...Và lẻ loi (ảnh dưới)
Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013
TRÊN BIÊN GIỚI TÂY NAM TỔ QUỐC
Hôm nay ngày lễ VU LAN - rằm tháng bảy năm Quý Tỵ (21/8/2013) mọi người được quây quần bên người thân thắp hương cầu siêu cho người quá cố; còn H.C vì công việc nên lại phải đến biên giới Tây Nam của tổ quốc. Xin gửi tặng bạn bè chùm ảnh tại cửa khẩu BUPRĂNG - tỉnh Đăk Nong.
...Và lẻ loi (ảnh dưới)
...Và lẻ loi (ảnh dưới)
SIÊU NHÂN
Thời gian gần đây, bọn nhân viên trong cơ quan hình như cứ tránh mặt
anh Cả, khi buộc phải giáp mặt thì chỉ chào được một câu rồi tìm cách… chuồn.
Thấy lạ qúa, Anh Cả gọi cậu nhân viên “ruột” lên phòng hỏi:
- Thời
gian này các cậu trong cơ quan có vấn đề gì à?
-
Tại
sao Anh Cả lại hỏi em vậy?
-
Mình
thấy các cậu cứ mắt la mày lét khi mình đi qua, vậy là sao?
-
Tại
vì… tại vì…!
-
Cậu cứ
nói thật đi, không việc gì phải sợ.
-
Dạ, bọn
em thấy thời gian gần đây anh như…
-
Như thế nào?
-
Dạ,
như… như SIÊU NHÂN ạ!
-
Tại
sao lại bảo mình như SIÊU NHÂN?
-
Dạ,
anh làm gì cũng khác thường; mọi người bảo A anh lại cho rằng phải là B,
mọi người bảo NGƯỢC anh lại cho là XUÔI; thậm chí đến ngã ba đường, người thường
thì rẽ PHẢI hoặc TRÁI, còn anh thì cứ nhất mực đi thẳng… như vậy chắc chắn anh
là người KHÔNG BÌNH THƯỜNG hay nói theo ngôn ngữ hiện đại… là siêu nhân.
-
Ha ha…
Hay. Cảm ơn cậu!
Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013
THANG ÂM truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 216 tháng 8 năm 2010
Xen lẫn trong
tiếng vỗ tay ầm ầm như pháo nổ là tiếng reo của đám đông:
-
Đàn
lại đi! Đàn lại đi!
Lê Quang cúi đầu
chào và cánh màn nhung từ từ khép lại. Được biểu diễn trên sân khấu đã là một
vinh dự lớn lao đối với một người nhạc công vô danh vốn chỉ quanh quẩn trên
mảnh đất thị xã miền núi heo hút, nào mấy ai biết đến; thế mà hôm nay được biểu
diển trước khán giả chật cứng của Nhà Hát Lớn đến đêm thứ ba vẫn được người xem
hâm mộ gào thét xin được thưởng thức thêm, Lê Quang thấy mình hạnh phúc quá.
Ông Quốc Cương, Trưởng đoàn văn công của tỉnh bước từ cánh gà ra vỗ vai:
-
Khán
giả hâm mộ quá, thôi cháu ráng chịu khó tặng người ta thêm một bản nữa nhé.
-
Dạ!
Cánh màn nhung
lại từ từ kéo lên, ông Trưởng đoàn cúi đầu chào khán giả và cất tiếng:
-
Kính
thưa các quý vị khán giả! Thật vui khi được các quí vị dành cho đoàn nghệ thuật
tỉnh lẻ chúng tôi sự đón tiếp nồng nhiệt và ưu ái đến bất ngờ như thế này, anh
em chúng tôi vô cùng cảm động. Đêm nay cũng là đêm biểu diễn cuối cùng của đoàn
trước khi trở về Tây Nguyên, hẹn các bạn một ngày gần nhất chúng ta lại gặp
nhau tại đây. Để đáp lại thịnh tình của các bạn, nhạc sĩ Lê Quang sẽ trình bày một nhạc phẩm nữa, xin hãy xem đây
là món quà tặng người hâm mộ trước lúc chia tay.
Cả hội trường
đứng bật dậy vỗ tay hoan hô. Lê Quang ôm cây đàn ghi ta bước ra cúi đầu chào:
-
Thưa
các bác, các anh, các chị! Thật vinh dự cho một nhạc công như cháu khi được mọi
người ở đây mến mộ dành cho sự ưu ái đến bất ngờ, vậy cháu xin tặng mọi người
một bản nhạc nữa ạ.
Cả hội trường
lặng ngắt, chỉ có tiếng đàn vút lên; mọi người tròn xoe mắt khi thấy vị nhạc
công chỉ dùng một tay chơi đàn. Tiếng đàn như có phép màu nhiệm xóa tan u buồn,
xóa tan sầu muộn, xóa tan oán hờn… và tất cả chỉ còn là một dòng suối sôi sục
của trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Tiếng đàn của một thanh niên tuổi
chỉ mới “hăm”, chưa qua một nhạc viện nào đào tạo sao lại có sức cuốn hút mãnh
liệt đến thế! Bản nhạc đã dừng, người ta nghe rõ cả tiếng một con muỗi vừa mới
bay qua và rồi đột nhiên như có phép thần tiên cả hội trường đứng bật dậy vỗ
tay như sấm kéo dài. Người nhạc công từ từ quay lưng lại khán giả, quay lưng
lại với những tràng pháo tay nồng nhiệt dành cho mình, chiếc đàn ghi ta cũ kỹ
nhiều chỗ đã bong lớp sơn bên ngoài được chuyển từ phía trước ra sau lưng; khán
giả có thể nhìn rõ những chiếc giây đàn mỏng mảnh như bao chiếc dây đàn của các
cây đàn bình thường khác, vậy mà qua tay anh chàng nhạc công ốm nhách này lại
có sức hút kỳ lạ đến thế. Tiếng vỗ tay thưa dần, có thể trong số các vị khán
giả đã có chút không bằng lòng với cách cư xử của người nhạc công khi có thái
độ quá ngạo mạn – quay lưng lại khán giả! Có người phật ý vì cách cư xử không
lịch sự, hay nói đúng hơn là thiếu văn hóa của người nhạc công đã quay lưng lại
với những người hâm mộ mình! Cũng có người tỏ ra thông cảm: “bệnh ngôi sao” là
vậy, phải có một chút gì đó cố tạo ra cho khác người thường chứ! Có lẽ hơn một
ngàn người có mặt xem biểu diễn đã có rất nhiều người hụt hẫng vì thần tượng
của mình cư xử không đúng mực trong khi được tung hô, vì thế tiếng reo ngớt dần
và mọi người từ từ ngồi xuống, trật tự được vãn hồi.
Thật bất ngờ,
tiếng đàn lại vang lên! Nó ngân lên ngay sau lưng người nhạc sĩ và mười ngón
tay như có phép mầu nhảy múa trên các phím đàn. Có lẽ tất cả khán giả không còn
tin vào mắt mình, họ tưởng mình đang mơ ngủ! Không! Tiếng đàn ma quái hay tiếng
đàn thần tiên vẫn đang bay ra từ đôi bàn tay người nhạc công, có điều lạ: đôi
bàn tay nhảy múa trên phím đàn, phía sau lưng người nhạc công như có mắt và vẫn
cuốn hút người nghe, người xem như có một ma lực nào đấy. Tiếng nhạc dừng,
người biểu diễn quay mặt lại phía khán giả cúi đầu chào, cả hội trường vẫn lặng
ngắt rồi bỗng nhiên vỡ òa, người ta chen nhau chạy lên sân khấu để chỉ mong có
cơ hội được sờ vào bàn tay “có mắt” của vị nhạc công.
*
* *
Sáng hôm sau,
khi Đoàn đang chuẩn bị ra xe xuôi vào Nam, người nhạc công mảnh khảnh oằn mình
vác chiếc loa thùng to đùng ra xe thì bất ngờ có chiếc Vonga đen chạy đến xin
gặp Trưởng đoàn và vị nhạc công đã biểu diễn đàn ghi ta sau lưng như làm xiếc. Trước
lời đề nghị quá hấp dẫn dành cho người nhạc công tài hoa, ông Trưởng đoàn chỉ
còn biết trả lời: Tùy cháu nó quyết định! Nếu Lê Quang nhận lời về đoàn Văn
công của Tổng cục, lương chính được nâng vượt bậc, cấp nhà ngay tại thủ đô và
nhiều thứ ưu tiên khác; một tương lai rực rỡ đang đón đợi phía trước. Theo lời
mời của vị lãnh đạo (chủ chiếc xe Vonga) đoàn ở lại thêm một ngày – tất nhiên
mọi kinh phí do bên mời chi để đợi cái gật đầu của Lê Quang.
Được ở thủ đô
công tác lại có nhà riêng thì quả thật có mơ, Lê Quang cũng chưa bao giờ nghĩ
tới. Những ngày ấu thơ vừa học vừa làm kiếm sống nuôi thân, nuôi mẹ trong thời
buổi chiến tranh loạn lạc, Lê Quang hiểu thế nào là đói rét, khổ nhục. Sinh ra
trên đất Quảng Nam dưới tiếng gầm thét của đại bác và bom đạn, người cha chưa
kịp biết mặt đã bị bom đạn cướp đi, người mẹ chỉ còn một tay bị xúc lên Cao
Nguyên trong chiến dịch “tát nước, bắt cá” của gia đình họ Ngô. Mảnh đất Tây
Nguyên chỉ có gió bụi và tiếng đại bác gầm thét hàng ngày là nhiều. Buổi đi
học, buổi đi đánh giày thuê cho những kẻ đã xả bom đạn hủy diệt quê hương, gia
đình mình, giết cha, hại mẹ… nhưng vì cuộc sống vẫn phải làm. Tuổi ấu thơ trôi
qua trong bần cùng, nhưng từ trong sâu thẳm của trái tim, một niềm đam mê âm
nhạc được hình thành. Lê Quang không thích sự ồn ào của vũ trường thâu đêm suốt
sáng phục vụ lũ lính ngoại bang, nhưng lại đam mê tiếng đàn của các quán trà.
Thấy có nhạc công biểu diễn ở quán nào thì Lê Quang tìm mọi cách đến gần xem
người ta đánh và mắt như muốn uống lấy từng nốt nhạc. Quan sát và tự học đánh
đàn bằng mắt và bằng cả trí tưởng tượng của mình. Đêm về, dưới ngọn đèn dầu leo
lét, Lê Quang hình dung lại từng bản nhạc và các ngón tay của người nghệ sĩ
lướt trên các phím như thế nào để tạo ra âm thanh rồi lấy than vẽ lên tấm ván
hình cây đàn ghi ta với đầy đầy đủ: dây, phím… và say sưa tập đánh; cho dù
những đêm “biểu diễn” ấy không thể có âm thanh. Cứ như thế, cho đến một hôm được người nhạc
công gọi lại đánh giày. Lẽ thường đánh giày để lấy tiền thì Lê Quang lại chỉ
xin được cầm cây đàn ghi ta của người nhạc công một chút. Người nhạc công ngạc
nhiên nhìn Lê Quang như nhìn một đứa trẻ ở thế giới khác; một cậu bé chỉ độ hơn
chục tuổi đầu, nước da đen nhẻm, thân hình ốm nhách, mặt gãy, trán dô; song đôi
mắt như có ngọn lửa nhìn cây đàn tha thiết quá đã làm anh ta mủi lòng và không
thể cưỡng lại được nên bất đắc dĩ cũng đưa cây đàn và dặn:
-
Cẩn
thận không hỏng cần câu cơm của tao.
-
Dạ!
Lần đầu tiên
được ôm cây đàn mà qua bao năm tháng chỉ có mơ ước trong tuyệt vọng, nay được
thỏa chí mong muốn rồi, bỗng nhiên các ngón tay như bị ma làm đã tự lướt trên
các phím đàn một bản nhạc của họ Trịnh mà hàng ngày thường nghe ở các quán trà.
Lê Quang say sưa chơi đàn như quên hết tất cả mọi vật xung quanh, quên người
cho mượn đàn, quên cả chiếc bàn chải đánh giày phương tiện kiếm sống hàng ngày
khét lẹt mùi xi - vật bất ly thân trong suốt chặng đường đời niên thiếu, quên
đám đông những người đang uống cà phê xung quanh đã đứng hết cả dậy đi lại vây
quanh chú bé đánh giày chơi đàn. Tiếng đàn dứt, mọi người xung quanh vỗ tay tán
thưởng. Người nhạc công cho mượn đàn tròn mắt hỏi:
-
Ai
dạy em chơi đàn vậy?
-
Dạ,
thưa anh không ai cả ạ!
-
Không
người nào dạy sao em chơi hay vậy?
-
Dạ,
em có được ai dạy đâu, đây là lần đầu tiên em được cầm cây đàn đấy ạ.
-
Kỳ
tài, kỳ tài!
Cuộc đời Lê
Quang sang trang mới, cậu trở thành học trò của người nhạc công cho mượn đàn.
Lần đầu tiên trong đời, Lê Quang mới biết các dấu ký hiệu của âm nhạc và cách
thể hiện chúng. Vừa học vừa thực hành ngay tại các quán, cậu bé đánh giày trở
thành nhạc công lúc nào không biết. Nhưng cuộc sống luôn có những bất ngờ,
trong một lần biểu diễn ở quán nhậu cho bọn lính mới đi càn về; vì tranh giành
gái bar, mấy tên lính Dù bắn lộn với bọn biệt kích, viên đạn vô tình đã cướp đi
vị nhạc công – người thầy âm nhạc đầu tiên của Lê Quang chỉ sau hơn một tuần
theo học. Người nhạc công mất, không ai biết tên thật của anh ta và quê quán ở
đâu; thành ra Lê Quang là người thừa kế duy nhất tài sản anh ta để lại: một cây
đàn ghi ta. Năm tháng trôi qua người nhạc công mảnh khảnh trở thành một hiện
tượng đặc biệt của một thị xã heo hút thời chiến. Các quán cà phê lớn tranh
nhau mời và thù lao cũng được nâng lên dần, cuộc sống vật chất của hai mẹ con
đỡ phần vất vả.
Chiến tranh qua
đi, đất nước thống nhất mọi người bắt tay xây dựng lại non sông trên đống đổ
nát của chiến trường. Lúc này mọi người chỉ chú ý xây dựng kinh tế. Lương thực
thiếu trầm trọng, ông Bí thư Tỉnh ủy – nguyên là một vị tướng của Quân đội
chuyển sang, đề xuất một phương án táo bạo: biến cả tỉnh thành một nông trường!
Tất cả các cơ quan ban ngành của tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học
phổ thông phải đi phá rừng trồng lương thực. Những cánh rừng già không biết từ
bao nhiêu đời được chặt đổ xuống và đốt thành tro lấy chỗ trồng khoai, bắp,
lúa, đậu… giải pháp chống đói tạm thời. Các quán cà phê đóng cửa, Lê Quang cũng
được huy động đi phá rừng trồng cây lương thực. Đêm đêm, bên đống lửa hừng hực
cháy của các thân cây gỗ hai, ba người ôm không hết, người nhạc công ôm đàn
chơi cho đỡ nhớ. Không ngờ tiếng đàn mang lại hiệu quả, đội thanh niên xung
kích mời Lê Quang tham gia phối hợp biểu diễn cùng đoàn Văn công của tỉnh phục
vụ chiến dịch. Ông Trưởng đoàn Văn công nghe đàn, biết ngay đây là viên ngọc
thô quý giá nên vận động cấp trên chấp nhận tuyển Lê Quang vào làm nhạc công
cho Đoàn, dù lý lịch không được rõ ràng cho lắm. Đôi bàn tay bỏng rộp vì dao,
búa đốn chặt cây được may mắn trả lại cho cây đàn. Dưới sự chỉ dẫn tận tình của
ông Trưởng đoàn - một người dân thủ đô Hà Nội chính hiệu, Lê Quang tập tọe sáng
tác và phổ nhạc. Tài năng nghệ thuật không đợi tuổi cũng không phân biệt bằng cấp;
người học chưa hết phổ thông nhưng có thể có những tác phẩm đứng được với công
chúng, được dư luận chú ý, Lê Quang chính là một trong những hiện tượng ấy.
Đoàn Văn công của tỉnh đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh bạn được quần chúng
nô nức chào đón vì có tiếng đàn ghi ta mê ly lôi kéo của Lê Quang, anh thành
tài sản quý giá của Đoàn. Đoàn văn công đã trở thành một mái nhà mang lại hạnh
phúc cho Lê Quang, vì thế anh không thể dứt tình ra đi. Ông trưởng đoàn hớn hở
ra mặt, tuyên bố với mọi người: Thằng này khá, tao không nhìn nhầm người!
*
* *
Nhưng đời không
ai có thể biết trước điều gì, Đoàn vừa về đến tỉnh, xe công an ập đến còng tay
Lê Quang đưa đi. Ông trưởng đoàn văn công chạy lên ty Công an hỏi mới được
biết: hình như lính của ông là điệp ngầm cho chế độ cũ. Trong Đoàn, mọi người
được dịp bàn tán: Cái thằng đó là quân do CIA đào tạo đấy! Mất cảnh giác quá,
trong chế độ Ngụy, hắn hơn hai mươi tuổi
mà vẫn không bị bắt lính là có vấn đề rồi, thế mà không đoán ra! Cháy nhà ra
mặt chuột, sao có thể để một tên phản động ở mãi trong cơ quan văn hóa – nghệ
thuật như cơ quan chúng ta được. Có những người từng ghen với tài năng của Lê
Quang còn mạnh miệng tuyên bố: Tuyển cả CIA vào làm việc chắc lãnh đạo Đoàn bị
“mua” rồi! Nhưng cũng có người thương tình: Chắc có sự nhầm lẫn gì đây, hắn
sống tình nghĩa như vậy không thể là thằng phản trắc. Mặc đồng nghiệp hay người
yêu mến tiếng đàn có nói gì đi nữa thì vụ án của Lê Quang cũng không được xét
xử, anh vẫn phải ở nhà tạm giam của cơ quan điều tra. Lâu dần người ta cũng
đành chấp nhận quên dần tiếng đàn ghi ta của người nhạc sĩ còi.
Trong khi ấy, Ở trại tạm giam, Lê Quang bị
hỏi cung liên tục nhưng hình như vẫn chưa có gì rõ ràng. Chỉ vì một lẽ hồi chế
độ cũ, vì mê tiếng đàn của người nhạc công nghèo, một tên bên An ninh đã gọi
anh lên nói thẳng:
-
Mày
đến tuổi đi Quân dịch rồi, nhưng ra đó thì một đi không trở lại nữa đâu, mẹ già
ai nuôi! Mày ký vào giấy tờ này, tao bảo lãnh sẽ không ai quấy rầy mày nữa. Nếu
không phải loạn lạc của chiến tranh với tài năng của mày chắc chắn đời sẽ khá
đấy. Còn thời buổi này đành phải vậy thôi…! Mày đồng ý không?
-
Dạ!
Cũng từ đó không
ai nhắc đến chuyện bắt Lê Quang đi lính cho tận đến ngày hòa bình. Không ngờ
trong đống hồ sơ lưu trữ mà bên Công an có được lại vẫn lưu giữ tập hồ sơ đó.
Dù có nói gì, khai gì đi nữa Cán bộ vẫn không tin, nên người nhạc công vẫn phải
ở tù.
*
* *
Cái tỉnh nghèo heo hút trên cao nguyên lại
được dịp xôn xao, đường phố được chăng đầy cờ và biểu ngữ chào đón vị lãnh đạo
cao cấp của Đảng và Nhà nước vào thăm. Lâu lắm mới có vị khách quý đến như vậy
ghé vào nên tiếp đón chu đáo cũng phải. Đoàn Văn công của tỉnh được vinh dự
biểu diễn chào mừng. Ông Vũ Cương bố trí tiết mục cuối cùng khép lại chương
trình văn nghệ chào mừng là bản nhạc phổ thơ của chính vị lãnh đạo cao cấp vào
thăm. Bản nhạc dứt, Lãnh đạo tỉnh xếp hàng ôm hoa tặng người có thơ được phổ
nhạc hay quá; còn tác giả bài thơ lại đề nghị cho gặp Trưởng đoàn Văn công và
người nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc thơ mình. Ông Vũ Cương cứ thực lòng báo cáo về người
nhạc công phổ nhạc bài thơ không biết vì lí do gì mà bên công an tạm giữ mãi
không xét xử. Nghe xong báo cáo, vị khách hỏi Chủ tịch tỉnh, Chủ tịch gọi
Trưởng ty Công an và… sáng hôm sau xe U - oat của bên An ninh chở Lê Quang trả
về đoàn với lời xin lỗi vì… nhầm!
Hôm sau nữa,
Lãnh đạo tỉnh mời Lê Quang đến nhận quyết định cấp nhà ngay tại trung tâm thị
xã, thế là hai mẹ con có nơi ở mới; chấm dứt cảnh ở thuê căn hộ nghèo nàn, lụp
xụp.
Mùa đông năm 2010
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013
NỬA ĐƯỜNG NHÌN LẠI ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 240 tháng 8 năm 2012
Từ
sau Đại hội V, Hội Văn Nghệ Đăk Lăk, nhiệm kỳ 2010 – 2015 đến nay đã gần tròn
hai năm; trong hai năm ấy Ban chấp hành khóa V đã làm được những gì và những gì
còn chưa làm được hay làm chưa xong. Chúng ta cùng nhìn lại chặng đường vừa qua
để tìm ra phương thức hoạt động hiệu qủa hơn cho công tác Hội trong những năm
cuối nhiệm kỳ.
Ngày 31 tháng 12 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk có
Quyết định phê duyệt công nhận kết quả Đại hội V, Hội Văn học Nghệ thuật Đăk
Lăk, nhiệm kỳ 2010 – 2015. Như vậy, Ban chấp hành mới chính thức bắt tay vào
nhiệm vụ của mình – lãnh đạo Hội trên một chặng đường mới, 2010 - 2015. Ban
chấp hành khóa V, được Đại hội V bầu ra có sự nhất trí cao, cả 13 Ủy viên ban
chấp hành được bầu đúng như số lượng Đại hội đã nhất trí và chỉ bầu một lần đã
đủ số lượng trúng cử; Ủy viên đạt số phiếu cao nhất trên 98 %, Ủy viên thấp
phiếu nhất cũng đạt trên 70% phiếu bầu; điều đó chứng tỏ sự tin tưởng của 192 hội
viên đối với tập thể lãnh đạo Hội mới.
Tuy nhiên bên cạnh niềm vui vẫn còn đó những trăn trở, băn
khoăn: các khóa trước Thường trực Hội bao giờ cũng có từ 3 đến 5 người là Ủy
viên Ban chấp hành; sau Đại hội V, nhìn lại chỉ còn 2. Ban chấp hành khóa V,
họp phiên đầu tiên cũng chỉ bầu được 4 Ủy viên Ban thường vụ, trong khi đó theo
số lượng Đại hội quyết định là 5, vẫn khuyết một. Lãnh đạo Hội theo Điều lệ là
03 người, nhưng tại phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành chỉ bầu được một Chủ
tịch và một Phó chủ tịch kiêm nhiệm, vì thế công tác ở Cơ quan Hội hết sức nặng
nề, mỗi thành viên trong Thường trực Hội phải cố gắng trên cả mức bình thường
để hoàn thành nhiệm vụ.
Ban chấp hành khóa V,
họp lần 2 vào ngày 25 tháng 2 năm 2011, đã bầu bổ sung thêm một Phó chủ tịch và
một Ủy viên thường vụ; kiện toàn bộ máy lãnh đạo Hội đúng như Nghị quyết Đại
hội V đã thông qua và sau đó được Thường vụ Tỉnh ủy cũng như Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh ra Quyết định chuẩn y. Bộ máy lãnh đạo Hội nhiệm kỳ V được kiện
toàn, nhưng Thường trực Hội vẫn chỉ có 02 Ủy viên Ban chấp hành, (nhiệm kỳ IV
là 04 người). Đây cũng là một thách thức không nhỏ trong công tác điều hành Cơ
quan Hội. Nhưng với quyết tâm cao và được sự ủng hộ của đông đảo hội viên nên
cuối năm 2011, Ban chấp hành Hội đã soạn thảo và ban hành 11 quy chế trong đó
có điều chỉnh, bổ sung 4 quy chế các khóa trước đã ban hành, làm cơ sở cho các
hoạt động của Hội đi vào nề nếp. Có thể khẳng định: việc ban hành một loạt các Quy
chế của Ban chấp hành khóa V, là một bước tiến quan trọng, cụ thể hóa Điều lệ
Hội; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn... cho từng bộ phận trực
thuộc để đi vào hoạt động chuyên sâu trong từng lĩnh vực. Cũng chính việc có
Quy chế nên Thường trực Hội, tuy chỉ có 02 người trong Ban chấp hành vẫn điều
hành bộ máy hoạt động có hiệu quả, từng bước đi vào chuyên môn hóa các bộ phận,
giúp công tác Hội ngày một tổ chức tốt hơn, họat động hiệu quả hơn. Đã lâu rồi
lại mới tổ chức một cuộc Hội thảo “Nâng cao chất lượng tạp chí Chư Yang Sin”,
được đông đảo hội viên tham gia và dư luận cả nước đánh giá cao. Giải thưởng
Văn học Nghệ thuật năm 2011 được trao cho những tác phẩm xuất sắc, tuy là giải
thưởng hàng năm của Hội nhưng một số năm trước không được tổ chức, nay mới khôi
phục lại. Ngoài ra một số chi hội cũng có hoạt động sôi nổi, gặt hái được nhiều
giải thưởng trong và ngoài nước như: chi hội Mỹ thuật, chi hội Nhiếp ảnh, chi
hội Văn Học... Nổi bật nhất là chi hội
Văn học không những duy trì sinh hoạt đều đặn theo quý mà còn tổ chức các buổi
tọa đàm, gặp mặt nhân các ngày lễ lớn trong
năm. Chính những hoạt động ấy đã ngày một bám sát cuộc sống, góp phần quan
trọng nâng cao chất lượng sáng tác của Hội viên. Từ việc ban hành Quy chế hoạt
động của Hội đồng Nghệ thuật, đã có bước tiến quan trọng trong lĩnh vực thẩm
định giá trị Nghệ thuật của từng chuyên
ngành; tạo điều kiện thuận tiện cho Ban chấp hành Hội xét tài trợ cho hội viên,
kịp thời, công bằng, được đại đa số hội viên hoan nghênh.
Việc tổ chức cho hội viên đi thực tế sáng tác và dự trại
cũng được duy trì thường xuyên, liên tục và huy động được nhiều anh chị em tham
gia như: đi thực tế sáng tác biên giới của hai tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông hai đợt;
đi thực tế sáng tác kết hợp với tỉnh Bình Phước; đi huyện Krông Năng tham dự lễ
hội; đi thực tế sáng tác và tham gia triển lãm Mỹ thuật Khu vực Nam miền Trung
và Tây Nguyên; đi sáng tác tại các tỉnh miền Trung, hai đợt v.v... Tổng cộng
có 82 lượt văn nghệ tham gia. Có thể nói
trong năm 2011, Thường trực hội đã tổ chức nhiều lượt người đi thực tế sáng tác
hơn những năm trước đây và qua các đợt đi này văn nghệ sĩ hiểu rõ hơn công cuộc
đổi mới đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo trong thời kỳ hội nhập đã có
những thành công nhất định; một số khó khăn, tiêu cực còn nảy sinh ở nơi này
hay nơi kia nhưng đó chỉ là một hiện tượng nhất thời đang dần được khắc phục.
Có thể xem năm 2011, mới chỉ là khởi đầu kiện toàn bộ máy
lãnh đạo Hội để tạo đà cho năm 2012 tăng tốc, gặt hái những thành công lớn.
Trong tình hình kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh
tế thế giới, vì thế các hoạt động của Hội cũng gặp không ít khó khăn, thách
thức. Nhưng được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đối với Văn nghệ sĩ
tỉnh nhà như: vào đầu xuân, Lãnh đạo tỉnh vẫn tổ chức gặp mặt đại diện Văn nghệ
sĩ để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và cả những ý kiến đóng góp xây dựng... Tổ
chức cho Văn nghệ sĩ học tập chuyên đề riêng về Nghị quyết trung ương IV - Quán
triệt chủ trương, đường lối của Đảng trong chỉ đạo chung và Văn Nghệ nói riêng trong
giai đoạn mới; điều đó đã động viên văn nghệ sĩ hăng say sáng tác, góp phần vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bên cạnh quan tâm về tinh thần, Ủy ban
nhân dân tỉnh cũng đã cấp kinh phí bổ sung gần 700 triệu đồng cho thường trực
Hội đại tu ô tô, sửa lại trụ sở Cơ quan Hội khang trang hơn.
Tiếp nối thành công
của năm trước và học tập kinh nghiệm các khóa trước, trong bảy tháng đầu năm
nay Ban chấp hành Hội tiếp tục duy trì các hoạt động truyền thống hàng năm như:
tổ chức Ngày thơ Việt Nam vào trung tuần tháng Giêng tại hai địa điểm thu hút
hàng ngàn khán giả tham gia. Tổ chức cho anh chị em văn nghệ sĩ đi thực tế sáng
tác trong và ngoài tỉnh được hợn 90 lượt người. Đến hẹn lại lên, Hè 2012 tổ
chức thành công Trại Bồi dưỡng sáng tác Văn – Thơ “Hương Rừng 14” dành cho các
em thanh thiếu nhi là người dân tộc thiểu số đã đạt giải thưởng môn Văn trong
năm học 2011 – 2012 và là cộng tác viên tạp chí Chư Yang Sin; phối hợp với
huyện Cư M’gar tổ chức trại “Bồi sưỡng sáng tác Nghệ Thuật Núi Hoa 17” cho hơn
30 cháu. Rút kinh nghiệm các chuyến đi thực tế sáng tác năm 2011, năm nay
Thường trực Hội thí điểm tổ chức đi thực tế sáng tác tại một số điểm trong tỉnh
với phương châm “ba cùng”, nhằm giúp văn nghệ sĩ bám sát “hơi thở cuộc sống”
ngay tại địa phương, khai thác một phần tiềm năng phong phú cuộc sống mới ngay
địa bàn tỉnh nhà để đưa vào tác phẩm và bước đầu đã thành công như chuyến đi
thực tế sáng tác 7 ngày tại huyện Krông Năng tháng 5 vừa qua. Cũng chính từ
những chuyến đi thực tế sáng tác và các trại “Hạ Xanh”, “Hương Rừng” được tổ
chức thường xuyên, liên tục, chúng ta đã phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp được 23
hội viên mới, đa số trong số họ tuổi đời dưới 35 và đặc biệt có tới 03 hội viên
tuổi dưới 25 đang là sinh viên năm cuối của các trường đại học; đây chính là
thành quả của Ban chấp hành các khóa trước đã “gieo” và đến hôm nay chúng ta
“thu hoạch”.
Nhằm nâng cao chất
lượng sáng tác cũng như trao đổi thông tin về học thuật, Ban chấp hành Hội đã
mời nhà văn Cao Duy Sơn, Phó chủ tịch Hội VHNT các DTTS Việt Nam – Tổng biên
tập tạp chí Văn hóa các Dân tộc vào trao đổi với hội viên, được đa số văn nghệ
sĩ hoan nghênh. Qua buổi tọa đàm không những anh chị em hội viên mà cả những thính
giả đang giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Buôn
Ma Thuột cũng hết sức hoan nghênh và mong Hội tiếp tục có nhiều những buổi tọa
đàm như thế để mọi người có cái nhìn khách quan hơn trước sự phát triển đa dạng
của văn hóa – văn nghệ trong thời kỳ hội nhập. Có thể khẳng định: thời gian qua,
Ban chấp hành Hội khóa V, với gần một nửa là Ủy viên mới, tuổi đời cũng còn trẻ
so với các khóa trước, nhưng đoàn kết cao, phát huy được trí tuệ của cả tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách; biết phát huy dân chủ trong lãnh đạo, đã chèo lái
con thuyền Văn Nghệ tỉnh nhà đi đúng hướng, góp phần tích cực vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo.
Nói như thế không có nghĩa mọi việc đã viên mãn, không còn
những tồn tại và thách thức cần phải vượt qua trong thời gia tới. Phải thẳng
thắn thừa nhận một số công việc Ban chấp hành đề ra nhưng Thường trực Hội chưa
thể hoàn thành đúng kế hoạch như: tách tạp chí Chư Yang Sin, xét Tài trợ sáng
tạo Văn học Nghệ thuật, tổ chức đi thực tế các tỉnh phía Bắc học hỏi kinh
nghiệm... Vì nhiều lý do khác nhau như: cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, ảnh
hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu, biên chế nhân sự của cơ quan Hội
chưa đầy đủ... nên còn nhiều việc đề ra mà chưa hoàn thành đúng kế hoạch. Ngoài ra, một số hội viên vi phạm Điều lệ hội
như: bỏ sinh hoạt, không đóng Hội phí trên 5 năm, được nhắc nhở nhiều lần nhưng
không có kết quả nên Ban chấp hành đành phải quyết định xóa tên. Việc phải xóa
tên những Hội viên vi phạm Điều lệ Hội là một việc làm bất đắc dĩ; song vì
phong trào chung, vì sự phát triển của Hội, đành phải chấp nhận. Chúng ta tin và
hy vọng trong thời gian tới, sẽ khắc phục những tồn tại, thiếu sót của thời
gian vừa qua, đưa phong trào Hội ngày một phát triển, đáp ứng sự kỳ vọng của
anh em hội viên nói riêng và mong đợi của quần chúng nhân dân nói chung. Đất
nước có truyền thống hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, Văn nghệ sĩ chúng
ta phải chung tay đoàn kết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, góp sức cùng Đảng
và Nhà nước định hướng con đường phát triển, hướng tới dân giàu, nước mạnh, xã
hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013
SỰ TÍCH MỘT BÀI CA bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 180 THÁNG 8 NĂM 2007
Cuối buổi
chiều làm việc với lãnh đạo Huyện uỷ Ea Súp, tôi hỏi đồng chí Phạm Tấn Bê - Bí
thư huyện uỷ: Có thể khẳng định, nhờ có nguồn
nước lấy từ hai hồ Ea Súp Thượng và Hạ, mà đời sống đa số đồng bào các dân tộc
trong huyện có những thay đổi cơ bản. Là một trong những người đầu tiên đến đây
nhận công tác chuẩn bị cơ sở vật chất thành
lập huyện và gắn bó với phong trào của huyện từ đó đến nay, đồng chí có thể cho
chúng tôi biết ai là người đầu tiên đề xuất phương án xây dựng đập Ea Súp?
- Bây giờ muộn
rồi, ta nghỉ. Tối nay 19 giờ 30, mời anh đến làm việc, và sẽ gặp người trả lời
cho các anh câu hỏi này!
Mọi người cùng cười, đứng lên bắt tay tạm
biệt nhau. Bước ra lan can, nhìn về hướng tây, tôi giật mình thấy mặt trời đã đi
ngủ từ lâu. Một buổi chiều trôi qua thật nhanh làm cả chủ nhà lẫn khách quên mất
thời gian đang vùn vụt trôi đi.
Đúng hẹn, tôi
và nhà văn Khôi Nguyên, quyền Tổng biên tập tạp chí Chư Yang Sin đến phòng làm
việc. Đón chúng tôi, ngoài Bí thư Huyện uỷ còn có một người đàn ông cao, gầy, tóc
bạc trắng, bàn tay gân guốc nhưng giọng nói còn khoẻ khoắn lắm. Qua lời giới
thiệu của Bí thư Huyện uỷ, chúng tôi được biết người đàn ông ở tuổi “thất thập
cổ lai hy” ấy chính là ông Nguyễn Công Huân, nguyên Chủ tịch huyện Ea Súp. Sau
khi yên vị, cùng thưởng thức li trà Thái Nguyên thơm ngát, ông Nguyễn Công Huân
vào chuyện ngay:
- Nhanh thật, mới đó đã hơn ba chục
năm trôi qua. Đầu năm 1976 tôi được Huyện uỷ huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cử dẫn
quân vào Dak Lak xây dựng kinh tế mới. Khi ấy cả vùng đất này còn thuộc huyện
Buôn Hồ, năm 1977 tỉnh có chủ trương tách vùng đất phía tây huyện thành lập huyện
mới, đặt tên là huyện Ea Súp, thị trấn huyện đặt tại xã Quảng Phú (bây giời là
thị trấn huyện Cư M’gar). Sau một thời gian tách huyện, tỉnh thấy thị trấn đặt
tại Quảng Phú không phù hợp nên quyết định chuyển về đây. Theo tôi đó là một
quyết định sáng suốt vì địa thế thị trấn hiện nay, không những thuận tiện chỉ đạo
công tác hành chính cho cả huyện mà còn đảm bảo công tác an ninh quốc phòng, phát
triển kinh tế về lâu về dài. Cái mới bao giờ cũng khó, khi ấy điều kiện vật chất
còn thiếu thốn trăm bề, bọn phỉ fulrô thường xuyên phục kích cướp của, giết người,
phá hoại cuộc sống bình yên của người dân; ấy là chưa kể bon Khơ Me Đỏ hàng ngày
vượt biên quấy phá. Bên cạnh đó cái đói là nỗi lo thường nhật của mọi người. Cả
vùng đất bằng phẳng, rộng mênh mông như thế này mà sao dân không đủ ăn? Làm cách
gì và làm thế nào để dân không đói? Đó là nỗi trăn trở của tôi, cũng như những nguời cán bộ đầu tiên đến nhận công tác
nơi đây.
Ngừng lời nhấp
một ngụm nước trà như muốn cho trôi đi cái kí ức không vui đã qua. Ông Phạm Tấn
Bê đỡ lời.
- Bác Huân đây học đại học nông nghiệp
cùng khoá với ông Nguyễn An Vinh, Bí thư Tỉnh uỷ đấy! Khi huyện được thành lập,
bác đang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn xây dựng kinh tế mới tại đây. Năng nổ
với phong trào của huyện và cũng là người đầu tiên vạch ra phương án phải làm gì
để xoá được đói, tiến lên có thể làm giàu cho người dân nơi đây.
Tôi giật mình
trước thông tin vừa nhận được, chỉ có những ai từng sống ở Tây Nguyên sau 1975
mới thấy được giá trị của những người có tri thức khoa học lúc bấy giờ cần thiết
cho công cuôïc tái thiết đất nước như thế nào! Sau khi giải phóng Miền nam, thống
nhất Tổ quốc, chúng ta bắt tay xây dựng lại đất nước trên đống đổ nát của chiến
tranh; thiếu thốn mọi bề nhưng có lẽ các chuyên gia trên liõnh vực khoa học, kỹ
thuật là thiếu trầm trọng hơn cả. Thời ấy có một kỹ sư nông nghiệp ở Tây Nguyên
còn quý hơn vàng. Càng quý giá hơn khi người kỹ sư đó lại là người đã kinh qua
công tác nhiều năm, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong công tác quản
lí nông nghiệp. Với vốn liếng khoa học học trong nhà trường, tích luỹ qua thực
tiễn cuộc sống thì không còn gì quý hơn khi mang kiến thức đó vào áp dụng cho đồng
bào Dak Lak nói chung và nhân dân huyện Ea Súp nói riêng.
Qua lời tâm
sự của ông Nguyễn Công Huân và thỉnh thoảng có sự góp lời của ông Bí thư Huyện
uỷ, tôi dân dần hình dung ra cuộc sống của nhân dân các dân tộc tại chỗ lúc bấy
giờ: Đói! Trình độ canh tác của người dân lạc hậu, chỉ dựa vào sức con người là
chủ yếu, còn trâu bò chỉ dùng làm thực phẩm, cúng tế trong các ngày lễ, chứ không
biết sử dụng làm sức kéo giúp đỡ con người trong lao động. Sản xuất nông nghiệp
hoàn toàn phụ thuộc vào trời. Gió mưa thuận hoà còn có thể đắp đổi qua ngày, còn
không là đói. Dân quê lúa Thái Bình vào đây cũng đói vì chỉ có thể làm một vụ lúa
rẫy vào mùa mưa, còn mùa khô, hạt nước uống cũng hiếm chứ nói gì dùng cho các
việc khác.
Để thoát đói
chỉ còn cách phải trồng lúa nước. Nhưng bao đời nay người dân ở đây chỉ biết trỉa
lúa trên rẫy, còn lúa nước họ cho rằng không thể trống trên vùng đất cằn cỗi này.
Không bằng lòng với truyền thống lâu đời của người dân bản địa nơi đây, ông kỹ
sư nông nghiệp trên cương vị trung đoàn trưởng đã tổ chức trồng thử bốn sào lúa
ven suối trước sự không tin của mọi người, trong đó có cả một số vị lãnh đạo cũng
cho là viển vông, không thực tế. Hạt giống Thái Bình quen với hương vị phù sa sông
Hồng, không ngờ lại sinh sôi nảy nở tốt đến thế khi được gieo trồng trên mảnh
Ea Súp có đủ nước. Ngày lúa chín, ông trung đoàn trưởng mời các vị lãnh đạo cấp
trên về tận nơi kích mục sở thị. Cầm trên tay bông lúa vàng óng ánh, nặng trĩu,
hạt xếp lên nhau dài hơn gang tay, mắt ai cũng rưng rưng xúc động. Chìa khoá xoá
đói giảm nghèo đã được tìm ra. Vùng đất Ea Sup cũng có thể trồng được lúa nước.
Câu chuyện cổ tích như nằm mơ giữa ban ngày đã thành sự thật. Việc còn lại là
phải tìm cho ra nguồn nước. Nếu có nước, cả vùng bình nguyên Ea Súp rộng lớn mênh
mông này sẽ là vựa lúa trù phú trên cao nguyên Tây Nguyên.
Từ thực tiễn
đó đã nảy sinh ý tưởng đắp đập để cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và phục
vụ đời sống dân sinh. Dự án xây hồ chứa nước Ea Sup ra đời trong hoàn cảnh như
vậy và được các cấp lãnh đạo ở trung ương cũng như địa phương chấp thuận. Để thực
thi dự án đắp đập, cấp trên yêu cầu trung đoàn Ôâng phải khai hoang được 400 ha
đất trước khi công trình khởi công. Lúc bấy giờ Trung đoàn đã được cấp máy móc
phục vụ khai hoang, nhưng người sử dụng còn ít. Ôâng về đơn vị mời toàn thể anh
em đại đội cơ giới về họp, đặt yêu cầu phải khai hoang gấp diện tích đất theo yêu
cầu cấp trên giao. Đại đội trưởng cơ giới thay mặt anh em trong đơn vị hứa sẽ
hoàn thành đúng tiến độ với một điều kiện: được
ăn một bữa no. Ông đồng ý và còn ra lệnh đặc biệt, cung cấp cho anh em lái
máy mỗi ngày một gói thuốc lá.
Kể đến đây, ông
trung đoàn trưởng khi ấy, sau này là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Ea Sup không
nén được xúc động, lấy khăn lau mặt. Ước mơ giản dị của người lao động làm công
tác nặng nhọc lúc đó chỉ dám xin được một bữa no thôi chứ không phải là hai,
ta mới thấm thía cái đói khổ khi ấy. Để động viên anh em trong đơn vị lái máy,
hàng ngày Ông lên ca bin xe cày, xe ủi ngồi cùng tài xế, không lái được, nhưng
thấy ông ở bên cạnh động viên, anh em cố
gắng lao động tăng giờ, tăng ca. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi ông Y Ngông
chủ tịch UBND tỉnh xuống kiểm tra thực địa đã bắt tay chúc mừng ông ngay trên vùng
đất vừa khai phá đúng tiến độ.
Cơ sở vật chất
hạ tầng chuẩn bị xong, các đoàn đưa quân vào thi công và hồ chứa nước Ea Súp Thượng
rồi Ea Súp Hạ đã ra đời như vậy đó. Hơn hai ngàn ha lúa nước hai vụ đã hình thành,
đời sống nhân dân nơi đây thật sự đã lật qua một trang mới: ấm no - hạnh phúc.
Nhưng chắc chắn không ít người hưởng thành quả hôm nay còn nhớ được cái buổi
ban đầu sơ khai trăm sự vất vả của lớp cha anh đi trước! Họ đã đổ không chỉ mồ
hôi, nước mắt mà còn đổ cả máu xương xuống vùng đất thanh bình này khi đất nước
đã thống nhất để có ngày hôm nay: dân giàu - nước mạnh.
Vùng đất khô
cằn đã trở thành miền đất hứa là như vậy đó! Những người ngồi trước mặt tôi tối
hôm nay đã xây nên một câu chuyện cổ tích của thế kỉ, biến vùng đất hoang vu thành
cánh đồng trù phú thẳng cánh cò bay. Thành quả hôm nay là sự kết tinh của sự lãnh
đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền các cấp với những cá nhân tiên tiến dám
nghĩ dám làm, dám hi sinh lợi ích cá nhân vì công việc chung, vì lợi ích cộng đồng.
Hai vị lãnh đạo của huyện Ea Súp thuộc hai thế hệ kế tiếp nhau cùng chúng tôi ôn
lại kỉ niệm đã qua, không khỏi bùi ngùi, xúc động khi nhắc laị các vị lãnh đạo
huyện thuở sơ khai ban đầu như các vị lãnh đạo huyện uỷ: A Ma Đam, Thu Nga, Y Sơn,
hay các vị lãnh đạo UBND huyện: Y Li, Y Nga Kbua, Trần Biên… người còn, người mất,
người ở Dak Lak, người chuyển đi xa; nhưng tất cả đã góp công sức của mình vào
sự hưng thịnh của vùng đất bình nguyên
Ea Súp bao gồm không chỉ huyện Ea Sup hôm nay mà còn cả các huyện Cư M’gar, Buôn
Đôn.
Đêm về
khuya, từng cơn gió mát ào đến. Phía tây thỉnh thoảng loé lên những ánh chớp
ngoằn nghèo báo hiệu một cơn mưa sắp đến. Cả thị trấn sáng trưng dưới ánh đèn điện
soi rõ những căn nhà cao tầng đứng uy nghi như tạc vào đường chân trời, tạo nên
những đường nét xinh đẹp như một bức tranh. Nhìn về phía đông dãy đèn điện trên
bờ hồ đập Ea Súp Thượng lung linh tỏa bóng xuống lòng hồ sáng cả góc trời, làm
người ta có thể nhầm nơi đó, một thành phố mới mọc lên. Chia tay các anh, lòng
tôi tràn ngập một niềm vui đang ùa tới. Với vùng đất giàu tiềm năng này, cán bộ
lãnh đạo sâu sát nhân dân như các anh, tôi tin cuộc sống của người dân nơi đây
sẽ không chỉ ấm no, hạnh phúc mà còn có thể làm giàu trên chính mảnh đất tưởng
chừng như khô cằn này. Vùng đất ngủ quên bao đời nay đã được đánh thức. Một tương
lai rực rỡ đang đón đợi phía trước.
Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯYANGSIN SỐ: 252 THÁNG 8 NĂM 2013
Tạp chí Văn Nghệ CHƯ YANG SIN
Xuất bản hàng tháng
Số: 252
Tháng 8/2013
Tòa soạn:
172 Điện Biên Phủ - TP.Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
ĐT : 0500.3840 276
Email: cuyangsindaklak@gmail.com
Quyền Tổng biên tập:
LÊ KHÔI NGUYÊN
Phó Tổng biên tập thường trực:
HỒNG
CHIẾN
Phó Tổng biên tập:
ĐẶNG
BÁ TIẾN
Thư ký tòa soạn
AN QUỐC BÌNH
Ban biên tập:
NGUYỄN VĂN THIỆN
PHẠM HUỲNH
AN QUỐC BÌNH
HUỲNH NGỌC LA SƠN
Trình bày:
Y KUAN NY NIÊ
Thiết kế mỹ thuật:
AN QUỐC BÌNH
Trong số này
VĂN:
l Một cán bộ lão thành tiêu biểu (ghi chép) – TRẦN CHI
l
Ký ức mùa thu (tản văn) – HOÀNG BÍCH HÀ
l
Nụ tình khô
trên những nhánh hao gầy (tản văn) PHẠM
THỊ NGỌC THANH
l Củ
sắn quê tôi (tản văn) – NGUYỄN THỊ
BÍCH THIÊM
l
Góc trời thơ
ấu (tản văn) – VŨ THỊ HUYỀN TRANG
l
Nhánh huệ nước
trời (truyện ngắn) – MỘC ANH
l Bóng (truyện
ngắn) HỒNG PHÚC
l Ký ức vườn xưa (truyện ngắn) TAM ANH
l Tha lỗi cho con (truyện ngắn) NGUYỄN THỊ HUỲNH OANH
l Me... eo (Truyện ngắn nước ngoài) VÕ HOÀNG MINH (dịch)
THƠ của các tác giả:
DU AN – CÔNG NAM – VŨ DY – NGUYỄN HƯNG HẢI – TRẦN SANG –
ĐẶNG BÁ TIẾN – TỪ DẠ LINH – LÊ VĨNH TÀI – TIẾN THẢO – HUỆ NGUYÊN – PHẠM THỊ
NGỌC THANH – ĐỖ TOÀN DIỆN – PHÚC TOẢN – NGUYỄN TRỌNG ĐỒNG – NGUYỄN VĂN CHINH –
PHAN HOÀI THỦY – VÕ THỊ HỒNG TƠ – NGUYỄN VIẾT LỢI – DUY ĐẮC – H’XÍU HMOK – PHAN
NGỌC HẢI – NGUYỄN LOAN – PHẠM ÁNH – LÊ THỊ MINH NGHIỆM – BÙI CÔNG TIẾN – VƯƠNG
TRỌNG – HỒ HỒNG LĨNH – NGUYỄN QUỲNH THI – VƯƠNG VĂN BẠNG
Nghiên cứu – giới thiệu – phê
bình:
l
Quê hương trong các bài thơ... - PHẠM
TUẤN VŨ
l
Âm vang biển đảo... – INRASARA
l
Vài suy nghĩ về truyện ngắn... – HỒNG
CHIẾN
l
Cây hoa sữa xanh tươi – BÙI MINH
VŨ
NHẠC
Hướng về đảo xa Nhạc và lời MẠNH TRÍ
Trăng soi cội nguồn Nhạc và lời MẠNH TRÍ
Đêm Ban Mê Nhạc và lời HỒ TUẤN
Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013
NGÀY NÀY 25 NĂM TRƯỚC VÀ...
Ngày này 25 năm trước (10/8/1987-10/8/2013), Hồng Chiến đã phải nhận
một quyết định oan nghiệt của UBND huyện Ea Kar, tước đi quyền công dân chính
đáng của mình. Và Trong suốt năm năm trời buồn tuổi - oan khuất ấy, Hồng Chiến đã nhận được
sự giúp đỡ của đông đảo bạn bè, đồng nghiệp trên khắp mọi miền đất nước; đặc biệt
là sự ủng hộ của các nhà báo: anh Bá Thành (TTXVN), anh Nguyễn Vĩnh (báo Người
Giáo Viên Nhân dân), anh Hữu Thanh, Hồng Tuyến (báo Tiền Phong); anh Đặng Bá Tiến,
Dương Thế Hoàn, Uông Ngọc Dậu (báo Dak Lak); anh Đỗ Trọng Phụng, Nguyễn
Quyền (Đài Phát thanh - Truyền hình Dak Lak); anh Huỳnh Nhất Linh (nguyên
Phó trưởng huyện Công an Ea Kar), anh Uông Ngọc Hợi (Trưởng Công an thị trấn Ea Knốp), anh Đinh Hữu Trường (nguyên Phó trưởng phòng PX23 - Công an tỉnh Đắk Lắk)... để đứng vững, tồn tại đến khi được Tòa án Tối
cao minh oan (tháng 8 năm 1992). Nhân kỷ niệm 25 năm sự kiện đau xót này, Hồng Chiến xin được gửi
lời cảm ơn chân thành đến tất cả các anh, các bạn đồng nghiệp đã vi sự thật,
không sợ bị trù dập, cường quyền mà đứng ra bảo vệ công lý để Hồng Chiến
có được ngày hôm nay.
Nhân dịp này Hồng Chiến xin mời các bạn điểm qua một số tít báo viết về vụ án này của các báo: Người giáo viên nhân dân, Tiền phong, Giáo dục và Thời đại... đã đăng trong năm năm ấy.
Nhân dịp này Hồng Chiến xin mời các bạn điểm qua một số tít báo viết về vụ án này của các báo: Người giáo viên nhân dân, Tiền phong, Giáo dục và Thời đại... đã đăng trong năm năm ấy.
...Và hôm nay
Cơ quan Hội văn học NGhệ thuật Đắk Lắk năm 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














