Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

SỐ 273&274 tác giả ĐÔNG YÊN




CHI HỘI MỸ THUẬT THÀNH TÍCH
BÊN NGOÀI THÀNH TÍCH


Nghe nói vào Hội Mỹ thuật Việt Nam/ Hội VHNT tỉnh là để cùng đồng nghiệp sáng tác, hoạt  động, học hỏi lẫn nhau, vào Hội là góp phần mình vào sự nghiệp văn học nghệ thuật của đất nước… Các họa sĩ, nhà điêu khắc rủ nhau vào, nghĩ vào Hội như hạt tìm đất nở hoa, thỏa mãn nguyện vọng cống hiến cho đời.
1.Thành tích trong Hội
Vào Hội rồi được theo Hội đi dự trại sáng tác, đi tham quan thực tế, đi triển lãm mỹ thuật khắp nước, dự hội họp bàn về mỹ thuật đất nước, thỉnh thoảng còn được lãnh đạo bắt tay, vỗ vai, ân cần trao đổi rằng mỹ thuật là quý lắm, nên làm ra thật nhiều tranh ảnh phục vụ nhân dân. Họa sĩ xúc động, thầm ước nguyện làm được như ông Tố Hữu bên thơ, như ông Phan Tứ bên văn, v.v... Thỉnh thoảng được gặp gỡ, ngồi họp cùng các họa sĩ đàn anh cứ sướng rêm rêm, nghĩ rằng rồi mình cũng trở thành họa sĩ của nhân dân… Vào Hội  rồi  là phấn đấu cật lực. Các họa sĩ Đắk Lắk đều đặn nhận giải thưởng to nhỏ trong cả nước, cầm hoa khôi nguyên qua các kỳ triển lãm đình đám. Nhiều họa sĩ đã đi những bước dài theo đúng nghĩa về sáng tạo và không gian hoạt động. Những cuộc triển lãm mỹ thuật “vạm vỡ” nhất như Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, Triển lãm Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam tập hợp các họa sĩ “hầm hố” của cả nước đều có sự góp mặt của họa sĩ Đắk Lắk.
Bảng thống kê thành tích giải thưởng của họa sĩ Đắk Lắk dài thậm thượt theo những cuộc triển lãm, cuộc thi khắp nơi, hằng năm mà theo thông cáo báo chí thì cuộc nào cũng có ý nghĩa quan trọng cả.
Những thành tích mỹ thuật của Hội VHNT được xem như của một tỉnh. Hoạt động trong khuôn khổ của tổ chức Hội cũng bài bản, nghiêm chỉnh giống các cơ quan nhà nước. Hằng năm cũng có báo cáo hoạt động mà năm nào cũng hoan hỉ; cũng có khen thưởng năm nào cũng hoành tráng. Nhiều hội viên là phó thường dân, tham gia Hội lại lâng lâng cảm giác mình là người nhà nước. Tổ dân phố thấy mặt trên truyền hình cứ phục lăn, bảo lâu nay, xóm mình có cán bộ X nặn tượng, cán bộ Y vẽ tranh mà mình không biết. Chi hội Mỹ thuật cứ như là một tập hợp những tinh hoa của mỹ thuật Đắk Lắk. Những cống hiến ấy nhiều lần được khen thưởng, cũng ngang ngang như công nhận tập thể thi đua, nghe cứ sướng rân. Họa sĩ ôm vai nhau, lớp trước, lớp sau nhỏ to chia sẻ. Cảm động lắm.
Nhưng hoạt động ở Hội cũng ít thay đổi, chưa được xã hội chú ý. Họa sĩ ra sức vẽ để phục vụ nhân dân với tiền túi họa sĩ  bỏ ra làm tranh, tiền dân bỏ ra làm triển lãm nhiều kinh khủng. Vậy mà công chúng không đến xem tranh, các cơ quan chính quyền không mua tranh. Muốn “tham mưu” cho địa phương những ý hay về mỹ thuật cũng chẳng được. Thấy cảnh phố phường lòe loẹt, xây dựng dinh thự kệch kỡm, đập phá những kiến trúc yêu kiều, có lấy danh nghĩa phản biện của Hội mà can ngăn cũng chẳng ai nghe. Hội mà không theo được những lý tưởng cao cả như trên là nỗi buồn của họa sĩ. Phải làm sao cho mọi người biết đến Hội mình? phải đổi mới Hội mình! Nghe tha thiết,  ưu tư, lo như nhân viên lo công ty phá sản!
2. Thành tích ngoài Hội
Mặt khác, ông X nặn tượng, ông Y vẽ tranh không phải là cán bộ. Thường ngày, các ông kiếm sống bằng  làm thiết kế mỹ thuật, dạy mỹ thuật, hoặc bán tranh. Không thực sự chủ động nhưng các họa sĩ và nhà điêu khắc đã trực tiếp hoặc gián tiếp làn thay đổi không gian sống, thay đổi bộ mặt thẩm mỹ của  địa phương. Trên cánh đồng mênh mông của mỹ thuật ứng dụng, các họa sĩ cày sâu, cuốc bẫm không ngơi nghỉ. Họ cật lực làm việc để kiếm sống, đáp ứng nhu cầu xã hội cần sự sáng tạo, đổi mới về thẩm mỹ, nên họ cũng góp phần nâng tầm cái nhìn thẩm mỹ của cộng đồng lên, từng bước. Tâm huyết và tài năng nghề nghiệp đã giúp họ thành công.
Một số họa sĩ  đi dạy mỹ thuật ở các trường phổ thông, các nhà văn hóa. Công việc  nhọc nhằn này phải luôn cần cảm hứng từ trái tim nghệ sĩ – thứ này không đưa vào kế hoạch được. Sản phẩm của họ là thế hệ mới có thị hiếu thẩm mỹ tốt hơn lớp trước – thứ này cũng không thể  kể lể trong các văn bản. Nhưng chúng ta có thể cảm nhận qua sự thay đổi về thẩm mỹ những năm gần đây từ sự thanh lịch của không gian sống, sự bay bổng của nhịp sống hàng ngày, từ vẻ đẹp của từng ngôi nhà, thời trang lớp trẻ đến… bó hoa bên ngôi mộ người vừa quá cố… Chúng ta có thể cảm nhận một thế hệ 9X, 10X có thẩm mỹ tốt, hội nhập với thế giới văn minh đang hình thành.
Đóng góp của các họa sĩ cho đời sống thẩm mỹ của địa phương là to lớn, nhưng lại không nằm trong báo cáo thành tích của cơ quan nào. Bù lại, dân chúng ghi nhận họa sĩ này vẽ thật chất lượng, họa sĩ kia trang trí nội thất bắt mắt lắm; đánh giá rõ ràng, đo lường cụ thể bằng số đơn hàng, bằng xấp tiền dày mỏng. Mặt khác, khi gây ra những thảm họa thẩm mỹ, quá lắm, họa sĩ cũng chỉ nhăn nhó giải thích rằng… rằng việc rồi cũng qua vì không có cơ quan nào ngó ngàng, kiểm điểm.
Có họa sĩ chẳng nhớ đến triển lãm, giải thưởng, vào Hội, ra Hội. Vì hoàn cảnh gia đình, vì chuyên môn, nhiều hội viên phải hoạt động vượt ra ngoài địa bàn tỉnh. Nhưng vì lòng yêu nghề, vẽ để cùng chơi với họa sĩ, chơi với anh em  mà vẫn  ngơ ngác trước sự “ hướng tới” cuộc triển lãm này, những đề tài đang “hot” ở cuộc thi nọ; hậu quả là có tranh hay, có tranh dở, có tranh cực đẹp mà không biết vẽ cho… ai khen và làm sao khen cho đúng. Có đồng nghiệp bảo sao phí, sao gàn, thậm chí sao ngu thế ? Đủ cả, chẳng biết thế nào là đúng. Chỉ biết, đồng nghiệp rất thích mấy kẻ này. Cả bọn hùa nhau bắt vào hội kẻo tội. Mấy bận “giúp đỡ” mà  “đối tượng” không làm nổi cái hồ sơ vào Hội, lâu ngày quên mất, cứ tưởng là hội viên rồi, hoặc có còn là hội viên không? Chơi với nhau không phân biệt trừ… lúc đi họp. Người nơi khác, có khi biết đến Đắk Lắk qua mấy anh chị này, khen vẽ đẹp, mua tranh, tượng của họ. Không quan tâm họ có là hội viên hay không.
3. Sáng tác, hoạt động mỹ thuật của Chi hội Mỹ thuật Đắk Lắk xem thế không chỉ gói gọn trong báo cáo hàng năm của Hội. Nó phong phú, sinh động lắm, tương ứng với sự phát triển của địa phương. Hoạt động mỹ thuật như vậy là lành mạnh, gắn liền với đời sống một cách tự nhiên. Hoạt động trong Hội, ngoài Hội đều vì chuyên môn, vì tình đồng nghiệp. Gặp nhau, dù ở hội họp hay giữa đường, là tay bắt mặt mừng, là hỏi chuyện đang làm gì? vẽ gì?… Những cuộc báo cáo thành tích ngang hông như thế thường  trung thực, có kèm theo nụ cười hạnh phúc, có kèm theo trào nước mắt chua cay.


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

SĂN TRÂU RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO GIÁO DỤC&THỜI ĐẠI CHỦ NHẬT SỐ 29 THÁNG 7 NĂM 1997


Y Leng dẫn tôi đến bên chòi làm bằng mấy đoạn cây gác chéo lên cành cây lồng bàn cách mặt đất độ ba mét quay lại nói:
-Thầy ngồi đây chờ khi nó chạy lại gần hãy bắn.
- Có chắc nó chạy qua đây không?
- Chắc chứ! Thầy xem dấu chân hắn đi qua đây về phía tây. Nếu chúng em lùa từ phía tây, nó phải chạy qua đây về Sông Ba. Bọn thú rừng khôn lắm, chúng luôn luôn chạy về đúng đường chúng đã đi.
Y Leng vừa giảng giải vừa lúi húi vạch cỏ gianh chỉ vết chân con Min để lại trền nền đất. Mười bốn cái đầu cùng xúm xít vạch lối xem dấu và ồ lên:
- Con này to lắm!
-Chắc phải to bằng con voi đấy!
-Lụôc một miếng rõ to mà ăn nhỉ !
-Bắn được phải xiên cây nướng ăn ngay tại chổ mới ngon.
Y Leng bật cười, bảo:
-Chưa bắn mà tính ăn thịt là xuôi rồi. Ngừng một lát nuốt nước miếng; Y Leng nói tiếp - Chúng ta đi thôi, đừng có theo dấu chân nó, sợ nó ngửi thấy mùi chạy theo hướng khác mất.
                     Nhìn các em tuổi mười sáu, mười bảy tay chân khỏe khoắn, rắn chắc vác trên vaithanh xà gạc nhìn dấu chân mà nuốt nước miếng ứa ra, tôi thấy thương vô hạn. Bóng các em rẽ cỏ gianh đi xiên xiên theo triền đồøi khuất dần về phía tây bắc.
Tôi leo lên cây lồng bàng, kê súng lên giá bắn ngắm thử. Phải công nhận mấy cậu học trò chu đáo, lát sàn chòi bằng năm khúc gỗ to bằng bắp chân dài hơn mét buộc chặt vào cành cây rất chắc chắn. Đứng hay ngồi bắn đều thỏai mái. Giá bắn được buộc bằng một cây tre thẳng, nếu ngồi xuống sàn, đặt súng lên giá bắn, chẳng khác gì bắn bia. Tôi ngắm thử thấy thoải mái quá và nghĩ bụng: chắc trong vòng một trăm mét khó có con vật nào thoát khỏi họng súng cho dù đó là nai, heo hay con mang cũng vậy.
Điểm chọn làm chòi rất tốt, không những nó là cái đèo thấp nhất trong dãy đồi nối liền nhau kéo dài ba, bốn kilômét từ nam qua bắc mà hai phía đông tây đèo có vạt rừng gìa kéo thành vệt dài gần lên đến đỉnh. Đỉnh đèo khá bằng phẳng, rộng chừng năm chục mét toàn cỏ gianh khô nằm chống chát lên nhau . Hai phía bắc, nam đèo cỏ gianh khô phủ kín các đỉnh đồi kéo dài đến hút tầm mắt. Các cây lớn chỉ mọc được ở hai bên bờ suối lớn và các nhánh nhỏ thành từng vạt rậm rạp. Đứng trên chòi nhìn xuống thấy cánh rừng già giống một cây đại thụ khổng lồ xòe những cành cây xanh mượt, khẳng khiu, ngoằn nghèo trên nền cỏ gianh bạc phếch chĩa ngọn ra phía bắc, gốc cây duỗi dần về phía nam với chùm rễ dài cắm vào bờ sông Krông Năng xanh thẳm.
Đã hơn ba tháng nay hơn ba trăm thầy trò trường nội trú quanh đi quẩn lại chỉ có rau muống và cá khô phân phối. Còn mấy ngày nữa sẽ đến tết, tiền có nhưng không làm sao mua được con heo hay bò cải thiện cho các em có bữa ăn tươi. Nếu như không cấm đốt cỏ gianh thì chỉ cần một mối lửa nhỏ hàng ngàn héc ta đồi gianh sẽ biến ra tro và như vậy đêm đêm có thể đội đèn đi bắn hươu, nai, mang... cải thiện cho các em.
Ngày chủ nhật vừa rồi Y Leng đi tìm hoa phong lan phát hiện dấu chân con min đi qua con Sông Ba về Sông Hai liền tìm điểm làm chòi phục bắn. Các em tin tôi, vì bắn ban ngày chưa trượt bao giờ cho dù đó là: heo, mang hay mấy chú khỉ tinh ranh đi nữa. Hôm nay trọng trách của tôi được giao phải hạ con min để lấy thịt cho các em ăn tết.
Tiếng hò reo, tiếng chiêng gõ ầm ĩ từ bờ Sông Hai vọng lại mỗi lúc một rõ dần. Tôi hướng mũi súng vào bìa rừng chờ đợi. Bổng khoảng rừng già trước mặt chim bay loạn xạ cùng lúc với tiếng cây gãy như có người bẻ mỗi lúc một lại gần. Tôi căng mắt nhìn như không tin vào mắt. Một con trâu qúa lớn, đen trũi bốn chân màu bạch kim lao ra cách bìa rừng độ ba mét dừng lại ngấc cao đầu nhìn bốn phía xung quanh. Cặp sừng trên đầu nó mới to làm sao. Phần sát đầu phải bằng bắp đùi người lớn, sần sùi đầy nếp nhăn cong vòng lại với nhau, nhìn giống như một hình tròn. Đôi mắt to như cái ly lớn lồi ra đen nhánh đảo quanh. Đầu ruồi mũi súng tôi đặt ngay vào tai con vật, thước ngắm chia đôi. Ngón tay trỏ kéo nhịp thứ nhất. Với khoảng cách chưa đến năm chục mét chắc chắn con vật ngốc ngếch cứ đứng lì lợm, trợn mắt nhìn xung quanh kia chỉ một viên AK của tôi sẽ xuyên từ tai này qua tai bên kia dễ dàng. Và với bảy tám tạ thịt lọc thầy trò tha hồ ăn tết, và có cả phần phơi khô ăn dần cả tháng giêng chưa chắc đã hết. Bên cạnh món cá chuồn, cá liệt khô muôn thuở thương nghiệp cấp, các em sẽ có thêm món thịt luộc, món thịt xào và cả món thịt nướng quấn lá lốt ăn tết. Thây trò sẽ hú hí với nhau cho vơi nỗi nhớ nhà. Mấy cô giáo sẽ bớt đi những giọt nước mắt đêm giao thừa.Tôi địng kéo có súng tiếp nấc thứ hai... Nhưng ngón tay bổng cứng lại khi chợt nhận ra chú bê xinh xắn bộ lông phớt vàng từ trong rừng lao ra, hai tai dựng đứng, cái đuôi cong vút lên, xõa túm lông nhỏ bé hoe vàng rũ xuống lưng. Chú bê nhảy vọt lên, run rẩy, lại nhảy vọt lên nép sát vào bụng mẹ.
Tôi ngẫn người từ từ hạ súng mở mắt nhìn hai mẹ con con min đang nép vào nhau. Không biết con min con quá sợ hãi trước tiếng hò hét của con người, nên phải nép vào mẹ nó. Hay chính mẹ nó linh tính thấy nguy hiểm cố dựa vào con lấy chút cang đảm vượt qua trảng trống trước khi về rừng già.
Đôi mắt min mẹ không còn viền lồng trắng quanh con ngươi đen nữa mà màu trắng đã hằn lên tia đỏ. Nó nhìn tôi đôi mắt long lanh một màu đỏ như sắp bật ra như những giọt lệ màu hồng. Nó chờ con nó và nhìn tôi như  cầu khẩn xin tha mạng. Tha nó ư? Thầy trò lấy gì ăn tết? Lấy gì cải thiện cho các em học sinh đang đói đây?
Bộ sừng màu ngọc thạch kia chắc phải đổi được con bò lớn nữa. Thầy trò tha hồ cải thiện. Nhưng con vật đẹp quá, bộ lông màu đen kéo dài từ vai xuống tận đuôi trông mượt như nhung. Chiếc đầu to như cái thúng lớn nhìn tôi như dò hỏi, van lơn và cả con bê xinh xắn chắc chắn sẽ chết nếu như con mẹ đổ xuống. Thiên nhiên ưu đãi cho Tây Nguyên biết bao loài thú quý hiếm nhưng đang bị mất dần. Không biết mẹ con nó có phải là con cuối cùng của cánh rừng này không ? Nếu giết mẹ con nó ta sẽ có lỗi với hậu thế có tội với thế hệ mai sau. Bắn hay không băn?!
Con min bước từng bước một như đếm tiến gần lại chòi, đôi mắt mở to nhìn thẳng vào mắt tôi. Con bê cố bước kịp mẹ ngước cặp mắt ngây thơ như một dấu hỏi nhìn tôi. Hàng lông mi của con bê vừa đen, vừa dài cong vút trông thật quý phái. Mất chiếc lông màu nâu phớt trắng xỏa xuống móng chân màu thạch giống như người ta buộc lại để trang điểm bốn bàn chân cứ tiến dần, tiến dần lại sát chổ tôi ngồi. Càng nhìn càng thấy đẹp, một vẽ đẹp vừa mộc mạc, vừa huyền bí khó có dịp thưởng thức. Hai mẹ con nó đi qua sát chòi, vừa khép nép lại vừa như len lén luồn qua.Tôi bỏ súng nhìn theo, nhìn mãi cho đến khi hai mẹ co khuất hẳn vào bìa rừng mới giật mình bừng tỉnh khi Y Leng hỏi vọng lên:
- Sao thầy không bắn?
- Ôi, hai mẹ con nó đẹp quá, chúng là loài thú quý hiếm có tên trong sách đỏ đấy, không được bắn đâu. Thôi hãy để nó làm đẹp thêm núi rừng của chúng ta các em ạ.
Mười bốn cặp mắt ngây thơ nhìn tôi vừa như trách móc, vừa như an ủi, cảm thông. Tôi trèo xuống với các em, lòng buồn vui lẫn lộn.
- Thầy!
Tiếng Y Leng thoảng bên tai, tôi quay lại nhìn em, em nắm chặt tay tôi:
- Đừng buồn thầy ạ. Mình không bắn là đúng đấy. Nó có con nhỏ, con nó cần mẹ, bắn mẹ thì tội nghiệp con con lắm.
Các em vây quanh tôi, an ủi làm tôi không còn biết nói sao.
- Ta về đi thầy, kẻo thầy cô và các bạn trông.
Y Leng giục và kéo tay tôi. Trời về chiều, từng cơn gió mát đùa giỡn, đồi cỏ gianh cuộn lên như sóng vỗ nối tiếp nhau chạy dài. Các em bước theo nhau thành một vệt dài vừa đi vừa tíu tít kể cuộc chạm trán con min và tả chi tiết vẽ đẹp của nó cho tôi nghe, cứ như tôi chưa được thấy bao giờ.


Xuân 1982


SỐ 273&274 tác giả TRẦN ANH




NHỚ MỘT LỜI CHÀO MỪNG 20 NĂM TRƯỚC
     

Cách đây 20 năm, Hội VHNT Đắk Lắk tổ chức Đại hội lần thứ II (12.1995). Tôi còn nhớ khách Trung ương tham dự đại hội có nhà thơ Nông Quốc Chấn - đại diện cho Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, nhà văn Kiều Vượng - đại diện cho Hội Nhà văn Việt Nam và Báo Văn nghệ; khách các tỉnh bạn có nhà thơ Y Phương từ Cao Bằng, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từ Thừa Thiên – Huế, nhà thơ Thanh Quế từ Quảng Nam – Đà Nẵng, nhà văn Cao Duy Thảo từ Khánh Hòa, nhà thơ Văn Công Hùng từ Gia Lai, nhà văn Nguyễn Trung An từ Lâm Đồng, họa sĩ Nguyễn Viết Huy từ Kon Tum và nhiều nhà văn, nhà thơ khác mà tôi không nhớ hết.
Nhiều nhà văn, nhà thơ của tỉnh bạn đã đăng đàn phát biểu chào mừng. Nhưng ấn tượng với tôi nhất là nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Hồi ấy anh còn chưa đến năm mươi, nhìn rất trẻ trung, phong độ và đã rất nổi tiếng về các tác phẩm thơ và nhạc, như bài thơ dài Tản mạn thời tôi sống, bài hát Làng quan họ quê tôi…Anh đã là thần tượng của đông đảo người yêu VHNT trong cả nước, nhất là những người trẻ, trong đó có tôi (lúc ấy là phóng viên Báo Lao Động, đồng thời là hội viên của Hội VHNT Đắk Lắk) . Vì vậy, khi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phát biểu tôi đã rất chú ý, bật máy ghi âm cẩn thận để lấy tư liệu viết bài về Đại hội. Anh nói vo, không hề chuẩn bị bằng văn bản, nhưng rất hấp dẫn. Khi anh nói xong cả hội trường vỗ tay ào ào. Trong hồ sơ tài liệu nghề báo của tôi còn lưu đoạn phát biểu như sau: “Anh em văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế chúng tôi sống bên dòng sông Hương như cô gái mềm mại và thơ mộng. Các bạn văn nghệ Đắk Lắk sống trên dải đất cao nguyên như chàng trai cường tráng và hào hùng. Chúng ta cùng chung một tình yêu nghệ thuật chân chính. Mỗi lần đến Đắk Lắk tôi đều gặp màu đỏ tươi ròng của đất ba-zan bao la. Đấy là màu đỏ của máu, màu đỏ của hoa, màu đỏ của hàng triệu trái tim gắn bó máu thịt với đất đai với truyền thống của mình. Đấy cũng là màu đỏ của hàng trăm trái tim các văn nghệ sĩ ở đây. Rất nhiều, rất nhiều những tác phẩm của các bạn đã dang rộng cánh bay khắp đất nước, đến với văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu thêm, yêu thêm mảnh đất và con người Đắk Lắk; đồng thời cũng khích lệ chúng tôi có thêm những sáng tác mới. Người xưa nói: “Núi không phải tại cao, nổi tiếng là bởi có Tiên. Sông không phải tại sâu, linh thiêng là bởi có Rồng”. Chính các bạn và nhân dân Đắk Lắk đã làm cho núi nổi tiếng, làm cho sông linh thiêng. Tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em văn nghệ sĩ ở đây đã mang đến cho chúng tôi và nhân dân những giá trị tinh thần vô giá của vùng đất cao nguyên đầy nắng, đầy gió, đầy sức sống độc đáo này.
Xin chúc cho tình đồng nghiệp mãi mãi tươi đẹp và bền vững như rừng xanh núi đỏ”…
Đã dự 4 kỳ Đại hội của văn nghệ Đắk Lắk, đã nghe nhiều đại biểu đăng đàn chào mừng Đại hội, nhưng cho đến nay tôi vẫn thấy phát biểu của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là văn chương nhất và tình cảm nhất. Điều đó khiến tôi nhớ mãi.



















Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

CUỘC CHIẾN TRONG RỪNG THIÊNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 273+274 tháng 5&6 năm 2015





Buổi sáng, khi mấy chú gà nhà thi nhau cùng bầy gà rừng ca khúc nhạc o ó o… rộn rã chào đón bình minh cũng là lúc H’Wera chuẩn bị cơm nước, mang gùi vào rừng hái thuốc. Không biết từ bao giờ, dòng họ Niê Byă biết vào rừng hái lá, hoa và đào củ, rễ… mang về nhà trị bệnh cho mọi người trong vùng. Có lần ngồi bên bếp lửa, H’Wera hỏi ngoại, ngoại cười cười bảo:
- Ừ, hồi nhỏ như con ngoại cũng từng hỏi bà ngoại của ngoại như vậy, bà ngoại bảo trước đây cũng từng hỏi bà ngoại như vậy rồi, nhưng… mọi người chỉ nói có vậy thôi.
- A, con hiểu rồi, như vậy nghề hái thuốc của nhà mình có từ lâu, lâu lắm rồi nên không ai còn nhớ chứ gì!
Ngoại khẽ cốc yêu lên đầu rồi nói:
- Bé này được!
Rồi ngoại kể: Bà cố ngoại sinh được sáu người con, vừa đủ ba trai ba gái; các con trai lớn lên được các cô gái xinh đẹp của những gia đình giàu có trong vùng đến bắt về làm chồng; ở lại nhà chỉ còn ba chị em gái bắt chồng về sống chung với ngoại. Mí H’Sa sinh ra sau cùng nên được cưng chiều hơn và cũng là người duy nhất phải gánh trọng trách nối nghiệp dòng họ làm nghề hái thuốc giúp người. H’Sa là con đầu của mí H’Sa trong gia đình ba chị em, nhưng được ngoại cưng chiều nhất, chọn làm người thừa kế nghề thuốc gia truyền; vì thế từ khi còn nhỏ xíu ngoại đã cho theo đi hái thuốc qua các đỉnh núi cao chót vót hay các vách đá dựng đứng trên dãy Chư Yang Sin. Có chuyến sáng đi, tối về, có chuyến phải ngủ qua đêm trên núi cao để chờ bình minh lên mới hái được; vì thế ngủ đêm trên núi cao trở thành chuyện bình thường của những lần đi hái thuốc. Tìm lá thuốc cũng vất vả lắm, có những loại lá chỉ hái dùng làm thuốc khi mặt trời chưa mọc, có loài hoa phải hái khi có sương đọng trên cánh, lại có loại cây chỉ mọc trên vách đá cao dựng đứng phải hái vào giữa trưa… mỗi loại hoa, lá, cỏ, cây có một khoảng thời gian nhất định trong ngày mới hái làm thuốc được. Nhưng không phải bệnh gì gia đình H’Sa cũng chữa được; ngoài một số bệnh ngoài da, hay rắn độc cắn, thì chữa bệnh muộn con là công hiệu nhất. Cả vùng rộng lớn phía đông bắc núi Chư Yang Sin, rất nhiều buôn, nhưng mọi người chỉ đến nhờ gia đình H’Sa lấy thuốc; khi khỏi bệnh tùy lòng hảo tâm, người ta mang: rượu, gạo, gà, heo… đến trả công chứ gia đình không lấy tiền bao giờ; chữa bệnh làm phúc thôi mà.
Có lẽ cũng vì thế người trong buôn kính trọng gọi ông ngoại là già làng, người cai quản sắp xếp mọi công việc từ thờ cúng thần linh đến bắt chồng hay xử các cuộc tranh chấp, khiếu kiện… trong cái buôn hơn trăm nóc nhà dài, gần năm trăm hộ, hơn hai ngàn nhân khẩu. Mọi việc già làng quyết, mọi người phải tuân theo, không bàn cãi! Năm H’Sa tròn mười bốn tuổi, gia đình tổ chức một lễ cúng lớn để trao trọng trách người thừa kế dòng họ. Sau lễ đâm trâu cúng tế Yang (1) và các vị thần linh cùng dòng họ Niê Byă đang ở trên trời; bà ngoại dẫn H’Sa ra bến nước của buôn làm lễ cúng, thề độc: trọn đời im lặng, không cho ai biết ngoài người được chọn thừa kế sau này là con gái biết về các loại cây làm thuốc, và xin thần linh được hái sản vật của đại ngàn về làm phúc. Kể từ hôm ấy, H’Sa được một mình vào rừng, không phải theo ngoại nữa. Thấm thoắt đã gần qua một mùa rẫy, công việc lang thang trong rừng lâu ngày, nhiều lúc cũng cảm thấy cô đơn, nhưng dần dần thành quen và niềm vui, hạnh phúc chính là giúp người ốm bớt nỗi đau, có sức khỏe để làm việc; các cặp vợ chồng hạnh phúc, con cháu đầy nhà.
Mặt trời lên ngang vai, cũng là lúc H’Sa vượt qua hai ngọn núi cao đến gần vách đá dựng đứng bên vực sâu. Dưới lòng vực xếp toàn những khối đá lớn chồng chất lên nhau như đàn trâu rừng đang ngủ, phủ đầy rêu xanh. Trên các vách đá hai bên vực thỉnh thoảng có một bụi cây thân màu tím, lá vàng như nghệ mọc lên từ các hốc đá; đấy chính là cây làm thuốc quý, nhưng phải hái vào đúng trưa, khi ông mặt trời đứng trên đỉnh đầu không nhìn thấy hai bàn chân xếp sát nhau; khi ấy cây và lá cùng chuyển qua màu hồng, phải hái ngay. H’Sa dừng lại bên một hòn đá lớn, đặt gùi xuống, lấy trái bầu khô đựng nước định uống thì…
- Be… be… be!
Tiếng con sơn dương từ bên bờ vực vọng lại nghe như có điều gì hãi hùng, đau đớn lắm xảy ra với nó. H’Sa vội vàng khoác gùi lên lưng, cầm cây xà gạc, chạy lại phía bờ vực. Băng qua một mỏm đá, H’Sa đứng khựng lại khi nhìn thấy bầy sơn dương hơn chục con to lớn đứng trên các hòn đá to đang quay đầu nhìn chăm chú đám cỏ gianh rộng như chiếc chiếu xen giữa các tảng đá lớn, nơi con sơn dương cái đen bóng, đứng như bị cột chân, thỉnh thoảng lại kêu lên những tiếng tuyệt vọng. Thường ngày, sơn dương thoáng trông thấy bóng người từ xa đã chạy biến vào rừng, còn hôm nay chúng làm ra vẻ không thấy người đang đến, lạ thật. Tò mò, H’Sa bước nhanh lại gần con sơn dương cái, biết nó là con cái vì nó không có sừng; loài sơn dương chỉ có con đực mới có sừng. Thấy H’Sa lại sát bên cạnh, con sơn dương vẫn không bỏ chạy, đứng như hóa đá, mắt vẫn chăm chú nhìn vào đám cỏ gianh.
- Ối, Yang ơi!
H’Sa buột mồm kêu lên khi thấy một con trăn, thân to như bắp đùi người lớn, cuộn tròn như một sợi dây thừng khổng lồ quấn chặt một chú sơn dương, chỉ còn thò ra một cái đầu. Con trăn uốn mình, các lớp vảy đen pha vàng óng ánh dưới nắng, cũng chuyển động theo. Vứt vội chiếc gùi khỏi vai, H’Sa lao lại bên con trăn, tóm lấy cái đuôi lôi ra; con trăn uốn mình quay tròn, bật đuôi đập vào ngực H’Sa đau điếng, ngã lăn ra đất. Không bỏ cuộc, H’Sa bật dậy lại lao đến dùng hai tay nắm lấy mẩu đuôi con trăn, giật mạnh, cố lôi cho thẳng ra. Con trăn oằn mình quay tròn như quân cù quay chậm, vặn chéo tay, buộc H’Sa phải buông tay ra và… vút, ngọn đuôi của nó lại đập trúng vào người làm H’Sa ngã vật xuống đám cỏ.
Nhớ lời ngoại kể chuyện: Người đi rừng không may bị trăn bắt phải bình tĩnh xử lý. Trăn là loại không có nọc độc như rắn, chúng cậy khỏe, núp ở bên đường chỉ chờ người hay thú đi ngang qua, lao ra cắn vào chân, bộ răng  trăn như lưỡi cưa, cong vuốt về phía sau có tác dụng giữ chặt con mồi, không tuột ra được khi đã cắn đúng bất kỳ con gì. Cái thân dài và mềm như một sợi dây chão sẽ nhanh chóng cuộn lại, quấn lấy con mồi như ta quấn quân cù rồi siết dần cho ngạt thở mà chết, khi đó trăn mới há miệng, nhả chân, ngoạm vào đầu nuốt dần từ đầu xuôi ra chân. Người bị trăn cắn vào chân, phải đứng im giơ tay ngang ra song song với mặt đất, để mặc cho trăn quấn; nhưng nhanh mắt, khi nhìn thấy đuôi trăn, tóm ngay lấy, bẻ thật mạnh, trăn gãy đuôi tức khắc mất hết sức lực, phải há miệng, nhả mồi, bỏ chạy ngay. 
H’Sa bật dậy, lao lại bên con trăn bây giờ đã cuộn thành hình như cái hoa chuối khổng lồ, nhiều màu sắc, đầu con sơn dương thò ra hình thành cái cuống của bông hoa chuối; chộp lấy mẩu đuôi con trăn to như cổ tay, dùng hết sức bẻ gập lại. Con trăn oằn mình, giật lên như bị đánh, vội duỗi thẳng người buông con sơn dương ra, trườn luôn vào hang đá, biến mất.
Con sơn dương tội nghiệp chắc phải nặng gần ba chục ký ngã lăn ra đất, đầu cố vùng dậy, hai chân sau đạp đạp lên cỏ gianh mãi vẫn không đứng lên được, máu ở chân bên phải chảy đỏ cả đám cỏ. H’Sa lấy lá mang theo trong người, nhai nát, đắp vào vết trăn cắn. Con sơn dương vẫn đưa chân đạp, như cố gượng dậy để chạy trốn. Vỗ vỗ vào lưng, con sơn dương, H’Sa bảo:
- Ngoan nào, ngoan nào để chị giúp cho!
Lạ thay, con sơn dương nằm im không giãy giụa nữa, để mặc H’Sa xoa thuốc lên các vết răng trăn cắn. Một lúc sau máu thôi chảy, H’Sa vỗ vào đầu nó và bảo:
- Đứng dậy nào!
Vừa nói, H’Sa vừa đẩy vào lưng con sơn dương, hình như nó hiểu ý: quỳ hai chân trước xuống, hai chân sau co lại, lật úp thân lại rồi run rẩy đứng lên; nó cố lần thứ nhất… ngã; cố lần thứ hai… lại ngã; lần thứ ba thì… nó đứng lên được bằng bốn cái chân của mình; lúc đầu còn xiêu vẹo, sau một lúc… đứng thẳng được và khẽ húc cái đầu vào váy của H’Sa như con cún con. Vỗ vỗ vào đầu nó, rồi bảo:
- Thôi về với amí của mày đi, theo đàn kiếm ăn nhưng phải cẩn thận đừng để trăn tóm lần nữa nhé!
- Be, be, b…e!
Tiếng kêu như nghẹn ngào không muốn rời xa người làm H’Sa cảm động cúi xuống ôm lấy cổ sơn dương, thủ thỉ:
- Chị hiểu rồi, đi đi nào, ngoan lắm!
- Be be b…e!
Con sơn dương mẹ đứng như hóa đá phía sau, chứng kiến cuộc chiến đấu không khoan nhượng của con người với trăn để giải thoát cho con nó, đến bây giờ mới bật lên tiếng kêu thảnh thốt, làm H’Sa giật mình quay lại.
- A, amí của mày đang chờ này, đi đi thôi. Còn trách chị sao không xử con trăn hả? Con trăn sai rồi, chị cảnh cáo nó thế là được, phải để nó sống với chứ. Thôi đi đi.
H’Sa nói xong vỗ nhẹ vào mông con sơn dương. Sơn dương con tung chân chạy lại bên hòn đá amí nó đang đứng, rồi quay đầu lại kêu lên một tiếng lớn:
- B…e!
- B…e!
Bất ngờ, một dàn đồng ca cùng ngân lên với tiếng b…e, vọng vào vách đá ngân dài vút lên tận trời xanh. H’Sa giật mình nhìn lên các hòn đá lớn xung quanh thấy bầy sơn dương đông đúc đứng đó từ bao giờ đang chăm chú nhìn mình. Con sơn dương đầu đàn, to nhất, đứng trên hòn đá lớn nhất bỗng tung hai chân trước lên trời khua khua, kêu lên một tiếng: b…e, như cảm ơn rồi tung mình như bay vào rừng xanh, cả đàn nối đuôi nhau rời khỏi các mỏm đá.
Nghe đâu, từ sau lần gặp gỡ bất ngờ ấy, mỗi khi H’Sa lên rừng hái thuốc lại thấy bầy sơn dương quây quần xung quanh, đi theo và… không lâu sau, xuất hiện vị cứu tinh, giúp những cặp vợ chồng muộn con có người nối dõi như ý; người ấy không phải Yang, nhưng mọi người trong vùng xem là hiện thân của Yang vì khi được người ấy hái cho một nắm lá rừng về ăn thì sau chín tháng mười ngày nhà sẽ có thêm em bé. Người con gái giỏi như Yang ấy chính là H’Sa, người hái thuốc nam ở núi Chư Yang Sin thuộc dòng họ Niê Byă.
Mùa đông năm Giáp Ngọ - 2015



Chú thích:
(1) Amí tiếng Êđê gọi mẹ.
(2) Yang tiếng Êđê gọi trời.

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả H’SIÊU BYĂ

Tác giả H’SIÊU BYĂ


NGƯỜI CÂM
Truyện ngắn


Họ vẫn thường gọi em là con đĩ.
Bước chân em dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà, các chị “Xe tung, sét đánh cái con đĩ ấy đi, chân này đạp thuyền, tay kia vịn ghe, đi thuyền hết đất người này sang đất người nọ”.
Kệ chứ! Em quen tai rồi. Em thà chịu những lời mắng nhiếc độc như con rắn hổ mang kia còn hơn cong cái lưng gùi lúa, đi rẫy cháy tóc, lấy củi đen da. Thỉnh thoảng em cũng có buồn. Đó là khi gã câm ném mạnh cái nhìn về phía em. Cái nhìn của dòng Sêrêpốk yên tĩnh buổi sáng, dịu êm buổi trưa, dữ dội buổi chiều. Em giấu nỗi buồn của mình vào những chiếc khăn dang dở. Giá như gã cũng nhổ nước miếng vào lối đi thì em đã bớt nhiều suy nghĩ rồi.
Gã thương em như thương những chùm phong lan gỡ được trên cây cao mang về. Buổi chiều nhập nhoạng ít người, gã lẻn qua nhà em đặt nhẹ nhàng nó lên đầu sàn. Sàn nhà rung rung bước chân người con trai muốn ngồi chung bếp lửa với người con gái. Bà nghiêng đôi tai ho to: “Ai đang đứng dưới sàn? Nhà tôi nước trong bầu đã hết, củi trong hốc chẳng còn, chiếu mua của người Lao đã mòn, mua của người Chăm đã cũ, củ khoai, hạt bắp đã treo hết trên bếp làm giống. Nếu không chê xin mời khách lạ lên nhà ngồi chung?”. Cánh cửa yên ắng, sàn nhà yên ắng, bà nằm xuống gối mệt mỏi thở như cơn gió thổi dài trên đồi cỏ khô…
Bà ít nói. Thỉnh thoảng thả nhiều trận ho sặc sụa. Em ghét tiếng ho của bà. Nó nhắc nhở em phải kiếm tiền mua thuốc. Đồi bắp trái nhỏ xíu lơ phơ dưới cái nắng cháy khét M’đrăk không đủ chi trả cho mỗi lần cõng bà ra trạm xá. Bà rên hừ hừ và lặng câm trong thế giới của riêng mình. Bà thích dệt vải bằng đôi tay run run và mò mẫm. Những đường chỉ vụng về xiên xẹo dài ngắn trên tấm váy làm bà vui. Có gì vui? Em la toang toác mấy con gà mổ trộm lúa, mắng nhiếc con heo đang hả hê cà mình dưới cột sàn. Em ngồi lên tảng đá xù xì cạnh giếng và nức nở…
Buôn em về đêm vắng vẻ như nghĩa địa sau ngày bỏ mả.
Buôn em về đêm hoang hoải như tiếng chim pơrơtơk níu váy bạn tình.
Em lấy tấm váy chùi nước mắt đằng trước, ướt sũng.
Em xoay tấm váy đằng sau chùi nước mắt, dính đầy.
Em khóc cho em, cho lối đi dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà, các chị. Những đêm nằm trong tay chồng người khác làm em cay xè sống mũi. Em không cảm nhận được mùi mằn mặn yêu thương từ những bao cà phê mà những gã đàn ông ném phịch vào góc nhà. Họ chọc sàn nhà sột soạt những âm thanh to rỗng như gió lùa giữa hai khe đá. Dúi vào ngực em những tờ tiền nhàu nhĩ xanh xám mùi phân bò. Gió từ núi thổi ào ạt qua hiên đánh thức sàn nhà dài rung răng rắc. Em nín thở, trở mình. Bà bò ra gian bếp hơ lửa, lửa cây Kla, Ble nũng nịu dưới lớp tro bật dậy, mở mắt to, tiếng ho khàn tràn qua gian bếp, chạy ngược lên gian khách, xuống cầu thang rồi tan biến ngoài trời sầm sẫm. Mưa đêm lất phất. Ở mái nhà nào đó có tiếng người chủ nồi cơm xì xầm với chồng “Cây cà phê đang vui ama Y, H ạ. Mai tui chạy lại chỗ người Kinh mượn ít bao phân…”.
Sáng mai mờ sương, mặt trời giấu mặt chưa muốn dậy. Trong nhà, ngoài đường sầm sập bước chân người. Người ngồi gian khách, người ngồi gian bếp, người ngồi chỗ này dài đến chỗ kia. Họ đến tắm cho bà bằng nước giếng đầu tiên của ngày. Bà đi nhẹ nhàng như cơn gió mùa hoa, như tiếng chim pơrơtơk mùa nắng. Bà sửa soạn trong chuyến hành trình xa xôi chân đi bộ không biết bao nhiêu ngày đường mới tới. Bà bỏ quên đứa cháu ngoại và tấm váy dệt chưa xong đường chỉ. Vai em tựa vào gã câm như dây leo oằn èo tựa vào gốc cổ thụ vững chắc. Gã vỗ về và chóp chép miệng. Trong âm thanh ú ớ ấy, em nhìn thấy màu tình yêu long lanh. Có những người đến với mình không ồn ào như tiếng con ve kêu, con bò lớn rống, họ lặng lẽ, nhẹ tênh như hoa Blông trắng xóa ôm lấy bầu trời rạng chiều.
Nhà dài trống, gió lùa ù ù như tiếng sáo. Thỉnh thoảng em thấy bóng của bà chập chờn ngồi hơ lửa. Tóc búi cao, lưng cong cong, hai bàn tay áp sát vào ngọn lửa xanh đỏ. Khi, em thấy bà ngồi dệt váy, những cuộn chỉ đen, dài quấn quanh bụng “Sống một mình không thể đánh chiêng. Cười một mình chẳng có ai nghe. Không ai đi xe một bánh hết con đường dài…”. Bà muốn em bắt chồng, bắt gã câm cho nhà dài có tiếng bước chân của đàn ông, cho chuồng gà có người lót ổ. Và em nhớ gã câm hơn nỗi nhớ của con trâu nhớ cỏ non, dê con nhớ đọt măng trong rừng.
Hôm nào đó, em không nhớ nữa. Con gà trống vắt vẻo trên cây cao cất tiếng gáy lanh lảnh, một đoàn mười mấy người lạ chạy xe ầm ầm trong buôn. Bụi chạy lung tung đoạn đường dài từ đường cái lớn đến bến nước. Xe zíp màu trắng đi trước, xe zíp màu đen đi sau, xe zíp màu đỏ đi chính giữa. Người trẻ trong bon nhìn, người già trong buôn ngó, đàn ông bỏ li cà phê ra dòm trước hiên, đàn bà bỏ chai nước túm tụm liếc mắt “Ya! Ai thế nhỉ? Mới tờ mờ sáng sớm, qua đất lạ mà không hỏi già làng, uống nước lạ mà không hỏi trưởng bon”. Xe dừng chạy chỗ nhà amí Buk, mẹ của gã câm. Trong buôn bắt đầu rục rạo “Thấy không? Họ bước chân lên cầu thang nhà amí Buk đấy. Kìa! Đừng mở to con mắt hết cỡ như muốn ăn người ta như thế. Hôm nay đi đổi công cho nhà amí Buk, mọi chuyện sẽ sáng mắt thôi”.
Xe zíp đi, gã câm đi.
Không một người nào trong buôn biết được sự vội vã trong bước chân của gã câm và đoàn người lạ sáng hôm ấy. Amí Buk không nói, các con không nói. Chỉ biết rằng họ u sầu, lo lắng, mắt đảo đi chỗ khác mỗi khi người già hỏi chuyện. Đêm đến, lửa ở gian bếp bập bùng, người lớn trong nhà amí Buk chụm đầu vào nhau nói những lời xì xầm to nhỏ. Lời to nói về vụ lúa không đủ ăn đến mùa mưa, cành cà phê héo quắt nhìn đi nhìn lại trông giống con cá khô ngoài nhà chợ. Lời nói nhỏ rỉ rả về gã câm, người con nuôi của nhà này. Lo chớ, gã rời bon mấy ngày nay rồi. Nuôi từ khi còn chưa biết tự mặc quần áo cho đến khi uốn cán cuốc cong, uốn cán rựa thẳng. Thế mà người Kinh nói lời một, lời hai đã theo họ về dưới miền xuôi. Amí Buk không muốn trong buôn biết chuyện. Miệng họ dài lắm, họ đi kể với người này người nọ, buôn này buôn nọ rồi thế nào cả vùng Mđrăk cũng biết, gã câm không phải từ váy bà chui ra.
Thằng nhỏ Klơi hay sang nhà em mượn lửa. Nó rù rì với em nhiều chuyện ở trường. Người nhỏ thường giữ không kín chuyện. Nó kể phun nước miếng trắng xóa hai bên mép về gã câm, về nỗi niềm của amí Buk. Nó say sưa cho đến khi nghe tiếng gọi bên kia đường: “Wơ Klơi, trời chưa tối hay sao mà bây giờ mày đi mượn lửa chưa về”. Một mình. Em ngồi vân vê mái tóc mặc kệ dòng suy nghĩ chạy ngược chạy xuôi.
Sau ngày bà mất, em không để ý đến âm thanh sục sạo dưới gầm sàn. Người đàn ông Êđê sợ bồi thường của cải hơn sợ tình yêu dành cho vợ bị phản bội. Không sợ sao được, trong lễ hỏi cưới, ngón tay con gái con trai móc chặt với nhau: “Sợi chỉ đỏ đã buộc ở chân gà trống đỏ. Sợi chỉ trắng đã buộc ở chân gà trống trắng. Dao có rồi còn đi kiếm sắt. Cá có rồi còn đi bắt nữa. Con bò lớn sẽ đốt, con trâu bự sẽ thui, vàng 10 chỉ sẽ trao, ruộng 10 sào sẽ gửi.” Thế nên khi những tiếng chọc sục sạo không được đáp trả. Họ lặng thinh, chân này đá chân kia xiêu vẹo mất dạng trong màn đêm tối hơn chiếc váy đang chờ ở hiên nhà.
Dạo này, em hay tủm tỉm với giấc ngủ mơ hồ. Em thấy nhà mình đầy bọn trẻ nhỏ. Tiếng khóc như bị con ong chích, con kiến cắn. Om sòm và ồn ĩ. Những cánh tay tròn tròn như củ sắn quàng qua vai, ôm vào cổ. Chúng níu váy, kéo áo và dụi dụi vào ngực nũng nịu đòi cà rem ngòn ngọt bốc khói. Chúng bò khắp nhà, vứt những chai nhựa rổn rảng, bật tiếng cười khanh khách như người ta cù vào nách, vào lòng bàn chân. Dưới sàn, thấp thoáng lưng gã câm. Gã ngồi vót tre đan gùi mới. Cạnh đó, con heo đang ủi ủi đất, con gà cục tác đòi ăn, những chùm phong lan xanh đỏ rủ tóc bên hàng rào từng chùm…
Em cười một mình.
Em không thích lối đi của mình dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà các chị nữa.
Em cũng không sợ nắng mạnh của mảnh đất M’đrăk làm cháy tóc, đen da.
Ngọn lửa hừng hực đang nuôi nấng giấc mơ đêm.
Sương lãng đãng mở lối phía trước. Tiếng xe zíp nổ, tiếng cười nói trong nhà amí Buk nổ lênh loang khắp buôn làng. Thằng nhỏ Klơi không sang nhà mượn lửa,  nó mượn thứ khác, nó mượn đôi bàn tay em: “Này chị! Anh em về rồi, con người Kinh nhưng không chịu ở với người Kinh. Nó nói nó nhớ đồng cỏ và nhớ chị. Người đàn bà sạch sẽ, tóc có màu đi xe zíp muốn nhìn thấy chị. Nhanh nào, cứ để nồi cơm cho cái cột nhà coi cho”…


M’đrăk, tháng tư năm 2015

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

ĐỈNH CHƯ YANG SIN ĐANG CAO DẦN tác giả VÂN TRANG - CHƯ YANG SIN SỐ: 273+274 tháng 5&6 năm 2015





Chư Yang Sin - Tạp chí sáng tác nghiên cứu phê bình văn học, nghệ thuật của Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk ra số đầu tiên vào Xuân Ất Mùi - 1991, mang tên Văn nghệ Dak Lak; nhà thơ Hữu Chỉnh làm Tổng biên tập, nhà thơ Phạm Doanh làm Phó tổng biên tập; ra hai tháng một kỳ; khổ 20cm x 30cm. Đến số 16 (8.1993) được đổi tên thành Yang Sin. Đến số Xuân Giáp Tuất – 1994, lại đổi tên thành Cư Yang Sin; bắt đầu từ số này, Tạp chí phát hành mỗi tháng/kỳ. Số 26 (12.1994) Tạp chí mang tên mới: Chứ Yang Sin; nhà thơ Phạm Doanh được bổ nhiệm Tổng biên tập. Đến số Xuân Canh Thìn – 2000, Tạp chí lại thay tên: Chư Yang Sin, khổ 16,5cm x 24,5cm. Sau Đại hội IV (11.2006), nhà văn Khôi Nguyên được bổ nhiệm làm Quyền tổng biên tập cho đến nay.
Sau 15 năm thành lập, Tạp chí đã 5 lần thay tên, 3 lần đổi khổ; điều đó cho thấy khó khăn của những người làm tạp chí văn nghệ trên vùng đất được mệnh danh là thủ phủ Tây Nguyên. Nhưng dù khó khăn đến mấy, Tạp chí vẫn tồn tại và ngày một phát triển, từ hai tháng/kỳ tiến tới xuất bản mỗi tháng/kỳ.Đó là sự cố gắng lớn của lãnh đạo Hội và lãnh đạo Tạp chí.
Tiếp bước các bậc cha anh đi trước, sau Đại hội V, thay đổi thế hệ lãnh đạo mới, nhà văn Lê Khôi Nguyên được bầu Chủ tịch Hội phải đảm nhiệm luôn chức danh Quyền Tổng biên tập. Tạp chí Chư Yang Sin được giao hai biên chế, một thư ký tòa soạn kiêm họa sỹ trình bày, một nhân viên vi tính; kinh phí hàng năm được cấp 230 triệu đồng để in và phát hành 12 kỳ trong năm. Trước tình hình trên, tại kỳ họp thứ II, ngày 25.2.2011 BCH Hội khóa V đã cử nhà văn Nguyễn Hồng Chiến, Phó chủ tịch Thường trực Hội phụ trách Tạp chí. Tại cuộc họp BCH Hội lần thứ III, ngày 5.6.2011theo đề nghị của Thường trực Hội, Ban chấp hành nhất trí mời nhà thơ Đặng Bá Tiến về đảm nhận chức danh Tổng biên tập Tạp chí Chư Yang Sin; trong thời gian chờ hoàn tất thủ tục bổ nhiệm, tạm thời phân công giữ chức vụ Phó tổng biên tập phụ trách nội dung.
Thực hiện Nghị quyết BCH, từ tháng 7.2011, nhà thơ Đặng Bá Tiến về làm hợp đồng tại Tạp chí Chư Yang Sin với chức danh Phó tổng biên tập và hưởng mức phụ cấp… 400.000 đồng/tháng! Đây có lẽ là mức phụ cấp của Phó tổng biên tập một tạp chí (được Bộ Thông tin – Truyền thông cấp giấy phép hoạt động) có một không hai ở Việt Nam. Nhưng với tấm lòng vì phong trào của Hội nói chung và sự phát triển của Tạp chí Chư Yang Sin nói riêng, nhà thơ Đặng Bá Tiến vẫn vui vẻ chấp nhận và cùng lãnh đạo tòa soạn vạch ra kế hoạch hoạt động những tháng còn lại của năm 2011 và những năm tiếp theo. Với kinh nghiệm từng trải của người làm báo chuyên nghiệp lâu năm, am hiểu tình hình văn nghệ địa phương, nhà thơ Đặng Bá Tiến đã mạnh dạn đề xuất kiện toàn lại bộ máy tòa soạn, ổn định tổ chức và từng bước nâng cao chất lượng Tạp chí cả về hình thức lẫn nội dung. Trong những ngày đầu bắt tay vào việc, ưu tiên đầu tiên là phải sắp xếp công việc tòa soạn khoa học, theo hướng chuyên nghiệp, mỗi người đảm nhiệm một nhiệm vụ và giao thời gian tối đa phải hoàn thành công việc… Nhờ vậy tòa soạn đã hoạt động có hiệu quả hơn, đúng tiến độ thời gian đã vạch ra. Để thu hút bạn đọc, việc đầu tiên là phải làm sao cho Tạp chí “bắt mắt” trước hết là trang bìa, lãnh đạo Tạp chí và họa sỹ trình bày sau nhiều ngày tranh luận các phương án, cuối cùng đã thống nhất chọn một phương án trang nhã nhất; sau khi phát hành đã nhận được nhiều lời khen ngợi của hội viên cũng như bạn đọc trên cả nước. Tiếp thắng lợi bước đầu, lãnh đạo Tạp chí đã cho sắp xếp lại các chuyên mục truyền thống, mở thêm một số chuyên mục mới phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng như đòi hỏi của thực tế và bạn đọc. Bước qua năm 2012, cơ bản các chuyên mục trên Tạp chí đã ổn định, nhưng để nâng cao chất lượng các tác phẩm được đăng tải phải đặt bài viết cho các văn nghệ sỹ có uy tín; đi tiên phong trong công việc này là nhà văn Niê Thanh Mai - Phó Chủ tịch Hội, phụ trách biên tập mảng văn xuôi. Nhờ cách làm này mà nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu nổi tiếng… đã có bài đăng thường xuyên trên Tạp chí. Nhằm bồi dưỡng, nâng cao chất lượng bài viết cho hội viên, lãnh đạo Tạp chí đã đề xuất BCH cho tổ chức hội thảo, bàn biện pháp nâng cao chất lượng bài viết trên Tạp chí và mời nhà văn Đỗ Kim Cuông - Phó chủ tịch Thường trực Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam vào trao đổi một số kinh nghiệm sáng tác và thời sự văn nghệ. Những biện pháp tích cực trên đã có kết quả  đáng phấn khởi, chất lượng các tác phẩm của hội viên gửi đến Tạp chí đã được nâng cao dần.
Tuy nhiên, để đạt được kết quả như trên, lãnh đạo Tạp chí cũng như các thành viên ban biên tập chịu rất nhiều áp lực từ hội viên. Nhiều người thắc mắc sao gửi nhiều bài không được đăng, tại sao đăng bài của tôi sửa mà không xin ý kiến… thậm chí có hội viên nặng lời với cả người biên tập. Nhiều hội viên không thông cảm với nổi khổ của người làm công tác biên tập hưởng mức lương 200.000 đồng/tháng (như biên tập Ảnh, Nhạc, Văn nghệ dân gian…), số tiền ấy chưa đủ trả một phần tiền xăng xe để đến nơi làm việc, nói gì đến bù đắp sức lực đã đổ ra; nhưng vì lòng yêu văn nghệ, yêu Tạp chí của chúng ta mà tình nguyện gánh vác công việc, với một mục đích duy nhất: Nâng cao chất lượng Tạp chí. Bài không đáp ứng được yêu cầu thì kiên quyết loại, hoặc buộc phải cắt, sửa… 
Nhờ các biện pháp nêu trên, chất lượng Tạp chí được nâng cao dần, số lượng phát hành cũng tăng lên. Thế nhưng, những người lãnh đạo Tạp chí vẫn day dứt vì mức trả nhuận bút cho tác giả quá thấp: Thơ 100.000 đồng/bài, truyện, nhạc chỉ vài trăm ngàn đồng/bài, trong khi đó tạp chí văn nghệ của nhiều tỉnh bạn trả nhuận bút một bài thơ từ 500.000 - 700.000 đồng, truyện ngắn trả trên 1.000.000 đồng/bài. Tuy lãnh đạo Tạp chí đã cố gắng hết mức, nhưng với nguồn kinh phí 230 triệu đồng/năm, chỉ đủ để xuất bản chín kỳ, từ kỳ thứ mười trở đi không còn kinh phí.  Trước tình hình trên, lãnh đạo Tạp chí đã làm văn bản báo cáo Tỉnh ủy và UBND tỉnh xin cấp thêm kinh phí để duy trì xuất bản. Nhà thơ Đặng Bá Tiến đề xuất: Nhân dịp này chúng ta phải trình bày luôn khó khăn về kinh phí, trong đó có cả việc chi trả nhuận bút chưa hợp lý. Sau khi văn bản được gửi đi, lãnh đạo Tạp chí thay nhau đi “gõ cửa” lãnh đạo chủ chốt của tỉnh để “tác động”. Đầu tháng 9. 2013, ông Hoàng Trọng Hải – Chủ tịch UBND tỉnh đã ký quyết định bổ sung kinh phí cho Tạp chí 3 tháng cuối năm, mỗi tháng 40 triệu đồng. Vì vậy cũng từ tháng 9. 2013 chế độ nhuận bút của Tạp chí được nâng lên: Thơ 250.000 đồng/bài, văn xuôi, nghiên cứu, chính luận, phỏng vấn… 500.000 - 550.000 đồng/bài. 
Không thỏa mãn với kết quả đạt được, lãnh đạo Tạp chí đề xuất với BCH Hội cho tổ chức một chuyến đi thực tế đến các tỉnh bạn học hỏi. Từ thực tế của Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Nhật Lệ, Tạp chí Xứ Thanh, Tạp chí Văn nghệ Hải Dương, Tạp chí Đất Tổ mới thấy họ được cấp kinh phí cao hơn chúng ta rất nhiều: Tạp chí Nhật Lệ (Quảng Bình) 850 triệu đồng/năm, Tạp chí Sông Hương (Thừa Thiên - Huế) 1,5 tỷ đồng/năm, Tạp chí Đất Tổ (Phú Thọ): 1,7 tỷ đồng/năm, Tạp chí Văn nghệ Hải Dương, được Tỉnh ủy đặt mua mỗi kỳ 1600 cuốn để phát hành tới tất cả các cơ quan, đơn vị, chi bộ… trong toàn tỉnh. Về nhân sự, các tạp chí bạn đều có từ 7 -10 biên chế, đặc biệt Đất Tổ có tới 13 biên chế, tòa soạn được cấp nhà riêng, đầy đủ phòng ốc, tiện nghi làm việc… Sau chuyến đi thực tế với những tài liệu sưu tập được, lãnh đạo Tạp chí mạnh dạn làm văn bản đề xuất UBND tỉnh tăng ngân sách cho Tạp chí. Nhờ vậy năm 2014 Tạp chí Chư Yang Sin được cấp 520 triệu, năm 2015 được cấp 500 triệu.
Năm năm một chặng đường không, dài nhưng cũng đủ để khẳng định sự trưởng thành và phát triển của văn học nghệ thuật tỉnh nhà được phản chiếu qua tấm gương trung thực là Tạp chí Chư Yang Sin, với gần 60 kỳ xuất bản. Các tác phẩm được công bố trên Tạp chí có gần 60% là của hội viên, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, có nhiều tác phẩm thể hiện sự tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo, mang lại diện mạo mới cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà.
Đạt được kết quả trên là nhờ BCH khóa V, cùng anh chị em hội viên ủng hộ, cộng tác; lãnh đạo Tạp chí biết kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp mà các thế hệ đi trước đã trao truyền lại; lãnh đạo Tạp chí mạnh dạn đổi mới, phát huy dân chủ và đoàn kết nội bộ; nhờ vậy đã tạo nên sức bật mới góp phần quyết định nâng cao chất lượng Tạp chí, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn học, nghệ thuật của bạn đọc trong và ngoài tỉnh.




Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 273&274 - tác giả KHÔI NGUYÊN

Tác giả KHÔI NGUYÊN


40 NĂM TỪ MỘT VÙNG ĐẤT,
VÌ MỘT VÙNG ĐẤT


Nhắc đến Đắk Lắk, sẽ có nhiều người biết đây là xứ sở của hương cà phê thơm ngát, của vị mật ong ngọt ngào, của những rừng cao su với màu xanh bạt ngàn, của sự rộn ràng với mùa ăn năm uống tháng… và đặc biệt, đây là địa bàn chiến lược đang dần hiện lên diện mạo thủ phủ khu vực Tây Nguyên.
Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột 10.3.1975 – đòn điểm huyệt ngụy quyền, tạo đà cho Đại thắng Mùa xuân 1975, thống nhất Tổ quốc – Đắk Lắk chỉ có 350.000 dân (bấy giờ gồm cả tỉnh Đắk Nông ngày nay) với các dân tộc bản địa chủ yếu là Êđê, M’nông, Lào… với nền kinh tế nghèo nàn, lối sống lạc hậu. Thị xã Buôn Ma Thuột lúc đó còn hoang sơ đến mức được mệnh danh là xứ “buồn muôn thuở”, “bụi mù trời”, “thủ đô tắc kè”… khiến những cán bộ được điều động tăng cường đến Đắk Lắk ngán ngẩm đến nỗi: “Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay…”
Sau 40 năm giải phóng, mặc dù đã tách tỉnh Đắk Nông, nhưng nay Đắk Lắk đã hơn 1,8 triệu dân (có hộ khẩu thường trú) thuộc 47 dân tộc của mọi vùng miền đất nước. 
Với bối cảnh như vậy, sự hình thành và phát triển văn học nghệ thuật ở Đắk Lắk như thế nào?
Trước năm 1975 Đắk Lắk chưa có một nền văn học nghệ thuật thực sự để các thế hệ sau kế thừa; vì thời ấy hầu hết các bài viết đều nằm trong sổ tay cá nhân của một vài tác giả để rồi sau giải phóng mới có điều kiện in ấn và công bố, như Hữu Chỉnh, Thiên Lương, Trúc Hoài…; đội văn nghệ quần chúng phục vụ kháng chiến chủ yếu sử dụng những ca khúc cách mạng đã được lưu truyền, không có văn nghệ sĩ chuyên nghiệp hoạt động ở Đắk Lắk.
Những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, việc đi lại giữa các vùng miền hết sức khó khăn, từ Đắk Lắk đi sang các tỉnh khác lại càng khó khăn hơn, vì vậy việc tiếp cận, giao lưu văn học nghệ thuật giữa Đắk Lắk với các vùng miền khác là hiếm xảy ra. Muốn in ấn phải đi thành phố Hồ Chí Minh, nên Báo Đắk Lắk những năm đầu mỗi tuần 1 số, Tạp chí Văn nghệ của Ty Văn hóa Thông tin Đắk Lắk mỗi năm đôi ba kỳ, vô tuyến truyền hình một tuần 2 tối (từ 6 giờ đến 9 giờ) chuyển tiếp từ Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh… Tới năm 1977, tập truyện “Thú rừng Tây Nguyên” của Thiên Lương, tập thơ “Niềm tin” (1985) của tác giả Vũ Nhật Hồng là những tập sách đầu tiên được in riêng.
Mặc dù các cấp lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk vào những năm 70 và 80 thế kỷ trước rất quan tâm đến văn nghệ nhưng lực lượng văn nghệ sĩ quá mỏng. Cuộc vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk lần thứ nhất kéo dài từ 1982 đến 1988 không đạt kết quả, phải tổ chức Cuộc vận động lần thứ hai. Đến tháng 9.1990, Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk được tổ chức với số lượng hội viên ban đầu là 45 (kể cả hội viên danh dự). Điểm qua như vậy để thấy văn học nghệ thuật ở Đắk Lắk trong 15 năm đầu sau giải phóng hầu như còn mờ nhạt. Sự mờ nhạt này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân, chủ yếu là vào thời điểm bấy giờ, lực lượng tăng cường chủ yếu nằm ở hai phương diện: xây dựng - quản lý (về mặt kinh tế) và an ninh quốc phòng; lực lượng văn nghệ sĩ vốn đã ít ỏi, lại phải lo bươn chải để kiếm thêm thu nhập bằng cách này hay cách khác, nên khó có thời gian thâm nhập vào đời sống thực tế, không có điều kiện để tiếp nhận những thông tin mới và sự giao lưu để học tập kinh nghiệm, không thể dồn tâm huyết cho việc sáng tạo văn học nghệ thuật… 
Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, Đắk Lắk trở thành một vùng đất đầy tiềm năng, có sức hút mạnh mẽ. Nếu trong lịch sử của thế kỷ XX có ghi nhận về những cuộc di dân đến Đắk Lắk thì phải kể đến 3 cuộc di dân lớn. Thứ nhất là cuộc di dân vì nạn đói năm 1945 nên họ phải đến Đắk Lắk làm phu các đồn điền cao su, cà phê; thứ 2 là cuộc di dân 1954 của đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; thứ 3 là cuộc di dân theo chủ trương của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới hoặc những cuộc di dân tự do (vẫn đang hàng ngày hàng giờ diễn ra tại Đắk Lắk). Thế nên dân số Đắk Lắk tăng nhanh về mặt cơ học hơn sinh học. 
Sau 25 năm thành lập, hiện nay Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk có 220 hội viên, trong đó có 83 hội viên chuyên ngành Trung ương. Hội có 7 chi hội chuyên ngành (văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, kiến trúc, mỹ thuật, văn nghệ dân gian, nghệ thuật – biểu diễn) và 2 chi hội văn học nghệ thuât địa phương (huyện Krông Năng và các huyện phía đông Đắk Lắk).
Trên vùng đất có 47 dân tộc của trăm miền quê tụ hội, ngoài những bản sắc văn hóa bản địa còn có những sắc màu văn hóa của mọi miền đất nước từ những người đã chọn Đắk Lắk làm quê hương thứ hai bởi, họ “gánh theo tên xã tên làng”. Các văn nghệ sĩ Đắk Lắk được hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật trên một “mỏ giàu tài nguyên văn hóa”. Họ đã hòa mình vào cuộc sống và gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Nếu như năm 1990, theo nhận xét của nhà thơ Nông Quốc Chấn: “Đọc các anh các chị ở Đắk Lắk, tôi thấy cứ nhàn nhạt như đang đọc của các tác giả ở đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ, chưa thấy cái riêng của một vùng đất…” thì đến nay, văn học nghệ thuật Đắk Lắk không chỉ đã hòa được với tiếng nói chung mà còn mang đậm dấu ấn của một vùng đất. Mặc dù chẳng có “amí”, “ama”, “cồng chiêng”, “cái bụng”… trong tác phẩm nhưng nó vẫn mang hơi thở của cuộc sống ở xứ sở đa sắc tộc, đa văn hóa, thừa mưa nắng này.
Kể từ khi thành lập Hội Văn học Nghệ thuật (1990), đặc biệt từ khi có nguồn Quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật của Chính phủ (2004), mỗi năm Đắk Lắk có hàng chục đầu sách ra mặt bạn đọc, hàng trăm tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật đoạt giải tại các cuộc thi, các cuộc liên hoan khu vực, trong nước và quốc tế. Nhiều văn nghệ sĩ Đắk Lắk được bạn bè trên cả nước biết đến… Và Đắk Lắk cũng đã trở thành điểm đến của nhiều văn nghệ sĩ trên cả nước để tìm niềm cảm hứng sáng tạo về đất và người nơi đây.
40 năm, một quãng thời gian đủ để con người từ thoát thai trưởng thành, thấu hiểu lý sự trong thiên hạ (tứ thập nhi bất hoặc) nhưng so với lịch sử thì chỉ như hạt cát giữa sa mạc, so với vũ trụ thì chỉ là một thiên thạch trong vô tận thiên hà; việc đánh giá, xác định vai trò vị trí của văn học nghệ thuật một vùng đất là rất khó. Chỉ dám nhận định rằng: Các hoạt động sáng tác của các hội viên khá sôi nổi, phong phú. Mỗi chuyên ngành, mỗi lĩnh vực đều thể hiện được khả năng tìm tòi sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Mỗi cá nhân tác giả đều cố gắng nỗ lực hoàn thiện bản thân, nâng cao năng lực sáng tạo để đóng góp cho cuộc sống nói chung và sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh nhà nói riêng, làm tròn trách nhiệm của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Họ đã dùng tài năng và công sức, mang tiếng nói và hơi thở của con người ở một vùng đất để góp phần cho tiến bộ xã hội.
Ở Đắk Lắk, tiếng nói của văn học nghệ thuật cũng đã có những giá trị nhất định. Hàng năm, Hội VHNT phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong tỉnh tổ chức từ 2 đến 3 trại sáng tác, nhiều chuyến đi thực tế tạo điều kiện cho các văn nghệ sĩ có nguồn cảm hứng sáng tạo; tổ chức nhiều buổi biểu diễn tại biên giới, vùng sâu phục vụ chiến sĩ và đồng bào; tổ chức các cuộc triển lãm để phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân… có kinh phí để tổ chức trao giải thưởng hàng năm và giải thưởng VHNT Chư Yang Sin (5 năm/ lần), tổ chức Trại sáng tác dành cho thanh thiếu nhi để bồi dưỡng thế hệ kế cận (tới nay đã 25 Trại cấp tỉnh, 19 Trại của riêng huyện Cư Mgar)…

40 năm, văn học nghệ thuật từ một vùng đất đã vượt qua gian khó để đi lên, cũng chỉ vì một vùng đất, vì sự góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, vì sự nghiệp xây dưng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đât nước. Nhiều gian nan vẫn còn. Hy vọng Nghị quyết 33 của của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Chương trình thực hiện Nghị quyết 33 của Tỉnh ủy Đắk Lắk, văn học nghệ thuật Đắk Lắk sẽ có điều kiện hơn nữa để phát triển và hội nhập.