Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017

Trang viết của các em

NGUYỄN NGỌC KHÁNH LINH
Lớp 10a1.
Trường THPT Phan Đình Phùng

HẠNH PHÚC LÀ GÌ?

Con người chúng ta sinh ra trong cát bụi thì sẽ trở về với cát bụi. Nhưng có bao giờ bạn ngoảnh đầu lại và tự hỏi: “Ta có đang hạnh phúc không?” Nhạc sĩ thiên tài người Đức Beethoven cho rằng: “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho người khác”. Có khi nào ta tự hỏi: Hạnh phúc là gì?
“Hạnh phúc” được định nghĩa là một cuộc sống tốt đẹp, là sự thỏa mãn về nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần của bản thân con người chúng ta. “Cao quý”, “tốt đẹp” là tấm lòng vị tha, nhân ái,tình thương yêu giữa người với người. Cuộc sống của chúng ta thật ngắn ngủi, nên trong khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi đó hãy trao cho mọi người hạnh phúc. Hạnh phúc bắt đầu từ những cái đơn giản nhất…
Hạnh phúc đơn sơ là mỗi sớm mai mẹ dắt tay con đến trường, là khao khát tràn trề mơ ước về ngày mới của mình. Hay là niềm vui của một cậu học trò đạt điểm cao, của một nhà thương nhân thành đạt, của một cô sinh viên mãi theo đuổi đam mê… Đúng vậy! Tùy vào suy nghĩ của mỗi người mà ta có sự khác nhau về chữ “hạnh phúc”. Hạnh phúc là khi nhà cao cửa rộng, hay hạnh phúc là sự đắm chìm trong niềm yêu thương? Câu trả lời rất khó. Dần dần chúng ta cứ thế tiếp nhận hạnh phúc về mình. Mỗi buổi sáng ánh mắt trìu mến mẹ cha mua quà bánh cho ta – đó là hạnh phúc. Đôi bàn tay chai sần, thô ráp khẽ vuốt mái tóc đứa con thiên thần đang chìm sâu vào giấc ngủ – đó là hạnh phúc. Vẻ mặt lo lắng của người thân khi ta đau ốm – đó là hạnh phúc. Hạnh phúc khi thỏa mãn về yêu cầu vật chất – điều đó ai mà không ao ước có được. Nhưng hạnh phúc đôi khi cũng rất đơn giản, dành một chút thời gian quan tâm nhau, lo lắng cho nhau, và cùng nhau nở nụ cười.
Nếu đem lại hạnh phúc cho người khác nhưng chính chúng ta lại sống trong bất hạnh, thì lúc đó ta có hạnh phúc không? Không! Tôi không dám khẳng định là lúc đấy tôi sẽ thấy hạnh phúc. Tôi không ao ước sẽ là ngọn lửa bùng cháy để lan tỏa hơi ấm hạnh phúc. Mà tôi chỉ mong mình là một đốm lửa nhỏ, cái đốm lửa nhỏ bé ấy – cháy trong bão bùng, cháy trong đêm tối. Tôi hỏi bản thân: “Đã bao giờ mình đem hạnh phúc đến cho ai chưa?” Tất nhiên là có, nhưng tôi lại lo sợ. Lo sợ sau này tôi lại làm tổn thương chính những người mà tôi yêu thương nhất.
Chúng ta, nhận lấy hạnh phúc thì phải trao gửi lại hạnh phúc. Hạnh phúc là một tấm lòng nhân ái, sẻ chia, đồng cảm, nó như dòng chảy gắn kết trái tim mỗi người lại với nhau. Người hạnh phúc nhất không cần mọi thứ phải tốt nhất, mà đó chính là sự chân thành. Hạnh phúc là xuất phát từ trái tim, khi ta làm một điều tốt khiến mình hài lòng thì tôi tin chắc đối tác của bạn cũng sẽ hạnh phúc.
Khi một con người đang tuyệt vọng đau khổ, ta an ủi động viên, thì họ sẽ hạnh phúc khi nhận được sự quan tâm của bạn. Nhìn vào cuộc sống ngày nay, đi qua con phố nhỏ ta vô tình bắt gặp hình ảnh người ăn xin khẽ run lên vì cơn gió heo lạnh. Đôi tay gầy gò, cần mẫn lượm từng cái chai, chiếc lọ để bán kiếm sống qua ngày. Nếu lúc đó bước chân ta dừng lại, nếu lúc đó ta nhìn họ với một ánh mắt thông cảm sẻ chia thì lúc đó sự nghèo đói của họ sẽ dịu đi phần nào. Không cần quá nhiều vật chất, nhưng không thể thiếu đi tình cảm của ta dành cho họ. Hạnh phúc đấy! Hạnh phúc là khi ta biết quan tâm người khác.
Ai sống trong sự tổn thương sẽ dần mất niềm tin, ai sống trong đau khổ sẽ tự dằn vặt bản thân, ai sống trong ngọn lửa quyền lực sẽ nhìn ra ánh mắt thù hận… Còn khi ta sống trong hạnh phúc, mọi thứ xung quanh ta sẽ trở nên ngọt ngào. Trên thế giới này luôn có những người tốt, luôn có những người đem lại hạnh phúc… nhưng nếu ta không tìm được những người đó, hãy tự mình là người đem lại hạnh phúc cho người khác.
Những người đem lại hạnh phúc cho người khác thường là những người nhân hậu. Người biết sống vì người khác chắc hẳn phải có một tấm lòng bao dung. Hạnh phúc là từ sự cho đi. Ví như trong một gia đình, hạnh phúc là khi người chồng biết sẻ chia công việc của người phụ nữ; là khi người mẹ thấu hiểu nỗi lòng con trẻ; là khi người chị, người anh biết động viên người em đứng lên sau lần vấp ngã ở bước chân đầu đời. Vậy còn cuộc sống ngoài xã hội, hạnh phúc là khi đồng nghiệp luôn sát cánh khi mình gặp khó khăn; là khi hoạn nạn có bàn tay giúp đỡ; là khi hi vọng sắp dập tắt thì có người sẽ thổi lại niềm tin.
Vậy nên hạnh phúc là cho đi và nhận lại, hạnh phúc đôi khi là sự âm thầm. Nhưng thật đáng buồn khi đâu đó vẫn còn nhiều người hiểu sai về từ “hạnh phúc”. Chợt tôi nhận thấy sao “hạnh phúc” của chúng ta quá khác, quá xa lạ đối với “hạnh phúc” của họ.
Họ sống ích kỷ chỉ với mục đích đạt được những thứ mà mình muốn có. “Hạnh phúc” của họ càng ngày càng lún sâu vào sai lầm trầm trọng. Chính lối sống hẹp hòi đã kìm nén sự lan tỏa hạnh phúc. Khi ở cạnh họ ta sẽ không hề cảm thấy “hạnh phúc” mà chỉ ngỡ mình đang cạnh một tảng băng lạnh. Ánh mắt họ lướt qua vô tình, hờ hững, không quan tâm, không sẻ chia với ai khác. Tránh hiểu lầm những người trầm tính, họ quan tâm qua từng cử chỉ nhẹ nhàng chứ không qua lời ong bướm lả lơi. Thế đấy, mỗi người luôn có một cách đem lại hạnh phúc khác nhau. Nhưng ở đây, những người quan niện sai lầm về “hạnh phúc” thì sẽ không bao giờ mang lại cho người khác hạnh phúc.
Mỗi con người chúng ta, ai rồi cũng sẽ nhận được hạnh phúc. Vì đâu đó trên trái đất này sẽ có người cần và đem lại hạnh phúc cho bạn. Muốn nhận lại hạnh phúc, trước tiên ta hãy là người đem lại hạnh phúc cho người khác. Hạnh phúc là từ sự cho đi …
Chúng ta chỉ có một đời để sống. Nhìn lại cuộc đời bỗng thấy nó thật ngắn ngủi. Nhưng nó sẽ ý nghĩa hơn khi ta biết tạo ra hạnh phúc cho người khác. “Hạnh phúc là gì?” Có lẽ ai cũng tìm ra câu trả lời cho riêng mình. Hãy trân trọng những gì ta đang có, hãy nâng niu khoảnh khắc hạnh phúc khi ta trao đi. Biển còn có lúc nổi giông tố, nhưng còn gì êm đềm hơn khi hạnh phúc bay theo gió, lan tỏa cho mọi người. “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho người khác”…

               “Sống trong đời sống
                 Cần có một tấm lòng
                 Để làm gì, em biết không ?
                 Để gió cuốn đi”

                                     (Trịnh Công Sơn) 

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả

ĐÀO MẠNH LONG



LÀNH

Truyện ngắn




Quầng sáng nhờ nhợ đỏ của bóng đèn quả nhót bị bóp nghẹt đến thoi thóp bởi bàn tay bóng đêm to phè gân guốc. Ngoài vườn, bụi chuối tiêu rùng mình lách tách mỗi khi lưỡi gió sắc lẹm liếm qua. Tiếng muỗi vo ve bè phối với tiếng mọt dấm dẳn trong thành giường giăng lê thê bản nhạc não nề. Đêm đặc quánh rót đầy vào hốc mắt Lành. Chị nằm co quắp, hai đầu gối chạm đến tận bầu ngực, mảnh chăn mỏng vắt ngang qua bụng. Có tiếng gọi thều thào từ chiếc giường kê góc buồng:
- Con ơi, cho mẹ ngồi dậy! Con ơi…
Đó là mẹ chồng Lành. Lọ mọ bưng thúng sắn dây vừa mới dỡ sau vườn, bà ấy bị trượt chân ngã ở bờ giếng, nằm liệt giường suốt cả tháng nay. Cái hôm đó, mấy cô, mấy bác đi chợ sớm ngang qua dậu dâm bụt thoáng thấy cánh tay bà tím ngắt huơ huơ, hớt hải chạy sang gọi vợ chồng Lành. Người ta xì xèo bà bị giời đày vì ác nghiệt với con dâu. Mỗi lần nhắc đến Lành là ai cũng xuýt xoa: “Cả cái làng Cổ này, không ai khổ bằng con bé ấy!”. Chị chẳng có được một cái đám cưới như bao người phụ nữ khác vì không môn đăng hộ đối. Từ bé Lành đã bị đám bạn chăn trâu dè bỉu: dân ngụ cư, lai lịch không rõ ràng. Lành chưa một lần được nhìn thấy mặt bố, cũng chưa một lần dám hỏi mẹ về bố, một mình mẹ địu sáu anh chị em đi qua những ngày đói khát. Ngày cưới, bố chồng ném bàn ghế phông bạt ra ngõ, mẹ chồng dọa từ mặt con trai, chỉ mình anh chèo đò qua sông, dắt chị bụng mang dạ chửa, quệt ngang nước mắt, loẹt quẹt váy cưới về nhà chồng. Chị như người thừa trong gia đình ấy, loanh quanh trong nhà ngang, bữa nào cũng nhõn một bát cơm cháy với dĩa muối trắng, thỉnh thoảng anh giấu mẹ dúm cho miếng tóp mỡ, mấy ngọn bí luộc hay con cá diếc nấu. Chị tém nước mắt quay đi khi nhìn tô cơm rưới nước kho thịt của con chó mực chỏng chơ cửa bếp.
Khi đứa con gái đầu lòng còn đỏ hỏn, bố mẹ chồng đuổi hai vợ chồng Lành: “Đi cho khuất mắt để căn nhà ngang cho thằng Tân cưới vợ”. Chị chạy vạy vay mượn khắp nơi, bán cả đôi hoa tai – của hồi môn mẹ cho ngày về nhà chồng mua mảnh đất của một người bà con xa. Có một túp lều tranh vách đất lọt thỏm, mái thủng lỗ chỗ, nắng đổ xiêu đổ vẹo, mưa trút ào ào ướt nhẹp ổ rơm, nửa đêm anh đội giông giật trèo lên mái giăng mảnh áo mưa che chỗ nằm. Có con ngõ sâu hun hút, bờ tre thay tường, chẳng của nả gì. Chị không có sữa phải chạy khắp xóm gõ cửa những nhà có đàn bà ở cữ xin từng bữa cho con. Cái vị đắng nghét của nắm lá ngải luộc – chị thò tay qua hàng rào hái trộm vườn bà Tâm hay chát cứng lưỡi sung xanh chấm muối lót lòng ngày giáp hạt in lằn tâm can chị. Có hôm hai vợ chồng đau bụng trối chết vì ăn phải đám rau muống mươn mướt bờ ruộng dính thuốc trừ sâu.
Một hai giờ sáng, chị gò lưng đạp xe thồ rẽ đêm hơn chục cây số lên chợ huyện rồi chở hai sọt hoa quả nặng về chợ hôm khi trời mới lấm lem ánh ban mai. Ghi đông xe tòng teng gói cơm nắm muối vừng và chai nước mưa. Thế mà mẹ chồng dựng ngược: “Con Lành ăn hàng ăn quà ở chợ rồi để chồng con ở nhà đói mửa mật.” Rồi bà xúi anh đánh chị gãy hai cái răng. Lành vập mặt vào ghi đông, máu tứa ra từ khóe miệng nhểu xuống cổ, ướt đẫm ngực áo. Chị ú ớ mấy tiếng rồi lao đao ngã dúi dụi xuống sân, xe thồ đổ chỏng vó, hoa quả lăn lông lốc. Anh quýnh quáng, mặt mày xanh lét còn mẹ chồng vẫn gân cổ: “Không chết được đâu!” Nhòe nhoẹt bóng cô Loan hàng xóm vò nắm lá nhọ nồi nhét vào miệng Lành, chú Tám bế xốc chị lên vai chạy đến trạm xá. Đến giờ, những chiếc răng khác cứ đổ nghiêng về khoảng trống của hai chiếc răng gãy rồi lung lay rụng dần rụng dần.
Sinh hai đứa con Lành đều làm quần quật đến tận ngày vỡ ối nên chúng cứ èo oặt xanh xao ốm đau liên miên. Đứa con trai níu gấu quần chị nước mắt, nước mũi nhoe nhoét: “Bà nội cấm bọn thằng cu Việt, con bé Bích chơi với con… Bà bảo phải tránh xa con không bị lây bệnh ho lao…” Chị buông nia sắn khô tung tóe ngồi thụp xuống, đứa con rẳng rớt lọt thỏm trong lòng. Chị cắn chặt vào môi đến bật máu để giọt nước mắt không bật thành tiếng khóc. Đứa trẻ lên bốn lên năm có tội tình gì đâu! Vội vàng giấu hoa quả khi thấy bóng nó nhấp nhô sau bờ tường hoa đầu ngõ, ừ thì không sao, chia kẹo bánh cho đám cháu xếp hàng khoanh tay mà chừa nó ra, ừ thì cũng chẳng sao,… Nhưng nỡ lòng nào ném lời cay nghiệt như thế vào một đứa trẻ. Ánh mắt trong leo lẻo ngước lên và câu hỏi, “con không bị ho lao đâu mẹ nhỉ?” cứ xoáy sâu vào tim chị đến nghẹt thở.
Những vết thương ấy trong lòng Lành còn tươi nguyên máu rỉ như vừa mới hôm qua…
Lành vịn tay vào bờ tường lê người ra mép giường, những ngón chân cáu vàng bấu chặt xuống đất lạnh ngắt. Chị đỡ mẹ chồng ngồi dậy, kê cái gối vào thành giường để bà dựa lưng. Vài sợi ánh trăng nhợt nhạt, gầy nhom lách qua khe hở cánh cửa sổ loang lổ trên mái tóc xõa xượi phủ kín mặt bà. Mùi khăn khẳn của bô nước tiểu chân giường quyện với mùi ngai ngái của thuốc Tây vương vất mùi người ốm khiến chị chếnh choáng. Chị kéo tấm chăn đắp lên bụng bà rồi lẳng lặng trở ra. Tiếng chó sủa ma dấm dẳn khô khốc vọng từ phía nghĩa địa. Lành thấy bang bang sốt, hai bên thái dương giật giật, trống ngực đánh thậm thịch, gai lạnh chạy dọc từ sau gáy xuống chân tay, chiếc giường như sóng vỗ dập dềnh, khó thở, nôn nao. Cả tuần nay, thức trông nom mẹ chồng, ban ngày đi phụ vữa, hai mắt chị sâu hoắm như cái giếng, vật vờ như bóng ma. Hôm qua, bê có chồng gạch sáu viên mà ngã dúi dụi vào đống cát, mũi miệng đầy cát. Lành thò tay dưới gối lấy lọ dầu gió day day lên thái dương. Vừa đặt lưng xuống giường được mươi, mười năm phút lại nghe tiếng gọi vọng ra: “Con ơi, đỡ mẹ nằm xuống, ngồi lâu mẹ mỏi lưng quá!”. Lành lập cập xỏ đôi dép lê, hai mắt tối sầm lại, chân run rẩy, gục vào tường một hồi mới hoàn hồn. Đêm nào chị cũng quay mòng mòng với cả chục lượt như thế.
Có lần, Lành quay mặt vào tường, kéo mảnh chăn chùm kín đầu, gì chặt lấy hai tai, nhắm nghiền mắt, nằm im thin thít. Gọi mấy lần không có tiếng đáp, thế là bà ấy chửi, chửi Lành, rủa hai đứa con Lành rồi lôi cả mẹ ruột và người bố chưa bao giờ biết mặt của Lành ra nhiếc móc. Vừa chửi, bà ấy vừa đập chan chát vào thành giường. Chị đã thuộc nằm lòng tràng chửi lê thê ấy suốt bao năm tháng làm dâu. Nhưng giờ đây, chị thấy thương hơn là giận mẹ chồng. Đẻ cả chục đứa con mà vò võ một mình khi gần đất xa trời. Người chết trẻ, kẻ trong tù vì buôn lậu, đứa đi xuất khẩu lao động biệt vô âm tín, cô con gái út theo chồng tha hương, đứa bận làm ăn trên thành phố gửi về một cục tiền, đứa ở ngay xóm trên mà dăm bữa nửa tháng mới tạt sang thăm hỏi qua quýt.
Cứ bốn giờ sáng, tiếng lợn rống eng éc từ lò mổ của lão Côi tít chân đê vẩn theo gió vọng vào trong xóm, Lành trở dậy. Bưng ngọn đèn dầu lập lòe, chị dò dẫm trong sương đêm lạnh ken dày khoảng sân rêu xanh trơn trượt. Lành lụi cụi đầu hồi nhà, vẩy từng thanh củi cho ráo nước đem chất bếp đặt nồi cháo thịt bằm và đun một ấm nước nóng. Lá chuối khô, lá dừa khô cháy rột rẹt, củi ẩm xì sùi bọt xèo xèo, khói hăng hắc cay xè. Lửa bập bùng hắt bóng chị chênh chao trên vách bếp rộp vữa loang lổ, bồ hóng bám đen ngòm.
“Ò ó o…” – một tiếng gà gáy trồi lên giữa mênh mang tĩnh lặng, bắt nhịp cho cả một dàn hòa tấu đón bình minh. Có tiếng trong thanh, tươi tắn, có tiếng khàn khàn đùng đục, có chú gà giọng ngân nga luyến láy, chú gà khác thì tiếng gáy đứt gãy, thô ráp, anh trống choai kiêu bạc, sang sảng, cậu gà nòi tơ học gáy cũng gân cổ te te... Cả xóm nhỏ chen chúc, rộng vang tiếng gà gáy. Tiếng gà gáy khuấy loãng bóng tối, khêu ban mai ửng hồng ngọn tre. Lành mở cánh cửa sổ để nắng sà vào hong mùi người ốm. Chị búi tóc cho mẹ chồng gọn gàng sau gáy, khăn ấm lau mặt, chân tay cho bà. Chị lẳng lặng thổi nguội và bón từng thìa cháo, thi thoảng lấy khăn mùi xoa chấm chấm cháo dây tèm lem miệng bà.
Lành chầm chậm đẩy chiếc xe lăn ra thềm buông rủ hương hoa cau, mẹ chồng ngồi nhỏ thó, đầu oặt sang một bên. Đàn chim sẻ tha nắng lích chích trên ngói nâu. Gió đếm sợi tóc bạc phất phơ hai mái đầu.








Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

CON CHÓ HUYỀN THOẠI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN số: 61 năm 1997




                                                Truyện ngắn của HỒNG CHIẾN

Trong một lần về thăm buôn Krông Pa dưới chân dãy núi Krông Á xanh ngắt, cao chọc trời, giống như một bức tường thiên nhiên phân định ranh giới của của ba tỉnh Đắk Lắk - Gia Lai - Phú Yên, tôi có dịp ngồi uống rượu cần bên bếp lửa nhà ông giáo già Y Đhăng.
Dãy nhà sàn dài gần trăm mét, trong đó gần một phần ba làm phòng khách, nơi sưởi ấm, tiếp khách và uống rươu; phần còn lại từng gian một được ngăn ra làm phòng ngủ cho các gia đình thuộc dòng họ bên vợ. Ông Y Đhăng có khuôn mặt thông minh, cương nghị, tuổi ngoài bảy mươi, cao, gầy. Ông cời đống than đỏ hừng hực đặt mấy miếng thịt khô, lật qua lật lại… mùi thơm tỏ ra ngào ngạt.
- Thịt bò à thầy? Tôi hỏi.
- Thịt heo của buôn chia phần đấy.
Ông nói giọng buồn buồn. Ma(1) Hen cán bộ Phòng giáo dục Huyện đi cùng tôi cười xòa vỗ vai Y Đhăng.
-         Đây là anh Vân Trang – nhà báo về huyện ta công tác, tiện đường đi nên ghé thăm anh.
      Ma Hen quay sang tôi:
- Anh biết không, thầy Y Đhăng thời thanh niên không chỉ là một thầy giáo dạy giỏi mà còn là tay võ sĩ cừ khôi của cả vùng này đó.      
- Thật  thế sao?
Như đoán đuợc suy nghĩ của tôi về người thầy giáo gầy gò ngồi trước mặt đã từng nổi tiếng, ama Hen nói:
- Trước đây, vào khoảng năm 1977-1978 trở về trước, cả vùng phía đông huyện này chỉ có rừng là rừng, đi mỏi chân mới thấy một buôn nằm lọt thỏm giữa rừng. Thú rừng nhiều vô kể. Ngoài hổ, báo, voi, gấu, bò rừng, min… thường kéo về theo một chu kỳ nhất định của vòng quay kiếm ăn; còn heo, nai, khỉ, dọc… thì cứ đàn này đi, đàn khác kéo về quấy phá thường xuyên. Cuối năm 1978 thầy Y Đhăng về phụ trách lao động trường nội trú huyện, thường dùng tài lẻ của mình kiếm thức ăn cho cả trường. Thời bao cấp kinh tế còn khó khăn, thực phẩm khan hiếm, vận động được các em học sinh rời buôn làng, xa ama, amí(2) đến trường học là cả một vấn đề nan giải. Nhưng thầy Y Đhăng đã làm được và làm tốt là nhờ một phần vào tài giỏi võ nữa đấy. Chuyện đi đón học sinh chiều chủ nhật, tay không đánh gục gấu ở dốc Cổng trời hay tiếng thét của thầy làm chúa sơn lâm phải cụp đuôi bỏ chạy ở đèo 519 đã trở thành truyền thuyết của vùng này. Nhưng chữ tài gần với chữ tai, chữ tai ấy lại giáng xuống đầu thầy vào đúng thời điểm bất ngờ nhất, khủng khiếp nhất.
Giọng ama Hen chợt chùng xuống, anh vít cần uống một hơi dài, rồi chuyển cần cho ông Y Đhăng:
- Để tôi kể tai nạn của thầy Y Đhăng cho anh nghe.
Thầy Y Đhăng không nói gì, đôi mắt buồn buồn nhìn chăm chăm vào đống lửa. Tiếng ama Hen rì rầm, rì rầm . . .

*     *
   *
Hôm ấy mấy thầy trò trường Dân tộc nội trú huyện tổ chức lao động phát cánh đồng sậy rộng chừng một héc ta sát ngay chân núi Krông Á. Đám sậy mọc khá tốt, cao lút đầu người, còn xanh um. Ở giữa đám sậy có con suối chảy qua, quanh năm nước màu riêu cua, váng vàng nổi lên từng đám lững lờ trôi theo dòng nước. Chính đây là nơi lí tưởng cho bầy heo rừng ẩn nấp trước khi về phá hoại hoa màu.
Rừng sậy tươi tốt che kín phía trên, song phía dưới heo đi lại thành đường dọc, ngang như những dãy địa đạo đan chéo vào nhau. Ở giữa đầm sậy, một gò đất rộng chừng chục mét vuông, là nơi nằm lí tưởng cho lũ heo tránh nắng. Đêm đến từ trong cánh đồng sậy, heo kéo đàn, kéo lũ ra phá phách hoa màu. Chúng phá mới khủng khiếp làm sao. Củ khoai mì mọc sâu trong lòng đất cũng bị chúng ủi lên như người ta đào. Rừng mía đến thời kì thu hoạch chúng cắn ngang cây nhằn đoạn gốc, tấp ngọn thành đống. Có con ác hơn dùng cái mũi cứng như thép của mình cày tung gốc lên để nhặt giun, sâu bọ.
Bọn chúng đi đến đâu, ở đó con người không còn gì để thu hoạch. Muốn xua đuổi chúng đâu có dễ; nếu không thấy người, chỉ đốt lửa xung quanh rẫy, chúng không sợ, cứ tự nhiên như về nhà mình, ngang nhiên bước qua vào rẫy kiếm ăn. Có người vác gậy ra đuổi, chúng lao lại đuổi luôn cả người. Loài heo thường đi theo đàn, mỗi đàn ít thì vài chục con, bầy đông khoảng trên một trăm con. Chúng đông đúc như vậy nên sức tàn phá thật khủng khiếp. Người ta rào rẫy, đặt bẫy vẫn không sao hạn chế được chúng vì trời phú cho họ nhà heo cái mũi quá thính, thính như mũi chó săn, nên có thể “ngửi” ra cạm bẫy mà tránh, ủi đổ rào mà đi.
Buôn Krông Pa nổi tiếng vì có đàn chó biết đuổi heo rừng, điều đó hiếm vô cùng. Ai cũng biết heo rừng sẵn sàng tấn công cả người thì chó thấm vào đâu! Ấy vậy mà bầy chó buôn Krông Pa lại rất dũng mãnh khi đuợc đưa đi săn heo rừng. Săn ở đây không phải là tự chó cắn chết được heo, vì da heo rừng dày lắm, chó cắn chỉ như gãi ngứa. Cách săn heo phải có biện pháp riêng. Đầu tiên người đi săn tìm đến gần nơi dự đoán có bầy heo đang nằm, xua cho chó xông vào gần bầy heo sủa inh ỏi. Heo tức lao ra đuổi chó, chó chạy lại chỗ người núp mang súng đợi sẵn. Có con heo khôn ngoan chỉ đuổi một đoạn rồi đứng lại, khi đó chó săn phải quay lại sủa, chọc tức cho heo đuổi theo. Luyện được con chó như vậy quý lắm, đắt lắm, nó đắt tiền hơn cả con trâu lớn.
Trong bầy chó săn có con Xám của thầy Y Đhăng là khôn nhất. Nó là con chó đầu đàn tinh quái vì trải qua nhiều trận đánh sinh tử nên dày dạn kinh nghiệm. Nhưng đạt được điều đó, con Xám cũng trả giá bằng mấy thẻ xương sườn. Thời con Xám mới hơn một tuổi đã nổi tiếng lì lợm, nó xông vào sát bầy heo, có khi chỉ cách hai mét mới sủa. Một lần bị con heo độc rượt theo, nó chạy ra nhưng không thấy heo chạy theo nên quay lại tìm. Không ngờ con heo ranh ma đút đít vào bụi cây đứng phục ngay bên đường, chờ con Xám chạy qua mới lao ra dùng nanh đâm một nhát vào bụng làm gãy ba xương sườn, lòi cả ruột. Con chó kêu lên thảm thiết. Lúc ấy thầy Y Đhăng vội lao đến hò hét cho heo bỏ chạy rồi ôm chó về băng bó, thuốc thang gần ba tháng sau mới lành.
*
**
Buổi đi lao động sáng hôm ấy rất đông học sinh tham gia vì không chỉ để có đất tăng gia, sản xuất, mà còn giúp dân bảo vệ hoa màu và đuổi lũ heo vào rừng sâu. Hai chục thầy cô và gần bốn trăm em học sinh tuổi từ mười bốn đến mười bảy dàn hàng ngang từ cuối đám sậy phát ngược suối lên phía chân núi cao. Từ sáng đến gần trưa phát được gần một nửa.
Thầy Y Đhăng bận họp nên nửa buổi mới vào thăm các em lao động. Đến bên đám lau sậy học sinh đang phát, con chó xám đi theo thầy Y Đhăng bỗng đứng bằng hai chân sau, hai chân trước khua khua trong không khí như con gấu đuổi ong mật rồi lao thẳng xuống mặt sình, nhãy chồm chồm qua đám lau sậy vừa bị chặt đổ. Thầy Y Đhăng vội kêu lên:
-         Thầy cô và các em lên triền đồi ngay, có heo rừng đấy.
Thầy cô giáo và học trò vội vã dừng phát cây kéo nhau lại chỗ thầy Y Đhăng đang đứng. Bỗng tiếng con chó xám cất tiếng sủa ông ổng từng tiếng một như đếm sau gào lên dữ dội hơn.
Mấy em học sinh lớn nhanh chân đạp lau sậy lên trước, còn cô bé H’Trang Bya học sinh lớp bảy từ chân đồi đối diện lội sình băng qua bên này với các bạn, mới vượt qua được một nửa đám sinh phát dở đã nghe tiếng chó sủa cuống quýt vừa chạy vài bước đã ngã dúi xuống sình. Thầy Y Đhăng vội cầm cây xà gạc(3) nhảy ngay xuống sình chạy lại phía H’Trang.
R…ầm r…ầm, đám sậy như có đàn trâu rừng đuổi nhau làm cây gãy vang lên, tiếng con xám im bặt, nhưng đám sậy rung lên bần bật như có trận gió lướt qua xuôi theo dòng suối về phía đám sình mới phát. Con xám nhảy thoăn thoắt trên đám sậy vừa phát, phía sau cách độ năm mét, một con heo rừng to đùng, dài bằng sải tay người lớn có hai chiếc răng nanh màu vàng dài như hai quả chuối bên mép, nhảy chồm chồm đuổi theo phía sau, vì sình lầy ngập đến bụng nên heo chạy không nhanh, nó chạy ra khỏi rừng sậy được năm mét đến gần H’Trang cũng đang cố chạy, nhưng hình như quýnh quá, cứ bước vài bước lại ngã.
Con heo nhìn thấy người liền bỏ con chó quay ngoắt sang phía H’Trang, lao đến như con trâu điên lồng trong bùn. Thầy Y Đhăng thét lên:
-         Huầy, huầy, huầy!
Trên bờ, thầy cô và học trò thi nhau hò hét, có mấy em còn nhanh tay vớ luôn nắp xoong nồi nấu nước gõ liên hồi mong con heo sợ bỏ đi. Mặc người hò hét, mặc tiếng gõ ầm ĩ của nắp xoong, con heo nhằm H’Trang lao đến. Cũng vừa lúc thầy Y Đhăng băng đến, nắm lấy tay H’Trang kéo mạnh về phía mình rồi đẩy ra phía sau vừa lúc con heo rừng lao xộc đến, đôi mắt trắng dã long lên. H’Trang sợ quá bò lồm cồm trên đám sậy mới phát, không đứng dậy được. Thầy Trần Hòa vội vã lao xuống bồng H’Trang lên tay chạy vội về phía chân đồi, nước bùn bắn tung tóe lên mặt, lên đầu.
Con heo nhắm thẳng thầy Y Đhăng lao đến, cái mõm dài ngoằng, cái đầu to như cái chậu lớn đen bóng, riêng cái lưng heo lông mọc dựng ngược lên dài gần gang tay trông rất dữ tợn. Chờ con heo lao đến gần đến nơi, thầy Y Đhăng vung cây xà gạc trên tay chặt một nhát thật mạnh vào trúng vai trước con heo làm rách một một miếng lớn lòi cả một khúc xương vai, rồi nhảy qua bên tránh cái mồm há to đầy răng nhọn của con heo xộc đến. Con heo hụt mồi, quay ngoắt lại làm nước bùn bắn tung tóe rồi nhằm thầy Y Đhăng lao lại. Con chó xám nhảy chồm chồm qua đám sậy mới phát lao lên đít con heo, cắn vào chiếc đuôi heo đang cong lên, giật mạnh. Con heo quay đầu định cắn con xám nhưng con xám đã nhanh nhẹn nhảy tránh qua bên rồi bỏ chạy. Không đuổi theo chó, con heo quay lại nhằm thầy Y Đhăng lao tới, thầy vung xà gạc chặt một nhát thật mạnh vào đầu con heo, nhưng do khoảng cách hơi xa, đám sậy dưới chân không chịu được sức nặng bất ngờ tụt xuống làm lỡ đà nên lưỡi dao chỉ phạt được một mảng da bên mõm lại trúng ngay chiếc răng nanh con heo làm xà gạc văng lên trời, tuột khỏi tay bay đi mất. Thầy ngã chúi xuối, hai tay chống xuống mặt sình; khi đứng lên được, bùn ngập đến ngang bụng vừa lúc con heo lao đến…
Trên bờ, nhiều tiếng thét hãi hùng vang lên, có em đã bật khóc quay lại ôm chặt lấy nhau không dám nhìn xuống sình; mấy thầy giáo vội vã vác xà gạc lao xuống tiếp sức, nhưng từ trên mép sình xuống đến chỗ con heo phải trên năm chục mét, làm sao kịp. Con heo mắt trợn ngược, chân trước còn lại đạp lên ngực, giơ chiếc mõm dài, hai bên chìa ra hai chiếc răng nanh to như quả chuối định cắm vào mặt thầy Y Đhăng. Thầy Y Đhăng lấy hết sức lực dồn vào đôi tay rắn chắc của mình bóp chặt hàm dưới đẩy mõm con heo lên. Con heo rừng muốn ghì chết kẻ thù của nó; còn con người vì sự sinh tồn cũng cố móc tay vào yết hầu đẩy mõm nó lên. Không biết thầy Y Đhăng cầm cự được thêm bao lâu, khi cánh tay tê dại dần, cái chết đã lơ lửng trên đầu. Đúng lúc đó con xám xuất hiện, nó cắn vào cán dao xà gạc kéo lại sát bên chủ, ngay dưới mõm con heo. Làm xong cái việc phi thường đó, nó lấy hết sức lao vào chiếc chân trước bị chém, nhằm miếng xương bả vai của con heo bị chém lúc nãy lòi ra gặm một miếng rõ to, giật mạnh. Con heo đau đớn hộc lên một tiếng, quay ngang táp vào chân con xám, Một tiếng rắc khô khan vang lên, con heo đã cắn đứt chân sau con xám. Thầy Y Đhăng cố hết sức cầm cây xà gạc con xám vừa kéo đến thọc thẳng lưỡi dao vào mồm con heo vừa há định cắn. Cây xà gạc xuyên vào mồm con heo, thọc xuống cổ họng cũng vừa lúc ấy mấy thầy giáo chạy xuống đến nơi tiếp ứng...
Thầy Y Đhăng được đưa vào bệnh viện điều trị gần ba tháng mới lành vết thương do chiếc chân trước còn lại của con heo khi giãy chết đạp lên ngực trược xuống gãy ba thẻ xương sườn và rạch một đường dài lòi cả ruột ra ngoài.
*
*       *
Ngày nay, ai có dịp đến thăm thầy Y Đhăng, đều thấy một con chó màu xám cụt một chân sau nằm cạnh cầu thang lên xuống đầu nhà sàn, dương đôi mắt thông minh, lanh lợi nhìn mọi người qua lại. Nó chính là con chó huyền thoại của buôn Krông Pa đã liều mình cứu chủ ngày nào.
Mùa khô năm 2007

Chú thích:
1.     Ama: ba – tiếng Êđê;
2.     Ama, ami: ba, má - tiếng Êđê;
3.     Xà gạc: dao phát rẫy của người Êđê.





Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN


 Nhà văn NGUYỄN VĂN THIỆN


CHÔN CẤT BÓNG MÌNH

Truyện ngắn

  
Trưa nay, lũ ve lại làm phiền giấc ngủ trưa của lão già trên núi Chư Mang. Chúng trốn biệt dưới lòng suối Kroa từ cuối mùa khô năm ngoái, bây giờ tỉnh giấc, rền rĩ bài ca gọi mưa gọi gió. Cây phượng già vẫn còn đèo bòng lũ quả xù xì của mùa yêu thương năm cũ, chưa thể nguôi quên, nhưng lá thì đã phai bớt màu xanh ao ước. Hơi nước ở đâu xa lắm, thỉnh thoảng lại theo cánh bướm tràn qua, nhấp nha nhấp nhổm đánh thức mùa gieo hạt mới. Lão già ở núi mũi rất thính, có thể ngửi thấy mùi hơi nước trong mùi bướm thơm quãng ba bốn ngày đường. Và là không thôi lẩm bẩm một mình, lão nói với lão, lão tự nói cho mình nghe, quen rồi…
Năm nay, ta sẽ gieo một loài cây mới, không phải cây rộp rộp lắt léo dối gian của mùa mưa năm trước. Có lẽ, quả sẽ rất dài và rất xa...
Ta hì hục cuốc cày phơi đất đợi mưa. Trong câu chuyện kể về thảo nguyên, vẫn còn nghe tiếng cuốc đào như điên dại suốt đêm dài. Mỗi khi mệt, lão già thường ngồi nghỉ nơi đầu bến nước, dù bến nước đã cạn rồi, thì vẫn còn hi vọng mùa sau, chứ sao nữa? Có gì đáng quý trong cuộc đời này hơn niềm hi vọng, nếu không còn hi vọng, bạn sống để làm gì?
Lũ bướm ghé qua rủ rê mời mọc, ta lắc đầu cả quyết không đi.
Lũ linh miêu cười mê hoặc bỏ bùa lôi kéo, ta lắc đầu từ chối không đi.
Ta ở đây, chờ gieo hạt mùa sau.
Lão nói thế.
Lão già lại tiếp tục công việc của mình, bằng cách đào xới những yêu thương năm cũ, rồi lúi húi gieo trồng, lòng đầy ảo tưởng si mê. Nhưng mà cơn mưa đang nấn ná ở đâu xa lắm, nhưng mà trời vẫn xanh như mắt bọn mù màu. Lão hỏi gã voi đủng đỉnh đi qua, này, nghe bảo tình yêu không cần tính toán hơn thua phải không? Gã voi đực cười rung rung đôi tai rồi chậm rãi bước đi giữa bụi đỏ bazan mờ mịt.
Càng cuối mùa khô, lũ chim ktia mệt mỏi trốn trong vòm là, thỉnh thoảng ló đầu ra chảnh chọe với lão già: Này, lão già kia, đào mộ chôn ai đó?
Đèo mẹ, ta đang chôn một bóng hình ảo ảnh, thế mà sao bọn ktia lắm chuyện lại biết được nhỉ? Nghĩ thế, nhưng lão trả lời theo kiểu bâng quơ ất ơ: “Ờ, ta chôn, nhưng đôi lúc chôn nhầm!”.
Trong khi miệt mài cuốc xới, thì hiển nhiên hố thẳm hiện ra, ngay dưới chân. Không tìm được bóng hình nào để an táng, trưa nay, lão già ở núi Chư Mang phải chôn chính mình.
Lão nói, ta chôn ai mà như thể chôn mình?
Đầu tiên, ta chôn hai cánh tay. Những cánh tay mệt mỏi mấy mùa rồi, nay muốn yên nghỉ, muốn duỗi ra, buông hết thảy mây trời, buông hết thảy tin yêu. Rồi tiếp đến, ta chôn chân mình. Những bàn chân mệt mỏi, gai cào tứa máu, từng bao nhiêu sình lầy, bao nhiêu mê lộ trần ai. Bây giờ, nằm xuống ở đây. Chôn hết chân tay mà mưa vẫn chưa về, lũ ve kêu như giã gạo, hoa pơlang thắp lửa đầu ngọn suối khô.
Đợi đấy, ta chôn luôn đầu mình nốt thể. Ta nâng niu thủ cấp trước khi chôn, có vuốt mắt hẳn hoi và thầm thì lời vĩnh biệt: “Ngủ ngon nhé…”. Thôi thì đành giã biệt những cơn đau rễ chùm rễ cọc mọc trong đầu, thôi thì đành nguôi quên những giấc mơ màu xanh màu đỏ, quên luôn những hứa hẹn hão huyền xa xôi ảo tưởng máu và hoa. Đã có ai tiễn biệt chính cái đầu thân thuộc của mình chưa? Sao mà trưa nay bướm lượn đầy trời, vần vũ như ngày sinh biệt tử ly cờ phướn hoa cài đi về cõi khác!
Bây giờ ta mới chôn trái tim tím bầm đầy sẹo, còn phập phồng ngổn ngang ký ức ngược xuôi. Chôn luôn cả những hồng cầu chưa kịp chuyển đi như đã hẹn thuở nào, chôn nốt vết thương nham nhở đúng quy trình rỉ máu, cho kịp chiều nay, cho kịp đêm nay. Ta chôn tim ta cùng với những tảng đá bên suối Kroa, rồi thản nhiên đứng đợi mưa về.
Còn tấm thân này mỏi mệt dọc ngang vết nứt dở dang đứt đoạn, thôi thì chôn luôn một thể. Cuối mùa khô rồi, đất bụi mù trời. Tấm thân này lầm bụi từ lúc mẹ sinh ra, rồi nứt nẻ rồi cong vênh rồi thất tha thất thểu. Ai biết được, mình còn đủ sức cõng thân mình đi cho đến lúc nào. Sẵn có hố sâu, chi bằng lấp đất, rồi ngồi đây, bên ngôi mộ đơn sơ, mà đợi nắng phủ mưa chan.
Lão vừa làm vừa nói vừa len lén chùi nước mắt!
Phía bên kia núi Chư Mang, bọn ong rừng đã rủ nhau di chuyển theo mùi phấn hoa, mùi mật ngọt. Lão vẫn ngồi đấy, chờ nước mát từ trời cao tưới xuống, để mà hi vọng, để mà ước ao.
Biết đâu đấy, từ nấm mồ đơn sơ chôn vội chôn vàng, lại mọc lên một niềm yêu thương mới, lá xanh như cổ tích nguyên sơ, rồi trổ hoa thắm thiết thơm ngát hương quãng ba đến bảy ngày đường. Biết đâu đấy, rồi quả ngọt trĩu cành, căng mọng tin yêu.
Biết đâu đấy, lão già dưới chân núi Chư Mang, mùa mưa rồi sẽ đến.
Ta ngồi bên ngôi mộ không bia, và đợi chờ, như thuở bắt đầu yêu – Lão nói như người mộng du đang hát, rồi ngửa cổ nhìn lên trời cao ngửi thử mùi hơi nước. Cơn mưa đang còn ở đâu xa lắm, chưa về.



Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả THU HƯƠNG




MỘT KỶ NIỆM VỚI ĐẢO AN BANG


An Bang là hòn đảo cuối cùng trong chuyến hành trình về với mùa xuân Trường Sa của chúng tôi. Từ tàu nhìn vào, đảo An Bang đẹp như một lâu đài cổ tích. Buổi sáng, khi được biết tất cả các phóng viên được vào đảo, chúng tôi đã rất vui mừng, vì trong tâm khảm của mỗi người, đây là hòn đảo mà ai cũng mong muốn được đặt chân đến, được chinh phục.
Vì sao hòn đảo này lại gây niềm tò mò và khao khát chinh phục của mọi người đến vậy. Thứ nhất, trong chuyến hành trình đi 7 đảo với 13 điểm đảo của tuyến phía Nam là: Đá Lát, Trường Sa, Đá Tây, Đá Đông, Trường Sa Đông, Thuyền Chài và An Bang thì có thể nói đảo An Bang được mọi người nhắc đến nhiều nhất, đó là sự khó khăn khi vào hòn đảo này. Trưởng đoàn công tác: Đại tá Phan Ngọc Quang, Phó Chính ủy Lữ đoàn 146 cũng nói với chúng tôi rằng: “Đảo nào cũng có thể vào được nhưng với An Bang thì tùy tình hình thời tiết mà phóng viên có thể vào được, có thể không”. Chị Nguyễn Thị Thu Hương, Chủ nhiệm Câu lạc bộ “Vì biển đảo quê hương” cho biết, “Mình đã 5 lần đi Trường Sa, và hòn đảo nào cũng đã được đặt chân đến, chỉ có hòn đảo này là chưa được chinh phục”.
Buổi tối trước khi vào đảo, đoàn công tác thông báo chỉ có 1 phần 3 số phóng viên được đi vào đảo do thời tiết không thuận lợi. Một thông tin làm buồn lòng tất cả các phóng viên và chắc chắn ai cũng muốn mình được đi vào đảo và hình như không ai chịu nhường ai. Chúng tôi đã có một buổi tối thật đặc biệt. Các phóng viên đã có những cuộc gặp gỡ hành lang để thương lượng. Một số phóng viên thì đã có một đêm khó quên khi tổ chức liên hoan chia tay với các cán bộ, chiến sỹ vào đảo An Bang công tác vì nghĩ rằng ngày mai sẽ không được vào đảo. Còn 4 chị em của phòng B11 chúng tôi thì chỉ có một câu trả lời duy nhất: cả 4 chị em sẽ vào đảo.
Sự hồi hộp đã làm cho giấc ngủ của chúng tôi có phần chập chờn. 5 giờ sáng, phòng B11 của chúng tôi hầu như đã dậy để chuẩn bị cho chuyến đi đặc biệt của mình. Và, tất nhiên, trong lòng hồi hộp vì không biết quyết định của trưởng đoàn sẽ thế nào.
Sau tiếng loa báo thức, thì có một thông báo đặc biệt của trưởng đoàn: Do thời tiết đẹp, tất cả các phóng viên gồm 39 đồng chí sẽ được vào đảo. Khó có thể nói hết niềm vui của chúng tôi, chúng tôi vỡ òa, cùng ôm nhau nhảy vì vui sướng.
Vẫn là sự hồi hộp vì không ai là không được nghe câu: “Ruồi vàng, bọ chó, sóng gió An Bang”. Những câu chuyện về việc hỏng máy móc khi bị sóng biển tạt vào làm cho chúng tôi cẩn thận hơn trong việc bảo quản đồ đạc và dụng cụ tác nghiệp. Tuy vậy, đây cũng là cơ hội để một số đồng nghiệp tác nghiệp ngay trên xuồng. Tôi thầm cảm phục các bạn đồng nghiệp của cơ quan thông tấn xã và một số đài đồng nghiệp khi quay phim và dẫn hiện trường ngay trên xuồng đi vào đảo.
Nhìn thấy đảo từ xa nhưng chúng tôi phải vượt qua nhiều con sóng lớn. Ngồi trên xuồng chuyển tải, chúng tôi phải tuân theo nghiêm ngặt mệnh lệnh của Trưởng đoàn và các quy định của đội lái xuồng, không ai được đứng lên và phải ngồi đều để tránh làm mất thăng bằng của xuồng. Từ trên xuồng, chúng tôi đã thấy rất nhiều cán bộ, chiến sỹ trên đảo đứng đón đoàn công tác. Trưởng đoàn cho biết: “Do đặc thù sóng gió nơi đây nên đảo này có một đội đặc nhiệm để giúp cho những đoàn công tác có thể lên đảo an toàn.”
Và, khi xuống gần tới mép đảo thì đội đặc nhiệm gần 20 người chạy lao ra và nhanh thoăn thoắt lựa thế sóng kéo xuồng vào đảo an toàn. Đội đặc nhiệm đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm của các phóng viên báo đài, còn các phóng viên chỉ cần quay ghi hình hay chụp lại những gì đang diễn ra trước mắt mà thôi.
Khách và chủ nhanh chóng thân quen nhờ màn gặp gỡ và đón chào đặc biệt ấy. Thiếu tá Phạm Văn Thạo, Phó chỉ huy trưởng đảo, người trực tiếp chỉ huy đội “đặc nhiệm” chuyên ghìm sóng, đưa đón những chuyến tàu bình an khi vào đảo An Bang cười rạng rỡ nói: “May quá, hôm nay là ngày biển đẹp nhất trong hai tháng gần đây…”. Giải đáp sự quan tâm của các phóng viên về đội đặc nhiệm, thiếu tá Thạo cho biết: “đội đặc nhiệm là cái tên gọi yêu quý của mọi người dành cho anh em của đội đón xuồng, còn thực chất mỗi người trong đội đều có những công việc cụ thể khác nhau, ở nhiều bộ phận khác nhau”.
Còn chưa hết mệt sau mấy lần kéo xuồng, Thiếu úy Nguyễn Duy Luân, quê Tân Kỳ, Nghệ An cho biết: “Ở trong đội đặc nhiệm này, người đến trước lại hướng dẫn cho người đến sau để cùng phối hợp nhịp nhàng, giúp các xuồng cập đảo cũng như rời đảo an toàn”. Còn Trung sỹ Văn Thành Thuận thì cho biết: “Nhiệm vụ của đội kéo xuồng thì cũng có chút vất vả nhưng hầu như ai cũng thích vì được đón các đoàn vào thăm đảo. Khi đón xuồng thì anh em luôn tập trung cao, làm hết sức mình”. Nói về đội đặc nhiệm đảo An Bang, Đại úy, Chính trị viên Vũ Quang Minh cho biết thêm: “Do đảo nằm trên thềm san hô dựng đứng, ra vào khó khăn nên quân nhân mới, cũ đều được giáo dục, huấn luyện mọi mặt, nhất là kỹ năng hoạt động trên biển. Với đội đặc nhiệm, nhiệm vụ càng nặng nề hơn. Các chiến sĩ được huấn luyện thuần thục và tinh nhuệ kỹ năng đi xuồng, bắt dây, kéo xuồng lên đảo, phòng tránh rủi ro, va chạm... Chỉ huy đảo duy trì thường xuyên việc huấn luyện thực tế trên biển với yêu cầu cao đội công tác đặc biệt này, trên tinh thần sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, không nề hà gian khó. Điều chung nhất ở họ ngoài kỹ năng bơi lội, kinh nghiệm đón sóng, nhìn con nước… thì đó chính là lòng dũng cảm, sẵn sàng đối đầu với hiểm nguy.
Có lẽ cũng cần nói thêm về hòn đảo đặc biệt này: An Bang nằm cách đảo Trường Sa 75 hải lý về phía Đông Nam, cách đảo Thuyền Chài hơn 20 hải lý về phía Tây Nam. Đảo nằm dài theo hướng Bắc-Nam, với diện tích nổi và thềm san hô khoảng 2,1 km2. Vùng biển An Bang là khu vực có nhiều con sóng to. Đảo có diện tích hẹp, rìa đảo là vực sâu hun hút. Những con sóng tạo thành một gọng kìm bao vây dồn dập đập vào đảo. Đảo An Bang nằm trên thềm san hô ngập nước. Khi thủy triều xuống thấp, độ cao của đảo khoảng 3m, mép bờ đảo xa thêm khoảng 50m. Đảo do các tảng đá san hô liên kết với nhau tạo nên. Bờ đảo được bao bọc bởi các tảng đá san hô lớn. Bờ Tây là một dải cát hẹp; còn bờ Nam của đảo là bãi cát thường thay đổi theo mùa: từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, được bồi thêm cát thành một bãi cát dài; nhưng từ tháng 8 trở đi, bãi cát này dần dần dịch sang bờ phía Đông của đảo. Do cấu trúc san hô dựng đứng, An Bang như cây nấm khổng lồ vươn lên từ đại dương bốn mùa sóng vỗ, việc ra vào đảo gặp rất nhiều khó khăn nguy hiểm.
Chúng tôi được lên đảo và được biết nhiều điều hơn về đảo An Bang, về cuộc sống sinh hoạt cũng như nhiệm vụ chính trị của cán bộ và chiến sỹ trên đảo. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất về hòn đảo này là những con sóng và những người lựa sóng để những chiếc xuồng cập đảo trong niềm vui và hạnh phúc. Và riêng tôi, dâng lên một niềm hạnh phúc pha lẫn tự hào khi lần đầu tiên đến với quần đảo Trường Sa nhưng đã đến được với An Bang, một điểm đến khó trong những hòn đảo ở quần đảo Trường Sa.



















Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

ĐOẠN KẾT trích chương XI truyện dài BÍ MẬT RỪNG THIÊNG của HỒNG CHIẾN


Khi những trang viết này đến tay bạn, khu rừng thiêng đã được bảo vệ nghiêm ngặt rồi. Thú rừng sinh sôi nảy nở nhiều hơn, cây cối tươi tốt hơn và con người cũng ít bị lạc hơn. Các bạn biết vì sao không? Cánh rừng nguyên sinh rộng mênh mông ấy đã được qui hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên. Nhiều đoàn khoa học trong nước và quốc tế đến nghiên cứu động thực vật đều hết sức ngạc nhiên xen lẫn thích thú về sự đa dạng sinh thái ở đây. Song có lẽ người vui nhất phải là H’Chi, cô học trò nhỏ tận tình kể lại câu chuyện vào rừng thiêng cho đoàn nghiên cứu khoa học, nhân dịp đoàn vào rừng đi tìm bò xám. Sau ba tháng lặn lội trong khu rừng mênh mông ấy, tuy không tìm được bò xám – loại động vật quí hiếm hình như đã tuyệt chủng; nhưng bù lại, đoàn khảo sát thu được đầy đủ tài liệu, các luận cứ khoa học để đề nghị thành lập khu bảo tồn thiên nhiên nơi đây.
          Với ưu thế gần đường quốc lộ, địa hình bằng phẳng, chắc chắn một ngày không xa khu bảo tồn thiên nhiên này sẽ là nơi tổ chức các tua du lịch sinh thái, giúp các bạn làm quen với cảnh quan tuyệt đẹp nơi đây và thăm cả bầy voọc thông minh, có nghĩa, đã giúp H’Chi thoát nạn ngày nào.
          Đến đây, chắc chắn các bạn sẽ bằng lòng với sự lựa chọn của mình khi vào thăm và khám phá những bí mật trong khu rừng thiêng – khu bảo tồn thiên nhiên đặc biệt này.



Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

THỬ THÁCH trích CHƯƠNG X truyện dài BÍ MẬT RỪNG THIÊNG của HỒNG CHIẾN (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc - 2012)



         
            Mặt đất dày đặc vết heo ủi, hiện ra sau những gốc cây, thỉnh thoảng ngọn gió chạy qua vén lá cây để lộ một vài mảng trời xanh cao vời vợi, không một gợn mây. Tiếng các loài chim rủ nhau đi ăn ồn ả làm cả không gian đầy ắp niềm vui. Rừng cây thưa dần, các con voọc quăng mình từ cành cây này sang cành cây khác như bay lượn qua những mảnh trời nhỏ nhoi hiện lên sau những khoảng lá. Thoảng trong không khí như có mùi thơm của hương đồng nội, H’Chi mừng thầm, có lẽ sắp ra khỏi rừng rồi.
          -Phập!
          Tiếng kêu vang lên cùng lúc với chiếc chân trái như có ai đó cầm lấy, giật ngược ra phía sau, đau nhói. Nhìn xuống chân, H’Chi giật mình khi thấy chiếc bẫy sắt có những chiếc răng như răng của cá mập ngoạm trọn gót dày phía dưới mắt cá một tí.
          Tháng trước cùng amí đi hái thuốc, H’Chi gặp hai ba con người dân tộc phía Bắc mang một xâu bẫy loại này đi bắt thú. Ông ta khoe mua tận bên Trung Quốc mang về đánh “dính” lắm. Thấy H’Chi tò mò nhìn, người con trai lấy một cái, hướng dẫn cách mở, đặt bẫy. Chiếc bẫy bình thường giống như hai nửa đường tròn gập lại làm bằng sắt dày, phía ngoài bằng phẳng, phía trong có một  hàm răng nhọn như răng cưa cá mập. Khi gài bẫy phải chặt một cây gỗ to bằng trên một gang tay người lớn dài hai sải, cột đầu xích sắt vào cây còn đầu kia nối vào chiếc bẫy. Sợi xích lằm bằng sắt to như ngón tay người, uốn hình tròn móc vào nhau.
-         Cậu biết vì sao lại phải cột xích vào giữa đoạn cây gỗ mà không cột vào gốc cây không?
          Đứa con trai người thợ săn chắc cùng tuổi với H’Chi ra vẻ đàn anh hất hàm hỏi, rồi không đợi trả lời nói tiếp:
-         Bất kì con gì dính vào bẫy dù đó là heo, nai hay gấu, báo, cọp... đi nữa sẽ ra sức giật. Những chiếc răng nhọn này sẽ cắm sâu vào tận xương chân con thú mắc phải. Nếu cột vào gốc cây bên cạnh, con thú có thể giật đứt chân chạy thoát. Còn với chiếc cây bị đốn nó chỉ còn cách kéo lê trên mặt đất, cây gỗ nặng kéo theo sẽ làm nó mệt, chưa kể nếu vướng vào gốc cây sẽ nặng thêm lên gấp nhiều lần trước khi trượt ra, lăn đi. Khi đến thăm bẫy cứ theo vết cây gỗ bị kéo lê trên mặt đất, chắc chắn sẽ bắt được thú.
          Nó cười tít mắt lại, thao tác thử cách đặt bẫy mồm liến thoắng: Vẹt lá cây trên con đường có dấu chân thú thường đi qua, đặt bẫy xuống, một chân đè nữa kia xuống thành một vòng tròn, mặt có răng nhọn vào trọng, ở giữa vòng tròn có một miếng sắt to gần bằng vòng tròn, giống như chiếc đĩa.
            - Cậu biết cái này làm gì không, bộ phận quan trọng nhất đấy. Con thú dẫm lên chiếc đĩa sắt làm chốt khóa mở ra, hai nửa đường tròn bật ngược lên ngoạm vào chân con vật, vòng sắt nhỏ hình elíp này giữ cho con thú không thể tách hai nửa vòng tròn ra được. Chỉ con người mới biết đẩy nhẹ nó xuống, rút chân ra.
- Này, mình nói thật nhé, đi đánh bẫy như thế này là phạm luật đấy, cô giáo mình dạy thế!
 Nghe H’Chi nói vậy, người bạn mới quen ngồi lặng im một lúc rồi bỏ đi chư chạy, khuất hẳn vào rừng.
          Giờ nhớ lại cách làm của người bạn hướng dẫn hôm trước vô tình gặp, H’Chi đặt gùi xuống, dùng cán dao gạt chốt, hai tay cố hết sức kéo hai nửa vòng tròn, rút bàn chân rớm máu ra ngoài. Nước mắt, mồ hôi chảy thành dòng. Tức quá đi mất, tại sao có kẻ dám vào rừng thiêng đặt bẫy hại người thế này không biết. Đắp thuốc cầm máu xong H’Chi ngồi bệt xuống đất, hai bàn tay xoa xoa phía trên mấy cái lỗ do răng bẫy cắm vào. Đau quá!
Bầy voọc thấy H’Chi mắc bẫy bổng nhiên dừng lại đứng im trên các cành cây cúi đầu nhìn, không con nào dám chạy nhảy nữa. Chắc lũ chúng cũng biết được sự đau đớn H’Chi đang mắc phải. Con voọc được cứu khi đêm tụt khỏi cây; mắt nhìn H’Chi, rón rén bò từng bước một lại gần, giơ bàn tay xoa xoa vào chân đau. H’Chi cảm động, đặt tay lên đầu nó
-         Chị không sao đâu, đau chút xíu sẽ khỏi thôi. Em đi đi, đi kiếm ăn không bị đói đấy!
          Con voọc gương cặp mắt tròn xoe nhìn vị ân nhân của mình, như muốn chia sẻ nỗi đau.
-         Đi kiếm ăn chứ cứ theo chị thế này chết đói cả đàn.
          H’Chi nói với bầy voọc, song chúng vẫn lặng im nhìn, không chịu nhúc nhích. Ngồi một lúc đỡ đau, vết thương không chảy máu nữa, H’Chi đứng dậy tháo dây thép buộc bẫy vào cây ném ra xa. Con voọc đứng cạnh nhìn thấy tay H’Chi cầm bẫy vung lên, nó kêu thét, bỏ chạy lại gốc cây leo tuốt lên ngọn. Mấy con voọc nhìn thấy chiếc bẩy kéo sợi xích bay qua thích quá giơ tay chộp lấy, xúm lại xem; con nào cũng cố rờ, giật, có con còn nghịch ngợm quấn sợi xích quanh cổ. Bỏ mặc bầy voọc đang xúm xít tranh giành nhau xem bẫy, H’Chi lặng lẽ đi tiếp. Giờ đây không cần xác định hướng gió nữa, ông mặt trời đã thức dậy, thỉnh thoảng ban phát những tia ánh sáng yếu ớt xuyên qua lá rừng xuống mặt đất. Cây cối thưa hơn và bỗng như có phép lạ, trước mắt H’Chi bầu trời xanh thăm thẳm, cao lồng lộng hiện ra; ánh vàng êm ả trãi lên đồi cỏ gianh trước mặt. Xa xa ngọn núi Cô Đơn sừng sững đứng soi mình bên dòng sông Krông Năng cạnh buôn Cư Mga. Cảm ơn Yang cho bình minh đến đón, báo hiệu một ngày mới tốt lành đã đến. H’Chi thầm reo lên, muốn giang tay ôm lấy cả bầu trời lồng lộng gió, ôm cả cánh rừng vào lòng trước khi chia tay về nhà. Thế ra hôm qua mình ngủ cũng gần bìa rừng. Giá như đi thêm một đoạn nữa có thể về nhà được rồi, đâu phải qua đêm trong khu rừng kì bí ấy nữa. Mừng quá quên luôn chiếc chân đau H’Chi đi theo con đường mòn nhằm hướng núi Cô Đơn bước tiếp. Một giờ nữa là về đến nhà rôi.
          -Phựt!
          Tiếng kêu như tiếng bật lẫy nỏ, H’Chi chưa hiểu điều gì xảy ra, chân phải bị thắt chặt, giật ngược treo lên trời, cây xà gạc văng ra xa, cả gùi thuốc đổ úp xuống mặt đất. Chiếc yên mặc che chân giờ quay lại che đầu, chiếc gùi tụt khỏi vai, hai tay chạm đất. Thôi chết, mình lại mắc bẫy nữa rồi - H’Chi thầm kêu lên. Loại bẫy này làm bằng sợi dây cây móc rừng, bền lắm. Trước đây mọi người vẫn vào rừng chặt chây móc lấy sợi trong thân nó to bằng sợi chỉ, đen bóng như sợi tóc kết lại với nhau to bằng ngón tay dài độ hai ba sải tay làm dây bẫy. Người đi gài bẫy tìm chỗ nào có nhiều thú hay qua lại, chọn một cây bên đường to bằng cổ chân người lớn, chặt hết cành buộc sợi dây móc vào đầu cây kéo xuống gài bên lối đi. Con thú vô tình đi qua vướng vào bẩy sẽ bị cây bật lên treo một chân lơ lửng trên trời, giống như con cá mắc câu, không thể nào thoát được. Mấy mùa rẫy gần đây cán bộ họp dân, phổ biến chính sách của Nhà nước cấm săn bắt thú rừng. Người trong buôn nghe lời Đảng, đốt bỏ bẫy cam kết không đi săn nữa. Vậy mà vẫn có người lén vào rừng bẫy trộm thế này ư?
          Chiếc bẫy quái ác, hễ H’Chi muốn co người với tay mở vòng dây mắc ở chân, cái cây như chiếc cần câu, lắc lư, giật lên giật xuống, đập lưng H Chi xuống đất, buộc phải chống tay xuống mặt đất, nó lại kéo ngược chân lên, giộng đầu xuống đất. May không có ai thấy chứ mắc cỡ chết mất; cái yeng không chịu che chân nữa, quay lại phủ kín cả đầu.
          Đang lúc không biết phải làm gì để thoát khỏi chiếc bẫy treo, bầy voọc ở đâu kéo đến hò hét in ỏi. Có lẽ bọn chúng tò mò nhìn H’Chi bị treo lơ lửng giữa trời. Con voọc bị thương được cứu lò dò chạy lại cầm tay H’Chi giật, giật. Chiếc yeng vướng quá, không thấy được gì, buộc lòng phải cởi cho nó rơi qua đầu xuống đất.
-         Em ngồi lên cây kia đi!
H’Chi chỉ chiếc cây làm cần bẫy, con voọc vội trèo lên cây, cố sức cắn sợi dây bẫy. Máu mồm chảy thành dòng mà sợi dây vẫn trơ ra. Nó gào lên the thé, cả bầy nồi đuôi nhau nhảy xuống, hàng chục con tranh nhau bám vào dây, ghé răng cắn; nhiều con không còn chỗ bám dây để cắn, leo lên ngồi vắt vẻo trên cành cây làm bẫy. Nhờ sức nặng của bầy voọc, cây cần bẫy cong xuống chạm đất, H Chi gỡ được dây đứng dậy từ từ thả dây cho cây đứng lên. Bầy voọc xúm quanh H’Chi, con nhe răng như cười, con nhảy lò cò xung quanh, có con sờ vào chân. H’Chi giật mình vội tìm yên mặc vào mặt đỏ bầm, ngồi bệt xuống mặt đất bật khóc. Đi suốt cả ngày lẫn đêm giữa rừng thiêng gặp bao loài thú dữ không con nào gây khó dễ cho mình, thế mà về gần đến nhà lại bị chính con người làm cho khốn đốn, đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Bầy voọc ngơ ngác vây quanh, không biết làm gì, trố mắt nhìn. H’Chi vừa khóc vừa đứng dậy nhặt các loại cây thuốc bị rơi vãi bỏ vào gùi. Bầy voọc giúp H’Chi tranh nhau nhặt lá, cành khô ném vào gùi.
-         Ôi, làm gì thế này? H’Chi kêu lên: chị nhặt cây thuốc chứ có nhặt lá khô đâu!
          Thấy H’Chi kêu, giơ tay xua xua, bầy voọc sợ, kêu chí choé, tranh nhau chạy, nhảy lên cây ngồi ngó xuống. Tức cái cây bẫy mình, H’Chi vác xà gạc chặt gãy đôi trước khi xách gùi tạm biệt bầy voọc đi về. Bầy voọc không dám xuống đồi cỏ tranh, đứng trên cây hú mãi, hú mãi cho đến khi H’Chi hình bóng nhỏ dần rồi khuất sau đồi Cô Đơn mới rủ nhau quay vào rừng thiêng.