phía trước trông ngồ ngộ. Mấy chú sơn dương nhỏ lao đầu vào nhau, quần thảo, thử sức, khi mệt cũng leo lên các tảng đá nằm nghỉ, đầu quay xuống buôn xem con người làm việc. Người dân trong vùng quý bầy sơn dương này lắm, vì chúng không phá hoại hoa màu của người dân mà chỉ làm cho núi rừng thêm đẹp. Người già còn bảo nếu đi rừng ai may mắn nhặt được sừng sơn dương rụng thì coi như được zàng tặng quà; con người bị gió gió độc làm đau bụng, chỉ cần mài một chút sừng vào đĩa sứ, đổ chén rượu nhỏ hoặc nước đun sôi để nguội vào, uống là khỏi ngay.   

Ông ngoại ma Jin vào rừng hái thuốc đã nhặt được một cái như thế, dân trong buôn góp bò, heo, gà và rượu, nổi chiêng để cúng Zàng tạ ơn hẳn một tuần. Mấy buôn  trong vùng nghe tin cũng dắt heo, bò đến chúc mừng, vui lắm. Ngày đầu tiên cúng một con heo năm gang (cách tính con heo có vòng ngực năm gang tay người lớn), làm thịt xong rồi cắt thủ và cái đuôi đem luộc chín để lền mẹt, xung quanh đặt thêm một ít gan, lòng và thịt luộc; thầy cúng làm lễ tế, gọi Zàng về nhận và cùng hưởng cho vui. Hôm sau thịt một con bò lớn chặt đầu, đuôi (để sống) đặt lên giàn giáo làm trước buôn, trên bốn cột làm giàn giáo thờ cúng được bôi huyết bò; thầy cúng khấn mời Zàng về nhận để đưa bò đi theo… Sau khi cúng Zàng xong chiếc sừng sơn dương được giao cho già làng cất giữ, ai có bệnh thì đến lấy để dùng và xem đó lộc chung của cả buôn, cả vùng.
          Cuộc sống bình yên ấy kéo dài cho đến một ngày…
          Ngày cuối cùng của tháng ta - mặt trăng cả đêm không bao giờ xuất hiện, ông mặt trời mỏi mệt đi xuống đứng trên đỉnh núi, rãi nốt những tia nắng vàng cuối cùng lên các nóc nhà như một lời tạm biệt trước khi đi ngủ. Bổng có tiếng chó gầm lên, bầy sơn dương đang mãi ngắm buôn, giật mình chồm dậy, nhảy tót lên những hòn đá lớn nhìn xuống. Phía dưới, sơn dương mẹ và đứa con nhỏ của mình không kịp leo lên những hòn đá lớn, bị bảy con sói vây quang. Lũ sói, con nào lông cũng màu hoe hoe đỏ như cỏ gianh gần cuối mùa khô; ngực nở, bụng thon, có cái mỏm dài nhe ra bộ răng có hai chiếc răng nanh mọc hai bên khóe mép, nhọn hoắt, gớm giếc; khi sủa, cái đuôi cũng cong ngược lên, vẻ vẩy như giương cờ, ra chiều đắc ý lắm. Chúng thi nhau vừa gào vừa khoe những chiếc răng sắc nhọn, và tìm cách lao vào gậm chú sơn dương con tội nghiệp. Con sơn dương mẹ hết ngảy qua bên phải, lại nhãy qua bên trái, tả xung hữu đột: tung chân, húc đầu cố đẩy lui bầy sói. Lũ sói vừa nhanh nhẹn chạy tránh đòn, nhưng cũng tranh thủ lao vào mông chú sơn dương con táp những cái rất mạnh làm tọac cả da, tứa máu. Chú sơn dương con tội nghiệp, đứng run rẫy, chịu trận; thỉnh thoảng lại té khụy xuống khi lũ sói tấn công. Bầy sói siết chặt vòng vây, tính mạng của chú sơn dương con có lẽ chỉ còn tính bằng dây, mẹ chú đã cố lắm rồi nhưng sức đã kiệt, không còn nhanh nhẹn nữa để có thể ngăn được lũ sói hung hãn…
          Ông mặt trời khuất hẳn về phía tây, cánh rừng chuyển qua màu sẫm. Dưới buôn, những ngọn khói xanh thường ngày bay lên từ các nóc nhà sàn dài báo hiệu bữa cơm chiều sắp đến, hình như hôm nay cũng không thấy. Người trong buôn còn mãi đứng lặng nhì lên sườn núi chứng kiến cuộc chiến không cân sức đang diễn ra. Cánh thanh niên trong buôn hậm hực rủ nhau định mang nỏ và gậy gộc lên đuổi sói, cứu con sơn dương tội nghiệp; già làng ngăn lại, bảo: đó là việc của rừng, phải để rừng tự giải quyết, con người không nên can thiệp vào, Zàng giận! Lũ thanh niên buộc phải nghe theo nhưng nhìn ai cũng thấy trong mắt có ngọn lửa.
          Trên núi, cuộc chiến chắc sắp đến hồi kết thúc một cách bi thảm… Trong lúc nguy cấp, bổng một bóng đen như hòn đá lớn từ trên cao lao vút xuống, và… một tiếng kêu thảm thiết vang lên; tiếng kêu ấy phát ra từ miệng một con sói vừa lao vào cắn chú sơn dương con. Đàn sói ngừng tiếng gào thét, trố mắt nhìn con sơn dương đầu đàn vừa lao xuống, dùng hai chân trước cắm vào bụng con sói tham ăn làm tọac một đường dài như bị chém, máu phun ra đỏ lòm. Con sói bị thương kêu la thảm thiết, đuôi cụp lại lũi luôn vào rừng. Sơn dương đầu đàn tung hai chân trước lên trời, khua khua trong không khí, giương bộ râu vểnh ngược oai nghi như một dấu phẩy lớn làm cã lũ sói hoảng hồn lùi ra xa, đuôi cụp xuống nhưng vẫn cố ngẫng cao đầu như sắp sửa lại lao vào. Hình như những giọt máu nơi mông chú sơn dương nhỏ bé, tôi nghiệp có sức hấp dẫn quá lớn nên sáu con sói còn lại chỉ nới rộng vòng vây, tránh những cú lao chết chóc của sơn dương đầu đàn chứ không chịu bỏ cuộc; cụp đuôi xuống, ngẫng cao đầu, thi nhau gào lên, khoe hàm răng sắc lẹm như sắp lao vào một trận tử chiến. Hình như tiếng đồng thanh gào thét của lũ sói làm chúng thêm tự tin, chúng không chạy nữa mà tạo thành vòng tròn vây quanh cả ba con sơn giương vào giữa. Con sơn dương đầu đàn tuy khỏe là vậy nhưng chạy mãi cũng xuống sức, bầy sói chỉ chạy tránh những cú bổ như giáo đâm, song cũng không chịu bỏ vòng vây…

Đúng lúc ấy, một phép màu xuất hiện, hơn chục con sơn dương đực đen bóng từ trên các hòn đá bổ xuống, cát bụi bay mù mịt, bầy sói nhiều kon dính đoàn kêu la thảm thiết rồi kéo nhau lẫn luôn vào rừng già.
          Trời sẫm tối, trên đỉnh cao nhất của dãy núi Chư Pal còn le lói vài tia nắng vàng yếu tớt trước khi tắt hẳn, còn kịp cho mọi người nhận ra bóng sơn dương con nhỏ bé leo lên từng hoàn đá nhỏ, lên cao dần, cao dần, in hình thành bức tranh màu xám trên nề trời đang nở đầy sao sớm.

          Và cũng từ chiều hôm ấy, người dân buôn Jai không ai còn thấy bầy sơn dương trở về nữa!