Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

NGHỆ THUẬT, SO SÁNH, ĐỐI LẬP, TƯƠNG PHẢN TRONG “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN, SỐ: 307- tháng 3 năm 2018




Nguyễn Tuân (1910 – 1987) đã về với cõi người tài hoa ngót nghét một  phần ba thế kỷ rồi, vậy mà bóng dáng của ông vẫn cứ lừng lững ôm trùm cả một khoảng rộng dài mênh mông trên con đường văn chương hiện đại Việt Nam. Cái khoảng trống ấy đến nay dường như chưa thấy ai có thể thay thế được. Có lẽ nó vang bóng mọi thời chứ không chỉ “vang bóng một thời” như tựa đề tập truyện của ông đã đặt.
 Nhiều người cho rằng “Chữ người tử tù” là một tác phẩm: gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ (Vũ Ngọc Phan); là trong sáng lạ thường (Trương Chính); là nghệ thuật văn xuôi điêu luyện (Nguyễn Đăng Mạnh); là truyện ngắn “cổ điển” trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (Văn Tâm); là đạt đến trình độ nghệ thuật bậc thầy (Hà Bình Trị); là làm thơ trong văn xuôi (Ngô Ngọc Phú)... “Chữ người tử tù” không dài, chỉ trên dưới sáu trang sách giáo khoa khổ 17x24cm, thế nhưng người đọc “đào xới” mãi vẫn ẩn tàng nhiều điều cần nói, cần bàn và cần học. Thế mới hay rằng cái giá trị của chữ nghĩa khi được một người chân tài sử dụng thì năng lượng của nó dường như bất tận, không giới hạn. Một trong những nét giá trị làm nên văn phẩm nổi tiếng này là nghệ thuật so sánh, đối lập, tương phản đến lạ kỳ nếu không muốn nói tới sự đạt gần đến độ tận cùng của nó.
Cặp nhân vật Huấn Cao – viên quan coi ngục là cặp nhân vật (hình tượng) chứa đựng chứa quan điểm thẩm mỹ sâu sắc nhất của tác giả. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân dùng danh từ chung gọi viên quan ngục mà không dùng danh từ riêng như dùng để đặt tên nhân vật Huấn Cao. Ngay cách đặt tên nhân vật, người đọc đã thấy sự so sánh, đối lập, tương phản. Một bên là danh từ riêng bên kia là danh từ chung. Một đằng viết hoa còn đằng kia viết thường. Tâm ý của tác giả đã rõ: một trân trọng, nâng niu một tầm thường, giải đãi. Chỉ một cách dùng từ loại thôi, đơn giản thế mà sao sâu sắc thế. Chỉ là cách đặt tên cho nhân vật đã lóe lên dụng ý nghệ thuật, đã khiến người đọc phải nghĩ suy, đã bắt quan điểm, tư tưởng, nhận thức của bất cứ người đọc nào cũng phải dứt khoát lựa chọn hoặc ngợi ca hoặc coi thường, tôn vinh hoặc khinh bỉ, trân quý hoặc rẻ rúng. Cái tài ở chỗ đó, nghệ thuật viết văn ở chỗ đó, người đọc học được cũng ở đó mà ra.
Ta thấy, số lượng từ chữ miêu tả, kể trực tiếp về hình tượng Huấn Cao rất ít. Còn về nhân vật viên quan coi ngục thì gấp nhiều lần. Đây lại là một thủ pháp so sánh, đối lập nếu người đọc vội vàng, sơ ý rất dễ bỏ qua. Không phải ngẫu nhiên như vậy. Hình tượng Huấn Cao chủ yếu hiện lên sáng chói khí phách, tài hoa, lẫm liệt là do từ lời nói của chính viên quan coi ngục và nhân vật thầy thơ lại. Thông thường, người viết sẽ dựng nhân vật một cách trực tiếp để người đọc hình dung ra dáng hình, tính cách, lời nói, hành động... nhưng ở đây Nguyễn Tuân không làm thế mà ngược lại ông cho nhân vật này chồng lấn, ẩn và thoát lên từ nhân vật kia. Có lẽ thế mà người đọc mới cảm thấy sửng sốt, kinh ngạc về hình tượng Huấn Cao lồng lộng sáng ở phần cuối tác phẩm. Thủ pháp này nhà phê bình Kim Thánh Thán gọi là “vẽ mây nẩy trăng”. Và chợt nhớ ra rằng trong tác phẩm “Những trò lố hay Va-ren và Phan Bội Châu”, Nguyễn Ái Quốc cũng dùng thủ pháp nghệ thuật này điêu luyện, khéo léo vô cùng. Từ đầu đến cuối truyện, Phan Bội Châu dường như chỉ im lặng, chẳng nói gì, chỉ có nhân vật Va-ren nói và nói liên tục, liên hồi, không ngớt từ đầu đến cuối. Còn trong “Chữ người tử tù” Nguyễn Tuân vẫn còn dành cho Huấn Cao một tỉ lệ vừa phải để trực tiếp kể tả. Về mức độ đậm đặc, thì Nguyễn Ái Quốc sử dụng đến tận cùng hơn Nguyễn Tuân. Nhưng cả hai ngòi bút tài năng thiên bẩm này bắt cái “thần” của nhân vật sáng bừng, ôm trùm, xuyên suốt từ đầu đến cuối thiên truyện.
“Chữ người tử tù” đem đến một khoái cảm thẩm mỹ đến không cùng. Tác giả dựng lên một đối sánh tương phản rất kỳ thú đó là: ánh sáng và bóng tối. Cái thế giới tối tăm, tù ngục, kẻ độc ác, bất lương làm chủ, còn người “thiên lương, nhân tính, tài năng, bị chèn ép gông cùm. Một đốm sáng Huấn Cao bị vây bủa cả một vùng tối tăm, ẩm thấp, tù đọng. Nhưng cái đốm sáng vẫn hừng hực cháy, tưởng như thiêu tàn cả cái không gian tù ngục luôn bốc mùi ai oán, ác nhân. Ngay từ đầu tác phẩm, “ánh sáng Huấn Cao” đã khiến cho viên quan coi ngục và thầy thơ lại phải kính nể: “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?” và “ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục”; “thế ra y văn võ đều có tài cả”. “Cái ánh sáng Huấn Cao” ấy  đã chinh phục được địch thủ: “phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”. “Chữ tốt” ở đây là biểu tượng văn hóa đẹp nhất của dân tộc. “Tài bẻ khóa và vượt ngục” là cái tài tuyệt đỉnh. Hiểu như thế càng thấy cái đẹp có sức hút biết nhường nào, cái tài có sức thuyết phục đến không giới hạn. Cái Đẹp, cái Tài ấy tụ lại ở một cái Tâm sáng trong rờ rỡ cùng với phẩm cách uy nghi, phi phàm của ông Huấn Cao thì Đẹp –Tài –Tâm dứt khoát phát ra một thứ ánh sáng đặc biệt, đó là thứ ánh sáng “xưa nay chưa từng có”. Vì vậy, thứ ánh sáng ấy đã cảm hóa cả ngục tù tăm tối, ác nhân. Quan trọng hơn nó khiến cho địch thủ phải ngưỡng mộ, kính nể và thay đổi cả bản chất của mình. Thói thường, viên quan coi ngục là một tên ác quỷ, là tay sai đắc lực, là bản sao y nguyên bản chính của cái chế độ xã hội mà “người ta sống bằng tàn nhẫn bằng lọc lừa”, ấy vậy mà viên quan coi ngục khi được giáp mặt với “ánh sáng Huấn Cao” đã ngợp choáng và dần dần thay đổi, cuối cùng lột sạch hết những cái “cặn bã” bấy lâu mà y chìm vào để ngoi đứng lên, vượt thoát khỏi kiếp tôi đòi hèn hạ, theo lời khuyên bảo của “ánh sáng Huấn Cao”: “ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người... Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khéo giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Cuối cùng  ánh sáng đã chiến thắng huy hoàng, bóng tối bị tan rữa, hủy hoại. Nhưng đáng giá hơn bao giờ hết là cái “bóng tối” ấy đã nhiễm hoàn toàn cái “thiên lương”của “ánh sáng Huấn Cao”: “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Thật lạ lùng, chính ánh sáng Huấn Cao đã làm thay đổi, đảo lộn một cách ghê gớm, không thể tưởng tượng nổi: kẻ tử tù giữa chốn lao ngục được chính chủ của nó kính trọng, vái lạy, người mang gông, đeo xiềng làm chủ còn kẻ trước đây là chủ lại khúm núm, so ro, lo sợ. Mới chưa đầy hai ngày mà kẻ nắm quyền sinh sát lại tôn quý kẻ tử tù, xin chỉ dạy một cách cung kính, lễ phép. Vị trí, vai trò đã thay đổi, ngược hẳn lại, tù nhân răn dạy, chỉ bảo cai ngục, cai ngục quỳ lạy tù nhân. Thật là “xưa nay chưa từng có”. Trong ngục tù tăm tối cứ tưởng rằng cái ác, cái xấu, cái bẩn thỉu, nhơ nhớp thống trị làm chủ, có ai ngờ rằng cái đẹp, cái cao cả, cái phi thường, sự thiên lương toàn quyền làm chủ. Phải chăng “cái đẹp cứu vớt con người”.
Có thể nói rằng “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân điệp trùng thủ pháp nghệ  thuật so sánh, đối lập, tương phản. Có đối sánh tương phản rộng, có đối sánh tương phản hẹp, có đối sánh tương phản của hai đối tượng, lại có đối sánh tương phản trong một đối tượng. Ta hãy xem nhân vật “viên quản ngục”. Ngay bản thân nhân vật này vẫn tồn tại sự đối lập tương phản. Đã là quản ngục thì đó là  ác quỷ hiện hình, song trong tâm hồn của y khi gặp được ánh sáng lành thiện và văn võ song toàn của Huấn Cao thì cái ác nhân trong con người hắn đã nhạt dần đi theo thời gian được gần cận với Huấn Cao. Từ tàn ác chuyển sang nhún nhường, biết điều; từ cậy quyền thế, ra oai tác quái sang thành tâm sám hối; từ u ám tối tăm sang thanh nhẹ trong trẻo. Ta hãy đọc những đoạn văn sau đây sẽ thấy rất rõ điều đó: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bẩn đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ... Ông trời nhiều khi chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” và “Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày còn lại”; “hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể...” Một lần nữa, ta càng thấy công năng hiệu nghiệm, sức cảm hóa của cái Đẹp-Tâm-Tài quyện tụ làm nên một sức mạnh không gì cản ngăn được. Sức mạnh ấy cuốn phăng hết mọi u tối, xấu xa, thấp hèn, nhơ bẩn, ác độc, đem lại sự sáng trong, thành tâm. Và bản thân đối tượng như được hồi sinh với tràn đầy nhựa sống được chuyển lưu trong từng mạch máu, trong từng nghĩ suy, nó làm thay đổi hẳn cả thế giới quan của đối tượng.
Quả thực, với nghệ thuật so sánh, đối lập, tương phản được tác giả sử dụng điệp trùng, chồng lấn, trong ngoài, trên dưới, cao thấp một cách khéo léo góp phần không nhỏ trong việc thể hiện sâu sắc chủ đề của thiên truyện, đem lại một xung lực hấp dẫn hiếm thấy cho người đọc. Và theo riêng tôi, đó là chỗ lý thú nhất, còn nhớ một lần Nguyễn Tuân nói thế này: “Văn học có cái rất vui là phong cách. Cách nói, cách viết khác nhau. Vậy mà nhiều anh viết văn, dạy văn lại không đi vào đấy, chỉ nói về nội dung, về tư tưởng nên trở thành nhạt nhẽo, vô duyên. Tại anh thôi, cái chỗ phong phú, cái chỗ “xôm” nhất, “vui” nhất anh “đếch” đi vào nên người ta chán.” Ta cùng suy ngẫm.



Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

CHIM K'TIA truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH số: Số 493-12/4/2018


Người dưới xuôi thường nói “học vẹt” hay “nói như vẹt” để chỉ những người học thuộc bài mà chẳng hiểu gì điều mình đã học, hay là kẻ nói nhiều mà thôi; điều đó thật oan uổng cho dòng họ nhà tôi lắm. Đừng thấy chúng tôi có thể bắt chước được tất cả giọng nói của muôn loài mà tưởng “chỉ biết bắt chước” đơn thuần, không suy nghĩ, như vậy là nhầm to đấy. Nếu không thông minh chịu khó học hỏi thì không bao giờ có thể hiểu được tiếng của muôn loài, kể cả con người. Chúng tôi có thể nói: “Nhà có khách, nhà có khách...” mỗi khi có người lạ đến nhà. Thấy trẻ em nghịch ngợm thường hỏi: “nghịch gì đấy! nghịch gì đấy!” vv… Nghĩa là chúng tôi biết phân biệt ý nghĩa của từng câu nói đã học và không bao giờ nhầm lẫn; điều đó chứng tỏ rằng họ hàng nhà chim K’tia chúng tôi thật sự có biệt tài trong việc học ngoại ngữ. Nói như vậy không có nghĩa, họ hàng chúng tôi không cần học, hay ít học cũng biết được đâu mà ngược lại, việc học tập phải chuyên cần, vất vả lắm. Nếu không tin mời bạn đến thăm quê hương tôi nhé!
          Dòng họ chim Vẹt mà người Tây Nguyên bản địa thường gọi một cách thân thiện là chim K’tia. Chim K’tia sống ở nhiều quốc gia trên thế giới và loài người biết thuần dưỡng chúng tôi từ rất lâu rồi. Màu lông họ hàng nhà K’tia cũng khác nhau do sống những vùng khí hậu khác nhau: lông màu trắng, màu vàng, màu đỏ và màu xanh biếc... Mỗi màu lông có vẻ đẹp riêng của nó. Ở Việt Nam sống trong môi trường hoang dã, loài K’tia chỉ có chung một màu áo xanh. Họ hàng K’tia ở Tây Bắc to lớn hơn loài K’tia miền Trung và Tây Nguyên. Ở cao nguyên Đắk Lắk có hai dòng khác biệt nhau, một dòng thuộc loại to lớn, thân hình phải bằng quả bắp; một dòng nhỏ bé hơn chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái người lớn một chút – dòng họ này hiện nay còn ít, chủ yếu sống ven bờ sông lớn và khe suối sâu. Tôi không dám mời bạn làm một cuộc du lịch thám hiểm họ hàng loài K’tia chúng tôi trên khắp thế giới mà chỉ muốn mời bạn tới thăm gia đình tôi – loài K’tia lớn sống trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.
*
**
          Dạ! Xin được giới thiệu với bạn về cuộc sống gia đình tôi ở Tây Nguyên.
          Cứ mỗi độ xuân sang khi những hạt mưa cuối cùng còn sót lại trên bầu trời rụng xuống mặt đất, nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa rải khắp nơi là lúc K’tia tách bầy làm tổ. Từng đôi uyên ương dắt nhau đi tìm cây làm nhà. Thường thường tiêu chuẩn tối thiểu của cây được chọn xây tổ là cây còn sống hoặc cây khô còn vững, thân to lớn; xung quanh cây phải thoáng, không có hoặc ít có cây lớn mọc gần. Tiêu chuẩn này họ hàng tôi thường chọn cây lồng bàn - một loài cây có lá gần giống lá bàng, mọc lẻ loi trên các đồi cỏ gianh ở Tây Nguyên. Tìm được cây vừa ý đôi uyên ương phải chọn cành để làm bức chắc phía trên cửa ra vào. Cành được chọn phải to, hơi nghiêng để nước mưa  hay sương đêm không lọt vào tổ.
Với cái mỏ rắn chắc như thép, ba má tôi thay nhau đục thân cây phía dưới cành to thành một lỗ tròn như quay bằng com pa sâu vào thân cây tới nửa sải tay. Phía trong bao giờ cũng rộng có thể đủ chỗ cho bốn năm má con cùng chung sống, được lót một lớp dày các sợi cây mềm. Chiều xuống, ba tôi thường đứng ngoài cửa canh chừng kẻ thù. Loài K’tia đẻ hơi nhiều, một tổ bao giờ cũng có từ bốn đến năm quả trứng, to bằng ngón út tay người, màu xanh có đốm đỏ.
Tôi sinh ra trong một gia đình có bốn anh chị em, Ba tôi vất vả bay ngược, bay xuôi lo đủ miếng ăn cho cả nhà. Má tôi vừa canh chừng kẻ trộm vừa phải luôn miệng trả lời các câu hỏi của anh em tôi. So với anh chị, tôi là người nở ra sau cùng nên bao giờ cũng bé hơn, song không vì thế mà được chiều chuộng hơn đâu. Tôi vẫn phải theo học như các anh chị. Từ bài học đầu tiên về chữ o tròn như quả trứng… K’tia, đến cách phát âm chữ cái, cách chào hỏi xã giao vv… và vv… có nghĩa là tất tần tật mọi thứ trên đời đều phải học. Từ mờ sáng cho đến lúc mặt trời đi ngủ, má tôi bắt chúng tôi học ra rả cả ngày. Vì thế, ai đến cách gốc cây có gia đình tôi ở chừng trăm mét cũng biết nhà tôi ở đâu rồi.
*
**
Cuộc sống gia đình tôi tuy thanh bình vậy nhưng cũng gặp vô vàn khó khăn, nguy hiểm, nhiều lúc cái chết rình rập ngay bên cạnh. Tôi nhớ hôm đó trời mới vừa sáng được một lúc, ba tôi đi làm chưa lâu; bỗng nghe tiếng má la thất thạnh ngay ngoài cửa:
-         Cướp! Cướp! Cướp!
Tôi định thò đầu ra cửa xem có chuyện gì xảy ra mà ầm ĩ như thế liền bị anh Hai dùng mỏ giáng cho một cú vào đầu ngã lăn quay. Nhìn vẻ mặt nghiêm trọng của anh và chị, tôi không dám hé môi kêu khóc như mọi bận bị bắt nạt. Bỗng một mùi hôi nồng nặc phả vào, một cái lưới dài ngoằng thọc vào cửa. Anh tôi vội vã xô tôi ra sau, còn mình hiên ngang bước lên phía trước cửa đón kẻ thù. Con quái vật đầu bẹp, mắt nhỏ tí tẹo, có cái lưỡi dài ơi là dài, từ từ xông vào nhà; chậm rãi nhích từng tí, từng tí một. Chị tôi thét lên một tiếng té xỉu. Còn anh Hai tôi cố xù mấy chiếc lông măng mới mọc ở cổ, cất cao đầu giơ cái mỏ bé tẹo lên định lăn xả vào quái vật. Con quái vật bò qua cửa lọt vào nhà nhằm anh tôi trườn tới. Tôi sợ quá nhắm tít mắt, không dám nhìn sự việc đang diễn ra... Ngoài kia tiếng má tôi kêu khóc thảm thiết, tiếng mấy bà hàng xóm hò hét om sòm. Bỗng tiếng ba tôi thét lên:
 -K…é…t!
Cùng lúc, con quái vật oằn mình đau đớn, phun ra một búng nước tanh ngòm về phía chúng tôi rồi vội vã lùi ra khỏi cửa. Tiếng la hét: “Két! Két!” vang lên của các bác, các chú láng giềng đang kịch chiến với con quái vật náo động cả không gian. Anh tôi quay lại nói như xin lỗi:
- Đừng giận anh chuyện lúc nảy nhé! Lần sau nếu có chuyện gì em… đừng… có… ra… ngoài. Ba… đứa… phải… nghe… lời… ba… má!
Giọng anh đứt quãng, rồi lịm dần. Chị tôi gào lên:
- Ba má…ơi!
Tôi lao ra định ôm lấy anh. Anh xua tay:
- Không… đụng… và...o a…nh!
Anh lảo đảo bước ra cửa, chị em tôi chạy theo ra và bóng anh vuột biến mất cùng với tiếng thét hãi hùng của mẹ:
-         Con ơi!
Đau thương tang tóc trùm lên gia đình, làng xóm. Sinh được người con đã khó, giữ cho chúng khôn lớn, trưởng thành càng khó hơn. Thoáng chốc kẻ thù đã cướp mất người anh yêu quý của chúng tôi tôi, người đã dũng cảm mang thân đón nhận chất độc vào mình và ra đi vĩnh viễn để cho các em được sống. Má tôi ốm liệt giường, tất tật mọi việc nhà cửa nhờ cậy vào ba. May có mấy bác hàng xóm thay nhau giúp đỡ chứ không biết rồi sẽ ra sao.
*
**
    Lại một lần khác, khi ấy ba anh chị em chúng tôi đã khoác trên mình bộ quần áo truyền thống của gia đình, dòng họ một màu xanh đặc trưng. Mỗi khi chiều về, ba má đậu trên cành cây trên miệng tổ cổ vũ anh chị em tôi bước ra ngó trời xanh, đồng cỏ tranh và tập vỗ cánh. Chà, thật thú vị khi lần đầu tiên được đứng trên thành tổ để giang đôi cánh nhỏ bé khẽ vỗ vào không khí, tạo nên một ngọn gió nhè nhẹ. Đôi cánh vỗ nhanh hơn, hình như gió cũng lớn hơn, tạo nên cảm giác lâng lâng khó tả.
Anh chị em tôi lớn lên, cũng là lúc ba má phải đi xa tổ lâu hơn để kiếm thức ăn cho cả nhà. Anh Ba thành “đại ca”, luôn nhận nhiệm vụ đứng ngoài cửa canh gác kẻ gian. Hôm nào trước lúc đi xa, ba má cũng dặn không được bước ra cửa tổ khi không có người lớn ở nhà. Nhưng tôi thấy mình lớn lắm rồi, sắp biết bay rồi nên cần phải học bay nhiều hơn nữa nên năn nỉ anh chị cho bước ra cửa tập luyện. Chị Tư cáu:
-Út quên lời ba má dặn à?
-Ngoài kia nguy hiểm lắm, không ra được đâu. Chịu khó chờ ba má về rồi tính.
Anh Ba cũng đồn tình với chị Tư, ngăn cản không cho tôi bước ra. Tôi vùng vằng, tỏ vẻ khó chịu:
-Anh chị nhát như con dế thế kia thì bao giờ làm người lớn được? Ngoài ấy có gì mà đâu sợ cơ chứ. Chúng ta sắp biết bay rồi đấy, cho em ra ngắm trời đất buổi trưa một chút thôi.
Hình như nghe tôi năn nĩ quá, anh Ba thôi không nỡ chối từ, giọng hơi buồn, bảo:
-Út đã nói vậy thì để anh ra cửa ngó xem thế nào đã nhé.
-Anh ba đừng đi, không chiều Út như vậy được đâu, về ba má mắng đấy.
-Rõ đồ đàn bà thấy cái gì cũng sợ. Ba má không biết đâu, cứ cho Út ra cửa một chút rồi vào nhà ngay mà.
-Lớn bằng này rồi mà còn không nghe lời ba má thì có lúc hối không kịp đấy.
-Chị làm cứ như có con rắn nằm phục ở cửa chờ bắt anh chị em mình không bằng ấy. Nếu chị sợ để em ra một mình.
-Thôi, hai đứa đừng cãi nhau nữa, để anh ra trước xem sao.
-Không được đâu anh Ba!
-Một lần thôi nhé Út.
-Dạ. Hoan hô anh Ba!
Anh Ba bước từng bước có vẻ nặng nề lắm ra cửa, tôi bám ngay phía sau, lòng vui phơi phới vì thuyết phục được ông anh cho ra cửa chơi. Chị Tư nằm trong tổ nói với theo:
-Cả hai anh em không nghe lời ba má dặn, hối không kịp đó.
Tôi quay đầu lại, xù lông cổ lên, đập mỏ vào thành tổ trả lời:
-Đàn ông mà bà chị!
Anh Ba đi trước chắn gần hết cả khuôn cửa tròn, tôi rón rén bước theo sau, đi dần ra cửa tổ. Nhìn phía dưới bụng anh Ba, ánh sáng ùa vào, tôi thấy một mảnh trời xanh nho nho nhỏ phía xa xa; bụng thầm reo lên: ta được thỏa ý nguyện rồi. Anh Ba bước chậm lại, hình như sợ hãi điều gì ấy,  nói nhỏ:
-Đứng ở đây để anh ra ngoài xem thế nào đã nhé.
-Dạ!
Tôi, dừng lại không đi tiếp dù chỉ còn mấy bước nữa ra đến cửa. Anh Ba từ từ thòa đầu ra ngoài cửa ngó xung quanh.
Ào. Một cơn gió to như bão ào đến thổi tôi rơi lộn ngược vào trong tổ, đè luôn lên chị Tư. Ngoài cửa, anh tôi thét lên môt tiếng hãi hùng, liền sau đó là tiếng gào thét của mấy bác hàng xóm vừa về đến. Trận kịch chiến diễn ra ngắn ngũi, tiếng hò hét xa dần rồi mất hẵn.
Sau này tôi mới được nghe kể lại, hôm đó có mụ Diều Hâu đứng phục sẵn trên ngọn cây cách cây gia đình tôi làm tổ không xa, anh Ba vừa ra khỏi cửa bị mụ ta lao xuống, dùng bàn chân có những vuốt dài, quắt chặt đầu anh Ba, lôi ra khỏi cửa, tha đi luôn...
Tôi giận mình, tự dày vò, xỉ vã mình, bỏ cả ăn uống, không dám nhìn ai. Chị Tư khóc hết nước mắt nhưng không một lời oán trách tôi, ba má cũng vậy. Giá như mọi người trừng phạt tôi, la mắng tôi thì dễ chịu hơn; đằng này...
*
**
Thời gian trôi qua, chị em tôi đã khoác trên mình bộ áo xanh biếc, nơi cổ tôi có thêm chiếc khăn quàng màu gạch mà cánh phụ nữ không bao giờ có. Chiếc mỏ cứng cáp màu vàng tươi rắn chắc là thứ vũ khí tự vệ quan trọng của họ hàng chúng tôi. Chị tôi có chiếc mỏ đen bóng như sừng, bộ váy áo một màu xanh biếc. Tất cả hành trang của tuổi mới lớn đầy ắp con tim, chờ ngày tung cánh, hòa nhập  cộng đồng.
     Cuối cùng, ngày ấy cũng đến. Đó là một ngày trời trong xanh không một gợn mây. Các ông bố, bà mẹ trò chuyện râm ran trước khi đưa con vào khai giảng năm học mới. Bài học bắt đầu bằng những cái vẫy cánh chậm chạp, sau nhanh dần nhanh dần; chị tôi lao vút ra, chơi vơi giữa trời xanh. Đến lượt mình, tôi cố bình tĩnh tung cánh bay từng đọan ngắn giữa tiếng reo hò, cổ vũ của cả xóm.

     Kể từ hôm đó ngôi nhà thân yêu chỉ còn trong kỉ niệm, không ai trở lại đó nữa. Tất cả mọi người trong cái xóm nhỏ - đồi tranh tập hợp đông đến cả ngàn con, bay rợp trời đến vùng đất mới kiếm ăn. Vừa học vừa lao động kiếm sống nên dòng họ nhà chim K’tia chúng tôi đi tới đâu ai cũg biết vì những câu chuyện trao đổi không dứt. Và cái lớp lau nhau vừa mới vào đời lại phải dài lưỡi ra học, học tất cả những điều cần thiết cho cuộc sống. Họ nhà chim K’tia chúng tôi là vậy đấy. Nếu không học tập hàng ngày để có thể nói được hàng trăm thứ tiếng khác nhau thì ai còn gọi họ hàng chúng tôi là “ chim K’tia” có phải thế không  bạn!

CUỘC ĐUA TRONG TRẺO, BÌNH YÊN Lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018

Sổ tay thơ:

CUỘC ĐUA


Cháu bốn tuổi rủ chạy đua
Ông ông cháu cháu vui đùa hồn nhiên
Cuộc đua trong trẻo, bình yên
Ông vờ thua, cháu cười nghiêng nắng chiều!

(Rút từ tập thơ Đủng đỉnh trăng về)
TRẦN PHỐ

LỜI BÌNH:


Nhà thơ Trần Phố đã in và chủ biên nhiều tập thơ, tập phê bình trong hành trình sáng tác hơn một phần tư thế kỷ. Thơ Trần Phố, nói như Đặng Bá Tiến, đó là một tạng thơ "thường kiệm lời, ngắn gọn, mang chất giọng tâm tình nhẹ nhàng, nhẹ nhàng mà không nhạt, không như gió thoảng qua, bởi câu thơ thấm được tình thật của tác giả". Tôi muốn nói thêm, trong tập thơ Đủng đỉnh trăng về, mảng thơ thế sự quả thật đã có nhiều bài rất đọng, rất sâu lắng cảm xúc và tràn đầy tình thương yêu của tác giả đối với mẹ cha, bạn bè, cháu con và những gì thiết thân, gần gũi trong cuộc sống. Đọc xong một mạch 62 bài thơ trong tập Đủng đỉnh trăng về, tôi đã dừng lại khá lâu ở bài thơ Cuộc đua mang vẻ đẹp thâm trầm, sâu lắng về ý tứ; tha thiết và đằm thắm về tình thương yêu của một người ông đối với cháu mình. Sâu sắc hơn, thông điệp về một "cuộc đua" rất "thiền" của Trần Phố cũng là bài học nhân sinh đầy triết lí để mỗi người tự suy tư, chiêm nghiệm về những lẽ thiệt hơn đang tồn sinh giữa cuộc sống con người.
Không trang hoàng, cầu kỳ về chữ nghĩa, hai câu thơ mở đầu bài thơ đi thẳng vào ý tứ của thi phẩm mà tác giả muốn giãi bày:
Cháu bốn tuổi rủ chạy đua
Ông ông cháu cháu vui đùa hồn nhiên
Đó là một cuộc chạy đua hồn nhiên, tinh nghịch. Một ông, một cháu đang hào hứng thi thố tài năng. Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, trong sáng, nhà thơ đã trần tình, thủ thỉ lại "cuộc đua" mà cháu là người "rủ" trước. Nhà thơ Trần Phố không cố ý phô diễn các thủ pháp nghệ thuật, song phép điệp sóng đôi "ông ông cháu cháu" một cách tự nhiên đã gợi mở cho người đọc thấy được một cuộc chạy đua "ngang sức ngang tài" giữa ông và cháu. Nhưng chạy đua mà lại "hồn nhiên" thì lạ quá! Ngay cả sự thách thức ban đầu của cháu đã là một sự trong sáng và đầy thi vị. Tuổi thơ quá vô tư, thích gì nói nấy; ông thì thương cháu vô cùng, thích gì chiều nấy; nên đua mà hóa ra chơi, một cuộc chơi hồn nhiên, trong trẻo.
Độc đáo và tỏa sáng nhất là ở hai câu thơ kết bài, đó cũng là ý tưởng để làm nổi bật tứ thơ thật hàm súc và đầy dư vị:
Cuộc đua trong trẻo, bình yên
Ông vờ thua, cháu cười nghiêng nắng chiều!
Cuộc đua giữa ông và cháu đã trở thành một tứ thơ lạ, vì đó là "cuộc đua trong trẻo, bình yên". Một cuộc đua mà người ông đã xác định phần thua thuộc về mình và mong cháu giành chiến thắng để được vui cười hớn hở. Cháu vui ông cũng vui lây, thế là cả hai cùng thắng! Hình ảnh ông và cháu cười trong ánh nắng buổi chiều nghiêng xuống sao mà đáng yêu đến thế. Nụ cười hồn nhiên của cháu thật ngây ngô và trong sáng làm sao! Câu thơ cuối bài nhờ đó ánh lên vẻ đẹp tâm hồn nhân ái và tràn đầy thi vị, đồng thời cũng thấm đẫm màu sắc triết lí về tình thương yêu giữa cuộc sống đời thường thông qua cảm xúc chân thành và đầy trải nghiệm. Hình ảnh đứa cháu "cười nghiêng nắng chiều" trước cuộc thất bại của ông và chiến thắng của mình đã làm nức lòng người đọc. Bài thơ hay nhất ở câu thơ cuối bài này, ba câu trên phần lớn chỉ làm sứ mệnh dẫn dắt. Viết thơ tứ tuyệt cốt ở sự độc sáng ấy và nhà thơ Trần Phố đã thực sự thành công ở thi phẩm này.
"Cuộc đua trong trẻo, bình yên" là tứ thơ xuất thần và thâm thúy. "Cuộc đua" ấy cũng chính là một cuộc nhượng bộ mang tính "chiến lược" mà người ông dành cho cháu mình về sứ mệnh cuộc đời phải mang vác ở tương lai phía trước. Có lẽ nhờ đó mà thi phẩm lấp lánh sáng lên tấm lòng độ lượng, tình cảm thương yêu của chủ thể trữ tình tác giả khi ta cầm trên tay tập thơ Đủng đỉnh trăng về của nhà thơ Trần Phố.
                                                                       LÊ THÀNH VĂN                    



Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

R.O.S.E Truyện ngắn của LÂM HẠ - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018

   NHÀ VĂN LÂM HẠ


 Tên thật: Nguyễn Thị Minh Ngân
 Nguyên quán: Mỹ Đức, Hà Nội
 Sinh năm: 1988
 Hiện cư trú tại: Huyện Cư M’gar, Đắk Lắk
 Hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật Đắk Lắk.
 Đã có nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn đăng các báo, tạp chí, như Áo Trắng, Chư Yang Sin, Tiền Phong, Sông Hương, Thanh Niên…
 Sách đã in: Làm sao để đọc sách hiệu quả (in chung năm 2017, và một số sách khác.





Truyện ngắn


Gửi em, đóa hoa đang cạn kiệt vì tôi.
Tháng ba tới, mang chút hương lành và gió chướng. Tôi mỏi mệt trong từng khớp xương phải chống đỡ cuộc đời. Mà cuộc đời tôi thì có gì đáng kể? Chỉ là những câu thơ chưa kịp buông vần đã phải chui vào nơi trí não nhiều nếp gấp chồng chéo xô lệch như một hiệu sách cũ chẳng mấy ai thèm ngó ngàng ngoài vài gã ngờ nghệch hay mơ mà thiên hạ thường giễu nhại gọi tên Thi Sĩ. Bởi trên tay họ còn bận lướt smartphone xem tình hình chính trị thời sự văn hóa xã hội giá cả leo thang hay thụt lùi…rồi thì trong cơn bất lực chỉ có thể văng tia bọt mép vào màn hình chửi đổng. Giá mà thơ tôi có thể chửi, thì tôi đã để nó chui ra như lũ gia cầm đẻ trứng mỗi ngày.
Vào cuối ngày, may ra có kẻ nào đó còn chút mơ màng sẽ ngước nhìn tờ lịch chợt vội vàng chạy ra vỉa hè mua vài đóa hồng héo cho nhân tình. Hoặc giả may mắn hơn là nhặt được đóa hoa còn mới tinh mới tươm của một đôi tình nhân hờn dỗi bỏ lại trên băng ghế đá, tôi sẽ mang chúng về cho em.
Em có bao giờ chạnh lòng chăng? Hay là mình đừng tặng nhau gì cả, chỉ lưu trữ nhau trong ý nghĩ thôi cho an ổn kiếp này. Vả lại, ý nghĩ thì miễn phí, chẳng ai ngã giá cho ý nghĩ đâu em.
Bởi vì tôi sinh ra dưới cung phận của một câu thơ bỏ dở, nên đời em phải trập trùng buốt nhịp yêu tôi. Hẳn nhiên muốn sống hay đơn giản là thoi thóp tồn tại nơi cõi trần này, người ta phải ăn uống, mưu sinh chứ chẳng ai ăn mây uống nắng tắm mưa mà sống được cả. Chắc một kiếp nào đó trước khi được hóa duyên thành người, tôi quên chưa tự mình cắt bớt cái đuôi của con mammoth cuối cùng trước khi tuyệt chủng, đã thở ra một câu thơ.
Tôi đã từng có ham muốn đưa em đi đến một nơi an toàn hơn, như lên óc hay cấy em dưới não chẳng hạn. May ra ở nơi ấy em có thể giúp tôi gặt hái ra tiền bằng cách đi làm kinh tế hoặc chính trị gia, làm nhà ngoại giao hay đơn giản là một tay cờ bạc khét tiếng, cũng đỡ rảnh rang mà vu vơ. Hay hơn nữa là làm nhà thuyết pháp hoặc giảng đạo, cũng có thể được tung hô và hơn tất thảy là được người ta ném tiền mà không e dè chê bai. Con người ta thèm đạo đức kinh khiếp lắm, như thèm thịt giữa một bữa tiệc chay toàn lá ngò gai, cần tây và xô thơm.
Chúng mình đáng thương quá em nhỉ!
Hay chăng tôi xé thơ mình gấp hoa tặng em? Hài hước thật, cái trò lãng mạn rẻ tiền xưa cũ rồi em ạ.Thời buổi này ngay cả lũ học trò mà yêu đương ấy, cũng phải tặng nhau hàng hiệu cho tỏ ra sành điệu để còn check in cho thiên hạ thấy tình yêu lung linh và có vị thịt nướng chứ không chay tịnh gì cho cam.
Yêu chay thì nhà quê và xấu hổ lắm, thời này.
Hay tôi đem đổi thơ lấy một tờ vé số, ỏng ẹo với bà cụ già đang dò dẫm từng bước mưu sinh. Vé số có thể đổi đời nhanh chóng em ạ, nhưng tiếc thay bà cụ không biết chữ, nên cụ vẫn hi vọng thơ tôi có thể quy ra tiền.
Trên hết thảy những lãng mạn và đắng cay, em muôn đời mãi mãi sống và chết cùng tôi, cái án chung thân từ buổi sơ khai loài người. Tôi ước mình có thể mang em ra sưởi nắng và tỉa tót em thành một đóa hồng nhung đỏ thẫm lạ lùng để em tỏa hương như triệu triệu đóa hoa khác trên thế gian. Hay can đảm hơn, tôi đóng vai anh hùng cắt lìa một vài bộ phận trên cơ thể mang đến trung tâm thẩm mỹ chỉnh sửa chúng thành một nhành hoa. Tôi chỉ e sợ một điều, người ta không nhận trả công bằng thơ cho những ca chỉnh hình ấy em ạ. Mà chắc gì có tay bác sĩ lành nghề nào trên thế gian này đủ tài năng và trí tuệ hay cần thiết là đủ vô lương để chỉnh sửa một bộ phân trên cơ thể tôi? Hoặc thiết thực hơn đi, tôi ước có thể đổi thơ lấy vitamin hay một vài thần dược nào đó, để em có thể ngẩng đầu với thiên hạ rằng thời buổi này yêu thơ vẫn khỏe mạnh như thường. Kiêu hãnh và đớn hèn, tôi chỉ có thể sinh đẻ ra thơ.
Hơn ai hết, em biết tôi đơn giản là một thi sĩ. Tuyệt vọng làm sao.
Rất tiếc, tôi là kẻ hơi nhát gan nên cả ngàn lần tôi vuốt nhọn câu thơ mình hòng lấy can đảm cứu rỗi em, nhưng mọi nỗ lực đều bất khả. Vậy tại sao tôi vẫn còn hoài thai những con chữ latinh mỗi giờ mỗi phút mỗi giây mà không ngao ngán hay lo sợ mình sẽ bị hốt vào trại thương điên? Chỉ vì yêu em, tôi mắc nợ cuộc đời này, cuộc đời tôi và cuộc đời những ai trót dại (hoặc cũng có những kẻ giả dại) yêu tôi.
Vào giây phút hấp hối của nhân loại, tôi sẽ an vui bởi chẳng cần phải gồng mình lên rạch bụng. Nhưng buổi ấy còn xa xôi mà tù mù lắm, họa hoằn chăng vài câu thơ tôi có thể nhóm lửa nấu cơm, sẽ là vài đốm sáng le lói trước lúc cơm sôi, rồi chợt tắt trên môi em, đôi môi đang khô cằn nứt nẻ. Vì em khát tôi nhiều hơn thế, em sống để ngấu nghiến tôi từng ngày.
Nhưng kỳ lạ thay, không có em tôi sẽ chết. Mà không trong tôi, em có thở được chăng hỡi đóa hồng đẫm máu của tôi?
Tôi gọi em là Rose. Tôi chỉ là bóng ma của linh hồn em, chỉ là đứa trẻ được sinh ra trong hơi thở em bật nốt rung ngân.



Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

LOÀI HOA KHÔNG TÊN -truyện ngắn của LÂM HẠ - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018







Dì Nhan ngồi hong tóc ướt bên ô cửa vàng ánh trăng. Bóng dì in nghiêng trên thềm rêu xanh, cô đơn như một nhành hoa dại.
Những đêm trăng sáng và gió hiền, tôi thường ngồi gọn trong lòng dì như con mèo nhỏ, nghe dì hát những khúc ca đã cũ. Giọng dì ấm, và buồn.
Thời gian vẫn trôi
Căn phòng thao thức hôm nao em đợi em chờ
Đó là tất cả ký ức của tôi về dì Nhan.
Mẹ thường kể tôi nghe về dì, rằng dì đẹp, đẹp nét đẹp của người thiếu nữ đượm nét sầu muộn. Thanh xuân của dì đã trôi như những cánh hoa rụng theo dòng nước cuốn. Dì chưa đỗ bến, vì dì vẫn tin vào nhân duyên của mình.
Có lần nào đó, xưa lắm, ngày tôi còn bé dại, tôi hỏi sao dì không lấy chồng, như người ta đó. Mỗi lần trong xóm có đám cưới rước đi qua ngõ, tôi đều chạy về hỏi dì. Dì cười, nói rồi tôi cũng giống dì thôi.
Cả tuổi thơ tôi là mùi thơm của tóc dì Nhan mỗi lần dì hong tóc ướt bên ô cửa. Mùi sả, lá bưởi, hương nhu, bồ kết và nhất là cái mùi của sự chờ đợi.
Mà dì chờ ai?
Tôi đi xa, vì điều gì không rõ. Chỉ là tôi sợ, sợ nhìn bóng dì mỗi đêm trăng sáng. Cái sự chờ đợi vô vọng ấy, nó mới đáng sợ làm sao. Chiếc bóng in trên khung cửa mỗi đêm trăng vàng lẻ loi và cô quạnh. Mẹ bảo, dì đợi người thương của dì, người đã hẹn trở về vào một mùa thu vàng hoa cúc. Và cứ thế, dì đợi.
Rồi sẽ qua hết, đời cuốn xô mãi
Tha thứ cho mùa thu bé dại mải chơi đến muộn
Loài hoa lỗi hẹn, chết trong vườn khuya
Dì đợi, qua nhiều mùa hoa tàn, qua cả tuổi thanh xuân tóc mướt. Dì đợi, qua cả tuổi thơ ngây ngô của tôi.
Tôi giận dì. Vì điều gì tôi chẳng rõ. Bao ẩn ức trong tim cứ chực vỡ òa khi thấy bóng dì ngồi hát mãi những bài ca buồn. Tôi không biết người đàn ông nào đã gieo những lời hứa mãi chẳng thành hiện thực, nhưng tôi căm ghét ông ta, thay dì. Ông ta có quyền gì để được nhận tình yêu của dì? Sự đợi chờ dài như một chiếc khăn tang.
Tôi bươn bải tuổi trẻ của mình nơi đô thị xô bồ. Mẹ nhắc tôi, thỉnh thoảng về thăm nhà, dì nhớ tôi. Bước chân tôi chòng chành, tôi muốn kéo dì ra khỏi khung cửa vàng ấy, kéo dì ra khỏi nỗi chờ đợi mêng mang bao năm tháng gặm mòn dì. Tôi muốn hét lên rằng dì đừng đợi nữa, dì hãy tìm hạnh phúc của riêng mình đi. Rồi, tôi lại chẳng thể thốt lên thanh âm nào khi nghe tiếng hát của dì.
Từ tháng năm đó chìm dấu cơn sóng
Lang thang chi mùa thu tội tình
Niềm vui nỗi buồn chờ em thức dậy thắm sâu vào đêm
Tôi khóc, tôi bỏ chạy ra cánh đồng vàng hoa cúc dại.
Đêm, sương lạnh, tôi chải tóc cho dì. Mái tóc dài đã điểm bạc, tôi lén cuộn giấu đi từng lọn tóc rụng. Giờ đây dì như con mèo nhỏ ngoan ngoãn nằm gọn trong lòng tôi. Dì thầm thì.
“Yên thường về thăm dì nhé, đừng giận dì. Yên cứ yêu đi, rồi sẽ hiểu dì.”
“Nếu yêu mà khổ như dì thì Yên chẳng thèm yêu.”
Dì cười, hong tóc bên ánh trăng vàng.
Vậy mà, tôi lại yêu.
Tôi dặn lòng mình giữa nơi nhấp nháy ánh đèn này, sẽ không yêu như dì. Vậy mà rồi như định mệnh, tôi giống dì, bướng bỉnh và dại khờ.
“Trước mẹ Yên cũng có người yêu đấy, mà mẹ không đợi như dì, nên lấy bố Yên.”
“Thế mẹ có hạnh phúc không?”
“Dì không rõ, nhưng biết đâu mẹ Yên cũng đợi, đợi theo cách của riêng mình.”
Mẹ thôi không còn giục dì Nhan lấy chồng như ngày tôi còn bé. Mẹ cũng chưa bao giờ ngồi với dì mỗi đêm trăng vàng. Mẹ làm nhiệm vụ của một người phụ nữ tần tảo, chăm lo cho gia đình. Những chắc chẳng bao giờ tôi biết được mẹ có khao khát được như dì, chung thủy cả đời để chờ đợi người thương.
Người tôi yêu ít nói, trầm tính, và chẳng hứa hẹn điều gì. Có lẽ vì vậy mà tôi thương chăng? Vì tôi là người chẳng bao giờ hứa, lời hứa rất ích kỷ, chỉ là giây neo nỗi đau cho người nào nhớ, còn có khi người buông neo một lời hứa lại lãng quên theo gió mây.
Tôi rời thành phố, về với dì Nhan.
Bao năm bôn ba, trong cõi lòng chỉ còn một lớp bụi, phủi đi là thôi. Chân tình không ở nơi nhộn nhịp lấp lánh ấy, yêu thương thường bình dị và giản đơn. Người đàn bà cuối cùng cũng chỉ mơ ước nơi góc bếp ấm áp nấu được bữa ăn ngon cho người đàn ông mình yêu, chăm sóc con cái, lo mấy chuyện tủn mủn lặt vặt rau dưa. Vậy mà có người tìm kiếm cả đời, giữa phồn hoa đô hội chẳng có nổi một bữa cơm ấm lòng.
Cứ ngỡ dì Nhan sẽ cùng tôi ngồi bên ô cửa nhỏ, nghe tiếng nhạc réo rắt ru đêm. Vậy mà dì bỏ tôi lại một mình. Dì đi thật.
Dì đã chờ được nhân duyên của mình.
Tôi khóc cả một mùa gió thổi tung cánh đồng hoa vàng. Khóc cho những nhớ thương dài như gió lùa qua ô cửa nhỏ, khóc cho những nếp nhăn đã xô nhau trên vầng trán dì, khóc cho mái tóc xanh đã điểm màu tuyết. Vậy là mùa hoa này, dì bỏ tôi lại giữa cánh đồng nhiều gió, để tôi biết chờ đợi cũng là yêu thương.
Tôi không chất vấn người đàn ông ấy, và tôi cũng biết sẽ chẳng bao giờ tôi chất vấn người đàn ông của mình, nếu ngày nào đó tôi chờ đợi được. Yêu thương, chẳng bao giờ là muộn màng.

Đêm nay trăng về, xanh xanh.