Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

TIẾNG-THƠ-SIÊU-THỰC-CHÍNH NGỌ tác giả DU TỬ LÊ - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020


 

Bùi Minh Vũ, cũng giống như rất nhiều người làm thơ hôm nay trăn trở, quyết liệt (nếu không muốn nói là giãy giụa), để thoát khỏi bóng rợp, phủ rêu nhiều chục năm của thể thơ ấn tượng, tượng trưng, trừu tượng… Hay theo trào lưu hiện thực đang được nhiều người tìm đến - Như một lối thoát khác, một hình thái tự khẳng định sự có mặt của thơ mình trong giai đoạn đất nước có quá nhiều biến động…

Tuy nhiên, không phải người làm thơ nào cũng thành tựu trong nỗ lực có được cho mình, một mặt trời riêng, lẻ. Bùi Minh Vũ qua thi phẩm “Tình Yêu Muộn” mới ấn hành, theo tôi, đã sớm có cho thơ họ Bùi một chọn lựa khác. Không tượng trưng. Không trừu tượng. Mà siêu thực. 

Tôi muốn gọi cõi thơ của họ Bùi là “Tiếng-thơ-Siêu-thực-chính-ngọ.”

Đọc kỹ toàn bộ thi phẩm mới của Bùi Minh Vũ, tuy người ta vẫn bắt gặp rải rác đây đó, trong cõi giới thi ca của họ Bùi, những câu thơ mang tính biểu tượng. Nhưng toàn thể trái tim của thi phẩm, thịt, xương thi ca của Bùi, vẫn ở vị trí “chính ngọ” của tiếng thơ siêu thực, qua hầu hết những bài thơ, dài, ngắn của ông.

Tôi vẫn quan niệm, đọc một bài thơ, dù được tác giả sáng tác theo thể loại nào, tượng trưng hay siêu thực… thì người đọc cũng không nên bận tâm, tìm hiểu ý nghĩa rốt ráo của câu thơ (bài thơ ấy). Nhất là với những bài thơ mang tính siêu thực. Cũng giống như khi đứng trước một bức tranh trừu tượng, ở vị trí người thưởng ngoạn, chúng ta chỉ nên tự hỏi mình, có cảm thấy cái đẹp của bức tranh hoặc, bài thơ ấy có làm ta rung động với những câu thơ lạ hay không mà thôi. 

Việc tìm hiểu ý nghĩa rốt ráo của câu thơ (bài thơ) kia, đó là công việc của các nhà phê bình, của những thức giả nghiên cứu thi ca.

Y cứ trên tiêu chí vừa nêu trên, ở vị trí của một người đọc bình thường (không phải là một nhà phê bình) thì, ngay nơi bài thứ nhất, mở đầu thi phẩm, tựa đề “Tình yêu muộn” khá dài, có tới 9 khổ của Bùi Minh Vũ, với tôi, đã là một bài thơ mới, lạ, bất ngờ từ hình ảnh, tới những so sánh, liên tưởng…

Tôi trộm nghĩ, nếu không chọn cho mình con đường thơ siêu thực, họ Bùi sẽ rất khó (nếu không muốn nói là không thể) có được những câu thơ mới, lạ như: “… bóng đen đốt cháy mặt trời ngâm rượu lòng vòng trong ánh mắt ngày thẫn thờ trong hơi thở cay ta nhìn em bằng sợi tóc lẻ loi bằng sợi tóc lẻ đôi.”

Hoặc:

“Ta thấy em như con kiến trên ngón tay áp út ngậm linh hồn vẫn không qua được vỏ ốc tiếng não nề dội vào má…”

Hoặc:

“Rướn thân trổ vào đôi má mùa xuân em lại mới lần đầu mặt trời chưa từng chạm đến…”

Hoặc:

“Một hôm  ta trôi vào vô biên khao khát em xúng xính bước đi ta quăng mình vào bờ rìa tăm tối lò cò tái tạo một cơn going trên đỉnh trời tròn…” thổi bóng em hun hút.” (Trích “Tình yêu muộn”, các khổ thơ 1, 4, 7)

Hoặc nữa:

“… như trái tim bị giày xéo chung quanh cái nắp chụp một ngày tạo ra vô số ngày đáng yêu thách thức quyền năng của thời gian điếc gió bập bùng xuyên không gian câm…” (Trích “Một ngày không có trong giấc mơ”)

Và: 

“Một hôm ta thấy mình mọc nhiều đôi tay nhặt hết nội tạng và cái đầu của giấc mơ đè bẹp những linh hồn nhỏ  đặt lên đĩa bay  về xứ…” (Trích “Một hôm ta thấy”)

Tôi cho họ Bùi có tinh thần tự giác rất cao, khi viết những bài thơ nghiêng nặng siêu thực. Ông đã hạn chế tối đa việc sử dụng tính từ  - một khía cạnh đặc thù, vốn tiêu biểu cho sự phong phú, giàu có của từ ngữ Việt.

Tính khô, cứng tới độ có thể “vênh, cong” trong thơ Bùi Minh Vũ, với tôi, cũng là một điểm son khác nữa, của họ Bùi, để thơ ông, tự thân có được cho riêng nó, một chỗ đứng.

Chỗ đứng mang tên Bùi Minh Vũ: Tiếng-thơ-siêu-thực-chính-ngọ.

 

 

 


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

THAO TÁC LỰA CHỌN TỪ NGỮ – MỘT KĨ NĂNG KHÔNG THỂ THIẾU ĐỐI VỚI NGƯỜI GIẢNG DẠY NGỮ VĂN tác giả PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020

 

Còn nhớ Đỗ Phủ (712 - 770), tự là Tử Mĩ, là nhà thơ hiện thực vĩ đại trong lịch sử văn học Trung Quốc, được người đời sau coi là thi sử và tôn là Thi thánh có nói rằng: “ngữ bất kinh nhân tử bất hưu” nghĩa là ngôn từ (trong tác phẩm) không làm người đọc kinh sợ thì đến chết cũng không nghỉ. Như thế đủ thấy việc chọn lựa từ ngữ, đặc biệt trong tác phẩm văn học nghệ thuật là vô cùng quan trọng. Lại nhớ nhà văn lừng danh K. PauTopxki viết: “Trong ba tính từ đặt bên cạnh danh từ, thế nào cũng có một tính từ chính xác hơn cả, hai tính từ còn lại chắc chắn sẽ thua kém hơn. Bởi thế, rõ ràng là tính từ duy nhất đó cần phải được giữ lại, còn hai từ kia thì phải gạch bỏ không thương tiếc.” (Một mình với mùa thu). Như vậy càng thấy việc lựa chọn từ ngữ có vai trò quyết định trong tác phẩm văn chương đến mức nào. Và một câu chuyện khác: Giả Đảo (793-865) một nhà thơ đời Đường nhân cảnh trăng đêm trên núi nghĩ ra được hai câu thơ: “Điểu túc trì biên thụ/ Tăng thôi nguyệt hạ môn”. Dịch nghĩa: Chim đậu, ngủ trên cây ven ao/ Nhà sư đẩy cánh cửa dưới trăng. Sau đó, từ xao (gõ) chợt đến trong đầu. Giả Đảo cứ phân vân mãi, không quyết được nên chọn từ thôi (đẩy) – đã viết – hay từ xao (gõ) mới nghĩ ra. Vừa đi vừa nghĩ miên man, miệng lẩm nhẩm thôi - xao mãi. Vô ý đụng vào xe ngựa của quan Kinh triệu doãn (Quan cai trị kinh đô) Hàn Dũ. Sau khi biết rõ nguyên nhân, Hàn Dũ cũng băn khoăn giữa hai chữ thôi và xao. Cuối cùng Hàn Dũ khuyên Giả Đảo nên chọn xao vì từ xao vừa gợi âm thanh, vừa gợi động tác, còn từ thôi chỉ gợi được động tác mà làm mất âm thanh. Phải chăng đó là sự khổ công trong việc chọn lựa từ ngữ? Và một chuyện nữa, chuyện Bác Hồ viết di chúc. Trong bản thảo di chúc Bác viết ngày 10.5.1969 chúng ta thấy Bác sửa chữa, gạch xóa nhiều chữ. Bác sửa đi sửa lại từ câu đến từ, từ cách ngắt câu đến từng dấu phẩy, dấu chấm.

Tất cả những điều trên đều gợi cho chúng ta, đặc biệt những người làm công việc có dính dáng đến sử dụng ngôn từ phải suy nghĩ. Trong đó hẳn không thể thiếu vị trí, trách nhiệm của những người giảng dạy Ngữ văn.

Để đạt được sự hoàn thiện, đi tới cái đẹp của ngôn từ đó là điều không dễ. Cái đó đòi hỏi người sử dụng phải dày công khổ luyện và không ngừng trau dồi để làm giàu có thêm kho từ vựng của bản thân. Chỉ khi có một vốn từ vựng nhất định thì mới biết cân nhắc, lựa chọn trong số hàng chục thậm chí hàng trăm từ ngữ, kiểu câu có thể dùng để diễn đạt một ý nào đó, từ nào kiểu câu nào, cách diễn đạt nào là tốt nhất, hiệu quả nhất có tính nghệ thuật nhất.

Thông thường một từ ngữ được coi là đích đáng phải thỏa mãn các điều kiện sau: phù hợp với nội dung, mục đích, hoàn cảnh giao tiếp và in đậm cá tính của người viết. Từ đó ta có thể tìm hiểu, xem xét và ứng dụng một vài thao tác lựa chọn từ ngữ như sau:

Thứ nhất, người viết phải xác định rõ ràng mục đích của văn bản, nắm vững nội dung của nó đồng thời xác định được đúng hoàn cảnh giao tiếp. Với học sinh hình như chưa ý thức được điều này. Các em có một thói quen cầm bút là viết ngay dù chưa hiểu rõ được điều mình viết là gì. Vì vậy giáo viên cần phải làm cho học sinh ý thức được thật đầy đủ điều định viết ra là gì. Một ý mà nội dung chưa định hình, người viết chưa thấy ý đó hiện ra rõ ràng thì sao có thể lựa chọn từ để diễn đạt cho hiệu quả. Đấy là chưa kể ý ấy với ý trước và ý sau quan hệ thế nào thì dứt khoát việc sử dụng từ ngữ vô cùng mù mờ.

Thứ hai, thông thường khi nói, viết, ý đến thì từ ngữ cũng xuất hiện theo. Nghĩa là khi trong đầu óc ta có một ý nảy sinh thì bao giờ nó cũng có một hình thức ngôn ngữ ban đầu kèm theo. Cái ngôn ngữ ban đầu ấy ta không nên thỏa mãn mà hãy căn cứ vào đó để huy động các từ ngữ cùng trường hoặc đồng nghĩa với nó để lựa chọn. Ta hãy xem cách lựa chọn từ ngữ trong bản Di chúc của Bác Hồ. Bản thảo Di chúc (viết ngày 10.5.1969) có những câu lúc đầu Bác viết “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để thăm hỏi đồng bào, cán bộ”; “Kế đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân đi thăm viếng và cảm ơn các nước anh em”; “Năm nay tôi vừa 79 tuổi… tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Điều đó cũng bình thường thôi.” ; “Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin” Nhưng sau đó Bác đã thay các từ như sau: thăm hỏi = chúc mừng, thăm viếng = thăm, Điều đó cũng bình thường thôi = Điều đó cũng không có gì lạ, phải = sẽ. Rõ ràng ta không nên thỏa mãn ngay với các từ ngữ đã xuất hiện lần đầu. Việc rất quan trong mà học sinh và cả chúng ta nữa hay quên đó là việc đọc lại những cái đã viết, dù thời gian không có nhiều cũng dứt khoát phải đọc lại. Chỉ thỏa mãn và chấp nhận khi thấy rằng không thể thay thế bằng từ, ngữ, cách viết nào khác.

Thứ ba, người viết cần cân nhắc, so sánh từ đã dùng với các từ đồng nghĩa, cùng trường nghĩa đã được huy động để tìm ra một từ ngữ phù hợp nhất với các tiêu chuẩn đã đề ra, lưu ý về tính thẫm mĩ, tính chính xác của sự biểu hiện. Một ví dụ về sự so sánh để chọn lựa một từ của nhà thơ Huy Cận (1919-2005). Trong bài thơ Thái Văn A có câu: “Vùng biển chóa sớm chiều rám mặt/ Sao đêm khuya thánh thót dòng Ngân” ta thấy từ chóa có thể thay bằng từ chói, nhưng từ chói chỉ nói được sự tập trung của ánh sáng phản chiếu từ mặt biển chứ không nói được phạm vi độ rộng của nó. Dùng từ chóa vừa đảm bảo được các yêu cầu: chính xác, bất ngờ, mới mẻ và gợi được nhiều cảm giác cho người tiếp nhận. Hay một ví dụ khác, trong bài thơ Nhạc sầu có câu thơ ban đầu Huy Cận viết: “Chiều đìu hiu đời rét mướt ngoài đường” ta thấy từ đìu hiu cũng đã hay rồi vì nó phù hợp với tính sầu với độ rét mướt nhưng sau đó Huy Cận viết lại: “Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường”. Tại sao vậy? Vì từ mồ côi vừa gợi nỗi buồn, vừa gợi cái chết lại vừa gợi sự cô đơn, lẻ loi, đơn độc lại kèm theo cả cái cảm giác tội nghiệp

Thứ tư, nếu trong khi chọn lựa một từ ngữ đã chính xác nhưng các tính chất khác vẫn cảm thấy chưa đắc địa, độc đáo thì có thể tìm các từ ngữ khác vượt khỏi các từ ngữ đồng nghĩa hoặc phải nghĩ đến việc thay đổi kết cấu câu văn. Ta hãy xét câu văn sau của học sinh: “Yêu nước, thương dân, tình thương của Bác không hẹp hòi ở quốc gia mà Bác  yêu thương cả nhân loại cần lao”. Từ hẹp hòi trong câu văn trên không chính xác, đưa vào như thế không phù hợp, bởi từ hẹp hòi nói về tính cách con người không có nét nghĩa giới hạn trong phạm vi hẹp. Các từ ngữ cùng trường đồng nghĩa với hẹp hòi là giới hạn trong; bó hẹp ở; quẩn quanh trong… Nếu thay từ hẹp hòi bằng các từ ngữ đã nêu trên liệu có được không? Giả dụ như: “Yêu nước, thương dân, tình thương của Bác không bó hẹp ở quốc gia mà Bác còn yêu thương cả nhân loại cần lao”. Ta thấy câu văn vẫn vụng về. Ta thử thay đổi kết cấu câu. Có thể như sau: “Yêu nước, thương dân nhưng Bác không chỉ yêu nước mình, thương dân mình mà còn yêu thương cả nhân loại cần lao”. Rõ ràng cùng ý, cùng câu nhưng ta thay đổi kết cấu thì câu văn sẽ uyển chuyển hơn, chính xác hơn khúc chiết hơn và thể hiện được lòng kính yêu đối với Bác hơn.

Một điều nữa, khi chọn lựa từ ngữ không thể không nghĩ đến tính hệ thống của hệ thống trong toàn đoạn văn. Nghĩa là phải xem các từ đã dùng trước nó và sẽ dùng sau nó có phù hợp với trường nghĩa hay không. Đó là trường hợp ba từ lửa, dập, nồng mà Nguyễn Du đã dùng trong câu Lửa tâm càng dập càng nồng. Hoặc từ mồ côi mà Huy Cận dùng đã dẫn ở trên.

Đương nhiên không phải cứ thực hiện các thao tác như trên là viết văn hay, là phân tích, tìm hiểu cảm thụ văn sâu sắc. Bởi nó còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của mỗi người. Với chúng ta – những người giảng dạy Ngữ văn - nếu nắm vững cũng ít nhiều bổ ích trong việc giúp đỡ học sinh dần dần có những bài văn ưng ý. Hơn nữa, các thao tác này rất cần thiết cho mỗi người giảng dạy Ngữ văn trong việc tìm hiểu, phát hiện ra những giá trị thẩm mĩ của những từ ngữ trong các tác phẩm văn học mà ta mỗi ngày soạn giảng.

 

 


Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020

BƯỚM VÀNG ĐI ĐÂU? truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - NÂM NUNG SỐ 165 THÁNG 6 NĂM 2020




Ông mặt trời thức giấc, đứng trên đỉnh núi phía đông, thả những sợi nắng vàng như tơ xuống mặt đất làm mọi vật bừng tỉnh sau một đêm dài. Chim cu gáy Em giật mình thức giấc ngó ra xung quanh, hình như quá ngỡ ngàng với sự thay đổi chỉ qua một đêm, liền hỏi chị:

            - Hình như sáng nay khác chiều hôm qua nhiều quá chị ơi!

            -Chuyện, hôm qua là hôm qua, hôm nay là hôm nay khác nhau là phải chứ có gì mà phải ngạc nhiên.

            -Em không nói về thời gian mà nói về cảnh vật xung quanh nhà mình ấy.

            -Xì, cảnh vật có gì thay đổi đâu?

            -Chị không nhận ra hôm nay các lá phượng cũng mượt mà hơn. Trên đầu các cành, hoa đã bung ra những cánh đỏ rực rỡ chứ không phải nụ như hôm qua.

            -Ừ nhỉ, đúng vậy thật.

            -Ô, chị nhìn kìa. Bướm, bướm vàng sao mà nhiều đến thế. Chắc là cây phượng nở hoa, hoa sinh ra bướm lúc đêm mà chị em mình không biết rồi.

            Cu gáy Chị cũng ngỡ ngàng nhìn về phía bắc, một đám mây bướm vàng không biết bao nhiêu con đang bay lượn tiến dần về phương nam. Cành cây phượng bỗng rung lên nhè nhẹ, rồi một giọng ồm ồm vọng đến:

            -Cu gáy Em nói sai rồi.

            -A, bác Phượng cũng biết nói à, sao bác bảo cháu nói sai?

            -Chiều hôm qua có trận mưa lớn, đúng vậy không?

            -Đúng rồi bác, không những mưa mà còn gió và sấm chớp ầm ầm nữa đấy!

            -Sau gần sáu tháng mùa khô không một hạt mưa rơi xuống làm cây cối khát nước, xơ xác; khi mưa xuống khí hậu mát lành nên cây cối mới bung nụ, nở hoa ăn mừng.

            -Đúng vậy rồi.

            Cu gáy Chị nghe cây phượng nói xong gật gù xác nhận. Cu gáy Em không nén được tò mò hỏi thêm:

            -Thế không phải hoa phượng sinh ra bướm vàng thì ai sinh ra mà chúng nhiều thế?

            -Cái này thì, cái này thì…

            Cây Phượng lúng túng trước câu hỏi của cu gáy Em mất một phút rồi bất ngờ reo lên:

-Ta biết rồi, lũ bướm vàng năm nào cũng cứ khoảng thời gian này sẽ bay qua đây đấy. Trước khi chúng đến, trời đều nổi cơn thịnh nộ, giáng sấm sét đe dọ mọi vật rồi sai bà Gió trút nước xuống để cây cối nở hoa đón chúng.

-Thế lũ bướm ở xa bay đến đậy ạ?

Không nén nổi tò mò, cu gáy Chị buột miệng hỏi, cây Phượng trả lời:

-Đúng thế!

-Sao bác khẳng định chắc chắn thế?

Cu gáy Em láu táu chen ngang, hình như cây Phượng thoáng mĩm cười làm các cành cũng rung theo, rồi trả lời:

-Ta đã ở đây mấy chục năm rồi đấy. Thời gian nhiều như thế mà năm nào cứ khoảng vào cuối tháng hai, đầu tháng ba là lũ bướm vàng lại bay từ phương bắc xuống phương nam, khi qua đây bao giờ cũng ghé thăm ta, vui đùa với các bông hoa của ta.

-Sao bướm vàng lại chỉ bay một chiều như vậy thôi?

-Các cháu mới sinh ra nên không biết, thầy giáo trong lớp học năm nào cũng dạy học sinh quả đất tròn, tròn… như quả trứng chim cu gáy; vì thế lũ Bướm bay xung quanh quả đất mất đúng một năm đấy.

-Hay quá, quả đất tròn như quả trứng chim cu Gáy, Bướm vàng bay quanh trái đất một vòng đúng một năm tròn. Điều này chưa chắc ba má đã biết đâu nhé, chốc nữa phải khoe mới được.

Cu gáy Em sướng quá cũng thò đầu lên khỏi tổ khoe mấy cọng lông tơ còn dính trên đám lông màu xám đỉnh đầu, vẫy vẫy đôi cánh như muốn bay lên không trung. Cu gáy Chị đầu gật gù ra vẻ đàn chị, nói:

-Bác Phượng sống lâu, lại ở gần lớp học được nghe thầy cô giáo dạy nên cái gì cũng hiểu biết tường tận. Không ngờ bướm vàng, cánh mỏng mảnh thế kia, lại không có lông mà bay được xa như thế.

-Xì, các cậu trẻ con thì biết cái gì, cánh dày hay mỏng đâu phải là điều quyết định bay gần hay bay xa.

Hai chị em chim cu gáy giật mình nhìn lại nơi vừa phát ra tiếng nói dưới cành phượng lớn, một anh ve sầu đầu như đầu ruồi phóng to đến trăm lần, trên lưng đôi cánh mỏng dính che khắp cả thân, cắm miệng hình chiếc kim khâu vào thân cây Phượng.

-Ừ nhỉ, cánh của anh ve Sầu, chị Chuồn Chuồn hay mấy con Ruồi, Muỗi… đều mỏng mảnh như vậy mà bay rất nhanh, lạ nhỉ!

Cu gáy Em buột miệng nói, được thể ve Sầu ra vẻ anh chị, khẽ rung đôi cánh, ca lên bản nhạc mùa hè rồi bay vút đi. Cu gáy Chị tỏ vẻ khâm phục, nói:

-Anh Ve này lạ thật, miệng như cái kim khâu bé tí thế kia mà sao hát hay thế.

-Ô, cháu không biết thật à?

Cây Phượng lại vui vẻ giảng giải:

-Loài ve sầu hát không phải bằng miệng mà bằng… bụng đấy, dưới dụng ve còn có một cái miệng nữa, chúng hát từ đó đấy. 

-Ha, ha, ha…

-Hi, hi, hi…

Hai chị em cu gáy cười ngã nghiêng khi khám phá ra thêm một điều kỳ lạ, khác thường ở loài ve sầu – bụng chúng có miệng.

Vừa lúc đó gió ào đến, một giọng nói êm ái vang lên:

-Ve Sầu không có miệng ở bụng đâu.

-A, bà Gió, tại sao lại nói ve Sầu không có miệng ở bụng, rõ ràng âm thanh từ bụng phát ra mà?

-Đúng rồi, âm thanh phát ra từ bụng ve Sầu nhưng do hai vật tròn dưới da, khi cọ vào nhau tạo nên âm thanh.

Nghe bà Gió nói vậy, cả hai chị em cu gáy đều reo lên:

-Tài quá, tài quá!

-Còn lũ bướm vàng do loài sâu xấu xí sinh ra đấy.

Bà Gió lại nói thêm một câu nữa trước khi bay đi, cây Phượng có vẻ ngượng ngập nên các cành đứng im phăng phắc, cánh hoa đỏ rực cả lên như e thẹn. Vừa lúc đó chim cu gáy Mẹ mang đồ ăn sáng bay về, hai chị em tíu tít khoe với mẹ những điều vừa học được. Cu gáy Em hỏi mẹ:

-Tại sao bà Gió bảo những con bướm vàng xinh đẹp kia là do sâu sinh ra?

-Đúng thế, lũ sâu lúc mới nở ra nhỏ xíu, ăn lá cây mãi rồi lớn dần lên, khi chúng trưởng thành, nhả tơ bọc mình lại tạo thành kén. Con sâu ngủ trong kén lâu ngày biến đổi thành con nhộng. Gặp điều kiện thời tiết thuận lợi con nhộng mới cắn kén chui ra, lột xác thành con bướm bay đi tìm bạn, tạo thành đàn.

-Thế mà bác Phượng nói chúng bay vòng tròn quanh quả đất mất một năm để trở lại nơi xuất phát.

Cu gáy Em thắc mắc hỏi lại, cu gáy Mẹ trả lời:

-Bác Phượng tuy sống lâu nhưng chỉ ở mãi một chỗ, không biết lũ bướm bay đi đâu mà hàng năm cứ vào cuối tháng tư hoặc đầu tháng năm, khi mưa đầu mùa đổ xuống lũ bướm vàng trên Tây Nguyên lại lũ lượt bay về theo cùng một hướng nên mới nhầm.

-Má biết chuyện lũ bướm ạ?

-Ừ, lũ sâu thích ăn lá cây gỗ muồng trồng trên các bờ lô cà phê, vì thế khi lột xác thành bướm, chúng kết đôi rồi gửi trứng lại các cây muồng trước khi bay về phương nam. Chúng chỉ bay về phương nam mà không đi hướng nào khác nữa là vì, là vì…

-Vì sao ạ?

Hai chị em cu gáy đồng thanh hỏi lại, cu gáy Mẹ chưa biết trả lời các con thế nào, vừa may bà Gió ào đến trả lời hộ:

-Đó là do tác động của ông mặt trời nữa đấy. Cuối mùa khô Tây Nguyên đồng nghĩa với mùa hè miền bắc, khí hậu khắc nghiệt hơn nên lũ bướm khôn  ngoan chỉ chọn cách bay về phương nam, độ ẩm nhiều hơn. Chúng bay mãi, bay mãi đến khi gặp rừng già hoặc ao hồ thì cùng xếp cánh ngủ luôn, không dậy nữa; khép lại một vòng đời ngắn ngủi trong một tuần thôi.

-A, thì ra thế!

Cây Phượng già reo lên rồi vội vã đưa tất cả các cành lá của mình hướng về phía tây muốn giữ bà Gió lại như một lời cảm ơn. Chim cu gáy bố không biết về từ lúc nào, đứng trên cành phương cao nhất thả vào không gian tiếng reo vui:

-Cúc cù cu, cúc cù cu, cúc cù cu…


Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

NƠI LÒNG DÂN HỘI TỤ Ở QUANH NGƯỜI tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020


NƠI ĐẠI TƯỚNG TRỞ VỀ

 

Đấy là nơi ngọn gió trong lành

chưa ô nhiễm bởi đời khói bụi

 

Đấy là nơi sớm tối

ánh sáng trong veo của chính mặt trời

 

Đấy là nơi chim hót bởi yêu người

không phải hót cho đời trang điểm

 

Đấy là nơi lời ru của biển

thật thà lời ru không xu nịnh bãi bờ

 

Đấy là nơi Bà Huyện* đọc thơ

trăng ngẩn ngơ trong tiếng đàn Đại tướng

 

Đấy là nơi bốn phương tám hướng

lòng dân hội tụ ở quanh Người

chẳng còn nữa những muộn phiền thế sự

"Vạn đại dung thân"**

thanh thản giữa đất - trời!

                                                                        ĐẶNG BÁ TIẾN

 

* Bà Huyện Thanh Quan, tác giả bài thơ Qua Đèo Ngang nổi tiếng.

** Câu sấm của Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Hoàng Sơn nhất đái, vạn đại dung thân".

 

LỜI BÌNH:

NƠI LÒNG DÂN HỘI TỤ Ở QUANH NGƯỜI

           

Hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành quen thuộc trong nền thi ca dân tộc, nhất là từ khi Người theo Bác Hồ và các vị anh hùng tiền bối khác vào cõi "Mác - Lê nin - thế giới Người Hiền" (Tố Hữu) vào ngày 4 tháng 10 năm 2013. Mỗi nhà thơ, từ góc nhìn và sự chiêm nghiệm riêng của bản thân mình lại có những cảm xúc khác nhau, nhờ đó diện mạo tâm hồn, vẻ đẹp nhân cách Đại tướng càng phong phú và được lan tỏa dưới nhiều ánh sáng nhân văn mới mẻ. Nơi đại tướng trở về của nhà thơ Đặng Bá Tiến là bài thơ hàm súc, giàu chất triết lý, khơi gợi trong tâm hồn người đọc về sức mạnh của lòng dân, về sự bao dung của đất trời thanh thản trước một Con Người vĩ đại làm rạng rỡ nước non.

Nơi Đại tướng yên nghỉ ngàn năm là Vũng Chùa - Đảo Yến bốn mùa dạt dào sóng vỗ. Không gian thanh khiết, sáng trong như một cõi minh triết riêng của đất trời ban tặng cho Người khi đã về bên kia cõi thế. Vì vậy, hai câu thơ đầu là sự giới thiệu về không gian thực tại nơi Đại tướng trở về yên giấc ngàn thu. Song, đó cũng chính là ý nghĩa ẩn dụ mà tác giả muốn gửi đến người đọc, vì suốt cuộc đời mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không màng lợi danh, Người sống thật đạo đức, sáng trong, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân nghĩa, trí tín. Không gian giờ đây có "ngọn gió trong lành", chưa ô nhiễm khói bụi mà chỉ có "ánh sáng trong veo của chính mặt trời". Câu thơ đẹp và lộng lẫy khác thường. Mặt trời từ biển Đông mỗi sớm mai chiếu sáng hay đó là mặt trời của một vĩ nhân, một Con Người được nhân dân suốt đời kính trọng, mến yêu. Mặt trời tự nhiên và mặt trời ẩn dụ từ một vị Đại tướng lúc này thống nhất làm một, hòa làm một để tất cả dâng lên bản hòa ca vĩnh tuyệt, bản hòa ca nhân danh tình yêu và đạo đức, nhân danh lòng yêu nước thiết tha và khát vọng độc lập, tự do. Ngay cả tiếng chim trời cất tiếng véo von cũng tràn ngập yêu thương và tự nhiên như những gì vốn có trong đời: "Đấy là nơi chim hót bởi yêu người/không phải hót cho đời trang điểm".

Từ ánh mặt trời chiếu sáng đến tiếng "chim hót bởi yêu người"; từ tiếng sóng vỗ bờ như lời ru dịu dàng "không xu nịnh bãi bờ" đến lời thơ Bà Huyện Thanh Quan ngân nga khi qua đèo Ngang với nỗi niềm nhớ nước. Tất cả sự cao đẹp, thanh khiết, lớn lao, thiêng liêng ấy đều tập trung về đây như xây đắp giấc mơ của Người thêm cao đẹp. Quả vậy, nơi Đại tướng trở về là nơi không cần lầu son gác tía, lộng lẫy xa hoa mà chỉ là nơi thanh bình, yên vắng của biển bờ ngàn năm sóng hát để mãi mãi sáng trong và thanh bạch như chính cuộc đời Người lúc sinh thời.

Cao quý nhất vẫn là tình người bốn phương tám hướng kết đọng về đây lắng vọng tin yêu và tưởng nhớ, dâng vạn tấm lòng, vạn tình thương cho giấc ngủ của Người được ngàn thu sáng tỏa. Ý thơ càng lúc càng sâu lắng, tăng tiến thêm lên để mở ra muôn ngàn tình cảm mến yêu hướng về Đại tướng. Quả chỉ có tấm lòng của nhân dân mới thiết tha và vững bền vạn đại. Đó chính là điểm tựa không gì có thể chuyển lay, không gì có thể mất đi. Nơi Người trở về vì thế thật sự là nơi hội tụ của tình người, của tình thương và sự ngưỡng vọng suốt đời của nhân dân thấu suốt và anh minh. Nơi đó không còn muộn phiền thế sự, nơi đó để cho Người được "vạn đại dung thân" như câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm một thuở: "Đấy là nơi bốn phương tám hướng/ lòng dân hội tụ ở quanh Người/ chẳng còn nữa những muộn phiền thế sự/ "Vạn đại dung thân" /thanh thản giữa đất - trời!".

Xuyên suốt bài thơ là bút pháp song trùng của nghệ thuật lặp cú pháp qua cụm từ mở đầu: "Đấy là nơi..." như để khắc sâu hơn về một sự lựa chọn cho mình nơi bình yên thanh thản, nhưng đồng thời đó cũng chính là sự đền đáp có tính quy luật của đất trời và lòng người trước một cuộc đời vĩ đại, một nhân cách lớn lao của Đại tướng - Người mà suốt đời đã dành trọn vẹn cho nước, cho dân. Nơi Đại tướng trở về quả là thi phẩm có tứ thơ rất hay, giàu sức khái quát, như một sự tổng kết đầy chiêm nghiệm nhưng cũng gần gũi và tự nhiên qua chiều sâu triết lí mà tác giả Đặng Bá Tiến muốn gửi đến người đọc.


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

CHUYỆN CỔ TÍCH GIỮA ĐỜI THƯỜNG tác giả ĐỖ HỒNG KỲ - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020



(Kính tặng hương hồn nghệ nhân sử thi tài danh

Y Nuh Niê và tặng Cậu Vàng thương nhớ)

 

                                                                  

Y Nuh Niê cùng con Chó nhỏ chừng 6 tháng tuổi ngồi bên cầu thang lên xuống ngôi nhà sàn. Cậu bé nóng lòng chờ ông mình về để theo đến nhà Y Bhiêng nghe khan (lối hát kể sử thi). Dường như hiểu được tâm trạng của chủ, Chó con đặt cái cằm âm ấm lên cánh tay cậu bé, như để vỗ về, an ủi. Y Nuh Niê vừa xoa nhẹ đầu con Chó vừa nựng “bạn Chó đẹp trai, bạn Chó đẹp trai…” (bing asâo siăm êkei…). Con Chó áp chặt cằm vào cánh tay cậu bé như tỏ ra thích thú với lời khen này.

Vào những năm đầu thế kỉ 20, Y Bhiêng, người giàu có nhất vùng Krông Pach – Buôn Ma Thuột, mời Y Bhi Byă – ông của Y Nuh Niê – đến nhà để khan trong lễ cúng sức khỏe (Preh bua asei) cho vợ mình là bà (Hơ) Âng. Bấy giờ là đầu “mùa ăn năm uống tháng” (Huă mnăm thun), ông của Y Nuh Niê đi dự lễ cúng Rước thần Lúa vào kho ở nhà bạn về. Vừa nhìn thấy ông, Y Nuh Niê đã hỏi với giọng trách móc:

- Tai ông không còn nhớ đêm nay người ta mời ông đi khan Dam San sao ông?

Byă mỉm cười trả lời cháu:

- Ông nhớ cháu ạ!

Y Nuh Niê giục:

- Nhanh lên ông!

- Ơ thằng cháu, mày ham nghe khan, định không cho ông uống ngụm nước à? Họng ông rượu làm khát khô đi đây này. Byă nói lớn.

- Để cháu lấy nước cho ông uống.

Y Nuh Niê vừa nói vừa chạy vào bếp, cầm bầu nước ra đưa cho ông. Bước lên cầu thang, Byă cầm bầu nước uống vài hơi rồi đưa lại cho cháu. Cậu ta cầm bầu nước đi nhanh vào bếp, đặt vào chỗ cũ, rồi chạy ra gian ngoài, giục:

- Đi thôi ông!

Hai ông cháu bước qua bốn bậc cầu thang xuống đất và đi ra cổng. Thấy vậy, chú Chó chạy lướt qua các bậc cầu thang để theo chủ. Khi qua cầu thang, thân hình thon thả và bộ lông tứ sắc (đen, trắng, vàng, nâu) của nó tự tạo ra một khuôn hình tuyệt đẹp, đáng để cho các nhiếp ảnh gia mơ ước có được khoảnh khắc cận cảnh đầy thi vị này!

Trời xế chiều. Những làn gió mát mang theo hương hoa cúc quỳ dìu dịu làm cho hai ông cháu Y Nuh Niê phấn chấn hẳn lên. Còn chú Chó con chạy tung tăng trước mặt hai người. Ông Byă nói “chú Chó giỏi, tốt, ngoan hiền” (Asâo knhơ, jăk-ênang). Dường như con Chó hiểu được lời chủ khen, nó vừa chạy vừa liếc mắt nhìn hai ông cháu Y Nuh Niê.

Từ nhà ông Byă đến nhà ông Bhiêng chỉ cách một buôn làng. Hai ông cháu Y Nuh Niê và con Chó nhỏ đi trên con đường đất đỏ. Những bông hoa cúc quỳ dọc hai bên đường mỗi lần có cơn gió thổi qua lại ngả thành vệt vàng theo chiều gió. Có lúc các bông hoa dập dờn trước gió tựa như điệu múa chim gru (một điệu múa trong nghi lễ của người Êđê). Hai ông cháu thích thú nhìn hoa cúc quỳ nghiêng nghiêng trong gió. Bất chợt Y Nuh Niê hỏi:

- Khan Dam San có dài không ông?

- Khan bảy ngày bảy đêm mới hết, cháu ạ!. Y Byă trả lời cháu.

- Dài lòng vòng thế sao cháu thuộc hết được?. Y Nuh băn khoăn.

- Đầu tiên cháu phải thuộc duê, rồi học nhiều thứ, nhiều như rễ cây đa đầu bến nước thì mới thành pô khan (người giỏi hát kể khan) như ông bây giờ. Ông Y Byă khuyên cháu.

- Khó thế mà ông cũng thạo à?. Y Nuh khâm phục ông.

Hai ông cháu Y Nuh mải nói chuyện với nhau nên cảm thấy không lâu đã đến buôn làng ông Bhiêng. Hai ông cháu và con Chó dừng bước trước cổng làng. Các bông hoa làm bằng vải có màu đỏ và vàng treo trên sợi dây rừng buộc vào hai đầu phía trên của cọc cổng làng. Thấy có người, ba chàng trai khoảng 16, 17 tuổi đang cãi nhau ngừng lại. Chúng bước từ trong cổng làng ra hỏi:

- Ơ bác, bác là người già thì chúng tôi gọi bằng ông! Ơi trẻ nhỏ, bạn là người nhỏ tuổi thì chúng tôi gọi bằng em! Hai người đến nhà ông, bà nào vậy?

- Bác đến nhà Y Bhiêng khan Dam San, cháu ạ!. Y Bhi Byă nói.

Nghe ông Byă nói vậy, các chàng trai đi cùng ông cháu Y Nuh đến nhà ông Bhiêng. Khi mọi người đến cầu thang, Y Nuh trầm trồ: “Nhà này to dài như nhà Dam San!”.

Cửa chính lên nhà Y Bhiêng có hai cầu thang. Cầu thang chính rộng, làm bằng gỗ cây dầu đá liền thân, có bốn bậc, phần cuối phía trên được đẽo gọt uốn lượn về phía trước, phía dưới chạm hình mảnh trăng lưỡi liềm, bên dưới là hình cặp vú phụ nữ. Cầu thang phụ nhỏ hơn được đặt song song với cầu thang chính. Hai cầu thang như vậy, rất tiện cho các thanh niên cùng khiêng nước lên nhà sàn đổ vào ché rượu cần. Hôm nay, nhà ông Bhiêng có ăn uống lớn, dân làng đến ăn cơm, uống rượu chật kín gian khách.  Ông cháu Y Nuh và các chàng trai bước lên cầu thang, tới đứng ở sàn hiên (adring gah). Thấy đông người, con Chó nhỏ thân như co rúm nhưng vẫn cố bám theo sát chân ông cháu Y Nuh. Chó nuôi trong các gia đình Êđê thường quen với mọi người trong buôn làng vì chúng đã quen hơi họ trong các buổi uống rượu cần và các sinh hoạt cộng đồng khác của con người. Còn con Chó này mới ở trong gia đình ông Byă được sáu mùa trăng. Nó thuộc dòng Chó Phú Quốc, được một người Pháp đem từ đảo về Buôn Ma Thuột phối giống với loại Chó có lông ngắn, chân dài, giỏi săn bắt, vốn rất quen thuộc với người Êđê. Ông Byă được người Pháp nọ tặng khi ông hát kể khan cho ông này sưu tầm, tìm hiểu.

Y Nuh chăm chú nhìn ché tuk, ché tang bày thành hàng dài, dàn cồng chiêng to nhỏ đặt trên kpan dài. Ông Bhiêng mặc áo mới, hai nền đỏ trên ngực áo đỏ đậm làm ông như to béo thêm ra. Thấy Y Byă, ông ra cửa đón và nói: “ Ôi! Hôm nay chuột leo lên giàn bếp, cá chui vào nồi!” (ý nói như “Hôm nay rồng đến nhà tôm”). Y Bhi Byă đối đáp: “Ông đừng lấy cành cây chắn lối, đừng dùng bụi gai chắn đường” (ý nói “Nói như vậy chi bằng như bạn đuổi tôi đi!”).

Nghe hai người bạn nói với nhau, những ai am hiểu duê (lối nói có vần, nhịp, nhiều ví von, bóng gió) thấy vui vẻ, thích thú. Họ nhìn ông Bhiêng và Byă cười vui. Ông Bhiêng gọi tôi tớ trong nhà:

- Ơ hlun đi lấy áo kriên để bạn Byă mặc! Sau lễ cúng thân thể cho vợ tôi, bạn Byă sẽ khan Dam San cho mọi người nghe.

Tôi tớ (hlun) nhà Y Bhiêng vào buồng lấy cái áo dài có màu đỏ và đen từ trong chiếc gùi ra đưa cho ông Byă. Ông này cầm áo đặt lên jhưng, nơi ông sẽ nằm hát kể Dam San đêm nay.

Gian khách (gah) nhà ông Y Bhiêng dài rộng hơn rất nhiều gian khách của các ngôi nhà sàn khác. Kpan dài khoảng hơn mười sải tay, nằm sát vách phía Tây, cái trống (hgơr) bịt da trâu to tướng đặt trên đầu kpan. Cồng chiêng, phèng la đủ bộ sẵn sàng cho việc diễn tấu.

Lễ cúng sức khỏe cho vợ ông Bhiêng lần này được tổ chức lớn hơn mọi năm trước. Thầy cúng cảm ơn các thần đã ban sức khỏe cho (bà) Hơ Âng. Ông mời thần linh về uống rượu chia vui cùng bà, cùng gia đình, dòng họ và buôn làng. Thầy cúng dứt lời cầu khấn, Hơ Âng cầm cần uống rượu. Sau đó, mọi người theo “ngôi thứ” thay nhau đến các ché rượu cần cột sẵn uống mừng vợ ông Bhiêng. Tiếng trống từng đợt vang lên dồn dập, làm không khí trong ngôi nhà dài náo nhiệt hẳn lên.

Ăn cơm, uống rượu xong, ông Byă đến ghế jhưng ngồi. Ông lấy áo kriên mặc và nói: “Tôi khan chuyện người anh hùng Dam San cho bà con, cho các cháu nghe!”.

“Khan đi bác!” – Mấy thanh niên nhanh nhẩu nói.

Ông Byă nằm trên ghế jhưng, một cánh tay ông đặt lên trán, còn tay kia đặt cạnh hông, ông đằng hắng lấy giọng và bắt đầu khan “Hơ… bu lăng lăng yơh, Hơ Nhi, Hơ Bhi ami djiê ming mda, ama djiê diêt, kthih ktônh jih eea kli dook mă eedai kdiêng, tiêng phit, linh anak eerrin yơh nhu dua Hơ Nhi hăng Hơ Bhi… (Ôi hãy trông kìa! Hơ Nhi, Hơ Bhi, mẹ mất từ lúc còn nhỏ, cha mất từ lúc còn thơ. Cây rthih, ktuônh bên bờ suối đã bị lũ cuốn. Hai chị em như con bê non. Anh em của họ đã đi lấy vợ cả rồi …).

Bấy giờ là lúc nông nhàn, mùa mưa đã hết, mùa khô bắt đầu. Đất đai khô ráo. Đi đâu, bàn chân không còn bị bám đầy đất màu nâu đỏ đặc quánh và dính chẳng kém gì nhựa cây đa dùng bẫy chim. Từng nhóm người có đủ già trẻ, nam nữ tiếp tục đến nhà ông Bhiêng để nghe ông Byă khan. Gian khách nhà Y Bhiêng rộng thế mà đêm nay chật kín người. Mọi người thích thú với các chi tiết, sự việc vui vẻ, hóm hỉnh trong khan, chia sẻ, cảm thông với hoàn cảnh riêng éo le của nhân vật trong truyện. Còn Y Nuh Niê chăm chú vào lời duê trong khan, cách thể hiện giọng đối với người phụ nữ xinh đẹp, cảnh sắc buôn làng, bến nước, tiếng gọi voi của chủ… Có những lúc Y Nuh Niê khan cùng ông mình. Nhưng việc làm của nó còn khó hơn cả của ông. Bởi vì, ngoài việc khan, Y Nuh Niê còn phải chú ý xem lời khan, sự việc mà nó khan có chỗ nào không đúng so với ông để ghi nhớ, lần sau khan cho đúng. Lúc này, có sự hòa âm của hai giọng hát. Song song với giọng trầm của Y Byă, là giọng trong, lanh lảnh của Y Nuh Niê. Mọi người đều hướng về cậu bé 11 tuổi đang khan Dam San với sự ngạc nhiên, thán phục. Nhiều người bỏ chỗ ngồi cũ, chen đến ngồi cạnh Y Nuh Niê, người “có môi thần cho, miệng thần tạo, tai dính chặt với đầu…” để nhìn thật rõ mặt cậu ta.

Đêm ấy con Chó nhỏ của nhà ông Byă gần như không ngủ. Lần đầu tiên trong đời nó thức trong đêm lâu như vậy. Lúc thì nó dụi dụi cái mũi lạnh như những giọt sương mai vào chân Y Nuh, lúc thì lấy móng chân trước cào nhẹ vào lưng áo chủ. Một phụ nữ bế con Chó ôm vào lòng, nó nhìn chủ với ánh mắt cầu cứu. Thấy vậy, Y Nuh bế nó khỏi tay người phụ nữ và đặt trước mặt mình. Con Chó nằm xuống gối cằm lên chân Y Nuh ngủ ngon lành.

***

Chú Chó càng lớn càng đẹp. Nó mang vẻ đẹp cân đối, hài hòa. Thân nó thon gọn, lông đầu đen biếc, phần lông trước ngực trắng muốt, hai chân trước lông màu trắng (điểm xuyết vào đó là những đốm vàng), nửa phần lưng phía đầu lông cũng trắng, tiếp về phía đuôi lông màu đen, rồi nhạt dần đến đuôi là màu nâu, đùi và chân sau lông có màu trắng xám. Đôi mắt con Chó màu nâu đen. Nhìn nó, nhất là khi ngủ, người ta không thể không nghĩ tới sự thánh thiện!

Y Nuh và con Chó thân thiết nhau như hai bạn thân. Đêm đêm, nó thường đến chỗ Y Nuh ngủ để nằm cạnh. Khi nó phạm lỗi nào đó, Y Nuh cầm roi dọa, con Chó liền nằm xuống vẫy đuôi nhận lỗi, có khi nó còn biết chủ không bao giờ đánh.

Chú Chó giúp nhà ông Byă chăn dắt đàn lợn không ủi đất trong vườn, cùng ông bà già canh giữ thóc, không cho đàn gà bới tung thóc phơi trong nia. Sáng sớm, ăn cơm xong, nó liền ra nằm ở sàn hiên trước chờ sẵn để dẫn người nhà lên rẫy… Lúc Y Nuh nằm chơi, chú Chó lại đến bên cạnh. Cậu ta nằm ngửa, hai tay cầm hai chân chú Chó, còn hai chân để vào khoảng hở hai chân sau của con Chó, nâng lên trời rồi đặt ngực con Chó áp vào ngực mình. Y Nuh Niê vừa làm như vậy vừa nói: “Asâo knhơ, hơ, asâo jăk – ênang” (chú Chó giỏi nào, chú Chó ngoan hiền …).

Những lúc như vậy, chú Chó tỏ ra thích thú, sung sướng, hạnh phúc. Y Nuh có cảm nhận như vậy. Mùa nông nhàn, ông Byă thường dậy sớm, đốt sáp ong cho ánh sáng để vót nan đan gùi, chú Chó tới ngồi cạnh ông như để chia sẻ với chủ. Khi ông cháu Y Nuh xuống vùng người Kinh đổi mật ong, trầm hương lấy muối, thời gian vắng nhà của hai người đến cả tháng. Trong thời gian đó, chú Chó vẫn ra ngoài sàn hiên trước ngồi ngóng đợi. Khi hai người trở về, chú Chó lao tới lấy hai chân trước lần lượt ôm ghì lấy hai ông cháu. Vừa ôm nó vừa kêu ửa ửa... Ông Byă xoa, vuốt ve đầu nó một lúc nó mới thôi kêu.

***

Mười hai năm sau, kể từ ngày chú Chó về ở với gia đình ông Byă, nếu tính theo vòng đời tự nhiên của loài Chó thì nó đã quá thượng thọ rồi. Màu lông đã nhạt, mắt không còn tinh anh như trước, nhưng nó vẫn tỏ ra lanh lợi.

Vào một buổi sáng, vợ chồng ông Nuh Niê lấy gùi để lên rẫy. Khi họ ra đến sàn hiên trước đã thấy chú Chó nằm đợi. Biết là nó lại dẫn đường người trong nhà lên rẫy, ông Byă gọi: “Đi vào trong nhà. Yếu rồi không phải lên rẫy nữa, con ạ!”. Tuy vậy, chú Chó vẫn từ từ đi xuống cầu thang dẫn vợ chồng ông Nuh Niê lên rẫy. Hai người nhắc nó trở về nhà, nhưng nó vẫn hăm hở đi trước. Đây là lần đầu tiên trong đời nó không nghe theo lời chủ.

Đi gần tới rẫy, con Chó dừng lại. Bỗng nó dừng hết sức lực chồm lên, dùng hai chân giẫm chặt và dùng mồm cắn thật mạnh vào cổ con rắn hổ mang có hình dáng rất kì dị: thân con rắn to bè, ngắn cũn. Đã thế, phần đầu và miệng con rắn trề ra quá cỡ, càng làm cho nó thêm phần quái dị. Bị cắn thục mạng và giữ chặt bởi chú Chó, con rắn quật đuôi bành bạch lên mặt cỏ. Vửa lúc đó, vợ chồng ông Nuh Niê chạy tới đập chết con rắn. Lúc đó con Chó bị tia độc mà con rắn phun ra ngấm vào người, làm nó ngã xuống. Một lát sau, mở mắt nhìn thấy chủ, con Chó dùng hết sức lực đứng dậy nhưng bốn chân không trụ nổi, nó ngã nhào xuống. Rất may là ông Nuh Niê kịp đỡ và bế nó về nhà. Dọc đường thỉnh thoảng con Chó lại lên cơn co giật. Vợ chồng ông Nuh Niê thay nhau bế con Chó với lòng thương cảm, biết ơn con vật đã quên mình cứu mạng họ.

Khi hai người mang con Chó vào nhà, những người có mặt bàng hoàng, sửng sốt. Ông Byă vội vàng khấn: “Ơ Yang! Asâo kao mao klei suaih tlai kơ dleh. Kâo mao êsei, am brei kơ ih Yang!” (Ơ thần! Cầu thần giúp cho con Chó nhà tôi tai qua nạn khỏi. Tôi sẽ có cơm, thịt tạ ơn thần!”. Nghe tiếng ông Byă, đang trong cơn co giật, nhưng con Chó vẫn cố mở to mắt nhìn về hướng ông. Sau đó mắt nó nhòa đi và nhắm lại.

Từ đó con Chó bị liệt, mồm không há được. Vợ chồng ông Y Nuh Niê và hai cô con gái thay nhau nấu cháo, một người dùng hai tay kéo cho mồm con Chó mở ra để người khác đổ cháo cho nó ăn. Mỗi khi nằm lâu mỏi, con Chó lại kêu ửa, ửa... Người nhà ông Byă lại vào bế trở thế nằm cho nó. Con Chó nằm bất động, mắt nhắm nghiền, nhưng người trong gia đình ai vào thăm, nghe tiếng nó đều nhận ra. Mỗi lúc như vậy nó lại kêu ửa, ửa… Cho đến khi người vào thăm sờ vào đầu nó nựng: “Chú Chó ngoan hiền…” thì nó mới im.

Tin con Chó nhà ông Byă liều mình cứu chủ lan truyền trong các buôn làng Êđê. Bà con gần xa đến thăm nó. Năm đó, vùng người Êđê có dịch lớn. Kể từ ngày bị con rắn kì dị cắn, bảy ngày sau thì con Chó tắt thở. Cả gia đình ông Byă đau đớn, gánh chịu tổn thất to lớn này. Mọi người đứng nhìn con Chó với vẻ mặt u buồn. Ông Nuh Niê vừa ve vuốt trán con Chó vừa nói trong tiếng nấc: “Asâo knhao, asâo siăm êkei, asâo jăk-ênang, asâo myang… (chú Chó thông minh, chú Chó đẹp trai, chú Chó ngoan hiền, chú Chó linh thiêng…).

VĨ THANH: Sau một ngày con Chó ra đi, mới sáng sớm của một ngày mới, nắng đã bừng lên chiếu sáng khắp nơi. Trận nắng sớm đầu mùa khô đã thiêu chết loài vi rút khốn kiếp, giúp người Êđê tránh được nạn dịch khủng khiếp. Dân làng đồn rằng nhờ con Chó có linh thiêng mà có trận nắng sớm đầu mùa. Còn ông Nuh Niê đêm nằm mơ thấy con Chó và mình đang cùng nhau đi trong cánh rừng, nương rẫy lúc còn mờ sương, cùng bơi trên dòng suối nước trong vắt, chu du trên trời cao, mây trắng. Tỉnh dậy ông mới biết là mình nằm mơ. Ông tiếc nuối, lòng mong con Chó nhà ông sau khi mất sẽ biến thành giọt sương để đầu thai và gia đình ông sẽ được gặp lại nó trong cuộc đời này.