Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả LÂM HẠ





CÂU CHUYỆN CỦA ĐÊM

Truyện ngắn



Hân yêu công việc của mình, dù nó làm cô có những phút giây mỏi mệt, đôi khi thấy cô đơn và hoang mang, nhưng cô vẫn yêu, như tình yêu chung thủy với một người tình vô tâm và hờ hững. Dẫu vậy, cô vẫn vui vẻ đón nhận.
Hân làm biên tập cho một chương trình phát thanh, mới đây, cô đảm nhận thêm chuyên mục âm nhạc theo yêu cầu, vào 23 giờ đêm, thời gian cho kẻ mất ngủ, mọi người thường hay trêu cô thế. Chương trình cũng khá thú vị, có hôm không có vị khách nào yêu cầu, cô chọn nguyên một list nhạc mình yêu thích theo chủ đề như Mưa, Tình đầu, Nhạc phim hay theo tâm trạng của mình. Nhưng rồi, như những kẻ ẩn dật đến lúc lộ diện, những khán giả của cô nhiều hơn, và thư yêu cầu cũng dày lên. Nhiều lần check mail cô không khỏi phì cười vì những chuyện mà khán giả tâm sự, có anh lái xe taxi gửi đến Hân lời cảm ơn chân thành vì nhờ cô mà anh… đỡ buồn ngủ. Một lần, Hân nhận được điện thoại từ một cô bé mới chia tay tình đầu, ủ rũ và mong cô chọn giúp một bài hát nào để anh ấy quay lại với mình. Hân phân vân, rồi cô chọn ca khúc Chia tay tình đầu, với giọng ca Lệ Quyên da diết, cùng một lời khuyên, ai cũng phải trải qua những mối tình em ạ, và phải biết cách chấp nhận để bước tiếp, chứ không phải là níu kéo trong vô vọng. Hân biết, điều này sẽ dập tắt những hi vọng trong lòng cô bé kia, nhưng đó là sự thật, dù đôi khi con nggười ta cứ muốn tự huyễn hoặc mình rằng ngày mai trời lại sáng, người xưa sẽ quay về, nhưng để làm gì? Hân cũng đã từng như thế, mối tình đầu kéo dài 4 năm đại học, rồi ra trường, sinh viên vừa tốt nghiệp, chơi vơi, người yêu cô phải lòng cô con gái trưởng phòng nơi cậu đang làm thêm, mọi thứ như sụp đổ. Hân cũng đã từng nuôi hi vọng, từng níu kéo, từng làm đủ mọi chuyện như kẻ thất tình hay làm, và nhận về những cay đắng vụng dại.
Một buổi tối muộn, khi chỉ còn một ca khúc nữa, Hân nhận được điện thoại của một khán giả nam, giọng ấm, và buồn. Anh nói, sau bao nhiêu ngày lang thang nơi đất khách, anh mới nhận ra không ai tốt bằng mẹ mình, anh muốn gởi một lời nhắn đến mẹ, rằng yêu mẹ rất nhiều. Và Hân chọn ca khúc Cánh cò trong câu ca dao. Có lẽ khi nghe ca khúc này, anh khán giả sẽ khóc, hoặc những ai đang nhớ mẹ, còn lòng Hân lạnh băng. Cô thử hình dung trong trí nhớ điều gì tạc nên hình ảnh mẹ? Chẳng có gì ngoài một ngày mưa bão bùng, mẹ bỏ Hân và ba, đi theo một kẻ xa lạ nào đó, mà người ta đồn là hắn có nhiều tiền lắm. Sau khi nói lời chào tạm biệt khán giả và chúc ngủ ngon, mắt Hân cày xè. Không phải vì tủi thân, vì mong mỏi không biết giờ bà sống thế nào, mà vì nhờ đến ba mình. Ba Hân, một người đàn ông tuyệt vời, một người cha ân cần, là cả thế giới và ký ức tuổi thơ của cô. Trên đường về, Hân ghé vào bên đường mua khoai lang nướng của một cụ ông, với nước da nhăn nhúm nhưng nụ người đôn hậu. Hân thấy ấm lòng, xoa áp khoai lên má, và mong thời gian qua nhanh để cô được về với ba mình. Sao tự dưng, cô muốn mình trở về thời gian vẫn còn là một đứa trẻ, để được nhõng nhẽo ông mỗi ngày, tại sao con người ta cứ phải lớn lên, để rồi lãng quên cả một tuổi thơ đẹp nhỉ?
Một buổi sáng đẹp trời, Hân đi làm sớm, gọi một tách cà phê sữa nóng, mặc một chiếc váy xinh xắn. Hân thấy mọi thứ thật đáng yêu, thầm nghĩ mình hãy quên đi những muộn phiền, vì cuộc sống còn nhiều điều thú vị lắm. Đang nhâm nhi tách cà phê, Hân ngạc nhiên nhìn lên bàn làm việc, là một bức thư. Có kỳ lạ không, giữa thế kỷ này mà còn có người viết thư tay á? Hay ai trêu Hân, ngó nghiêng xung quanh, thấy ai cũng cắm cúi vào màn hình máy tính, Hân cầm lá thư lật qua lật lại, nhìn như một vật lạ rơi từ những thập niên 70 lạc vào thời kỳ hiện đại. Cô bạn bàn bên nhìn qua, tủm tỉm cười: “Chắc là của anh chàng si tình nào ở vùng miền núi đây mà”. Hân lè lưỡi, bóc thư.
Nét chữ không đẹp, nhưng rõ ràng, là thư yêu cầu một ca khúc cho chương trình âm nhạc đêm nay, bài hát Em đi trên cỏ non, không biết vị khán giả này lạc từ vùng đất nào đến nhỉ, Hân tò mò, thích nghe dân ca, còn gửi thư tay. Bài hát được yêu cầu cùng một lời nhắn : “Gửi cho cô bạn nhỏ của tôi, cùng lời chúc bình an”.
Tối hôm ấy, bài hát được phát cuối chương trình, kèm theo một lời chúc là cô bạn nhỏ của vị nam khán giả sẽ nghe được ca khúc này. Hân thầm nghĩ, mình có bạn thời thơ ấu không nhỉ? Tuổi thơ của Hân chỉ có những cánh đồng bạt nắng, cỏ gai và nỗi cô đơn. Hân ít tiếp xúc, sợ bạn bè trêu chọc, sợ nhìn thấy mấy cô bạn xinh xinh được mẹ tết tóc, đưa đến tận cổng trường. Trên cánh đồng cỏ cuối làng, chỉ có mình Hân tha thẩn sau giờ học, cùng cậu bé chăn bò nhà ở cuối xóm. Cậu bé cũng chẳng có ai chơi cùng, bị người ta nói cậu là con lão khùng, lỡ chơi với nó rủi cũng bị…khùng thì sao? Ban đầu Hân cũng sợ, nhưng rồi dần thành quen, cậu bạn cũng hiền, dễ thương và thông minh nữa. Hân nhớ, có một lần, trời mưa to, ba đã cõng Hân đến trường, cậu bạn rụt rè đi theo sau. Đến lớp, cậu bạn nói nhỏ với Hân, khi nào mình lớn, mình sẽ cõng cậu. Câu nói ấy làm Hân đỏ mặt, còn cậu bạn nói xong chạy thẳng vào lớp.
Trên đường về, vỉa hè trống trải với tiếng lá khô lao xao, không còn mùi khoai nướng và dáng ông cụ lom khom quạt than. Cuộc đời, có những điều chẳng ai đoán định được? Ông cụ đã đi đâu nhỉ? Ông bị ốm, hay được con cháu đưa về nuôi? Chẳng ai tìm được câu trả lời cho cuộc đời của người khác, vì ngay cả cuộc đời của chính mình, đôi khi cũng còn rất mơ hồ để đi tìm những câu trả lời.
Hai tuần sau, Hân lại nhận được một lá thư tay, lần này giấy viết thư là giấy hoa màu xanh lá, yêu cầu ca khúc Bằng lăng tím, gởi cho cô bạn thời trung học với tà áo dài trắng. Tiếng ghita trong đêm làm lòng Hân chơi vơi, Hân nhớ về thời đi học của mình. Ngày đó, chiều nào đi học về, trên xe Hân cũng được cài một nhánh bằng lăng, Hân thầm mơ ước đó là của cậu bạn lớp trưởng, vì cô thầm thích cậu bạn ấy. Nhưng chuyện đời không như cổ tích, một ngày, Hân nhận ra cậu bạn ấy cùng cô bạn lớp bên rất hay đi học chung, và nhành hoa trên giỏ xe mình, có lẽ là của một ai đó nghịch dại, ngắt hoa rồi tiện tay vất vào thôi. Vị khán giả này thú vị thật đấy nhỉ?
Một tháng sau, chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày nghỉ lễ, không khí vui nhộn hẳn lên, một vài người đang bàn bạc cho chuyến đi chơi xa, ngỏ ý mời, Hân lắc đầu. Cô nhớ quê mình, nhớ đồi núi, nhớ hương khói chiều, nhớ những cơn mưa dầm dai dẳng. Mùa này ở nhà chắc đã có ngô non rồi. Đang mường tượng, Hân lại nhận được một lá thư, lần này là giấy hoa màu tím. Hân cười thầm, ô hay, vị khán giả này có nhiều cô bạn để nhớ thật đấy nhỉ? Mở thư, cô thầm nghĩ tối nay, trước khi phát ca khúc anh ta yêu cầu, cô sẽ nói vài câu đại loại như “ Theo yêu cầu của vị khán giả có nhiều cô bạn gái thời thờ ấu” hay “Chàng trai với những lá thư tay” chẳng hạn. Nhưng Hân hơi bất ngờ, lần này không đơn giản là thư yêu cầu một bài hát.
Gửi cô bạn nhỏ của tôi
Tôi vẫn nhớ em, một mình, trên cánh đồng cỏ đó, tóc bết mồ hôi, và khét nắng, nhưng nụ cười vẫn tươi xinh. Tôi biết em cô đơn, nhưng tôi chẳng giúp gì được em, ở cái tuổi mới lên mười cả.
Tôi vẫn nhớ em, cô gái tươi xinh trong tà áo dài cũ, có lẽ em không lộng lẫy, em không nổi bật trong đám nữ sinh khi tan học, nhưng em đặc biệt. Có lẽ em vẫn thầm ước những cành hoa đó do người nào đó gửi tặng em, tôi có làm em thất vọng không?
Tôi vẫn nhớ em, dù bao năm tháng đã đi qua, có lẽ em đã trải qua nhiều buồn vui, cay đắng giữa cuộc đời. Nhưng có một điều tôi vẫn thấy trong em vẹn nguyên, đó là nỗi cô đơn.
Tôi vẫn nhớ em.
Hãy phát một ca khúc để nói cho tôi biết, câu trả lời, cho những mong đợi của tôi.

P/s: Tôi đã đủ lớn để có thể cõng em, đi trên những con đường xa nhất có thể, đến những nơi em muốn đặt chân.
Mọi dự định của Hân đều vụt tắt, cô nghĩ mình thật vô tâm, cô định đi trêu chọc một tấm chân tình đã dành cho cô ư? Đáng lẽ cô phải sớm nhận ra chứ nhỉ? Những lần về nhà ngắn ngủi, cô vẫn thấy anh qua chơi, vẫn trò truyện với ba mình, vẫn phụ ba vài việc lặt vặt. Hân vẫn mải kiếm tìm hạnh phúc ở những nơi xa lạ, mãi nuối tiếc những cuộc tình đã qua và hi vọng ngày nào đó sẽ gặp người yêu lý tưởng, thật ngốc phải không?
Chương trình hôm đó, Hân gửi đến vị khán giả chân thành kia lời cảm ơn, và Hân tặng anh một bài hát, thay cho cô bạn nhỏ của anh.
Lần đầu tiên em như bay giữa những sắc hồng của muôn đóa hoa
Dịu dàng mang tên anh trong nỗi nhớ nhung trải khắp những con đường
Bao ngại ngừng vẫn còn, vẫn chưa thể thành câu.
Lời bài hát được Hân ngân nga trên đường về. Đi qua nơi vỉa hè, Hân chạy lại bên chỗ ông cụ hỏi thăm, rồi chọn khoai nướng. Vẫn dáng người đó, như chẳng hề có gì xảy ra trong thời gian ông vắng mặt, như mọi khó khăn không thể quật ngã được ông, Hân thấy an lòng. Ông cụ hiền từ nói nhỏ trong tiếng gió: “Có cậu kia đứng đợi cháu lâu rồi đấy”. Hân quay lại, là anh, cậu bé chăn bò bị trêu chọc, chàng trai âm thầm cài hoa nơi giỏ xe Hân rồi dõi theo cô những năm tháng dài. Hân bước chậm, như chẳng tin vào mắt mình.
- Anh có thể cõng em về nhà chứ?
Hân im lặng, và khóe mắt cay cay.
Lần đầu tiên, trong cuộc đời dài rộng này, vào một đêm lặng yên, Hân biết, mình được yêu, chân thành.
Và cuộc đời đôi khi cũng vẫn còn những câu chuyện cổ tích. Hãy cứ tin vậy đi.

           


Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Nhà văn NGUYỄN VĂN THIỆN


AI ĐÃ LỤC TUNG KÍ ỨC
Truyện ngắn


Như một đứa trẻ đi xa nhà lâu ngày, về thấy góc bàn học, phòng ngủ của mình bị lục tung. Chiều nay, ký ức tôi cũng bị lục tung lên như vậy đấy. Nhưng mà ai đã dám thừa cơ lúc tôi ngủ, lẻn vào đào bới chốn riêng tây của tôi một cách không thương tiếc? Khi tôi tỉnh dậy thì kẻ vô duyên ấy đã bỏ đi xa lắm, không hề để lại dấu vết. Chỉ còn một vùng ký ức ngổn ngang như bãi chiến trường. Tôi ngồi ngẩn ngơ như một thằng đần, mặt nghệt ra không vui không buồn, nhìn vào bãi ký ức đủ màu sắc và hình dạng. Xưa nay, tôi chỉ chăm chỉ nhặt và cất, và giấu, nhét cho thật kỹ, rồi cũng quên, rồi không nhớ nữa. Vậy mà chiều nay, mọi thứ lại bày ra ngồn ngộn, nhiều lắm!
Có những ngón tay lăn lóc rời rạc, hình như không phải cùng một bàn tay! Ngón thon, ngón nõn nà, ngón chai sần, ngón thô ráp, ngón nhỏ xíu, ngón trơ xương, có ngón buộc bông băng như vừa bị đứt. Sao mà nhiều ngón thế? Không lẽ nào, chừng này ngón tay từng can dự đến cuộc đời mình? Nhiều đến thế, làm sao ta nhớ nổi! Thực tình, tôi chỉ vẫn thường nhớ ngón tay của mẹ, ngắn ngủn, chai sần, móng dài móng ngắn không đều, thơm mùi bùn mùi cỏ. Những ngón tay đầu tiên nâng tôi lên khỏi mặt đất nhầy nhụa bùn nâu. Còn những ngón tay khác, từ lâu tôi đã quên rồi! Tôi ngồi nhìn lại, hồi tưởng lại, thấy một vài ngón quen quen, hình như đã cùng tôi đi qua một quãng đường nào đó. Tôi nhặt một ngón tay lên và mút, như một đứa trẻ tự kỷ, và nhận ra, đó là ngón tay của chính mình.
Trong đống ký ức vương vãi, có rất nhiều sợi dây dài ngắn lớn bé loằng ngoằng. Có một đoạn dây thừng nằm còng queo. Dễ đến phải hơn hai mươi năm rồi mới gặp, nó vẫn đậm đà mùi phân trâu. Có một đoạn dây nhỏ xíu, hình như là dây buộc quần thuở còn để chỏm. Hồi đó, quần cũ, lại đứt cúc, phải quàng thêm cái dây nữa cho chắc, để đến lớp, thế mà lâu lâu lại bị mấy thằng bạn quỷ sứ chạy từ phía sau, tụt xuống. Lại có một cọng thun nhỏ xíu như sợi tóc mai mười bảy tuổi. Sợi dây này, từng dùng để buộc tóc đuôi gà trên đầu cô bé hàng xóm. Không biết giờ bé ở đâu! Có một sợi dây nữa, rất dài, đó là dây vịn của một chiếc cầu vùng sơn cước, tôi vịn vào để vững bước đi qua mỗi ngày.
Những đoạn dây ký ức rời rạc, đứt nối, bây giờ lại bày ra bừa bộn như trong một giấc mơ.
Tôi định đứng dậy dọn dẹp bãi ký ức bộn bề, nhưng không nhấc chân nổi. Ô hay, chiều nay tôi vẫn ngồi nhậu vỉa hè, cao hứng còn đi đi lại lại, chém gió như hát tuồng mà, sao bây giờ chân tay bải hoải thế này? Hay là sắp...
Tôi ngồi bó gối, như một thi sĩ cuối mùa hoang và hoải, nhìn những thứ của mình mà lâu rồi không gặp. Có những trái tim, thật đấy, không phải là ảo giác, chúng lăn ra, nằm vất vưởng. Trái tim nhỏ nhất, không biết là của ai mà rớm máu, bầm đen. Hình như nó từng bị chấn thương, từng bị va đập mạnh trong một vụ tai nạn giao thông rùng rợn. Tôi nhớ, tôi đã khóc vì nó nhiều lắm, đó là trái tim của em trai, tôi nhớ ra rồi. Còn một trái tim hình mặt trăng khuyết, màu hồng, như một ảo ảnh xa xôi, hẹn hò mãi mà chưa hề gặp mặt. Một trái tim khác, nhăn nheo, rúm ró, như một giọt lệ khô dưới khóe mắt dõi theo tôi chập chững vào đời.
Ký ức đầy mạng nhện. Hàng ngày, tôi ngồi viết, như con nhện giăng tơ, rồi đi lạc trong mê cung do mình tạo ra. Ngoài kia, cuộc sống cuồn cuộn mùi thuốc súng, chưa biết sẽ bén lửa lúc nào. Xung quanh, những nhỏ nhen hạn hẹp của kiếp người, những mơ mộng xa xôi lắm lúc làm tim đau buốt. Làm thân con nhện, chạy đằng nào cũng toàn thấy tơ vương. Trong đống ký ức luộm thuộm, tôi thấy có những chiếc tai nằm lăn lóc. Dễ nhận ra chiếc tai của bà cụ già mặt nhăn nheo bơi thuyền giữa hồ sâu trong núi. Tôi đã đi tìm, nhưng không gặp được cụ già ấy, lần ấy, hình như tôi đã chết giữa đường. Tai như tai phật, mà khó thấy vô cùng. Có lỗ tai bé xíu như của đứa bé mới sinh, nõn nà với một lỗ xâu bé tẹo. Có chiếc tai ướt nhèm bùn đất lên tám hay chín tuổi, ngày xưa...
Bât giác, tôi đưa tay lên sờ vào tai mình, lạnh buốt như tai người tuyết. Từ trong đó rơi ra, bao nhiêu là âm thanh, chảy tràn như sỏi đá giữa lòng suối cạn. Tiếng mẹ ru giữa trưa nắng cháy gió Lào. Tiếng em gọi khản đêm loạn lạc, chạy đi anh, chạy đường này... Tiếng dế gáy giữa đêm trăng ngà ngọc vạt cỏ sau nhà. Tiếng ken két nghiến răng trong những giấc mơ tù đày nặng nhọc mùa đông. Tiếng cồng chiêng những đêm rượu say thăm thẳm... Bây giờ, toàn những tiếng không đâu.
Từ giữa đống bề bộn tan hoang đó, tôi ngửi thấy mùi củ mì cháy khét thời xưa, ngày tháng ba giáp hạt. Cả mùi hương tóc thanh xuân bồng bềnh trong gió, như đang mơ. Tôi nuốt nước bọt đánh ực như đứa trẻ đói ăn đi qua hàng bán quà thơm ngậy. Phảng phất đâu đây mùi rượu cồn cháy ruột cháy gan của thời sinh viên bạt mạng. Có mùi máu ghòe tanh tanh nữa. Những mùi vị ký ức không biết được bảo quản bằng cách nào mà mới nguyên như vừa mới đây thôi.
Như một kẻ chuyển nhà, nhìn đống của cải lôi thôi lếch thếch mà đủ mệt, không biết cái nào chuyển trước, cái nào chuyển sau, cái nào nên vứt bỏ, tôi đành ngồi nhìn chúng, thở dài ngao ngán. Càng nghĩ càng bực cho đứa chim trời cá nước nào vô duyên vô cớ lẻn vào đây bới móc. Tôi gọi: “Ai đã vào đây?”. Tất nhiên, không ai lên tiếng hết. Chỉ có tôi ngồi đây, một mình thôi, trên đống ký ức bộn bề, cho đến khi nào, chúng sẽ dâng cao lên, vây lấy, thít chặt lấy tôi, và tôi sẽ từ từ chìm xuống, không còn dấu vết.

Còn ai vào đây nữa?

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN số 271 - tác giả LÊ VĨNH TÀI

Nhà thơ LÊ VĨNH TÀI


Bài thơ và chuyến bay


1.
căn phòng bóng ma
đêm đầy thở dài
bạn về
ngang qua sân bay
để chết

mọi người nâng niu chiếc điện thoại cũ
tìm
trong quyển sổ danh bạ đã bị mờ, quăn góc
tên của bạn
vẫn còn được in một cách cẩn thận

biết là bạn không còn có thể nghe
và thuê bao đã ngoài vùng phủ sóng
nhưng mọi người vẫn
gọi…
2.
ánh sáng
chạy vào phòng
loang lổ như một bàn cờ
các mảnh kính vỡ
nằm rải rác

khuôn mặt bạn đóng khung trong bức ảnh
chụp bạn nằm trong bóng tối
với nỗi tuyệt vọng
riêng mình

và như vậy
bạn đã đặt một chân nhẹ nhàng
lên cơn gió

bạn đã chán những lần nhảy cao
hay nhào lộn
vì nó sẽ làm bạn té
trầy hai đầu gối
bạn chảy máu
vào gương mặt của những người vẫn còn yêu bạn
và chờ đợi bạn bay về

họ đứng và ngồi
lố nhố trong nắng
họ đen và trắng
họ chỉ là bóng tối câm lặng
trong trí tưởng tượng
và thực tế phũ phàng
của những lần bạn mải mê làm ánh sáng

cho đến khi bạn gặp nạn
và rơi…


Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả H’SIÊU BYĂ

Tác giả H’SIÊU BYĂ


MÙI GIÓ THẢO NGUYÊN

Bút ký


Nhiều cụm mây màu trắng vờn vờn chiếc máy bay như khói củi Bla, K’ting vờn ngôi nhà dài của mí. Tôi nín thở ngó xuống đất.
Kìa! Núi Chư H’Mú, Chư M’Ta, Chư H’Mlai sừng sững mở tròn mắt ngó ngó nghiêng nghiêng.Dưới chân là thung lũng vàng ối màu lúa chín. Trên bờ, cách đó không xa, lưng con bò đi qua đi lại, có thằng nhỏ huơ huơ cái mũ “Máy bay, máy bay trên trời kìa, nhìn đi, sao nó nhỏ xíu giống chim Nghiếc, chim Phí vậy nè”. Tôi nhoẻn miệng cười. Mơđrăk của tôi. Làng của tôi. Chiều nay thôi tôi sẽ bước lên cầu thang bảy bậc chạm vào ngưỡng cửa. Ngưỡng cửa màu xám tro khắc hình mặt trời tỏa sáng. Cha tôi, cậu tôi đã đặt vào đó tất cả lời gửi của ông bà “Măng to vì có cây le tốt. Tắc kè lớn nhờ có cây to. Con cháu lớn khôn nhờ có ông bà cha mẹ nuôi dưỡng”1 . Tôi nghe mùi cá phơi khô lan tỏa khắp gian bếp, rồi tiếng chày m’đũ, m’đũ dầm trái cà, trái ớt xanh. Tiếng mí nhỏ lẫn tiếng con heo kêu to eng éc dưới gầm sàn “Ơ H’Mon, H’Zon, Y Gon, Y Son hoă lah”(H’Mon, H’Zon, Y Son ơi, về ăn cơm). Mũi cay xè xè, lòng tôi chộn rộn vui sướng. Có dây leo nào không nhớ rừng, nhớ suối khi nó bò đi xa.
Làng M’Um của người Blô bên trái, làng Ea H’Mlai của người Bih bên phải, làng tôi người M’Dhur chính giữa. Ba làng dùng chung một dòng Ea Tlư chảy từ núi Chư M’Ta. Ea Tlư trong xanh hay có tiếng chim Tuk Tu kêu mỗi mùa hoa Sung Gơr nở. Tiếng chim Tuk Tu kêu đêm thứ nhất, đêm thứ hai người ta sửa soạn cúng bến nước. Mới tờ mờ sáng, nước miếng trẻ con còn dính khô trên miệng đã nghe tiếng xe công nông bịch bịch chở củi về: “Tiếng gì thế hả mí?”. “Tiếng người nhỏ và tiếng cây củi to kéo từ rừng Chư M’Ta”. Mí bận rộn, váy mí phần phật bay bên này bên kia, mí đi tìm cái cần uống rượu dắt lên trên vách; mí kiếm nồi bảy, nồi ba cho họ mượn; mí ngửi ngửi mùi rượu và lầm rầm chửi con dòi làm rượu mí hư… Nhớ lại ngày xưa, đôi chân muốn nhanh về tới làng, đôi tai muốn nghe tiếng chim Tuk Tu hót, da thịt muốn hòa vào dòng Ea Tlư trong vắt xanh, nằm lên tảng đá muốn nhìn ánh nắng vàng xuộm xiên xiên trên tầng lá. Máy bay nằm im, tôi nghe rõ ràng lòng mình có tiếng hát k’ưt. Mơđrăk ngày trở về!
Luynh, thằng em họ chung một người bà, đánh xe công nông ra đường cái lớn đón tôi. Luynh gầy như cán cuốc, mắt trũng sâu tím tái như trái cà, râu ôm quanh mặt lơ phơ như quả bắp giống treo dọc xà nhà. “Ha bu, người ta bữa nay thành người My, người Prăng rồi”. Tay Luynh cuốn lấy cổ tôi, cổ tôi ngả trên vai nó. Mùi con bò, con heo thui từ áo xộc lên đường mũi, tràn lan lên mái đầu. Tôi hít hà “Làng mình có người mới về với rừng hả Luynh?”. “Ờ âe H’Ring chủ bến nước, mày về trúng lắm, bữa trước âe qua nhà ngồi lửa, ho khùng khục nhưng cứ bắt mí kể về thằng cháu bên Prăng”. Luynh không nói nữa, trên mắt nó có sương đọng. Nó quay xe ba vòng mới nổ bịch bịch. Chư M’Ta buồn bã đón người về rừng núi Gió thênh thang, mi mắt tôi ran rát trái ớt, củ hành. Kì quá! Làng người M’Dhur hôm nay sao vắng tiếng cồng, tiếng chiêng?
Mí đón tôi bằng canh cà cay sắp toác lưỡi, chị gái đón tôi bằng món dế um thơm bay vách nhà, anh rể đón tôi bằng ché rượu say mèm đổ rạp lối đi. Mắt lim dim, tôi nhìn ra cửa thấy đỉnh Chư H’Mú xa xăm…
“Có nghe thấy gì không ơ bọn trẻ nhỏ? Tiếng gió thổi từ Chư H’Mú đó”.
Âe H’Rinh mở đầu câu chuyện. Lũ chúng tôi gật đầu nhiều lần “Nghe chớ, thấy chớ!”. Âe mỉm cười, đưa tẩu thuốc lên miệng. Khói thuốc phả vào mặt người, chạy quanh quanh tảng đá, trèo lên ngọn cây, lẽo đẽo kéo nhau về núi Chư H’Mú. Giọng âe nhẹ nhưng rõ lắm, thằng San canh đàn bò cách ba tảng đá còn nghe “Gió từ núi Chư H’Mú đi qua năm, sáu đồi cỏ tranh của làng Mơđrăk”. Âe dừng lại, nhổ nước miếng xuống khe đá nhìn chúng tôi “Có thấy quả đồi to nhất, mọc nhiều cỏ nhất ở chỗ kia không?”. “Có chớ, thấy mà”. Âe lại gật đầu: “Dưới đồi cỏ tranh đó có một lỗ đất, tên là Adrenh. Ngày xưa, ông mình, bà mình đã nghe lời con heo chui qua lỗ Adrenh để đến vùng đất hoa bằng cái nong, trái bằng cái nia, cá dưới nước bơi đen đặc cả dòng suối, con sông. Người Bih đi, người Blô đi, người M’Dhur đi, tay trái đàn bà ôm cái ché, tay phải đàn bà dắt trẻ con. Các cô gái đẹp nhất người M’Dhur chưa đi, họ miết làm đẹp, thay yêng viền tím, viền hồng, chê gùi này phình to, chê gùi kia quá nhỏ. Mặt trời sắp đi ngủ, có một con trâu to như quả núi, thân nó chui qua không được, bịt luôn đường đi. Vậy là những cô gái đẹp đành ở lại làng Mơđrăk sống chung với nai, với cọp, cỏ tranh trên đồi giành ăn với lúa, với dưa, rồi sinh ra ông ra bà, sinh ra ta và các cháu”.
Lời âe H’Rinh đều đều trong lỗ tai như tiếng con ve mùa khô, như tiếng con dế mùa mưa lớn. Âe hái chiếc lá làm khèn thổi tít tè những giai điệu không giống hôm qua, hôm kia và chắc chắn không giống ngày mai, ngày mốt. Cứ như thế ngày này đến ngày kia, chúng tôi theo sau lưng con bò lang thang qua nhiều đồi cỏ. Bắt gặp một tảng đá, một đỉnh núi, một tiếng chim lạ, miệng chúng tôi nói: “Âe ơi, con bò mệt rồi, nó không muốn đứng dậy nữa, âe kể chuyện về tảng đá, quả đồi, con chim lạ kia đi”. Nắng ngả màu cam cháy trên thảo nguyên Mơđrăk. Gió thốc làm nghiêng cây cỏ tranh quá đầu. Dưới quả đồi không biết tên, nhiều bếp lửa từ làng của người Raglai nhả khói cao vút ở lại trên trời. “Về thôi, chân con bò ăn no bước chậm, chân người nhỏ mệt mỏi bước chậm, về trước khi mặt trời nhóm lửa hơ chân”. Chúng tôi lùa bò đi dọc đường cái lớn, con bò to, sừng nhọn đeo chuông đi trước, những con nhỏ, sừng ngắn theo sau, từng hàng, từng hàng về đến làng trước khi mặt trời nhóm lửa.
Nhà dài vắng, chỉ còn mình tôi và bếp lửa nhún nhảy cười cười. Mí nói lửa cười, dấu hiệu nhà có người từ làng xa qua chơi. Lửa coi tôi là khách? Tức mình. Tôi lấy cây đũa sắt trong ống tre đập đập không cho chúng chụm miệng nói xấu. Chúng cười to hơn, những tiếng cười đau buồn về con dao đã cùn, chiếc áo đã mốc và quả bầu nứt vỡ. Tim tôi nứt vỡ. Giọng kể của mí trong bữa cơm chiều như đọng lại trên mười cây cột nhà.
“Người âe H’Rinh như cây lúa có bụng, đi bệnh viện huyện bác sĩ lắc đầu, đi bệnh viện tỉnh bác sĩ lắc đầu, xuống Sài Gòn bác sĩ lắc đầu. Rồi về, nằm bên nhà chờ m’jao2 từ bon K’măn xuống chữa. M’jao đó hay lắm, nói trúng lắm, bà soi sáp ong vào tay, sáp ong liu riu cháy nhỏ, ánh lửa xì sầm vào tai, mách cho m’jao biết người ốm trúng thuốc độc hay bị m’tao k’sơk3 hại. Âe H’Rinh bị m’tao ksơk hại, đổ một bồ lúa trong họng, lúa rớt xuống bụng, bụng sưng, cúng một con heo nái to không chịu, cúng một con bò đực lớn không chịu. Thua rồi, nằm bên nhà chờ ngày ông bà tới gọi về núi bên kia.”
Không sang nhà người chết, tôi để đôi chân dẫn mình ra dòng suối cuối bon. Suối cạn khô, rễ cây Sung Gơr phì phò sắp chết. Ánh sáng cuối ngày tím tái, chim Tuk Tu im bặt, gió lành lạnh đưa cái nhìn muốn khóc lên núi Chư M’Ta. “Có nghe thấy gì không ơ bọn trẻ nhỏ? Tiếng gió thổi từ núi Chư M’Ta đó?”. Núi Chư M’Ta ngân ngấn, nó ôm trán ơ hơ một làn điệu ayray buồn buồn:
Uống rượu năm rượu bảy
Ăn cơm trong lá, chén đồng
Nhớ người đi ngang mặt trước
Thương người đi qua mặt sau
Nhà người chết ồn ĩ. Dòng họ Mlô từ bon Hoang, bon Yô kéo sang. Họ trề môi, liếc cái liếc dài thượt lượt về chinh Lao, ché Tuk chị, ché Tuk em của âe H’Rinh để lại. Linh hồn của âe H’Rinh theo Chúa, con cháu âe H’Rinh muốn vậy “Lấy đi, cả chén đồng, vòng bạc trong rương gỗ kia nữa, từ nay sẽ không có lễ cúng Yang nào ở nhà họ Mlô này”. Họ làm dấu cầu nguyện, lầm rầm, lầm rầm như tiếng mưa tháng bảy, như tiếng mưa tháng mười.
Lũ trẻ chăn bò hồi nhỏ với âe H’Rinh ngồi im. Chúng tôi không nghe lời cầu nguyện. Chúng tôi nhớ âe H’Rinh, nhớ khuôn mặt nhăn nhúm như tấm áo cất trong gùi lâu ngày không mặc, nhớ câu chuyện kể nhiều ngày trên đồng cỏ, nhớ tiếng lá tít tè không tên vào những buổi trưa. Mùi gió thênh thang trộn lẫn mùi con bò đang ăn cỏ.

Nước mắt chúng tôi rớt nhiều vào tay. Ơ hưi ờ hừi ớ…

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI CANH GIỮ ĐƯỜNG BIÊN bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 223 THÁNG 3 NĂM 2011



Chiếc xe xuất phát từ thành phố Buôn Ma Thuột đang ngon trớn băng băng lao về phía huyện Ea Suôp, bỗng Trung uý Huy Hoàng – người được Bộ chỉ huy Biên phòng Dak Lak cử đi theo Đoàn văn nghệ sĩ nhắc lái xe:
-         Anh rẽ vào khu nhà làm việc của Vườn quốc gia Yok Đôn nhé!
-         Mình phải vào xin phép mới được đi qua Vườn à? Nhà văn Nguyễn Thị Bích Thiêm ngạc nhiên hỏi lại.
-         Không phải vậy, ta đi nhờ cầu của Vườn, vượt sông Srêpôk. Cầu xây dựng sát khu nhà làm việc của Vườn nên ta phải đi qua đó.
Buổi sáng trước khi đi, Đại tá Lê Xuân Đáng – Chủ nhiệm chính trị, thay mặt lãnh đạo cơ quan Bộ chỉ huy Biên phòng đã trình bày cho Đoàn biết một số nét chính về tình hình biên giới Tây Nam mà tỉnh Dak Lak quản lý. Kết thúc buổi trao đổi anh cho biết thêm: “Hiện nay đã có cầu bắc qua sông Srêpôk nên không phải đi qua thị trấn Dak Min, tỉnh Dak Nông  như trước đây nữa, con đường này gần hơn được 70km đấy!”  Tôi mừng vì bớt được một đoạn đường đèo dốc quanh co khó đi, nay con đường mới tuy có xấu một chút đi chăng nữa, nhưng gần được tới 70 km thì tốt quá!
Cầu bắc qua sông Srêpôk chỉ đủ cho một làn xe đi qua, chưa có lan can, cao lênh khênh so với mặt nước. Phía dưới cầu, dòng nước hiền hoà phẳng lặng trôi, thỉnh thoảng gặp ghềnh đá mới giật mình tung bọt trắng xoá, ào lên rồi lại lặng lẽ xuôi dòng. Vào mùa khô, con sông “chảy ngược” mới hiền hoà làm sao, khó ai có thể tin được khi mùa mưa đến nó lại hung dữ đến thế… Tôi nhớ lại, ngày 12 tháng 12 năm 2009, dẫn Đoàn văn nghệ sĩ vào thăm đồn Bo Heng kết nghĩa với Hội VHNT, được thiếu tá Lê Quang Cánh - Đồn trưởng kể cho nghe nhiều chuyện về người lính Biên phòng ở bến đò, nay có cây cầu bắc ngang này. Nơi đây đã chứng kiến những câu chuyện tình cảm động của những người sĩ quan Biên phòng với những người vợ, người yêu công tác và sinh sống trên địa bàn tỉnh Dak Lak. Có ông Đồn phó của tôi – xin nhà văn dấu tên nhé, mới cưới vợ, vợ làm nghề dạy học ở tận dưới huyện Cư M’gar, hai người thường hẹn hò nhau chiều thứ bảy hàng tuần đến bến đò Vườn quốc gia Yok Đôn đón nhau. Nếu anh trực, chiều thứ 7, sau giờ dạy chị lên thăm, anh vượt khoảng 50 km đường rừng đến đón, chiều chủ nhật về; còn nếu chồng được nghỉ thì ngược lại vợ đến bến đò đón chồng về. Do con thuyền quá nhỏ, chỉ chở người không chở dược xe máy, thành ra hai người cứ hẹn nhau đến bến đò và gửi xe lại bờ, vượt sông đến với nhau. Nhưng trời nhiều khi giở chứng như ghen với đôi vợ chồng trẻ, giận giữ trút nước xuống, con sông đang êm đềm chạy ngược về phía tây bỗng gầm lên dữ dội và hung hãn như một bầy voi nổi điên; khi ấy hai vợ chồng đứng hai bên bờ sông, cách nhau chưa đến 100 mét nhưng không thể đến được với nhau. Họ gào lên trong mưa, vượt qua cả tiếng gầm của gềnh, của gió bảo nhau về đi và hẹn tuần sau hãy đến… nhưng rồi mặc gió thét, mưa gầm, quất những hạt nước vào mặt rát bỏng, họ cứ đứng nhìn nhau nhoà dần, nhoà dần cho đến lúc màn đêm ụp xuống, không nhìn thấy được nhau nữa mới gạt nước quay về…
Trong thời bình, chiều thứ 6 người ta đã chuẩn bị thu xếp để hai ngày nghỉ cuối tuần đi chơi nơi đâu cho phù hợp sau một tuần làm việc căng thẳng, còn người lính canh giữ biên cương thì vậy đó… các anh đã phải gác nỗi niềm riêng tư, lo làm tròn trách nhiệm của những người vì sự bình yên của tổ quốc.
Đường xấu, xe chạy chậm và bụi mù mịt, lái xe không dám đóng cửa, bật máy lạnh vì sợ mấy Nữ sĩ say xe; thế là đành chịu... bụi! Đúng là đường lên Biên cương, dốc, vực, gềnh và những cây cầu bắc tạm thỉnh thoảng lại thấy đá va vào gầm xe, tài xế méo mặt…, cuối cùng Đoàn cũng đến đồn Biên phòng Bô Heng. Được điện báo trước, các anh trong ban chỉ huy ra tận xe đón Đoàn, cái nóng, cái mệt bay hết cả, chỉ còn lại tiếng cười đọng lại trên môi sau những cái bắt tay thật chặt. Đồn là đây, tôi đã đên cả chục lần nhưng lần nào đến cũng có một cảm giác thật lạ. Nhìn những người chiến sĩ dạn dày sương gió, mỗi ngày chỉ được phép dùng không quá 2 lít nước vừa nấu ăn, vừa uống mới cảm nhận hết được nỗ gian lao vất vả của mọi người ở đây.
Thiếu tá Lê Quang Cảnh – Đồn trưởng, còn khá trẻ hay cười và kiệm lời, nhắc mãi chuyện đường khó đi, anh chị văn nghệ sĩ vất vả mới tới thăm được Đồn, trời lại nóng quá… Đồn trưởng và biết bao chiến sĩ ngày đêm bám trụ nơi đây dãi gió dầm sương suốt tháng này qua tháng khác không nghĩ đến mình lại chỉ trăn trở cho Đoàn, làm tôi cảm thấy bùi ngùi. Các anh chỉ nghỉ đến đất nước, đến những người xung quanh và hình như quên đi cả chính mình đang đối diện với vô vàn khó khăn khắc nghiệt. Qua tâm sự với các anh, tôi được biết cuộc sống đời thường nơi biên cương không chỉ khó khăn về vật chất, khí hậu khắc nghiệt, kẻ thù rình rập phía bên kia mà phải đối diện với cả những hiểm nguy đe dọ tính mạng từ những chuyện tưởng như rất nhỏ nhặt. Chuyện kể:
Một sĩ quan mới tốt nghiệp ra trường về Đồn công tác, đồng nghiệp dặn: “trên này thú dữ nhiều lắm, khi đi công tác cũng như sinh hoạt hàng ngày phải cẩn thận không nguy đấy”. “Sao vậy”! “Rắn , rết, trăn… đều có thể gây tử vong cho người, phải đề phòng”. “Ôi tưởng gì chứ rắn rết thì ở quê em gặp thường xuyên, chuyện nhỏ, anh yên tâm”. Mồm nói, chân thọc vào dày định đứng dậy thì bất ngờ thét lên: Ối! Không biết con rắn chui vào dày từ lúc nào đã đớp một miếng vào ngón chân cái, làm người sĩ quan mới về phải vào viện điều trị cả tháng.
Nói đâu xa, đồng chí Đội trưởng trinh sát… – Trung tá Võ Văn Thái, Đồn trưởng đồn Yok Đôn kể: …đi công tác về cùng anh em ra suối, tắm xong chuẩn bị lên bờ thì bất ngờ bị bị rắn cắn; anh em chủ quan bảo rắn ở dưới nước, chắc rắn nước có cắn cũng không sao đâu và tất cả kéo nhau về ăn cơm còn đùa, tếu được. Nhưng vừa cầm đến bát cơm chưa kịp ăn đã lên cơn giật, cấp cứu đưa về tỉnh rồi đưa thẳng về bênh viện thành phố Hồ Chí Minh, thay máu mấy lần mới sống được, nay đồng chí ấy đã chuyển về Hà Nội.
Tôi tò mò hỏi thêm: “rắn độc nguy hiểm ai cũng biết, ngoài ra còn loài thú nào đáng sợ như rắn nữa không?” “Có đấy, có khi còn hơn cả rắn nữa!” “Con gì mà khủng khiếp thế”? “Heo rừng”! “Heo rừng có gì mà phải sợ”? Thấy tôi tỏ vẻ không tin, Trung tá Võ Văn Thái kể: Đầu năm 1990 tôi dẫn một tổ đi tuần, đến bên suối Dak Man cử một cậu ở lại để nấu cơm chiều, còn cả tổ tiếp tục công việc. Đi chưa được bao xa bổng nghe thấy tiếng kêu: “Anh Thái ơi cứu em với!” Cả đội vội chạy quay lại chỗ tiếng kêu thì thấy anh bạn được phân công ở lại nấu cơm leo tít lên ngọn cây dầu; dưới gốc cây, một chú heo một to đùng đang chồm hai chân trước lên gốc cây như định trèo lên! Anh em lấy cây khô đốt lửa làm đuốc, chạy lại xua, nó mới chịu bỏ đi. Khi tụt xuống đất, anh bạn mới lắp bắp kể: Em xuống suối vo gạo, bổng nghe ùm một cái rõ to phía bờ suối đối diện, nhìn lên đã thấy một cái đầu heo với đôi nanh cong vút, nhằm thẳng em bơi tới, em vội chạy lại gốc cây vừa kịp leo lên, nó lao vào gốc cây đến rầm một cái, rồi cứ đi vòng quang cây, thỉnh thoảng lại chồm lên như muốn leo lên…

Đêm về khuya, trời trở lạnh. Lúc trưa Đoàn đến nhiệt kế treo trong phòng khách chỉ 34 độ, còn bây giờ trùm chiếc chăn bông dày cộm, tôi vẫn thấy lạnh. Ngoài sân, ánh trăng suông soi rõ những ngọn xoài lắc lư theo ngọn gió. Gió ở đây mới đáng sợ làm sao, nó xô cây cối ào ào và lươt lên mái tôn nghe loảng xoảng; cái lạnh như cũng len vào tận mang tai. Ngoài kia, những người chiến sĩ Biên phòng vẫn thay nhau thức, chống chọi với cái rét, cái gió và biết bao hiểm nguy rình rập. Không đến đây, nơi biên giới Tây Nam này sẽ không thể chứng kiến sự khắc nghiệt của thời tiết nơi đây và khi đã đến chúng ta mới khâm phục những con người đang bám trụ nơi đây. Vì sự bình yên của tổ quốc, vì hạn phúc của mọi gia đình; các anh – Người chiến sĩ Biên Phòng vẫn thức để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.