Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả BÙI MINH VŨ

Nhà thơ BÙI MINH VŨ



BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN VÀO VƯƠNG QUỐC THƠ



Hồ Hồng Lĩnh đến với thơ chậm, nhưng chắc:“Này em/ Chầm chậm bước
chân/ Cho anh lên với.” Năm 2013, tập thơ đầu tiên: Quá Giang (NXB Phụ nữ ấn hành) ra đời, đến nay xuất bản tập Sang Mùa, đánh dấu bước tiến trong quá trình sáng tác của anh. Người đọc dễ nhận ra chất giọng có thay đổi, gắn liền với chức trách xã hội công dân của thi sĩ được nâng lên.
Thơ anh không nặng tính thế sự nhưng chưa bao giờ nhạt nhòa, không bao biện, không cụ thể nhưng rất đời, gần với cuộc sống muôn quý ngàn yêu. Chưa thể tổng kết, đánh giá gì vội, nhưng rất mừng và hưng phấn khi đọc Sang Mùa, đọc từ từ, đọc chậm, chắc chắn những giá trị của thi phẩm sẽ mang đến cho người đọc một ý nghĩa nhất định.
Quê hương vẫn là mảng đề tài anh khá tâm huyết và trân trọng dành tình cảm thể hiện qua “Dòng sông, xóm dừa/ Tím lịm/ Ta mơ màng như tím nụ hôn.” Và “khi bãi bờ đã ngút/ Vẫn có một khoảng trời hoa lửa/ Tự ta say.” Cam Ranh với “Đáy nước gương xanh” khiến thi sĩ muốn tan trong trời, trong “Nước non bật hồn/ Ta là chồi xanh/ Nhú trên biển cả”. Và “Bình Ba. Bãi chướng bãi nồm bãi ngang” với “Gió khơi lòng đá. Đá hát tình ca” khiến anh thốt lên tình yêu tha thiết “Con sóng vô bờ/ Nỗi nhớ cầu tàu/ Nhớ bãi san hô/ Nhớ con nghê đá”. Tâm thức nhớ trong anh chừng như cồn cào, khôn nguôi về làng, nơi anh sống, vẫn cốt cách chung “Làng/ Đã hết ao chuôm vùng trũng/ Như phố thị nở hoa sen giữa vành đai xanh lúa/ Một không gian minh chứng đổi thay làng/ Mắt môi ta bỗng như no hạnh phúc.”
Đôi khi anh muốn quay lại, tìm về cái thời chân quê ngày xưa “muốn trở về/
giỏ cói chợ/ ngày xưa”; lại nhớ Hà Nội như gửi hồn vào nơi tin yêu và hy vọng “Vẫn hóng hồn ngoài đó/ Hà Nội ơi”. Và tháng tư, vẫn là thời khắc linh thiêng “Năm cánh quân/ Đạp cửa xông vào/ Thắp lửa vào sao/ Lâng lâng đất trời/ Lâng lâng biển/ Trọn vòng ôm.”.
Quê hương trong thơ Hồ Hồng Lĩnh gần như là gam màu chủ đạo, thể hiện ở nhiều khía cạnh, khi là một địa danh, lúc là những quý nhân gắn bó với tác giả cả cuộc đời. Mẹ là hình ảnh dung dị, bình thản, hy sinh vô bờ bến cho con:
Mẹ, một đời quên đi phận mình còn bao thua thiệt /Khâu vá tình yêu
Bằng trung hậu đời mình.
Một người bác cũng chân quê, chịu khó, một nắng hai sương, vượt qua những gian truân, cực nhọc:
Sống gần thế kỷ
Bác tôi
Vồng khoai cây lúa
Nặng vai một đời.
Bài thơ “Kể chuyện”, viết về người chú trở về từ chiến trường, tác giả kể lại
mối quan hệ chú - cháu bằng những kỷ niệm khó quên, gây xúc động. Bài thơ vừa có tính truyện, vắt dòng, ngôn ngữ hàng ngày, gần như hơi lạ trong thơ Hồ Hồng Lĩnh:
Có những đêm mưa đá đầu mùa
Chú lôi tôi nhét xuống gầm giường
Rồi bảo “chúng phản kích
Có cả cối và vua chiến trường trọng pháo”
Hết mưa. Chú lại cõng tôi đi
Bất thần như chớp
“Tản nhanh - chúng nó thể
Không chiếm được
B52 san phẳng”.
Vẻ đẹp của “khăn rằn” hay một nàng thôn nữ đã làm cho nhà thơ mê mẩn:
“Khăn rằn hương bén nôn nao/ Ếm trong vườn bưởi hé mào sầu riêng/…Tím chen một vệt mây dong/ Bồng bềnh ta vẫn khát mong bồng bềnh.”. Hồ Hồng Lĩnh có những rung động tinh tế: “Nha Trang đêm/ Những cặp tình nhân/ Ôm trăng/ Ôm biển/ Ta như đang/ Lơ lửng/ Cùng đêm.”; đôi khi “khuynh nữ”: “Bóng hồng bỗng đẹp chợ phiên/ Còn nghe hương thoảng lối riêng em về”. Nhờ tính “khuynh nữ”, nên thơ Hồ Hồng Lĩnh trẻ trung:
Giấc mơ tròn em mới qua đây
Màu phượng hồng hay má môi em ửng
Nghe nồng nàn như hạ rối vào thu
Nếu có thể
Em cứ đều như thế
Ban trưa nào em cũng ghé thăm ta.
Đôi khi trách bóng gió, khấn trời, xin mưa đừng ngăn cách “đôi tình”, đừng
làm tan biến giấc mơ trưa: “Hạ vẫn vào mưa/ xin thôi đừng rớt hạt/ lỡ vô tình/ lấm láp/ giấc mơ trưa.”.
Viết về đôi mắt người tình, nhiều nhà thơ đã viết, đến lượt anh, vẫn có những nét đáng yêu:
Mắt em đen màu đêm
anh xin uống thật nhiều đêm
để mắt em cực đen
cho cuộc tình chuốc trong màu đen huyễn hoặc.
Nghệ thuật trong tập thơ Sang mùa dường như có những bước chuyển mới so với tập Quá giang. Thi pháp mới hơn, giọng điệu lạ hơn, hình ảnh hay hơn, ngôn ngữ tinh tế hơn.
Hãy đọc:
Tháng bảy
Nỗi buồn trổ hoa
Đọc câu thơ thấy cơn khát rộp phồng, gãy bóng giấc mơ:
Tôi chạy trên cánh đồng điêu đứng
Những cơn mưa vô cảm vẫn đớn hèn.
Có câu thơ làm chau lòng cùng kiệt bằng hình ảnh đẹp:
Các em non như cây chuối lá lên ba
Cõng nhau qua ngày mưa tháng lụt.
Dùng phép điệp láy:
Hương thu ru rủ ủ duyên
rực vàng hoa lúa như yên phận người.
***
Hồ Hồng lĩnh bắt đầu đặt bước chân đầu tiên vào vương quốc thơ. Anh có đi xa hay không còn tùy sức lực, nhưng tôi tin với đam mê và nhiệt huyết của người lính, chắc chắn nhà thơ sẽ có những thi phẩm mới xứng đáng để chúng ta nâng niu, trân trọng.



Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả NGUYỄN ANH ĐÀO

VĂN CHƯƠNG LÀ TRÒ CHƠI KHÓ!



 Nhà văn Nguyễn Anh Đào

Nguyễn Văn Thiện sinh năm 1975, quê Nghệ An, hiện là giáo viên dạy văn tại Đắk Lắk. Anh đến với văn chương như một “nghiệp”, có hi sinh, có đánh đổi cảm xúc riêng mình để tìm một lối đi, một thế giới riêng biệt để không lẫn vào ai khác. Không phải là tác giả có những đầu sách bán chạy với vài chục nghìn bản in, nhưng nhà văn Nguyễn Văn Thiện để lại dấu ấn đặc biệt với lối hành văn ẩn dụ sâu sắc, kể về những mảng sáng - tối của cuộc đời qua lăng kính lạ lùng, khó đoán. Sau tập truyện ngắn “Nắng trước cửa thiên đường” (2011), rồi đến tiểu thuyết “Nước mắt màu xanh thẫm” (2015) và “Chơi trò đồng xanh” vừa mới ra mắt (tất cả do NXB Hội nhà văn ấn hành), Nguyễn Văn Thiện khẳng định một điều rất rõ ràng, anh thuộc nhóm tác giả cho ra đời những tác phẩm không thể chỉ đọc một lần.
Nhân dịp Nguyễn Văn Thiện vừa ra mắt tập truyện ngắn “Chơi trò đồng xanh” chúng ta cùng trò chuyện với tác giả.
“Văn chương là trò chơi, bạn cũng có thể chơi cùng!”
Nhà văn Nguyễn Văn Thiện

- Chào anh Thiện, anh có thể nói qua về tác phẩm “Chơi trò đồng xanh” vừa ra mắt của anh với độc giả? Về thời gian ấp ủ, hoàn thành bản thảo chẳng hạn? Và, tại sao lại là cái tên “Chơi trò đồng xanh” - một cái tên không phải gây tò mò, thắc mắc mà rõ ràng là một sự đánh đố độc giả?
Nếu bạn để ý, sẽ thấy trong tập truyện này, có nhiều truyện ngắn bắt đầu bằng “Chơi trò…”, Chơi trò đồng xanh, Chơi trò đế vương, Chơi trò chui bao… Có lẽ bạn đọc đã quen với suy nghĩ, rằng tác phẩm văn học, đặc biệt là văn xuôi, phải là một câu chuyện gì đó thật mạch lạc, nghiêm túc, để sau khi đọc, người ta kể lại cho nhau nghe, để rút ra bài học về xã hội chẳng hạn. Tôi làm việc khác, từ việc coi văn chương là một trò chơi, tôi tham dự trò chơi ấy và kể lại cho bạn nghe trò chơi ấy, nếu cảm thấy hào hứng, bạn có thể tham dự, bằng trí tưởng tượng của mình, vui lắm đấy!
- Anh nói sao khi có những độc giả của anh cũng là người cầm bút, vẫn đánh giá văn anh quá khó để hấp thụ?
Nếu bạn nhiệt tình tham dự trò chơi với tôi, bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói, không bí hiểm lắm đâu, toàn là những hình ảnh của cuộc đời thực, khúc xạ qua trái tim, qua trí tưởng tượng, và sự nhảy múa của con chữ. Nếu bạn phát huy trí tưởng tượng một chút, cuộc chơi sẽ rất vui, và cũng không thiếu những bài học nhân sinh.
- Xu thế văn học hiện tại đang có vẻ “chiều chuộng” thị trường và độc giả, anh dường như đang đi con đường ngược lại, điều này với anh thực chất là thế nào? Có phải đó là cách anh tạo sự khác biệt với các tác giả khác?
Không có cách viết nào là dễ dàng, không có con đường nào là bằng phẳng. Tôi đi một con đường riêng bởi vì tôi có một không gian riêng, một câu chuyện riêng và trò chơi riêng của mình, gian nan nhưng thú vị! Nếu tôi giống người khác thì tôi có còn là tôi không?
“Văn học mà né tránh vấn đề nhạy cảm, thế văn học nói chuyện gì?”
- Được biết anh là một giáo viên dạy Văn, việc đứng bục giảng có ảnh hưởng gì đến sáng tác của anh không, khi mà chắc chắn anh sẽ bị học trò và cả phụ huynh “soi”?
Học trò rất thích trò chơi chữ nghĩa của thầy!
- Nhưng rõ ràng, mỗi ngày làm việc của anh đều tiếp xúc với nhóm tuổi dễ thương học trò, tại sao anh lại không nghĩ đến việc viết về những xúc cảm thật mà anh đối diện hàng ngày đó?
Không ai là không phải đối diện với hiện thực, dù hiện thực có đau buồn hoặc dở dang đến mấy. Đừng nghĩ tuổi học trò là không biết suy tư, các em trăn trở theo kiểu của các em. Có nhiều khi, mình chỉ là người diễn đạt giùm. Học trò của tôi đa số là người dân tộc Êđê, tâm hồn chưa vết gợn. Các em vẫn đọc truyện của tôi mỗi ngày trên facebook, và hiểu điều tôi muốn nói, về núi Chư Mang, về mảnh đất Tây Nguyên thân thương. Có nhiều em, sau khi đọc truyện, cũng tập tành viết, cũng muốn trở thành người kể chuyện của buôn làng.
- Sau “Nước mắt màu xanh thẫm”, nay đến “Chơi trò đồng xanh”, sự dữ dội ẩn sau văn phong tưởng rất nuột của anh khiến độc giả có phần e ngại, vậy liệu nếu có một lời đề nghị anh viết theo thể khác đi, về đề tài, về văn phong - có thể là rõ ràng hơn, thực tế hơn - thì anh sẽ nói gì?
Biết nói làm sao để bạn đọc đừng bỏ đi mà mình vẫn là mình nhỉ? Tôi biết, không chỉ bạn đọc bình thường đâu, kể các các nhà văn cũng phàn nàn truyện Nguyễn Văn Thiện khó hiểu. Thôi thì nói thế này vậy, tôi bày ra một trò chơi vui vẻ, bạn có thể tham dự, nếu không, bạn có thể đứng ngoài quan sát, hoặc bạn có thể bĩu môi, sau đó, tham dự một trò chơi khác, vui hơn! “Đời, chẳng qua là một cuộc rong chơi”, tôi đã từng viết thế!
- Độc giả nhạy cảm sẽ nhận ra ngay những vấn đề thời sự trong “Chơi trò đồng xanh”, có những thứ khá là nhạy cảm, anh không ngại việc này gây khó khăn trong quá trình xuất bản hay phát hành sách của anh sao?
Cái nguy hiểm nhất của người viết là tự kiểm duyệt mình, chưa viết mà đã nghĩ viết thế này rồi ai đăng, ai in, thì làm sao mà viết? Văn học mà né tránh vấn đề nhạy cảm, thế văn học nói chuyện gì?
- Khá riêng tư và cũng khá nhạy cảm, nhưng vẫn muốn hỏi anh nghĩ gì, khi rõ ràng xét về mọi mặt, văn anh có tính đầu tư rất cao, nhưng nhìn số lượng bản in lại rất “khiêm tốn” so với những tác giả trẻ còn non tay?
Chuyện ấy thực ra không quan trọng lắm đâu. Tôi không nghĩ viết văn để in nhiều, nhuận bút cao, thu nhập khá… Chỉ là chơi trò chữ nghĩa thôi mà! Nếu lấy tiêu chí ấy mà sáng tác, thì trò chơi này e rằng sẽ mất vui.
- Anh nói qua một chút về thứ khiến anh hài lòng và không hài lòng trong “Chơi trò đồng xanh” được không?
Điểm hài lòng nhất, là chính tác giả, sau khi cầm quyển sách trên tay, đọc lại một lần nữa với tư cách là độc giả thấu hiểu nhất, vẫn thấy, trò chơi này quả thật rất vui!
Nếu phải nói điểm không hài lòng, thì chắc chắn phải nói rằng, tuy trò chơi vui thật, nhưng sẽ kén người chơi, ít người hưởng ứng, điều đó, có một phần lỗi ở tác giả! Nhưng tôi vẫn tin, thời gian sẽ rất công bằng.
Chân thành cảm ơn nhà văn!
NGUYỄN ANH ĐÀO thực hiện


Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả PHẠM TUẤN VŨ





MỘT BÀI THƠ ĐẶC SẮC VỀ ĐỀ TÀI TÂY NGUYÊN…



Trong những năm gần đây, đề tài Tây Nguyên được quan tâm nhiều hơn trong sáng tác văn chương với một số tác phẩm gây được ít nhiều sự chú ý từ dư luận. Ở địa hạt thơ, nhiều tác phẩm hay viết về Tây Nguyên đã ra đời, đem đến những góc nhìn và cảm xúc mới mẻ, độc đáo về đất và người cao nguyên nắng gió. Tạp chí Chư Yang Sin số xuân Ất mùi 2015 có đăng bài thơ Nét xuân Tây Nguyên. Đây là một trong những tác phẩm đặc sắc về đề tài Tây Nguyên của Đặng Bá Tiến nói riêng, của thơ viết về đề tài này trong thời gian gần đây nói chung.
Bài thơ mở ra một không gian ngập tràn xuân sắc, xuân tình trên mảnh đất cao nguyên bazan đất đỏ. Điểm nhìn thời gian của bài thơ là thời khắc giao mùa đông qua xuân đến. Từ điểm nhìn không thời gian đó, tác giả thả hồn mình theo những dòng cảm xúc say mê, hào hứng; dẫn người đọc đến khắp các nẻo đường xuân cao nguyên; đưa người đọc đến với những gì là hồn cốt của tình đất, tình người Tây Nguyên trong mỗi độ xuân về.
Bài thơ thành công trước hết ở cách đặt nhan đề tác phẩm chính xác mà tinh tế của Đặng Bá Tiến. Tác giả không gọi “cảnh xuân”, “mùa xuân” hay “ngày xuân Tây Nguyên” bởi lẽ những cách gọi ấy vừa mang ý nghĩa khái quát lại vừa mang sắc thái khách quan, xa lạ. Nhà thơ gọi “nét xuân” bởi nó đúng với tinh thần của bài thơ. “Nét” theo Từ điển tiếng Việt là “đường tạo nên hình dáng riêng” nhưng đồng thời cũng là “những cơ bản tạo nên, khắc họa nên cái chung” (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ xuất bản). “Nét xuân Tây Nguyên” là những gì vừa chấm phá, cơ bản lại rất đặc trưng, là bản sắc riêng biệt của mùa xuân ở Tây Nguyên, khác với xuân ở những vùng miền khác, lại vừa phảng phất cái tình của người viết. Đặt nhan đề như vậy, không những thể hiện tình cảm yêu quý đối với mảnh đất Tây Nguyên mà mình nhiều năm gắn bó, tác giả còn thể hiện rõ ý thức tập trung vào khắc họa những gì là hồn cốt, là rất Tây Nguyên của con người nơi đây khi lễ hội mùa xuân về. Và bài thơ với 5 khổ, 20 dòng đã thành công với hướng đi này.
Mở đầu bài thơ, tác giả khéo léo thể hiện bước đi lặng lẽ của thời gian. Khoảnh khắc giao mùa được miêu tả tự nhiên, chính xác qua những dấu hiệu thay đổi của thiên nhiên, thời tiết:
   Đã chia tay với cơn mưa muộn
   gió không nhà mặc sức ruổi rong
   sóng dã quỳ dâng vàng khắp lối
   nắng mật phong tình những cánh ong
Ngay trong khổ thơ đầu tiên này, những gì là đặc trưng nhất của Tây Nguyên đã được nhắc đến: mưa, gió, nắng và đặc biệt là hoa dã quỳ. Thế nhưng, cái rất Tây Nguyên không chỉ có từng đó, tức cảnh sắc, thiên nhiên và khí hậu mà còn là những đặc trưng văn hóa cũng như tính cách, tâm hồn con người bản địa. Những khổ thơ tiếp theo, tác giả triển khai vấn đề này một cách sâu sắc, ấn tượng.
Bản sắc mùa xuân Tây Nguyên trước hết là nét độc đáo trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc nơi đây gắn liền với mùa xuân. Trước tiên, đó là đời sống tâm linh với những phong tục, lễ hội đặc sắc của con người Tây Nguyên diễn ra khi xuân đến:
   buôn gọi buôn náo nức vào mùa
   cúng thần cây đa, tạ thần bến nước
   chiêng dìu chiêng lên chín tầng mây biếc
   mời Giàng về vui hội nhân gian
Nhắc đến văn hóa Tây Nguyên là nhắc đến văn hóa cồng chiêng, tín ngưỡng đa thần, sùng bái tự nhiên, lối sống hòa hợp với thiên nhiên... Nhưng đó không phải là những điều xa vời, đáng sợ. Trái lại, qua cái nhìn của nhà thơ, văn hóa tâm linh gắn bó thân thiết với con người nơi này. Thần cây đa, thần bến nước gần gũi, có mặt trong đời sống cộng đồng; cồng, chiêng trở thành mối liên lạc giữa con người và thần linh; và Giàng, đấng tối cao, cũng tham dự, chung vui với con người trong ngày hội trần thế. Giọng thơ hồ hởi với một chút ngộ nghĩnh đã góp phần thể hiện thành công nét đặc sắc trong văn hóa tâm linh của con người cao nguyên.
Đặc sắc văn hóa của người Tây Nguyên trong ngày xuân còn thể hiện qua đời sống tinh thần phong phú với những làn điệu dân ca, điệu hát, điệu nhảy truyền thống trong các lễ hội:
lúa, cà phê đã êm giấc trên sàn
ngô đã nằm đầy gian ba, gian bảy
thì ay-ray cứ thỏa lòng luyến láy
thì tay ấp tay người mà mê đắm nhịp xoang
Ở khổ thơ thứ 3 này, niềm vui ngày xuân của người Tây Nguyên thật trọn vẹn. Đời sống vật chất đủ đầy là một trong những điều kiện để đời sống tinh thần nâng cao. Mùa màng đã thu hoạch xong, ngô lúa, cà phê được mùa, người Tây Nguyên lại tưng bừng mở hội, lại dành cho nhau những câu hát, điệu nhảy cùng tình cảm say đắm, chân thành.
Trong không gian tình xuân tràn ngập khắp cao nguyên buôn làng ấy, tác giả không thể không nói đến tình yêu lứa đôi. Bởi mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, của tình yêu và khát vọng sống. Người Tây Nguyên từ thuở chàng Đăm San cùng nàng Hơ Nhí, Hơ B’hí đã biết yêu nhau đắm say. Mỗi khi lễ hội xuân về, bên ché rượu cần đượm men say và những nhịp xoang tình tứ, những chàng trai, cô gái bazan ngày nay lại có cơ hội để tình tự, trao gửi yêu thương. Và “anh”, nhân vật trữ tình của bài thơ, như đang “bước lạc” trong không gian mùa xuân thấm đẫm tình yêu ấy:
hương đất trời từ ché túc, ché tang
bỏ bùa gái trai nhìn nhau như dính
áo thổ cẩm đuôi công dài xúng xính
bên gốc kơ-nia em kéo vạt để anh nằm

vui hết mặt trời vui hết mặt trăng
vui cạn nhịp xoang vui khàn giọng hát
vui quá… và anh về bước lạc
bởi đuôi mắt ai dắt lối hồn mình!
Không những khắc họa được bản sắc văn hóa cũng như tâm hồn của con người Tây Nguyên, bài thơ còn thành công ở việc vận dụng lời ăn tiếng nói, kiểu tư duy ngôn ngữ của người đồng bào Tây Nguyên, ở việc thể hiện giọng thơ say đắm, vui tươi và xây dựng được hình tượng thơ giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm. Có thể xem Nét xuân Tây Nguyên là bài thơ thành công ở nhiều phương diện, một trong những tác phẩm thơ đặc sắc về đề tài Tây Nguyên.



Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả TRẦM THANH TUẤN




"TỤNG GIÁ HOÀN KINH SƯ"
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT


Trong cái hào khí chói ngời của "Thời đại Đông A" đã sản sinh ra một võ tướng kiệt xuất đồng thời cũng là một thi nhân có những vần thơ "thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa lí thú"  (Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí - tập IV, phần Văn tịch chí, NXB Sử học, 1961, Hà Nội).
Ở đây chúng tôi muốn nhắc đến Trần Quang Khải, một trong những vị tướng then chốt có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông và những vần thơ thấm đẫm tinh thần yêu nước của ông. Trong những trước tác mà hậu thế còn lưu giữ có thể nói Tụng giá hoàn kinh sư là thi phẩm tiêu biểu của ông. Bài thơ này được viết nhân khi ông đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285. Bài thơ, một khúc khải hoàn thể hiện hào khí của những chiến công oanh liệt và khát vọng thái bình thịnh trị của con người Đại Việt. Tất cả những điều ấy được thể hiện trong một bài ngũ ngôn tứ tuyệt cô đọng, hết sức hàm súc:
Phiên âm
Đoạt sóc Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san
Dịch nghĩa
Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương
Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử
Thái bình rồi nên dốc hết sức lực
Muôn đời vẫn có non sông này
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy nghìn thu.
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)
1. Hai câu thơ đầu hiện ra cấu trúc đối hoàn hảo nhằm tạo dựng tư thế chiến đấu hết sức bất khuất của quân dân đời Trần và bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đấu chống quân Mông Nguyên
Đoạt – Chương Dương độ
Cầm – Hàm Tử quan
Những động từ mạnh đoạt - cầm, đăng đối với nhau được đưa lên hàng đầu nhằm khắc hoạ tượng đài người anh hùng thời Trần trong thế đối đầu: cướp giáo, bắt giặc. Những hình ảnh ấy có sức cô đọng. Nó bất tử hóa, vĩnh viễn hóa những khoảnh khắc lịch sử kì vĩ của con người Việt Nam "Thời đại Đông A".
Hai địa danh gắn liền với những cuộc chiến đấu then chốt dành thắng lợi của dân tộc được đưa vào bài thơ cũng minh chứng cho cách lựa chọn hình ảnh đặc trưng của tứ tuyệt Đường luật - dĩ thụ tả lâm - lấy cây để tả rừng. Chọn hai trận thắng tiêu biểu nhất, từ đó có thể vẽ ra bức tranh toàn cảnh của cuộc kháng chiến với khí thế hào hùng của dân tộc, cái khí  hạo nhiên mạnh mẽ đã xông lên tận trời cao để át cả sao Ngưu ấy đã làm cho giặc ngoại xâm phải kinh hồn bạt vía.
Hơn thế nữa với cách tổ chức hình ảnh  như thế đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật độc đáo, tạo sự cộng hưởng tương  tác giữa các hình tượng. Một hình ảnh cụ thể thì chỉ có thể tạo ra một lớp nghĩa cụ thể, nhưng khi hai hình ảnh này kết hợp lại chúng sẽ tạo ra một lớp nghĩa mới rộng lớn hơn. Việc thi nhân sử dụng hai động từ có cùng trường nghĩa: đoạt - cầm và hình ảnh hai trận đánh có cùng tính chất trong một kết cấu đối xứng đã tạo nên một sự khái quát cao độ, một tầng nghĩa mới vút lên thoát khỏi sự ràng buộc của câu chữ.
Trong hai câu thơ đầu, thi nhân còn tận dụng triệt để hiệu quả của phép tỉnh lược đại danh từ chủ thể.
---ü-- Đoạt sóc Chương Dương độ
---ü--Cầm Hồ Hàm Tử quan
Ai là người đoạt giáo?Ai là người bắt giặc? Quân dân đời Trần. Như vậy phép tỉnh lược ở đây đã thể hiện tính phổ quát của đối tượng. Đây là chiến công không phải là của riêng ai mà là của cả của dân tộc.
Từ tầm cao của chính nghĩa, đại nghĩa, Trần Quang Khải đã gọi quân giặc là Hồ. Đây là danh từ mà người Trung Quốc chỉ những dân tộc "phên giậu" ở phía bắc, hung hãn, man rợ, chưa được khai hóa. Như vậy từ Hồ mang nghĩa âm tính rất mạnh. Cách nghĩ, cách nhìn về đội quân mà vó ngựa xâm lăng đã trải dài từ Á sang Âu như thế đã thể hiện tầm vóc tư tưởng lớn lao của Trần Quang Khải: Sự hung hãn, tàn bạo chỉ là sức mạnh nhất thời, chỉ có tấm lòng yêu nước, kiên trinh và ý nguyện xả thân vì nước là trường tồn. Thế nên câu nói của Trần Bình Trọng, câu nói lưu danh vào thiên cổ, là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao chủ nghĩa  yêu nước của dân tộc.
2. Hai câu thơ cuối, thể hiện khát vọng xây dựng đất nước của quân dân thời Trần. Câu thơ thứ ba, thi nhân lại tiếp tục tạo dựng phép tỉnh lược: Thái bình --ü-- tu trí lực nhằm tăng cường sức thuyết phục cho lời kêu gọi lên tất cả đối tượng. Từ đó mở rộng tối đa các đối tượng. Như vậy việc giữ gìn thái bình ấy không phải là của riêng ai mà của tất cả mọi người dân Đại Việt. Nền thái bình chỉ có thể trường tồn trên nền tảng đoàn kết dân tộc. Cả dân tộc hết sức mình để bảo vệ thành quả của công cuộc kháng chiến thắng lợi. Đây không những lời kêu gọi mà nó còn thể hiện một tầm nhìn chiến lược: không được ngủ yên trong chiến thắng. Công cuộc định vũ công đã vất vả mà công cuộc hưng văn trị cũng không kém gian lao có như thế thì đất nước mới có thể: Vạn cổ thử giang sơn
Câu thơ cuối thể hiện khát vọng mãnh liệt của cả dân tộc, xây dựng một đất nước vững bền "vạn cổ". Có thể xem đây là tiếng nói thời đại kí thác vào thế hệ mai hậu? Và lịch sử đã chứng minh ngọn lửa ấy vẫn tiếp tục được giữ gìn và thắp sáng qua bao thế hệ người Việt Nam theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Vua Trần Thánh Tông có làm hai câu thơ tặng Trần Quang Khải:
Nhất đại công danh thiên hạ hữu
Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô
(Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông - Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không ai có).
Trần Quang Khải hoàn toàn xứng đáng với hai câu thơ ca ngợi ấy vì tấm lòng của ông đối với quê hương đất nước đặc biệt là tầm cao của tư tưởng ông. Đáng tiếc tập thơ Lạo đạo của ông không còn, tuy nhiên với số lượng ít ỏi thơ văn của ông còn lưu lại được. Đặc biệt là với bài Tụng giá hoàn kinh sư, viên ngọc sáng trong văn chương thời trung đại, thiết tưởng cũng đủ để xác lập một vị trí trong dòng thơ văn yêu nước của dân tộc.





Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả LÊ THÀNH VĂN


Sổ tay thơ

MỖI KHI CHIỀU KÉO ÁNH SÁNG VÀO ĐÊM


Lâu lắm rồi điện thoại không reo
dìu dặt
anh ngồi nhìn những chiều kéo ánh
sáng vào đêm
thành những vì sao
buồn lấp lánh

Này cô quạnh
nếu không phải tình yêu xin đêm đừng rơi
xuống
bài ca
này xót xa
nếu không phải tình yêu xin đừng làm hi
vọng
cứ để mình anh bơi với dòng sông
với lời thì thầm
quên mất

Chắc tình yêu có thật
đã hóa thành mưa trắng một buổi chiều
một quán lá bên đường ngực ướt
em mềm biết bao nhiêu

Lâu lắm rồi điện thoại không reo
và anh nhớ
những hồi chuông làm anh ngạt thở
mỗi khi chiều kéo ánh sáng vào đêm
                                               
                                                                        Lê Vĩnh Tài
LỜI BÌNH:
                       
GIẤC MỘNG TÌNH YÊU HUYỀN NHIỆM

Bài thơ buồn như một tiếng thở dài, dịu nhẹ và lắng sâu vào vô tận. Âm hưởng cấu trúc câu thơ tự do vắt dòng nhưng luyến láy đọc lên nghe thật mê hoặc, ngân nga điệu lòng nhớ thương, hoài niệm của thi nhân. Kết cấu bài thơ theo mạch từ thực tại cô quạnh, xót xa và khép lại bằng hồi ức về một quá khứ êm đềm của tình yêu mỗi chiều về làm anh "ngạt thở" trong mê đắm và hạnh phúc.
Chọn thời gian nghệ thuật vào khoảnh khắc đan giao của một ngày khi buổi chiều sắp hết và màn đêm đang dần buông xuống, Lê Vĩnh Tài đã có cái lí của trái tim tình ái si mê. Từ muôn vàn tín hiệu quen thuộc nhen lửa cho một cuộc tình, anh đã mượn tiếng chuông điện thoại để nhắc nhớ chính mình về một kỷ niệm. Nỗi nhớ ở đây không bắt đầu từ chiếc lá vàng rơi, từ làn mưa nhẹ, hay ánh hoàng hôn nhuộm tím trời quen thuộc của thi liệu cũ trong thơ ca. Câu thơ đầu tiên đánh động vào cảm thức người đọc từ hình tượng âm thanh: "lâu lắm rồi điện thoại không reo/ dìu dặt". Có lẽ, lần đầu tiên trong thơ ca, âm thanh vang lên từ chiếc điện thoại nghe ra một tính từ rất mới, "dìu dặt". Đó là âm thanh của điệu hồn vang ngân, niềm hạnh phúc đắm say nơi con tim biết hát. Câu thơ có tính tự sự nhưng đã được cảm xúc hóa cũng nhờ vào tính từ này. Bằng cách vắt dòng như tiếng rơi của khúc nhạc chuông, hình thức câu thơ đã mở ra một dáng dấp mới đầy dụng ý nghệ thuật. Đọc thơ Lê Vĩnh Tài, hình thức này ta cũng thường gặp ở nhiều thi phẩm khác, thậm chí độc đáo và tân hình thức hơn nhiều. Nhưng điều đó phải cần một bài viết sâu hơn, khái quát hơn trên bình diện của nhiều thi phẩm.
Chúng ta tiếp tục trở lại mạch cảm xúc của bài thơ Mỗi khi chiều kéo ánh sáng vào đêm. Chính khoảnh khắc ngày tàn, trời bắt đầu dần chuyển sang đêm đã gợi khơi nhiều niềm vọng tưởng. Nhưng tất cả niềm hạnh phúc "dìu dặt" của mỗi chiều xưa giờ chỉ là quá khứ êm đềm, hiện tại chỉ còn những buổi chiều cô đơn qua tràn ngập nhớ nhung, xao xuyến. Có điều qua cái nhìn của nhân vật trữ tình đầy tâm trạng, thiên nhiên hiện lên với ánh chiều đầy huyền nhiệm, mang một vẻ đẹp rất thơ, thấm đẫm suy tư và "buồn lấp lánh". Chưa bao giờ tôi đọc những câu thơ đẫm đầy nghệ thuật nhân hóa và mê hoặc đến thế. Hóa ra ánh sáng của những vì sao kia được thắp lên từ buổi chiều cô quạnh, nhớ thương. Ý thơ buồn mà vẫn thanh khơi, đẹp lung linh như một vùng sáng của kỷ niệm tưởng tiếc:
anh ngồi nhìn những chiều kéo ánh
sáng vào đêm
thành những vì sao
buồn lấp lánh
Đến khổ thơ thứ hai, tác giả bộc lộ nỗi niềm sâu kín của mình qua cấu trúc khá quen thuộc của điệu nói hằng ngày: "nếu không phải...xin đừng...". Có điều chính cái điệu nói "lạ lùng" này đã làm cho những câu thơ của Lê Vĩnh Tài rất mới, khác với cách diễn đạt quen thuộc của các nhà thơ khác, thường những chỗ xé lòng rất cần tiếng nhạc du dương trầm bổng của hình thức nghệ thuật. Lê Vĩnh Tài lại không, anh khước từ kiểu biểu đạt dễ dãi mà chọn cho mình cách nói ấn tượng mang một nét riêng. Đã là "cô quạnh", "xót xa" đồng nghĩa với tình yêu đã mất, thì đêm ơi đừng rơi xuống bài ca, đừng gieo chi hi vọng. Bởi lẽ, bài ca là tiếng hát của lòng yêu đời, hi vọng là niềm tin về tương lai phía trước, tình yêu đã chết liệu có còn những điều ấy không? Lời thơ chất chứa điệu buồn của lá rơi, của sự lịm mình trong cô đơn hoang hoải và trống vắng:
Này cô quạnh
nếu không phải tình yêu xin đêm đừng rơi
xuống
bài ca
này xót xa
nếu không phải tình yêu xin đừng làm hi
vọng
cứ để mình anh bơi với dòng sông
với lời thì thầm
quên mất
Ở khổ thơ này, hình thức biểu đạt vắt dòng kiểu câu thơ tự do, có dòng hai tiếng, có dòng chỉ một tiếng đã thực sự gây ấn tượng mạnh về nỗi hụt hẫng, bi thương của một khúc tình buồn. Vậy đó, khi nào giữa nội dung và hình thức nghệ thuật đạt được sự dung hòa, chừng ấy sẽ gợi mở nhiều liên tưởng, khi đó sự thẩm thấu về cái duy mĩ của thơ mới lên đến đỉnh điểm. Hiện nay, có nhiều tác giả thơ cứ vắt dòng tùy tiện nên nghệ thuật không thấy đâu, chỉ tạo cảm giác rối rắm là không nên. Đành rằng mới là điều cần có trong sự khám phá, nhưng mới kiểu tắc tị thì khó chiếm được cảm tình từ trái tim độc giả. Câu thơ "cứ để anh bơi với dòng sông/ với thì thầm/ quên mất" rất hay, gợi mở một không gian thanh bạch cho hồn người, cho cõi lòng nhớ quên thanh thản.
Từ một thực tại não buồn khi "lâu lắm rồi điện thoại không reo" và anh ngồi nhìn những buổi chiều cô quạnh kéo ánh sáng vào đêm thành những vì sao buồn lấp lánh, nhà thơ Lê Vĩnh Tài càng cố muốn quên, muốn tan vào dòng sông thăm thẳm của thời gian vô tận, tác giả càng nhận ra khuôn mặt tình yêu rất rõ mà sự hiện hữu là em, hình ảnh người con gái trong một buổi chiều trú mưa ướt áo khiến cho em mang một vẻ đẹp mê dại và đáng yêu đến lạ thường. Đọc những câu thơ này, người đọc rất dễ đồng cảm, rất dễ khóc và nhớ nhung xa vời khi âm thầm tưởng tiếc một hình bóng cũ. Đây là những câu thơ đọc lên tưởng dễ viết, nhưng thú thật phải yêu nhiều lắm, đau khổ đến tận cùng mới có được sự gan ruột đến tái tê:
Chắc tình yêu có thật
đã hóa thành mưa trắng một buổi chiều
một quán lá bên đường ngực ướt
em mềm biết bao nhiêu
Khổ thơ cuối bài điệp lại đoạn thơ mở đầu để hoàn thành một cấu tứ hoài cảm. Những hồi chuông dìu dặt làm anh ngạt thở ngày nào giờ đã không còn reo nữa, khoảng trống xót xa cứ cứa vào tâm hồn, tan loãng trong một vẻ đẹp mê dại của ánh sáng huyền hồ buổi chiều thành những vì sao buồn lấp lánh trên cao. Ý thơ thật đẹp, đẹp như một đóa hồng tình yêu, dù đến lúc tàn phai, sắc hương vẫn còn vương vương giữa mênh mang của tâm tình hoài niệm, luyến tiếc:
Lâu lắm rồi điện thoại không reo
và anh nhớ
những hồi chuông làm anh ngạt thở
mỗi khi chiều kéo ánh sáng vào đêm
Đọc bài thơ Mỗi khi chiều kéo ánh sáng vào đêm, tôi có cảm giác mình vừa trải qua một giấc mộng tình yêu huyền nhiệm. Ở đó, không gian tràn đầy ánh sáng và vang ngân dìu dặt khúc nhạc chuông của lời thầm thì hi vọng từ bài ca nhân văn lấp lánh. Vẫn biết, bài ca tình yêu không rót xuống hồn mỗi người bất tận, nhưng sẽ hàm ơn và ban phước cho những ai còn thổn thức tiếng lòng đáu đáu một cõi yêu mê.

                                                                                  

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả LƯU THỊ THU PHƯƠNG

Tác phẩm của các em thiếu nhi dự Trại sáng tác thơ – văn Núi Hoa huyện Cư M’Gar lần thứ 21 (Hè 2016).




QUÊ NGOẠI

Tản văn


Cạch...!
Tôi chợt tỉnh giấc sau cú cụng đầu vào thành xe lúc 2 giờ sáng. Lúc này,trên xe vẫn yên tĩnh, chỉ thi thoảng có tiếng còi xe từ bên ngoài vọng vào. Chốc chốc lại thấy ánh đèn đêm bên hai vỉa hè.Tôi cảm thấy hơi nản vì chuyến xe từ Đắk Lắk ra Hà Nội lâu quá, xa quá!
Sáu giờ sáng. Tôi thức dậy và cho vài thứ vào miệng để đỡ đói, rồi lại nhìn ra cửa sổ như ngày hôm qua. Cảnh ở ngoài Bắc khác xa so với cảnh ở Tây Nguyên... Không có cà phê, không có cao su, hồ tiêu, cũng chẳng có núi đồi bạt ngàn gì cả. Đây chỉ có mênh mông những lúa là lúa, rồi chi chít sông hồ. Nhưng như vậy cũng đủ để vẽ nên một bức tranh đẹp về phong cảnh quê hương.
Tinh thần tôi tỉnh táo trở lại khi nhin thấy dòng chữ Bến xe Mỹ Đình.Như vậy là đã tới nơi! Ai cũng bắt đây thu dọn đồ đạc trên xe và chuẩn bị xuống.Tôi cũng vậy!
Mất hơn một ngày để đi ô tô vào đây, còn phải đi thêm một tiếng đồng hồ bằng xe máy mới tới nhà ngoại tôi.Vì vậy, hai bác của tôi đã lái xe ra đây từ rất sớm để đón hai mẹ con.Về đến nhà, mồ hôi trên người tôi nhễ nhại nên ngoại tôi bảo ra tắm rửa cho mát rồi vào ăn cơm. Xong xuôi, tôi lên nhà thấy nhiều người quá. Nghe tin mẹ con tôi về quê chơi nên họ hàng tới thăm ngay ngày đầu tiên. Bữa cơm quê thật ngon mà giản dị, không cần sơn hào, hải vị, cũng chẳng cần cầu kì rắc rối: chỉ một đĩa rau luộc, vài con cá rô đồng nấu trong nồi đất,... Nhưng vậy là quá đủ đối vởi những người thôn quê.
Tôi thích như vậy!
Ngay buổi chiều ngày đầu tiên, anh tôi đã dắt ra cây xoài sau vườn những quả là quả. Vừa tới nơi anh đã trèo ngay lên cây nhanh như sóc.Từ trên cao, anh tôi thả xuống những quả xoại chín vàng, căng mọng. Đây đích thực là xoài "sạch" rồi, ngon ngọt tận cuống họng!
Hè ở đây nóng đến mức tôi không thể tưởng tượng được. Mới 9 giờ sáng mà ngoài trời đã oi ả rồi, mãi tới 6 giờ chiều mới bớt được cảnh oi bức.Nhưng rồi cơn mưa đầu mùa cũng đã trút xuống. Tí tách... lộp độp… ào ào, mưa đã về tới những làng quê ngoại thành Hà Nội yên bình này rồi.Mùi đất xông lên hăng hắc,nồng nồng một lúc rồi mất đi.Thế là anh tôi chạy ra ngoài sân, nhảy nhót như những đứa trẻ lên ba, mặc dù anh đã lên lớp 10 rồi.
Mấy ngày ở quê, tôi theo mẹ đi đến các nhà họ hàng mà mỏi cả chân. Nhưng như vậy cũng thú vị đấy chứ.Vì ở nơi tôi đang sống, mọi người chẳng háo hức tới thăm nhau như vậy đâu. Lâu lắm mới về quê mà!
Rồi cứ mỗi tối, hai anh em dắt nhau ra đê hóng mát. Nước sông Hồng vẫn cứ chảy hiền hòa, và những câu chuyện của anh em chúng tôi vẫn được kể tới khuya, miên man, không đầu không cuối, cho đến khi những vì sao mỏi mệt giục cơn buồn ngủ mới thôi!
Chuyến về quê lần này để lại cho tôi nhiều kỉ niệm. Lần đầu được thấy cảnh Hà Nội, lần đầu  được làm bánh đa, bánh đúc, bánh giày,...Cũng có những u buồn, ngẫm nghĩ. Tôi nghĩ nhiều nhất là hình ảnh về làng quê, về những trò chơi dân gian, nhũng món ăn dân dã đang dần bị mai một.Chỉ vài năm nữa thôi, sẽ chẳng còn những cánh diều, hòn bi, cây sáo nữa; sẽ chẳng còn những bụi tre xanh ngát toả hai bên đường, những đĩa rau luộc xanh ngon nữa. Tất cả chỉ là những khu công nghiệp hiện đại, những ngôi nhà cao tầng chót vót, những bó rau bơm đầy thuốc, từng thớ thịt dùng chất kích trắng... Dù sao thì tôi cũng mong người Việt Nam sẽ làm gì đó để bảo vệ, gìn giữ những làng quê Việt! Tôi nghĩ thế trong nỗi nhớ thương và lo lắng. Ôi, quê ngoại của con ơi!




Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

KẺ PHÁ RỐI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ TẢN VIÊN SƠN THÁNG 9 NĂM 2016




            Làn gió thổi nhẹ qua, mang theo cái lạnh của rừng đêm làm H’Chi thức giấc ngồi dậy bỏ thêm củi vào bếp. Ngọn lửa hồng leo quanh những thanh củi vừa chạm đầu vào nhau reo lên những tiếng cười vui nho nhỏ: tí tách, tí tách... làm bắn ra những hạt lửa nhỏ li ti. Xa xa tiếng rừng trăn trở khua trên các ngọn cây rào rào tiến dần lại làm rơi những hạt sương đêm xuống tấm ni lông nghe lộp bộp, lộp bộp. Đêm đang trở dần về sáng. Sau một ngày lang thang trong rừng tìm hái cây thuốc về giúp ami(1) chữa bệnh cho người, H’Chi phải ngủ qua đêm trong rừng sâu một mình vì những chuyện bất ngờ gặp phải trên đường đi.
Với người Tây Nguyên, rừng già như người mẹ hiền nhưng nghiêm khắc đối với các con, sẵn sàng ban cho những đứa con ngoan tất cả những gì chúng mong muốn, song cũng rất nghiêm khắc xử phạt những đứa con hư. Mẹ rừng có thể cho ta giàu có, cho ta sức mạnh, cho ta niềm vui mỗi khi bước vào nép mình dưới tán lá rừng và rừng cũng sẵn sàng nỗi giận, trút lũ lụt xuống đầu những đứa con hư, xua muông thú đến trừng trị kẻ phá rừng - ami từng bảo như thế.
          Đêm nay ngồi bên bếp lửa giữa rừng nhìn đám sương sà xuống nhẹ nhàng như làn khói mỏng manh mang theo hương thơm của hoa lá ùa đến làm tâm hồn thanh thoát, sảng khoái. Đêm chuyển dần về sáng. Tiếng đôi chim từ quyên gọi nhau nghe gần lắm, có lẽ chúng sắp gặp nhau rồi. Amí bảo loài chim từ quyên tối lại chia nhau đi kiếm ăn, mỗi con một cánh rừng, lấy tiếng gọi nhau làm hiệu. Chúng cứ đi và gọi nhau như thế cho đến lúc gặp được nhau ngừng gọi cũng là lúc ông mặt trời thức dậy. Trong rừng già, người đi rừng nghe tiếng chim để tính thời gian ban đêm, biết được lúc nào trời sắp sáng, chuẩn bị dậy. Đối với H’Chi, được ngủ trong rừng cũng là điều thú vị. Rừng đẹp và bí ẩn lắm, bao năm rồi có ai dám bảo hiểu hết rừng đâu.
          Soạt! Một con chồn bằng con mèo lớn có bộ lông trắng muốt bất ngờ nhảy vọt qua mặt H’Chi rồi đột ngột đứng im nhìn bếp lửa. Con chồn đẹp quá, nó nhìn bếp lửa như bị thôi miên, bốn chân run run tựa như không đỡ nỗi tấm thân, chiếc đuôi dài cụp xuống, mắt đờ đẫn, chậm chạp lê từng bước một lại gần H’Chi, mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra như có ai đó vừa làm vỡ lọ nước hoa. Đúng là cầy hương rồi, H’Chi thầm reo lên. Loài cầy hương có bộ phận sinh dục ở con đực tiết ra mùi thơm đặc biệt, nó ăn ở khu rừng nào, người đi cách xa cả trăm mét đã nhận biết được mùi thơm của nó. Thịt loài thú này thơm ngon lắm, nhưng quí nhất bộ xạ dùng để làm thuốc chữa bệnh. Đối với những gia đình nào có phụ nữ mang bầu không ai dám mang bộ xạ của cầy hương để trong nhà vì nghe mùi thơm đó, người phụ nữ có thể bị sảy thai. Người ngoài phố thích mua xạ hương lắm, họ bảo bán cho người Tây dùng chế nước hoa được nhiều tiền. Còn đối với người thầy thuốc nam nó là vị thuốc quí hiếm. Thường thường những con cầy hương lông màu xám tro, vàng hoặc nâu đen có sọc trắng chứ chưa bao giờ nghe nói lông màu trắng bao giờ. Hôm nay gặp loại có màu lông lạ thế này không biết xạ nó dùng có tốt không mà mùi thơm ngây ngất đến thế. Chắc Yang(2) rừng tặng mình đây, mừng thầm trong bụng. Mạy thật, thế là mình được thêm vị thuốc quí, lại có món thịt rừng ngon lành ăn sáng đây. Liếc mắt nhìn quanh bếp lửa thấy cây củi trăng trắng to bằng cổ tay liền giơ tay chộp lấy làm vũ khí đập con cầy hương.
-         Ối!
          H Chi thét lên đau đớn, cánh tay phải tê dại như bị một luồng điện hàng ngàn oát xuyên qua nhói vào óc.
          -Phù! Phù! Phù!
          Con rắn toàn thân màu trắng bạc cất cổ cao đến nửa mét, mồm bạnh ra như bàn tay người lớn, giữa đỉnh đầu có đám vảy màu đen xếp theo hình mũi tên, vừa phun nước bọt, vừa bỏ đi sau khi đã cắn một nhát vào bàn tay phải H’Chi. Mãi chăm chú quan sát con cầy hương bị con rắn thôi miên, H’Chi nhầm thân rắn là thanh củi định lấy đánh cầy hương nên bị nó cắn. Từ nhỏ nghe amí dạy: loài rắn nếu con nào trên đầu có lớp vảy khác màu xếp theo hình mũi tên, loài đó là rắn cực độc, vết cắn của nó có thể dẫn đến mất mạng trong vài phút. Lấy dây buộc ngang cổ tay ngăn cho nọc độc không chạy vào tim, H’Chi lục gùi lấy mấy lá thuốc mang theo nhai, nuốt nước, lấy bã định đắp vào vết cắn. Vết cắn của con rắn có ba lổ nhỏ như ba hạt thóc cắm vào, tê buốt. Phải lấy bớt nọc độc ra mới được. H’Chi cố chịu đau dùng tay trái bóp mạnh xung quanh vết cắn cho máu đen chảy ra, đó chính là máu bị nhiễm nọc độc của rắn. Bổng mắt H’Chi mờ đi, tay không còn làm chủ được, đầu nghe o o như có chiếc máy cày chạy trong đó. Chắc mình chết mất nếu không nhanh tay, H’Chi nhả mấy chiếc lá trong miệng ra định dùng đắp vào vết rắn cắn, nhưng tay như ai lấy mất rồi, trước mắt bếp lửa tự nhiên nhảy múa to mãi, to mãi đến khi chỉ thấy một màu vàng chói lọi.
*
**
          Không biết ngất đi bao lâu, tiếng vật gì đó nặng nề rơi xuống làm H’Chi giật mình từ từ tỉnh lại. Cánh tay phải đỡ đau hơn một chút, có thể ngồi dậy được. May thật khi ngã xuống, bàn tay có vết rắn cắn vô tình rơi đúng vào miếng lá H’Chi nhả ra, vì thế chiếc lá hút chất độc từ vết thương đẩy ra ngoài, nếu không ngã trúng miếng lá ấy chắc chết quá! Bẻ một miếng nấm màu hồng bằng hạt bắp hái được lúc chiều bỏ vào miệng nhai kĩ thấy có mùi thơm bay lên mũi, đầu lưỡi cảm nhận được vị ngọt của đường, vị cay của quế làm đầu dịu hẳn cơn đau. Sau khi nuốt nước, H’Chi nhả bả xoa nhè nhẹ vào vết thương; thật kì diệu, từ vết rắn cắn như có một dòng nước mát theo cánh tay tràn vào cơ thể, nó chạy đến đâu biết đến đấy chỉ một lúc sau H’Chi có cảm giác mình không còn bị thương, vết cắn chỉ còn đọng lại vảy của vết máu đen bám vào bàn tay. Tuyệt thật, nếu không có mấy chiếc lá nhặt được của bầy khỉ bỏ rơi bên sình chắc mình đã chết. Tại sao nọc của loài rắn trắng này độc đến thế nhỉ? Gần năm năm đi rừng hái thuốc cùng amí, H’Chi chỉ thấy rắn có màu xanh, đen, vàng, đỏ, sọc... chứ chưa bao giờ gặp loài rắn trắng bạch như hôm nay.
*
**
 Nghe ama(3) bảo rắn ở Tây Nguyên nhiều lắm nhưng không bao giờ tự nhiên tấn công người, kể cả loài rắn hổ chúa. Người ta gọi nó là rắn hổ chúa vì loại rắn này thức ăn hàng ngày của nó chính lại là thịt đồng loại. Các loài rắn khác khi nhìn thấy rắn chúa toàn thân như bị tê liệt, nằm im chờ rắn chúa ngoạm cổ cắn chết rồi nuốt dần, nuốt dần cả con rắn xấu số vào bụng. Cách ăn mồi này khác hẳn các loài trăn, rắn khác: Khi bắt được mồi, chúng phải quấn lấy con mồi như người ta quấn dây kín từ đầu, đến chân làm con mồi nghẹt thở, chết; lúc đó chúng mới thong thả nuốt dần con mồi.
Còn loài trăn lại có nhiều cách bắt mồi khác nhau, có con núp bên đường chờ con mồi đi qua lao đầu ra ngoạm vào chân rồi mới quăng mình quấn tròn con mồi như bó củi. Răng của trăn mọc quặp vào trong do đó khi đớp đúng con mồi, nó giữ chặt lắm, không con mồi nào thoát được. Có con lại ngoắc đầu và đuôi lên trên lối mòn bầy thú thường đi qua như người ta chăng dây phơi đồ, chờ con mồi đi qua, buông mình rơi xuống quấn tròn. Song có lẽ săn mồi độc đáo nhất là loài trăn gió, bộ da màu vàng điểm những ô hình lục giác, viền đen, hay leo lên trên các ngọn cây và có thể lao từ ngọn cây cao hàng chục sải tay xuống mặt đất cắn trúng chân con mồi. Có lẽ vì vậy nên người ta gọi nó là trăn gió.
Một lần theo ami đi hái thuốc H’Chi nhìn thấy một con trăn to như bắp đùi người lớn bò bằng nửa thân sau đầu ngẩng cao tới gần hai mét vừa tiến lên phía trước vừa uốn éo những động tác đẹp như diễn viên xiếc múa. Bầy khỉ đang bới đất nhặt hạt dẻ đứng ngây ra nhìn, không con nào cử động được. Mãi đến khi con trăn đổ mình há miệng đỏ lòm, đầy răng lởm chởm ngoạm vào tay một con khỉ, quăng người cuốn tròn lại, con khỉ chỉ kịp kêu: Khẹc! Một tiếng kêu tắc nghẹn, lúc đó cả bầy mới nháo nhào bỏ chạy, leo tít lên ngọn cây. Đầu con trăn chỉ to bằng nửa đầu con khỉ, vậy mà nó nuốt cả con khỉ nặng trên hai chục kí chắc nặng bằng chính trọng lượng nó vào bụng ngon lành. Nuốt xong con khỉ, con trăn khoanh tròn nằm ngủ tại chổ, amí chặt một cây dài để lên người nó, nó vẫn ngủ. Lấy dây cột cổ con trăn buộc vào khúc cây để trên mình nó, nó mới giật mình quấn quanh thân cây để amí và H’Chi khiêng về. Loài trăn to lớn nhưng không có nọc độc như rắn, khi đã ăn no hoặc mới lột da rất hiền, bắt nó dễ như bắt rùa, nó không chống cự. Nhưng mùa cặp đôi, hoặc đang đói chúng trở nên hung dữ không tha bất cứ một loài động vật nào nếu bắt gặp.
Con rắn trắng cắn mình, có lẽ nó tưởng mình tấn công nó, H’Chi tự nhủ; lẽ ra mình phải lưu tâm khi thấy con cầy hương tự nhiên bị mất hết bản năng của loài thú, phải cảnh giác quan sát xung quanh. Không vì muốn bắt con chồn, chắc mình phát hiện ra con rắn không bị nó cắn; âu đó cũng là bài học đắt giá cho sự thiếu cảnh giác khi ở trong rừng. Còn con cầy hương nhờ tiếng kêu đau đớn của mình mới chợt tỉnh, chạy thoát. H’Chi tiếc rẻ, giá như mình cẩn thận hơn để con rắn cắn con cầy hương, mình sẽ đuổi con rắn đi, lấy được con cầy hương rồi, tiếc quá.
          Sương mù mỗi lúc một nhiều, cách khoảng vài mét, các gốc cây chỉ còn thấy mờ mờ sau ánh lửa. Xa xa tiếng một con gà rừng cất tiếng gáy, làm lũ gà đậu trong vùng giật mình thi nhau đáp lại. Tiếng gà lan tỏa khắp không gian, báo hiệu một ngày mới sắp bắt đầu. H’ Chi mĩm cười: Thế là đã qua một đêm một mình ở rừng để đi hái thuốc giúp amis mang về chữa bệnh cứu người. Ngày mai về kể cho các bạn học cùng lớp nghe chuyện xảy ra đêm nay chắc nhiều bạn sẽ không tin, nhưng rừng già Tây Nguyên huyền bí như vậy đấy.


Chú thích:
1.              Ami: mẹ – tiếng Êđê;
2.              Yang: thần inh tiếng Êđê;
3.              Ama: ba - tiếng Êđê.