Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

CUỘC CHIẾN VỚI BẦY KHỈ truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số: 432 ngày 15 tháng 12 năm 2016




Mặt trời chưa chịu thức dậy; phương đông, mấy đám mây bồng bềnh vương vấn trên đỉnh núi Mẹ Bồng Con giống như chiếc khăn đang lau mặt cho núi; Y Kô đã đến chân cầu thang réo inh ỏi:
-         H’Lê Na ơi, đi thôi.
-         Ăn sáng chưa mà đi sớm thế?
-         Ăn rồi. Đi sớm không lũ khỉ ra rẫy trước ta đấy.
Chiều hôm qua, ami(1) đi thăm rẫy về thông báo: bắp đã đông sữa nhưng khỉ đến trộm nhiều quá. Mai chủ nhật nhờ Y Kô đi cùng H’Lê Na lên rẫy đuổi khỉ. Được nhờ, Y Kô vui lắm xin ami nấu cơm ăn sớm để kịp lên rẫy trước lúc lũ khỉ kéo ra phá bắp. H’Lê Na khoác gùi lên vai bước xuống cầu thang, ngồi lên sau xe đạp của bạn giục:
-         Đi thôi!
-         Ngồi cẩn thận nhé.
Chiếc xe nhằm chân chư Pal lao đi. Sau nhiều khúc cua lên đồi, xuống suối cuối cùng hai đứa cũng đến bên chòi canh rẫy. H’Lê Na bước lên chòi cất gùi đựng đồ ăn trưa ami chuẩn bị cho hai đứa rồi cầm xà gạc ra rẫy. Mới hôm nào lên gieo hạt, thế mà nay bắp đã cao quá đầu người. Trên thân, cây nào cũng có từ ba đến bốn quả bắp to như bắp tay, râu bắt đầu cong lại nhìn đã con mắt lắm. Hai đứa đi đến phía rẫy giáp rừng nơi triềng núi thì giật mình đứng khựng lại, không thể tin ở mắt: một vạt bắp bị khỉ bẻ quả vứt la liệt trên mặt đất; có quả bị gặm gần hết, có quả gặm nham nhở, có quả chúng chỉ ăn một nửa, nhìn tiếc quá.
 Y Kô dậm chân, tím mặt bảo:
-         Phải tìm cách dọa cho chúng sợ không dám xuống rẫy mới được.
-         Có cách gì chưa?
-         Ta lấy cỏ gianh cột lại làm hình nộm như người để trong đám bắp giả làm người núp cho chúng sợ.
-         Làm đi.
Hai đứa cắt cỏ khô, bứt dây rừng cột lại làm được hai hình nộm, đem đặt trong đám bắp bị khỉ ăn trộm hôm qua. Y Kô lấy mũ của hai đứa đội cho hai hình nộm, trông xa giống như hai người thật đang ngồi làm cỏ trong vườn bắp.
-         Giờ thì yên tâm về chòi ngồi đợi xem lũ khỉ khóc.
Y Kô ra vẻ đắc ý với sáng kiến của mình, trở về chòi canh. Chòi canh rẫy chiều ngang ba sải, chiều dài bốn sải tay, cao hơn mặt đất hơn một sải tay. Đứng trên chòi có thể nhìn thấy toàn bộ đám rẫy. Nghe aduôn(2) kể: ngày xưa bên cạnh nhà canh rẫy thường có kho đựng lương thực. Mùa thu hoạch được bao nhiêu cất luôn vào kho, khi nào cần ăn lên gùi mang về, ăn hết lại lên lấy chứ không như bây giờ thu hoạch đến đâu phải mang hết về nhà đến đấy. H’Lê Na thắc mắc: để trên rẫy không sợ người khác lấy mất à? Ngày xưa không ai lấy của ai đâu, bếp nào không đủ thì đến mượn khi nào có thì trả; mọi người sống hòa thuận lắm, aduôn buồn buồn trả lời.
*
*    *
Y Kô bất ngờ kêu lên:
-         Lũ khỉ đến kìa!
-         Đâu?
-         Trên ngọn cây đa bìa rẫy ấy, chắc con đó là con đầu đàn đấy.
Chót vót trên ngọn cây đa, một con khỉ đã ngồi đó từ lúc nào, mặt như được sơn đỏ đang cúi xuống quan sát đám bắp có hình nộm. Trong đám lá phía dưới, cây cối rung tít như có đám trẻ nô đùa, thỉnh thoảng lại có con khỉ nhảy từ cành cao xuống đám lá thấp, phơi cái lưng màu xám thoáng qua. Một lúc sau đám cây trở lại lặng ngắt, chỉ còn con khỉ ngồi trên ngọn cây. Y Kô đắc ý bảo:
-         Đàn khỉ sợ nên bỏ đi hết rồi, giờ thì yên tâm ngồi nghỉ.
-         Nhưng sao vẫn còn con kia ngồi?
-         Ừ, cũng lạ nhỉ. Ta lại xem sao.
Hai đứa vội xuống cầu thang chạy lại, con khỉ ngồi trên ngọn cây bất chợt kêu lên: khẹc, khẹc, khẹc… rồi lao mình vào đám lá rậm phía dưới biến mất. Y Kô nhanh chân chạy trước đến gần chỗ đặt hình nộm thấy bầy khỉ đang từ trong rẫy chạy vào rừng, trên tay con cầm một quả, có con hai tay hai quả vội vã ôm cây leo lên. H’Lê Na chạy đến sau kêu lên cuống quýt:
-          N… ó, n… ó ăn trộm mũ kìa!
Y Kô nhìn thấy một con khỉ chắc phải nặng đến trên chục ký, hai tay cầm hai bên vành mũ; trong mũ đựng ba quả bắp liền thét lên:
-         Huầy, huầy, huầy.
Rồi vơ vội hòn đá ném, con khỉ sợ quá thả luôn cái mũ xuống đất, chạy biến vào đám cây rậm. Cánh rừng trở lại im lặng, H’Lê Na lội vào trong rẫy thấy hàng chục cây bắp vừa bị khỉ vặt quả, tức quá bảo Y Kô:
-         Sáng kiến hay quá nhỉ!
-         Tai, tại… lũ khí khôn quá mà.
-         Làm sao bây giờ?
-         Đành ngồi đây canh thôi.
-         Ô, nó lại lên ngọn cây đằng kia rồi kìa.
H’Lê Na chỉ tay về phía cây sung gần lều canh rẫy, trên ngọn cây con khỉ đầu đàn đã ngồi vắt vẻo trên đó từ lúc nào rồi, hình như đang quan sát hai đứa. Y Kô chạy vội lại, con khỉ kêu lên: khẹc, khẹc… nhưng vẫn ngồi ngó xuống chứ không thèm chạy, tay nó còn gãi gãi vào bụng như thách thức. Dưới đất, bầy khỉ khoảng hơn hai chục con cuống quýt từ bìa rẫy chạy trốn vào bụi rậm, chưa kịp bẻ bắp. Bực mình, Y Kô lấy ná cao su nhằm con ngồi trên ngọn cây sung bắn một phát; viên đá bay vút qua đầu con khỉ làm nó hoảng quá buông mình rơi xuống cành cây bên dưới. H’Lê Na chạy lại thấy viên sỏi không trúng khỉ liền vỗ tay reo lên:
-         Giỏi quá, giỏi quá, trúng lá cây rồi.
-         Phải bắn cho nó sợ, chứ bắn trúng có chết được đâu. Giờ có cho kẹo lũ khỉ cũng không dám trêu ta nữa.
-         Nó sợ à? Nhìn đằng kia kìa.
Theo tay H’Lê Na chỉ, trên ngọn cây đa lúc nãy, chỗ lũ khí xuống trộm bắp lại còn lấy cả mũ của hình nộm để đựng; con khỉ đầu đàn vừa leo lên ngồi, im như pho tượng nhà mồ. Y Kô dậm chân xuống đất than:
-         Làm sao bây giờ?
-         A, có cách trị lũ khỉ rồi. Lần này thì chúng sẽ bị trừng trị đích đáng.
-         Chắc không?
-         Chắc! Y Kô lên chòi ngồi không được chạy đi đâu nhé, cứ để lũ khỉ muốn làm gì thì làm.
-         Tại sao lại thế?
-         Tý nữa rồi biết!
Nói xong, H’Lê Na đi lại chỗ con khỉ đầu đàn đang ngồi, miệng hét vang rừng: Huầy, huầy, huầy…
*
*   *
Khu rừng quanh rẫy trở lại yên lặng, bầy khỉ chắc đã bỏ đi vậy mà vẫn không thấy H’Lê Na trở lại chòi canh rẫy, Y Kô thấy thắc mắc quá. Không biết hắn còn nghĩ ra trò gì đây? Thôi kệ, khi nãy hắn đã dặn mình ngồi canh tại đây thì cứ ở đây không tý nữa lỡ lũ khi đến lại bị la.
Mặt trời leo lên gần đứng đỉnh đầu, bụng thấy đói rồi mà vẫn không thấy H’Lê Na đâu. Ở lớp học H’Lê Na được cô giáo giao làm lớp trưởng, làm việc gì hắn cũng cắt đặt công việc cho mọi người rõ ràng, rành mạch và gương mẫu làm trước nên hay được cô khen. Bạn bè trong lớp ai cũng mến hắn vì tính ngay thẳng, không giận lâu và hay  trêu đùa mọi người làm nổ ra những trận cười vui vẻ. Còn hôm nay… Ô, lạ chưa, con khỉ đầu đàn lại leo lên ngọn cây đa ngồi như đang suy tư điều gì. Đám lá phía dưới rung lên dữ dội như tố cáo bầy khỉ đang chuẩn bị tấn công đám bắp, vậy mà H’Lê Na vẫn bặt tăm. Sao vậy nhỉ, mình phải chạy lại đuổi khỉ không chúng xuống bẻ hết bắp mất. Y Kô nghĩ vậy và định chạy lại xua bầy khỉ, nhưng chợt nhớ lời H’Lê Na dặn lúc nãy nên đành đứng im, ức quá. Chắc lũ khỉ đã vào rẫy, con đầu đàn trên ngọn cây vẫn ngồi quay mặt nhìn Y Kô chăm chú để sẵn sàng báo động cho đồng bọn dưới đất. Y Kô sốt ruột quá tự nhủ:  Hay H’Lê Na chui đâu ngủ rồi cũng nên, mình không lại đuổi thì mất hết bắp; phải chạy lại đuổi khỉ thôi.
Bổng tiếng lũ khỉ ở trong đám bắp kêu thét lên đau đớn, con đầu đàn chổng mông lên trời, chúi đầu xuống nhìn đám khỉ dưới đất, rồi bất ngờ gào lên một tiếng kinh hãi: H… oc! Nhún mình bay từ ngọn cây đa xuống ngọn cây thấp như bị ma đuổi. Y Kô ngạc nhiên quá không hiểu điều gì xãy ra với lũ khỉ, đứng ngây ra nhìn. Tiếng lũ khỉ trong đám bắp kêu khóc vang rân khắp cánh rừng, nhỏ dần rồi tắt hẳn về phía chân núi cao.
-         Lại ăn trưa thôi.
Y Kô giật mình quay lại thấy H’Lê Na đứng sau lưng từ lúc nào, miệng tủm tỉm cười, trên đầu còn vương đầy mấy chiếc lá xanh.
-          Sao mà lũ khỉ kêu khóc như bị Yang(5) phạt vậy?
- A, phải rồi, khi nãy bực cây đa quá định vác dao lại cặt cây để lũ khỉ không còn chỗ đứng nấp tìm đường xuống phá bắp. Yang trong gốc cây đa sợ quá hiện ra xin tha và truyền cho phép thuật, chỉ cần niệm thần chú thế là Yang hiện về đuổi lũ khỉ. Từ nay không còn phải lo đuổi khỉ ở đây nữa đâu. Đi ăn trưa thôi.
*
*  *
Y Kô nhen lửa, bỏ mấy cây củi to như cổ chân vào đốt, một thoáng sau lửa cháy bùng lên, tiếng reo tách tách nghe vui vui. Xa xa, phía bìa suối tiếng gà rừng cất lên dõng dạc rồi như được hiệu lệnh, những con gà khác ở xung quanh rẫy cũng thi nhau cất tiếng hòa theo. H’Lê Na bẻ bốn quả bắp, lột sạch vỏ để lộ ra những hạt bắp đều tăm tắp, màu trắng ngà, ken dày từ cuống đến tận cuối quả; xếp quanh bếp rồi bảo:
-         Ăn cơm hay chờ bắp chín ăn luôn?
-         Để bắp chín ăn luôn cho ngon miệng.
-         Khi nãy làm sao mà khỉ nó khóc thế?
-         A, không hỏi thì quên mất một việc quan trọng phải làm. Đợi chút nhé!
Nói dứt lời, H’Lê Na theo cầu thang xuống đất đi lại đám rẫy phía gốc cây đa. Y Kô nhìn theo bật cười vì cái dáng đi lúc nào cũng khoan thai, không vội vã của người bạn học cùng lớp. Một lát sau H’Lê Na quay lại, cầm một xâu sóc, con nào cũng to như cổ tay người lớn, hớn hở reo lên từ xa:
-         Có thịt rồi đây!
-         Ô, sao bắt nhiều sóc thế?
-                     Lúc nãy Yang đến phạt khỉ, mấy con sóc đang ăn trên cây đa bị phạt nhầm nên lăn ra chết, không mang về ăn để nó phí đi à.
-         Sao lại thế nhỉ, làm gì có Yang xuống đây?
-         Thế mới tài chứ. Bắp chín rồi, bỏ ra để lấy chỗ làm thịt sóc.
H’Lê Na cầm từng con sóc hơ lên ngọn lửa cho cháy hết lông rồi dùng que gạt lớp lông cháy để lộ ra mảnh da sóc vàng ươm, thân tròn quay, trông đã con mắt lắm. Y Kô nhìn H’Lê Na tay cầm sóc, tay cầm que gạt đám lông vừa cháy cứ như diễn viên múa, bụng thầm khen: giỏi. Thui sóc xong hai đứa mang xuống suối, chặt bỏ chân, mổ bụng, rửa sạch; lấy que xiên qua hai con gác lên bếp. Tiếng mỡ rơi trên than hồng xèo xèo, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt. H’Lê Na trải lá chuối rừng xuống nền chòi đặt: bắp, cơm, cá khô, và hai con sóc vừa nướng chín. H’Lê Na vui vẻ, xé một cái đùi sau con sóc đưa cho Y Kô:
-         Hôm nay có tiệc lớn rồi, ăn đi.
-         Không ăn!
-         Ơ, Sao vậy?
-                     Không nói vì sao lũ khỉ khóc bỏ chạy về rừng mà sóc lại chết dù không bị bắn thì đây không ăn đâu.
-                     À ra thế. Thôi vừa ăn vừa kể cho nghe được không? Cầm lấy. Còn nhớ hôm lên cúng Yang xin được dọn rẫy ta thấy cái gì nơi bìa rẫy, góc rừng kia không?
-         A, tổ ong đất.
-                     Đúng rồi, H’Lê Na lấy dây buộc vào dây chạc chìu bò sát miệng tổ ong, dòng dây ra xa, núp vào trong bụi cây nằm đợi. Lũ khỉ nhìn thấy Y Kô ở trên chòi nên yên tâm kéo nhau bò vào rẫy, leo lên cây bẻ bắp; lúc ấy mình mới giật dây. Dây chạc chìu đập vào miệng hang, lũ ong tưởng có người phá tổ kéo nhau bay ra, thế là lũ khỉ lãnh đủ. Chúng không khóc mới lạ chứ.
-         Giỏi quá, nhưng sao lũ sóc lại chết?
-                     Có gì đâu - H’Lê Na mỉm cười giải thích - khỉ bị ong đốt vội chạy lại leo lên cây đa; bầy ong đuổi theo gặp sóc trên cây đa thì…  xơi luôn. Một con sóc bị hai con ong đất đốt coi như… tiêu. Hôm nay trên cây đa chỉ có 7 con sóc, chứ nhiều hơn thì chắc ta gùi không hết. Lũ khỉ chắc chết khiếp rồi, từ nay không dám kéo đến đây nữa đâu. Ăn đi, cố ăn cho hết nhé.
-                     Nhiều thế ăn sao hết?
Y Kô thoáng đỏ mặt nhớ lại sáng kiến “hình nộm” của mình sáng nay thất bại trước lũ khỉ, còn bị chúng trêu chọc, suýt mất cả mũ. H’Lê Na hình như không để ý vẫn vô tư mời:
-                     Hôm nay ta liên hoan mà, cố lên, cố lên!

Mùa thu năm 2016
Chú tích:
1.     Ama: ba – tiếng Ê đê;
2.     Ami: mẹ - tiếng Ê đê;
3.     Chư: núi – tiếng Ê đê;
4.     Aduôn: bà – tiếng Ê đê.

5.     Yang: thần linh – tiếng Ê đê;

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả TRƯƠNG BI





VOI NHÀ ĐẮK LẮK
TRONG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG



Voi là động vật quý hiếm, là tài sản quý giá của các dân tộc bản địa Đắk Lắk nói riêng và đất nước ta nói chung. Từ xa xưa, tại vùng đất Ea Suốp, Bản Đôn thuộc cao nguyên Đắk Lắk đã trở thành xứ sở nổi tiếng của nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng. Voi đã trở thành người bạn thân thiết, thành biểu tượng văn hóa, sự giàu sang, uy quyền và bản sắc độc đáo của các dân tộc bản địa ở vùng đất này.
Theo các già làng Bản Đôn kể lại: Khoảng đầu thế kỷ XIX, cha của ông Y Thu Knul từ đất nước Triệu Voi (Vương quốc Lào), đi  buôn bán bằng thuyền theo sông Mê Kông rồi rẽ vào sông Srêpôk và dừng lại trao đổi hàng hóa với một số buôn làng dọc bờ sông này. Qua nhiều lần buôn bán, trao đổi hàng hóa, ông thấy vùng đất nơi đây sông núi hùng vĩ, dân làng đầy lòng yêu người mến khách. Đặc biệt, ông phải lòng với một cô gái M’nông và cưới  làm vợ. Từ đó ông xin chủ buôn lập một làng mới bên sông Srêpôk và gọi là Bản Đon. Theo tiếng Lào: Bản là làng, Đon là đảo; Bản Đon nghĩa là làng đảo. Sau này người dân trong vùng gọi là Bản Đôn.
Từ ngày đó, cha của ông Y Thu Knul  đã truyền nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng cho người dân Bản Đôn và Ea Súp. Sau khi ông mất, người con trai là Y Thu Knul tiếp tục nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng. Ông Y Thu Knul cùng với người dân nơi đây phát triển nghề này thành một nghề truyền thống nổi tiếng của Đắk Lắk, Tây Nguyên. Voi rừng do người dân nơi đây săn được, sau khi thuần dưỡng, đều mang bán cho các buôn làng trên vùng đất Tây Nguyên và các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma…Đặc biệt, ông Y Thu Knul trong nhiều chuyến đi  săn, đã bắt được hai con voi trắng. Một con ông dâng hiến cho vua Thái Lan và ông vinh dự được vua Thái Lan phong tặng danh hiệu: KhunJuNôp (Vua Voi). Còn một con ông dâng hiến cho vua Bảo Đại và được Vua Bảo Đại tặng nhiều vải vóc lụa là. Từ đó tiếng tăm của ông và nghề săn voi, thuần dưỡng voi rừng của người dân Bản Đôn, Ea Súp vang khắp mọi nơi. Cũng từ đó, các nghi lễ gắn với nghề săn voi được hình thành, như: Lễ cúng sức khỏe cho voi; lễ cúng voi trước khi đi săn; lễ cúng sau khi săn được voi; lễ cúng voi nhập buôn; lễ cúng khi cắt ngà voi; lễ cúng khi voi ốm; lễ cưới voi; lễ cúng trước khi bán voi, lễ cúng khi voi già chết… Các nghi lễ này đã góp phần làm giàu bản sắc văn hóa của cao nguyên Đắk Lắk. Có thể kể đến những nghệ nhân săn voi nổi tiếng của Bản Đôn trước đây là: Y Thu Knul đã săn được 420 voi (trong đó có hai bạch tượng); Nay Hoang đã săn được 350 voi; Y Pui Knul đã săn được 320 voi; Y Them Knul đã săn được 113 voi; Ama Kông đã săn được 298 voi. Nghề săn voi ở đây không phải dùng vũ khí để bắn voi rừng mà dùng sức mạnh của đàn voi nhà áp đảo voi rừng làm cho voi cha mẹ hốt hoảng bỏ chạy để lại voi con rớt lại đằng sau. Lúc này những người đi săn dùng đàn voi nhà vây bắt voi con đưa về thuần dưỡng và nuôi thành voi nhà. Những chú voi ở đây sau khi được thuần dưỡng, chủ voi coi như một thành viên trong gia đình và đều được đặt tên cụ thể (thí dụ: voi cái thì có tên là H’ Găm; voi đực có tên là Y Khăm…)
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đàn voi nhà của Đắk Lắk đã tích cự tham gia phục vụ kháng chiến, như vận chuyển lương thực ra chiến trường, tham gia cứu thương, bảo vệ cán bộ, bộ đội ta trong khi làm nhiệm vụ. Trong số hàng trăm voi nhà tham gia phục vụ kháng chiến, chúng ta có thể kể đến đội voi của huyện Ea Suốp, như voi đực Pak Kú, Y Đo, voi cái H’Tao… đã chở vũ khí, lương thực từ biên giới đến Quảng Phú, huyện Cư M’gar, phục vụ chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột (10-3-1975), góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày giải phóng miền Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đàn voi nhà Đắk Lắk đã tham gia vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, như kéo gỗ, vận chuyển hàng hóa, cày ruộng phát triển sản xuất thực hiện xóa đói, giảm nghèo… Đặc biệt, đàn voi nhà của huyện Ea Suốp, Buôn Đôn, Lắk đã tham gia vào các hoạt động lễ hội lớn của tỉnh, như lễ kỷ niệm ngày Giải phóng Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê, lễ hội văn hóa du lịch, lễ hội văn hóa cồng chiêng Đắk Lắk, Tây Nguyên cùng một số lễ hội trong khu vực và các tỉnh thành trong toàn quốc; đồng thời tham gia vào các hoạt động động du lịch sinh thái, đã để lại những ấn tượng tốt đẹp đối với khách tham quan, du lịch trong nước và quốc tế. Chính vì vậy mà trong những năm qua, voi nhà Đắk Lắk đã trở thành sản phẩm văn hóa du lịch độc đáo của Tây Nguyên và cả nước. Nhớ lại tháng 4.1994, Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã chọn Đắk Lắk tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng toàn quốc lần thứ nhất. Để chào mừng sự kiện văn hóa trọng đại này, tỉnh ta đã huy động 100 voi nhà của 17 huyện trong tỉnh từ Đắk Nông đến M’Drăk tham gia lễ hội đường phố cùng với 70 đoàn cồng chiêng và hơn 1000 nghệ nhân thuộc 54 dân tộc anh em trong toàn quốc, đã để lại ấn tượng sâu sắc cho quan khách, các đoàn về dự liên hoan và khách tham quan du lịch. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 20 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk (10.3.1975 – 10.3.1995) Sở Văn Hóa - Thông Tin đã đã huy động 70 voi từ các huyện trong tỉnh về Buôn Ma Thuột thực hiện chương trình nghệ thuật tái diễn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm ông cha ta từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Quang Trung bằng những chú voi hùng dũng làm nên chiến thắng lẫy lừng từ 4000 năm lịch sử, đã làm nức lòng bà con các dân tộc trong tỉnh và khách tham quan du lịch trong nước và nước ngoài. Bây giờ muốn thực hiện những hoạt động văn hóa có đoàn voi nhà hùng dũng như trên đây, chúng ta không thể nào làm được.
Trong những năm gần đây, đàn voi nhà Đắk Lắk đang có nguy cơ giảm sút nghiêm trọng. Theo số liệu điều tra của Sở Văn- Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch): năm 1977, đàn voi nhà Đắk Lắk có 503 con; năm 1999 có 166 con; đến nay chỉ còn gần 50 con (huyện Buôn Đôn có 23 con, huyện Lak có 25 con). Nguyên nhân đàn voi nhà Đắk Lắk giảm nhanh như vậy là do rừng bị tàn phá một cách nghiêm trọng làm mất đi nguồn sống của đàn voi rừng; voi nhà thả trong rừng bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà; chủ voi không đủ khả năng nuôi dưỡng voi nhà nên đã bán voi của mình cho các địa phương khác. Theo phong tục của đồng bào Êđê, M’nông, từ bao đời nay đã cấm voi nhà sinh sản. Nếu voi nhà nào vi phạm việc sinh sản, thì chủ voi bị phạt rất nặng. Vì voi nhà sinh sản sẽ xảy ra những chuyện không hay đối với gia chủ và cộng đồng, nên voi nhà sinh sản là điều cấm kỵ. Từ khi nhà nước ta ban hành Luật Bảo vệ rừng, việc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của người dân Buôn Đôn, Ea Suốp bị dừng lại, do đó đàn voi nhà Đắk Lắk không được bổ sung như trước đây nữa. Một điều nhức nhối mới xảy ra trong năm 2011, con voi cái của Công ty du lịch Bản Đôn - Thanh Hà, đang có chửa đã bị bọn lâm tặc giết chết để lấy bộ da. Một con voi đực của Công ty này đã phục vụ khách du lịch hơn mười năm qua, đến đầu năm 2012 đã bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà. Vài năm gần đây, ở Ea Suốp, Buôn Đôn, bọn lâm tặc luôn rình rập săn voi rừng vì mục đích lấy ngà và một số voi rừng bị chết oan uổng dưới họng súng của những kẻ bất lương này. Một số chủ voi ở Buôn Đôn, Ea Suốp thả voi nhà vào rừng để voi tự kiếm ăn, cũng bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà. Đó là những minh chứng về nguyên nhân làm giảm dần đàn voi nhà ở Đắk Lắk.
Trước thực trạng đàn voi nhà Đắk Lắk đang có nguy cơ giảm dần, người viết bài này xin nêu ra một số đề xuất như sau: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần có chính sách cụ thể về việc gìn giữ, phát triển đàn voi nhà. Cụ thể cho phép đồng bào huyện Buôn Đôn, Ea Suốp tiếp tục nghề săn voi, thuần dưỡng voi rừng; giành một khu rừng nguyên sinh để thả voi nhà, tạo điều kiện cho voi nhà sinh sản tự nhiên. Các công ty du lịch ở huyện Buôn Đôn, huyện Lắk và một số huyện khác trong tỉnh cần phối hợp với các gia đình chủ voi chăm sóc, phát triển đàn voi nhà để phục vụ khách tham quan, du lịch ngày càng hiệu quả hơn. Hai năm một lần nên tổ chức hội voi toàn tỉnh. Thông qua hội voi nhằm thu hút khách tham quan, du lịch đến với Đắk Lắk, đồng thời động viên các chủ voi nêu cao trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ đàn voi nhà. Các cơ quan chuyên môn của tỉnh cần nghiên cứu học tập cách nhân giống voi của Thái Lan theo phương pháp hiện đại để nhân giống, phát triển đàn voi nhà ở Đắk Lắk. Nếu làm được như vậy, chắc chắn đàn voi nhà của tỉnh ta sẽ được bảo tồn, phát triển, phục vụ có hiệu quả các lễ hội lớn của tỉnh và trở thành sản phẩm văn hóa độc đáo để thu hút khách tham quan - du lịch đến với Đắk Lắk.



Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả

LÊ THÀNH VĂN

BÂY GIỜ Ở HUẾ – MỘT BÀI THƠ HAY


Trong các nhà thơ đương đại, Trần Văn Hội thuộc lớp đàn anh có mặt ngay từ những ngày đầu tiên thành lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Thủ thỉ, nhẹ nhàng bằng những bài thơ vừa thuần tính dân tộc đan xen nhiều thi phẩm cách tân khá táo bạo, thơ anh có được dung mạo riêng chững chạc, không trộn lẫn. Chỉ với Cái lùng tung - tập thơ được ấn hành vào năm 2007 -  đã góp một tiếng nói khá mới mẻ cho văn học nghệ thuật nước nhà. Bây giờ ở Huế là thi phẩm được in trong tập thơ trên đã đánh động trái tim tôi từ khi nó chưa in thành sách mà đôi lần được tác giả đọc qua nhưng đã rưng rưng một niềm thương cảm, thương cảm cho cuộc tha hương của người con xứ Huế trên đất Cao nguyên nhưng tâm hồn luôn hoài vọng về xứ sở. Một cố quận, một cố tri hay đó là tấm lòng giao kết không rời được của bất kỳ ai ở cõi thế gian này.
Bây giờ ở Huế mùa thu
Cũng đành lá rụng sương mù chưa em
Nhặt dùm anh sợi tơ mềm
Chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa
Trăm năm như thể trò đùa
Với em thơ dại đeo bùa trăng non
Nhớ thăm cỏ rối dốc mòn
Gió từ thuở ấy gió còn mênh mông
Một mình đừng bước qua sông
Lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay
Em về gió lạnh bàn tay
Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên.
                                                           
Bài thơ là tâm sự của một người tha phương gởi về người em xứ Huế với tất cả nỗi niềm nhớ thương da diết. Nỗi niềm ấy tuy không kể lể dàn trải, nhưng đã kết đọng bằng những lời dặn dò chân thành mộc mạc mà đằm thắm biết bao. Cái mối quan hệ giữa hai người cũng không rõ nét lắm: là người yêu hay thuần túy bạn bè; là cùng giới hay khác giới với nhau? Vì thế các nhân vật trữ tình tình ở đây khá mơ hồ, có tính phiếm chỉ, ta chỉ thấy xuất hiện nhân vật xưng "em" lắng lòng nghe hết lời khuyên bảo nhẹ nhàng, thủ thỉ của "anh". Điệu tâm tình ấy đã khiến nhà thơ Trần Văn Hội chọn thể lục bát chăng, hay đó chỉ là sự ngẫu nhiên bậc thốt khi cảm xúc dâng trào mãnh liệt.
Câu thơ mở đầu là lời khẳng định, khẳng định một mùa thu đang về trên đất thần kinh: "Bây giờ ở Huế mùa thu". Lâu nay chúng ta thấy mùa thu đẹp dịu dàng với nét đặc trưng của Hà Nội: "gió heo may đã về/ chiều tím loang vỉa hè" (Nhìn những mùa thu đi - Trịnh Công Sơn). Thảng hoặc trong thơ ngày đất nước bắt đầu bước vào cuộc tranh đấu, người chiến sĩ ra đi không ngoảnh lại vẫn thấy sau lưng mình "nắng lá rơi đầy" qua Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Giờ chạm hồn vào ngõ thu của Huế với "lá rụng sương mù" lãng đãng nghe cũng chơi vơi một niềm nhớ nhung lan tỏa. Câu thơ thứ hai ngân lên như một câu hỏi nhưng được tác giả bỏ lửng, chủ yếu để biểu đạt tâm sự "cũng đành" buông ra như tiếng thở dài não ruột của khách tha hương nhớ về cố quận: "Cũng đành lá rụng sương mù chưa em". Nhờ vậy, cảm xúc của hai câu thơ đầu tựa hồ một thoáng bâng khuâng khi nhà thơ lắng vọng thu về trên đất Huế. Từ cái cớ viền một chút "cảm thu", nhà thơ Trần Văn Hội đã bộc bạch nỗi lòng mong mỏi:
Nhặt dùm anh sợi tơ mềm
Chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa
Nhặt sợi tơ mềm, chút hương hồ cạn còn sót lại của mùa hạ đã qua để tưởng tiếc về quá vãng vào thời điểm giao mùa "sen tàn cúc lại nở hoa" nghe sao mà lưu luyến quá! "Nhặt dùm" là sự nhờ cậy, ở đây pha chút van lơn, hàm ơn trong giọng thơ nghe tưởng chừng tiếc nuối pha chút bâng khuâng. Hai câu thơ, nếu người đọc chịu khó liên tưởng, ta sẽ bắt gặp tâm tình đồng cảm của nhà thơ với nỗi sầu khổ của Thúy Kiều khi nhớ về Kim Trọng: "Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng" (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Đồng cảm để rồi bày tỏ chính nỗi niềm đau khổ của mình, dù xa xôi cách trở nhưng tình yêu vẫn không nỡ chia lìa như sợi tơ mềm của sen kia, đứt mà vẫn không lìa, cứ vấn vương day dứt mãi. Sợi tơ mềm ấy cũng là sợi tơ lòng của khách tha phương nhớ về chốn cũ, nơi có người em gái thơ ngây thuở nào chưa thể nhạt phai:
Trăm năm như thể trò đùa
Với em thơ dại đeo bùa trăng non
Với nhà thơ Trần Văn Hội, cuộc trăm năm quả là một trò đùa dâu bể. Bao sinh li tử biệt trong một kiếp người làm tan nát biết bao trái tim thi sĩ. Tử biệt đã đành, còn sống với nhau mà đã phân li, điều ấy càng đau đớn biết chừng nào. Ngẫm thân mình lưu lạc nơi đất khách, nhân vật trữ tình xưng anh vẫn luôn hoài niệm về bóng dáng người con gái đất thần kinh: "với em thơ dại đeo bùa trăng non". Câu thơ ảo diệu đến không ngờ, cứ thấp thoáng xa gần, tưởng chừng không làm sao với được. Hình ảnh người em thơ dại đeo bùa trăng non cứ hiện lên day dứt như một giấc mơ, một ám ảnh không nguôi trong tâm hồn tác giả. Tại sao tạo hóa trong cuộc trăm năm này lại cợt đùa đến vậy, khiến cho em đó ta đây mà cách biệt ngàn trùng? Câu thơ càng đọc càng thấy nhói buốt, xót xa cho kỷ niệm bẽ bàng khi người thi sĩ năm nào giờ biệt trùng nơi đất khách, người em gái thơ dại thuở "đeo bùa trăng non" cũng mong manh trước ngọn gió đời mênh mông và dòng sông vô tận đầy cạm bẫy của thế sự trò đùa:
Một mình đừng bước qua sông
Lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay
Em về gió lạnh bàn tay
Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên.
Đây là bốn câu thơ gói gút nhất nỗi lòng thi sĩ. Em là ai mà sao nhà thơ thương yêu và quan tâm đến thế. Từ cái thuở "thơ dại đeo bùa trăng non" đến giờ, khoảng cách thời gian chừng đó vẫn không xóa nhòa được chút nào sao? Lời dặn dò đầy ân tình thương mến, cứ tưởng như lòng mẹ cha lo lắng cho con: "Sông sâu chớ lội, đò đầy đừng đi". "Bóng ngã giữa dòng" là một cảm giác lo nghĩ sâu xa, hàm chứa một tình yêu tha thiết, một dự cảm nặng tình cho người con gái chốn quê. Quả thật, phải yêu thương đến nát dạ nát lòng tác giả mới có một tâm tình yêu thương cảm động nhường ấy để rồi hi vọng về một ngày mai sáng tươi tràn đầy ánh nắng quanh đời em: "Em về gió lạnh bàn tay/ Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên".
Tôi nghĩ, Bây giờ ở Huế là một bài thơ giàu tâm sự, một tâm sự rất riêng tư và sâu kín. Chỉ khai thác trên bề mặt của lớp ngữ nghĩa ngôn từ nghệ thuật, bài thơ mới chỉ dừng lại ở hình tượng như nhiều ý tứ xưa nay các thi sĩ gởi gắm hồn mình vào thơ. Nếu biết cụ thể hoàn cảnh sáng tác, chắc rằng sẽ còn bao tầng vỉa nội dung khuất chìm trong đó - ấy là cảm xúc và cảm giác của tôi khi đọc thi phẩm này. Trên cái nền của hình thức thơ lục bát dân tộc, bằng bút pháp trữ tình khá nhuần nhuyễn, Trần Văn Hội đã bày tỏ tiếng lòng hướng về cảnh cũ người xưa khi hoài tưởng đến mảnh đất quê hương nghĩa tình sâu nặng. Sâu xa hơn, tiếng lòng ấy là bài hát chở che, một niềm yêu dấu cố nhân thơ dại đã đeo đẳng nhà thơ trong cuộc mưu sinh dâu bể trò đùa này, để rồi cất lên tiếng nói tri âm bi thiết nhưng tràn đầy hi vọng sẻ chia: "Em về gió lạnh bàn tay/Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên".











Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả

Sổ tay thơ 


THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng?
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả

Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.
Xuân Quỳnh

LỜI BÌNH:
Xuân Quỳnh là nữ thi sĩ có trực cảm mạnh. Nhất là mảng thơ tình chị viết trong giai đoạn gần cuối đời mình. Một sự mơ hồ cách biệt, đơn chiếc mong manh như chợt đến, chợt đi khi nhịp tim một thời rạo rực yêu đương của chị nay có lúc lỡ nhịp hụt  hẫng trong một lo  âu vô hình nào đó. Nhưng sức sống tình yêu trong con người thi sĩ trổi dậy để khẳng định, tự tin dù biết rằng: cuộc đời không đơn giản thế. Chị chọn thời giao mùa là lúc kết thúc một mùa và đón nhận một mùa mới. Khi ấy các bước chân vội vã, gấp gáp của thời gian luôn vang động, ngân vọng, níu kéo hơn bao giờ hết trong lòng người. Gieo vào đó một tiếc nuối cay đắng, một hồi hộp đợi chờ. Cảm nhận đổi thay thiên nhiên để nhận thức thay đổi bản thân. Thơ tình cuối mùa thu được đặt trong khung cảnh thiên nhiên của mình vào dòng thời gian như một  một ám ảnh không nguôi vì: sự chảy trôi không ngừng của cuộc sống, vì sự  hữu hạn, ngắn ngủi của hạnh phúc đời người. Chị chọn mùa thu là mùa đẹp nhất và có cảm giác ngắn nhất trong năm.   Chị viết rất tự nhiên, tuôn chảy  dòng nhạc điệu, cái nhạc điệu ngân vọng trong lòng như nhà phê bình tài hoa Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét rất có lý: “Thơ Xuân Quỳnh tự nhiên như đã gọi là phụ nữ thì phải sinh con đẻ  cái vậy”.
Mở đầu bài thơ là cảm giác không gian man mác thiếu vắng diệu vợi, buồn buồn: “Cuối trời mây trắng bay – Lá vàng thưa thớt quá – Phải chăng lá về rừng”. “Cuối trời”“thưa thớt” đã chạm vào cõi lòng trắc ẩn, nữ tính, nhạy cảm của nhà thơ. Và một câu hỏi đặt ra  ngỡ như vu vơ  phiếm chỉ nhưng hàm chứa trong đó sự tin cậy ấm áp về phía rừng, phía thảm xanh dày ngăn ngắt và ẩn chứa nhiều bí mật. Có lẽ bấy giờ cảm giac của Xuân Quỳnh muốn tìm một chỗ tựa, điểm tựa nào đó tin yêu của cuộc đời. Và chính khoảng giao mùa cuối thu đã gieo vào chị, đồng hành với chị để đi tìm cái đích của hạnh phúc trong sự thảng thốt, mong manh có thể chợt đến. Mùa thu ra biển cùng lá như một khát vọng  mênh mang. Và khép lại khổ thơ đầu với hình ảnh mùa thu – hoa cúc “như nỗi nhớ dây dưa” trong thơ Tế Hanh  khi “chỉ còn anh và em”. Một sự tiếc nuối quá khứ “của mùa thu cũ”  bỗng thức dậy từ xao động ngọn gió heo may. Và tiếp đó là “lối đi quen bỗng lạ - cỏ lật theo chiều mây”. Cặp đôi quen – lạ như là một nhận thức thường trực, thường thấy  nhưng đến cỏ lật – chiều mây đã nới rộng cái khoảng không gian ngợp trong nghịch cảnh cỏ thì dày xanh tin cậy chắc chắn mà mây thì mỏng trắng, xa vời, dễ biến đổi. “Đêm về sương ướt má – Hơi lạnh qua bàn tay”. Sương ướt má – Sương hay giọt nước mắt của trời. Cái bàn tay thường biểu hiện tình cảm, giao cảm thân thiện của một ứng xử giao tiếp giờ đã lạnh hơi sương, hơi thu. Nhưng với một bản lĩnh như Xuân Quỳnh biết chấp nhận vì  chị biết đó là quy luật, dù chỉ là mơ hồ thoáng qua của một con người hay cả nghĩ. Nghĩ nhiều về dự cảm thiếu hụt mất mát chị tự biết để nhận ra: “Tình ta như hàng cây – Đã qua mùa bão gió – Tình  ta như dòng sông – Đã yên ngày thác lũ”. Không hiểu sao thiên nhiên cứ chực ùa vào  vây bọc lấy Xuân Quỳnh  mỗi khi chị trắc trở như một người bạn ân tình từ thuở “Thuyền và biển”. Chị luôn ở trạng thái   sinh động tươi tắn hồn  nhiên trong cuộc sống đời thường bao nhiêu thì biến động dữ dội trong những khung cảnh thiên nhiên khi gặp trắc trở “như bão gió”, “như thác lũ” trong thơ bấy nhiêu. Chị đã định vị được cái tâm thế, sức sống của tình yêu trong những hoàn cảnh ngặt nghèo để rồi đi qua, để rổi yên ổn. Bởi chị biết: “Mùa đi cùng tháng năm – Tuổi theo mùa đi mãi”. Tiếp sau ý thức và sự mất mát là sự khẳng định, tin tưởng với những điều không mất, trong sự tuôn chảy của thời gian nghiệt ngã: “chỉ còn anh và em – cùng tinh yêu ở lại”. Chị  ráo riết cố định một niềm tin trước  thử thách thời gian như có lần chị ví “biết yêu anh cả khi chết đi rồi”. Khát vọng tình yêu đó đồng hành với thế  hệ trẻ, trẻ mãi: “Kìa bao người yêu mến/  Đi  qua cùng heo may”.
“Thơ tình cuối mùa thu” nhưng không có chặng cuối của tình yêu. Bởi tình yêu luôn mới mẻ với bao cung bậc cảm xúc. “Thơ tình cuối mùa thu” đã được âm nhạc  chắp cánh có da diết, có tiếc nuối nhưng bừng  sáng lên hy vọng và khát vọng bởi cao hơn hết đó là thông điệp bất diệt của tình yêu, của sự sống muôn đời.


NGUYỄN NGỌC PHÚ

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả TRƯƠNG HỒNG PHÚC



KHÔNG GIAN VĂN HÓA “RỪNG”
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC


Đến với rừng trong văn chương, chúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ nhưng kỳ vĩ, trầm hùng mà thắm thiết; bên trong đó có những thác nước ngày đêm réo gọi, những ngọn gió dữ dội mải miết thổi suốt bốn mùa… nhưng không kém phần diễm lệ, nên thơ. Điểm lại trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều tác giả viết về rừng: Tô Hoài chọn cho mình vùng núi rừng Tây Bắc để hòa mình vào với đời sống của những người Mán, người Mèo…; Sơn Nam lại đưa người đọc bước vào thế giới của vùng sông nước Nam Bộ thông qua những rừng đước, rừng tràm… ngập sâu trong dòng nước phèn mặn; còn đối với Nguyên Ngọc – người được mệnh danh là nhà văn viết nhiều nhất và hay nhất về Tây Nguyên thì khác, ông không chọn cho mình riêng một vùng rừng nào cả mà ông đi lần lượt từ những cánh rừng Tây Bắc – Mèo Vạc, Đông Bắc – Hạ Long, cho đến vùng rừng của đất Quảng anh hùng rồi lượn vòng lên Tây Nguyên hùng vĩ để chiêm nghiệm những cánh rừng cà phê, cao su… bạt ngàn trên đất đỏ cao nguyên, không dừng lại ở đó ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình đưa mình đến với rừng ngập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, thậm chí còn vượt mình ra khỏi đất liền để tìm đến “ăn rừng” ở Phú Quốc, ở những quần đảo trên biển Đông với hình ảnh của những hàng phi lao nhiều đến thành rừng…
Vậy văn hóa rừng trong sáng tác của Nguyên Ngọc được biểu hiện như thế nào? Câu hỏi này đã được Nguyên Ngọc trả lời trong rất nhiều tác phẩm, đặc biệt trong tạp văn Rừng trong văn hóa Tây Nguyên thì vấn đề về rừng là không gian văn hóa gần như được giải quyết triệt để. Ông khẳng định rừng là ngọn nguồn văn hóa, là đặc trưng số một của đất và người Tây Nguyên. Bắt buộc tất cả những ai đến với Tây Nguyên, muốn hiểu về Tây Nguyên thì phải hiểu rừng. Nếu như văn hóa Tây Nguyên xem làng là đơn vị tổ chức hành chính cơ bản, thì làng ấy phải gắn với rừng, và làng cũng chỉ là một phần được cắt từ rừng mà ra. Ông giải thích:
“Đấy là một khoảnh đất con người đã cắt ra được cái bao trùm tất cả là rừng hoang dã. Là cái phần nhỏ của tự nhiên hoang dã mà con người đã thuần hóa được cho mình, cái khoảnh tự nhiên đã được con người biến thành văn hóa. Mối quan hệ cơ bản của sự tồn tại ở đây là vậy, bên này là tự nhiên: rừng, bên kia là văn hóa: làng. Ở giữa là con người.”
Khi con người không còn ở làng nữa thì mảnh đất tự nhiên đã trở thành văn hóa ấy lại trở thành khoảng không gian của tự nhiên: rừng. Và người Tây Nguyên lại tìm đến một khu rừng mới, khai hóa nó, và tạo cho tự nhiên vốn có một làng văn hóa, rồi lại cứ thế họ đi mãi hết cánh rừng này đến cánh rừng khác để biết rừng, hiểu rừng. Đời sống của người Tây Nguyên là thế, không bao giờ có thể tách khỏi rừng, cho dù sống ở làng thì vẫn phải có rừng.
Đối với không gian văn hóa làng của người Tây Nguyên phải tồn tại đủ 4 yếu tố: thứ nhất là rừng (đầu nguồn, canh tác, rừng nguyên sinh – rừng thiêng), thứ hai là bến nước, thứ ba là khu mộ địa và cuối cùng đó mới chính là làng – nơi họ sinh sống trên những ngôi nhà sàn, nhà trệt, nơi đêm tối họ quây quần với nhau nghe hát kể sử thi để rồi vọng vào rừng sâu thứ âm thanh giao tiếp với Giàng. Giàng có mặt ở khắp nơi, nhưng chỉ trong khu rừng thiêng kia thì mới là nơi quần tụ đầy đủ tất cả các Giàng, cho nên khi đến với một làng Tây Nguyên, người lạ không được chạm chân đến những không gian thiêng ấy, làm như thế nghĩa là xúc phạm thần linh, khiến cho thần linh thức giấc, có khi là tức giận, khi đó Giàng sẽ trừng phạt con người. Vì thế cho nên khi đến với vùng đất bazan ấy, lúc nào chúng ta cũng có cảm giác mát rượi, thoang thoảng hương rừng phả vào da vào thịt những người đi đường…
Chính vì vậy rừng là không gian rộng nhất, lớn nhất trong mọi không gian của người Tây Nguyên. Rừng bao trùm tất cả, rừng ôm trọn cả làng, cả bến nước, cả mộ địa… “Ở Tây Nguyên, rừng là tất cả, bao trùm, ám ảnh, mê hoặc, nhấn chìm. Con người vừa bị hòa tan trong rừng, là bộ phận nhỏ không thể tách rời của rừng, vừa cố phân biệt mình với rừng”.
Thật quá sâu sắc khi Nguyên Ngọc đã thâu tóm toàn bộ mọi nét văn hóa, bản sắc dân tộc của con người Tây Nguyên để rồi phác họa nó lên, đi từ khái quát đến chi tiết. Cũng giống như khi ông viết: “Đối với họ, rừng là Mẹ, người Mẹ Tự nhiên bao dung và vĩ đại; Mẹ Rừng cho ta cái ăn, sự sống, tạo nên xương thịt, máu huyết, toàn bộ con người của ta. Ta là một phần nhỏ được sinh ra từ Mẹ Rừng bao la, bất tận, vĩnh hằng”.
Có nghĩa là Nguyên Ngọc đã nhìn nhận xuyên suốt nền văn hóa huyền bí ấy, từ tự nhiên đến con người rồi tạo nên văn hóa. Nó không hề mâu thuẫn với nhau mà luôn luôn gắn bó khăng khít với nhau, nhưng cho dù là con người hay văn hóa thì cũng đều bắt nguồn từ tự nhiên và không thể tách rời khỏi tự nhiên; cho nên tự nhiên – rừng luôn là gốc, là rễ của con người, của văn hóa Tây Nguyên, bất cứ ai làm gì, ở đâu thì cũng đều phải nhớ đến rừng, nhớ đến “năm làng chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”. Ở đây, ông sử dụng một từ rất lạ “ăn rừng”, ai có thể ăn được rừng? Trong khi rừng đã trở thành Giàng, thành linh hồn của người Tây Nguyên. Cái đặc biệt trong nghệ thuật sử dụng ngữ nghĩa ngôn từ của Nguyên Ngọc chính là ở đây. “Ăn rừng” không phải là một hoạt động của tiêu hóa mà ăn rừng ở đây là: “Ấy là cái năm làng làm rẫy ở khu rừng có tên như vậy”. Qua đó, chúng tôi hiểu được rằng, “ăn rừng” nghĩa là, họ - người Tây Nguyên làm rẫy ở khu rừng đó. Thế nhưng, Nguyên Ngọc còn cho chúng ta hiểu ở nhiều tầng nghĩa khác nhau, ông lí giải:
1 – ở đây người ta “ăn rừng” (tức là người ta làm rẫy, lấy cái ăn ra từ rừng), rừng đi vào trong máu thịt con người, cũng hoàn toàn giống như ta nói ta bú sữa mẹ, mẹ cho ta cái ăn, cho ta máu thịt. Ta là một phần không thể tách rời của mẹ rừng. Ta từ mẹ rừng mà ra.
2 – Rừng không chỉ là không gian, rừng còn là thời gian. Người ta lấy không gian để đo thời gian (…) lịch pháp của mối quan hệ sinh học giữa con người với rừng. Cuộc đời con người ấy được tính bằng chu kỳ mẹ rừng cho họ máu thịt qua từng mùa rẫy.
3 – “Thế giới” hay “vũ trụ” của con người ấy là làng, làng trong mối quan hệ sinh tồn với rừng. Mỗi làng không chỉ có không gian riêng mà còn có thời gian riêng của mình, một thứ không – thời gian lấy rừng làm hệ tọa độ…
Phải khẳng định rằng, Nguyên Ngọc đã trở thành một người con của Tây Nguyên. Nếu như ta chỉ dựa theo từ điển ngôn ngữ hay tự nhiên thì rừng chỉ được hiểu là một khoảng đất rộng có rất nhiều các loài sinh vật tồn tại trên địa hình đồi núi hoặc thung lũng mà thôi. Còn khi đọc văn Nguyên Ngọc, ta mới thấy được nghĩa của rừng không chỉ đơn thuần như thế, nhưng chỉ với người Tây Nguyên rừng mới được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như vậy. Điều quan trọng, là Nguyên Ngọc đã chuyển từ từ một nghĩa cụ thể rồi sắc thái hóa nghĩa của từ đó để trở thành nghĩa trừu tượng. Trước giờ, chưa ai nói rừng là mẹ, là không gian, là thời gian, là một hệ tọa độ, chỉ đến với ngòi bút của ông thì người ta mới nhận ra điều đó.
Hơn thế nữa, vòng đời của con người Tây Nguyên không lấy thời gian cụ thể là giờ nào phút nào làm thước đo, mà họ lấy rừng làm thời gian của mình: “đối với cái chết, người Tây Nguyên cũng có một thái độ đặc biệt liên quan đến rừng (…) giao cho rừng, trả con người ấy về lại cho rừng, để rừng chiếm lấy cái phần tự nhiên hoang dại đã trở thành người, thành văn hóa ấy”. Ông khẳng định: “Nghĩa là một lần nữa ta lại thấy, ở một tầng sâu hơn, rừng không chỉ là không gian mà còn là thời gian. Rừng là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng, là sự không thủy không chung, nơi hun hút con người lại biến mất vào đó, biệt vô tăm tích. Rừng là bản nguyên, là cội nguồn ở đầu bên này, nhưng cũng là cõi mịt mùng thăm thẳm ở đầu bên kia”.
Thời gian ở đây, chính là sự sinh ra con người và cũng đưa con người vào cõi bất tử. Rừng là mẹ, là Yang (Thần linh), rừng không từ bỏ bất cứ điều gì, tất cả đều sinh ra từ rừng và mất đi cũng trong rừng. Văn hóa Tây Nguyên là thế, cuộc đời con người không đếm bằng tuổi, mà đếm bằng mùa rẫy, bằng năm “ăn rừng”; chết là được quay về với thần linh, được thần linh phía rừng thiêng bí ẩn chào đón rồi đầu thai họ vào kiếp người khác sau khi đã làm lễ bỏ mả. Dễ hiểu vì sao mà Nguyên Ngọc nói rằng: “rừng là tâm linh. Vì vậy nó là cội nguồn của văn hóa ở đây. Đố ai có thể tìm ra được một biểu hiện văn hóa nào ở đây mà không liên quan đến rừng, hay đúng hơn, không có mối quan hệ sâu xa thăm thẳm của con người với rừng làm cơ sở”.
Đồng thời, ở đó ta cũng tìm được những món ăn, thức uống đặc trưng cho hương vị núi rừng để tạo nên nét văn hóa cụ thể: đó là thứ rượu cần ngọt nồng mà say đắm: “Rừng tự nó thôi, chỉ mới nguyên là rừng thôi, chưa chế biến gì hết, đã có nghĩa là say, là mê, là quên, là dại khờ (…) Tức là rừng mới tự nó thôi, chưa chế biến gì hết đã là rượu rồi. Huống nữa rượu cần lại tinh chất tập trung nhất chắt ra từ rừng”.
Không dừng lại ở món uống cụ thể, không gian văn hóa của rừng còn được vang lên bởi tiếng ngân của cồng chiêng: trong Cồng chiêng, từ đá đến đồng, Nguyên Ngọc viết:
“Dạy tiếng cho chiêng khi mới mua về, dạy cho nó biết nói tiếng của con người, của núi rừng, của thần linh ở Tây Nguyên.”
Nói như vậy có nghĩa: cồng chiêng là biểu hiện của văn hóa, và chỉ có trong rừng sâu, thứ âm thanh đại ngàn ấy được vút lên nhờ những chàng trai, cô gái được xem là nghệ nhân của “bộ gõ Tây Nguyên”. Đấy là văn hóa. Người mẹ rừng thấu hiểu con của mình, cho nó sự sống thì phải cho nó nguồn sống, nguồn sống của nó bắt nguồn từ những đồi bắp, đồi sắn, của những hạt gạo trắng ngần được cấy lên từ đất; cho đến khi đời sống nó no đủ thì nó cần phải tìm nguồn vui, mà nguồn vui ấy bắt nguồn từ chính thiên nhiên của mẹ rừng. Đó là âm thanh tự nhiên của dàn nhạc nước, rồi âm điệu của dàn nhạc đá cho đến khi bàn tay con người tìm được âm hưởng của cồng chiêng. Bất kì ở nơi đâu, ở vùng đất nào đi nữa thì đối với người con của núi rừng cồng chiêng vẫn là thứ thiêng liêng nhất, bởi nó tạo nên âm thanh để giao lưu, trò chuyện với thần linh, với những người đã quá cố.
Đến đây, ta nhớ về những lễ hội của người Tây Nguyên, bao giờ cũng vậy, cứ lễ hội là người ta tìm về thiên nhiên bao la, xứ sở của mẹ rừng: cúng bến nước, cầu mưa, bỏ mả, cầu mùa, mừng lúa mới, cúng sức khỏe… và ở đây, con người được giao hòa cùng thần linh, được gọi Giàng, được sống với không gian của núi rừng thực sự. Khi đó người ta tấu lên khúc nhạc của cồng của chiêng, của những lời khấn cúng. Nguyên Ngọc viết:
“Bởi, qua không gian rừng mênh mông, từ ngàn đời nay đêm đêm các làng Tây Nguyên vẫn đọc tiếng chiêng của nhau như vậy đấy, làm nên cuộc trò chuyện vĩnh cửu của con người trên vùng đất mênh mang và mãi mãi còn bí ẩn này.”
Nét đặc trưng của con người nơi đây là sự gắn bó mật thiết với không  gian núi rừng: từ việc lên nương làm rẫy cho đến việc săn bắt, chuyện tình yêu trai gái hẹn hò tình tứ, thậm chí cả những lễ hội… đều gắn bó mật thiết với rừng. Với người Tây Nguyên, rừng là một phần máu thịt của họ, rừng là tâm linh, là bản nguyên, là cội nguồn văn hóa, là nơi tạo thành tính cách con người. Con người nơi đây đã trân trọng gọi rừng là: “Mẹ rừng.”
Vì thế, rừng, và rộng hơn, thiên nhiên ở đây có quan hệ mật thiết gắn bó với con người. Nguyên Ngọc và cũng như những con người nơi đây quan niệm, rừng là khởi nguyên để từ đó họ ra đi và rừng cũng là nơi họ sẽ trở về sau một chuyến rong chơi dài ngày ở giữa cuộc đời trần thế. Cho nên có thể nói rằng văn minh Tây Nguyên là nền “Văn minh thảo mộc”. Trong Người về Krông Chro, Nguyên Ngọc đã phát hiện ra vai trò của rừng trong đời sống văn hóa con người Tây Nguyên: “rừng là bắt đầu và tận cùng của mọi thứ trên đời này. Như không gian, thời gian, vô tận. Người Tây Nguyên từ trong máu mình hiểu rất rõ, rất sâu điều cốt yếu đó, họ biết họ cũng chỉ là một phần nhỏ của cái bao quát lớn là rừng, như mọi vật hữu sinh và vô sinh, thú rừng cả sâu bọ cây cỏ, đất đá, sông, núi, và mọi vật dụng nữa, không hơn không kém”
Từ trong cái vô tận của rừng núi, con người bước ra, họ đi ra từ núi rừng như đứa con thoát thai bước ra từ lòng mẹ, nhưng như vậy cũng không có nghĩa là họ lìa xa tình mẫu tử, mà ngược lại vẫn bị trói buộc khăng khít trong tình mẫu tử thâm sâu: đó là văn hóa. Cũng như tình mẹ con, người Tây Nguyên gọi rừng là Mẹ: mẹ dạy cho họ biết làm nương rẫy, biết bắt con cá, biết săn con thú trong rừng, và đặc biệt mẹ rừng dạy họ biết văn hóa nguồn cội của mình là núi rừng, cho nên họ biết tiếng nói để giao tiếp với thần linh, biết cách cúng lễ, biết treo cây nêu, đánh cái chiêng cái trống trong mùa lễ hội, đồng thời họ cũng tạo nên cho mình một nét văn hóa rất riêng, khác biệt với những tộc người khác, ở những vùng cư trú khác.
Chính vì thế khi trưởng thành, họ thành tâm xin của mẹ rừng một khoảnh đất nhỏ, nhọc nhằn thuần hóa nó để cái khoảnh đất nhỏ ấy trở thành buôn làng, trở thành không gian sống của nhiều thế hệ người. Nhưng như thế cũng không đồng nghĩa với việc là họ đã tách ra khỏi rừng, họ dứt ra mà vẫn gắn bó, liên hệ, nối kết mật thiết với rừng, người Tây Nguyên tâm niệm: cùng sống với rừng và đương nhiên cùng chết với rừng. Quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vừa mang tính tự giác, bắt buộc từ trong sâu thẳm của tâm linh, vừa trở thành luật tục trong cộng đồng đời sống… đó là văn hóa.
Vì vậy, với người Tây Nguyên, rừng là một phần máu thịt của họ, rừng là nơi từ đó con người ra đi để tìm lấy sự sống:
“Và rừng ta đi về lấy cây suốt cá
Rừng ta đẹp chim bay về làm tổ
Nước ta trong bờ suối nở hoa rừng”
Và tất cả tựu chung lại thành văn hóa: văn hóa ăn, ở, mặc, văn hóa với núi rừng, với thần linh, đó còn là cách đối nhân, xử thế, giao tiếp với nhau trong những khu rừng bao la, rộng lớn. Nếu bạn hỏi một ngôi làng đang có lễ hội, thì làng bên sẽ như thế nào? Câu trả lời rất tự nhiên, đó là họ sẽ đưa tai lắng nghe âm thanh vang vọng của tiếng cồng, chiêng, tiếng hát vang ân tình bên vòng lửa ấm áp. Có nghĩa là tất cả những người con của núi rừng đều sẽ sống với những gì mà mẹ rừng dạy họ, họ sẽ tiếp nối, sẽ lưu truyền và dạy lại cho thế hệ sau những gì mà họ đang xem là văn hóa.
Nguyên Ngọc nhấn mạnh về không gian văn hóa của rừng, ông cho rằng, muốn hiểu về đất và người ở những khu rừng núi thì điều đầu tiên họ phải hiểu được rừng:
“Rừng. Rừng trong đời sống xã hội và con người, rừng trong văn hóa Tây Nguyên mà không hiểu rừng, ý nghĩa và vai trò của nó trong đời sống con người ở đây thì rất khó, hoặc hầu như không thể hiểu gì về Tây Nguyên, con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.”
Và cứ như thế không gian văn hóa ấy cứ trải rộng ra cho đến khi con người không còn nữa. Chỉ khi nào không còn sự xuất hiện của con người thì người mẹ rừng sẽ thu lại không gian văn hóa ấy và tạo ra thứ không gian văn hóa mới, chuyển từ con người về lại với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá, loài vật…
Như vậy, quá trình khắc họa, xây dựng hình tượng rừng trong sáng tác của mình, Nguyên Ngọc đã hoàn toàn để cho rừng thoát thai, đi từ môi trường sống đến không gian văn hóa và dần dần sẽ biến mảnh đất ấy thành một không gian thiêng liêng hơn, bí ẩn hơn – không gian của tâm linh.


Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả NGUYỄN VĂN RÈN





VỀ NHÂN VẬT “ NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỘC ÁC”
TRONG TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA



Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm khá tiêu biểu cho sự đổi  mới về cách nhìn và khám phá về con người của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sáng tác sau năm 1975, thể hiện rõ nét sự chuyển biến từ cảm hứng sử thi lãng mạn thời chiến tranh sang cảm hứng thế sự, đời tư, đời thường thời hậu chiến. Khi giảng dạy tác phẩm này ở chương trình Ngữ văn 12 - THPT, phần lớn các giáo viên đều tập trung phân tích tình huống truyện độc đáo, phân tích nhân vật “ người đàn bà hàng chài” và nhân vật nghệ sĩ Phùng mà thường bỏ qua các nhân vật phụ như nhân vật “người đàn ông độc ác”. Điều đó không sai vì tình huống truyện và các nhân vật chính là những hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa, thể hiện tập trung chủ đề tác phẩm và thông điệp của nhà văn. Tuy nhiên, trong tác phẩm này, nhân vật “người đàn ông độc ác”, tuy là một nhân vật phụ nhưng lại là một hình tượng có sức ám ảnh và giàu ý nghĩa, thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn, cần phải được tìm hiểu.
Từ hình ảnh chiếc thuyền ngư phủ trên biển sớm mờ sương đẹp như trong mơ, người đàn ông này xuất hiện như là hiện thân của cái xấu và cái ác với “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ” và lời nói cụïc cằn “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Nói rồi, lão đưa vợ lão ( người đàn bà hàng chài) đi lên bãi cát, đến bên chiếc xe rà phá bom mìn của công binh Mĩ thời chiến tranh còn sót lại. “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rền rỉ đau đớn “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
Nhân vật người đàn ông độc ác, đánh vợ một cách tàn nhẫn và vũ phu, nhưng điều đáng nói ở đây là cách đánh vợ của lão cũng rất khác thường. Người ta chỉ bạo hành khi nóng giận và bất lực, nhưng người đàn ông này còn đánh vợ theo chu kỳ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Thậm chí, lão ta còn theo yêu cầu của vợ: không đánh trước mặt các con, dẫn vợ lên chỗ khuất rồi mới đánh. Nhiều người thắc mắc về sự phi lý này, nhưng điển hình hóa nghệ thuật cho phép vận dụng các tình tiết ly kỳ, bề ngoài có thể phi lý nhưng nêu bật được bản chất của sự vật.
Hình tượng “người đàn ông độc ác” đã thể hiện tinh thần nhân đạo mới mẻ của ngòi bút Nguyễn Minh Châu: Lên án nạn bạo hành gia đình, cảm thương cho thân phận nghèo đói, đau khổ của người phụ nữ, lo lắng cho nhân cách của em trước tệ nạn ấy. Đây là một trong những giá trị của tác phẩm cần được quan tâm khai thác.
Với nhân vật này, Nguyễn Minh Châu đã đến gần với Phân tâm học của Freud và nghệ thuật hậu hiện đại. Phân tâm học nhấn mạnh yếu tố vô thức và tính dục, đi vào không gian nội tâm con người, từ đó thấy được bản tính con người trước những xung năng tính dục không được giải phóng. Khi những xung năng đó không được giải phóng, nó thường dẫn con người đến những hành vi lệch lạc, bản năng, thậm chí có những hành động méo mó, rồ dại. Nhân vật người đàn ông đánh vợ là một kiểu rối loạn tâm lý này, khi ông ta tìm cách giải phóng cho những xung năng nguyên thủy của bản năng gào rú trong con người. Hành động này mang tính vô thức nhưng được diễn ra trong một quá trình tâm lý qua sáng tạo của nhà văn. Người đàn ông này trước đây là một “người con trai cục tính nhưng hiền lắm…cũng nghèo khó, túng quẫn vì trốn lính” và không biết uống rượu. Sự cam chịu nghèo đói kéo dài cùng với sự cục tính vốn có đã trở thành nỗi uất ức không thể chịu đựng được nên đã tìm lối thoát bằng cách đánh vợ. Như vậy, không chỉ người đàn bà hàng chài mà cả người đàn ông kia cũng là nạn nhân của sự nghèo đói. Qua nhân vật này, nhà văn đã đưa đến người đọc một thông điệp: phải làm gì để nâng cao phần thiện, phần người trong những kẻ thô bạo ấy.(Mọi người đều ngầm hiểu rằng: muốn giải quyết vấn đề này thì phải phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân). Vấn đề này được nhà văn đặt ra từ những năm đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, khi đất nước còn chìm trong khủng hoảng và chưa bước vào thời kỳ đổi mới. Như thế, chúng ta mới thấy được sự nhạy cảm đặc biệt trước những vấn đề của đời sống và cả sự “dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn) của Nguyễn Minh Châu trong quá trình khám phá và sáng tạo.