Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SÔ 279 - tác giả NGUYỄN THỊ KHÁNH HẠ





NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG CHƯƠNG
“HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA”
Trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
           


Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người đọc nghĩ ngay đến một nhà văn với thái độ phê phán trực diện, không khoan nhượng đối với hiện thực. Với bút lực dồi dào, ông và các nhà văn cùng chí hướng đã tạo nên một dòng văn học hiện thực phê phán với những thành tựu rực rỡ, cắm một mốc son chói lọi trong tiến trình văn học dân tộc.
Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, có một thứ vũ khí vô cùng sắc bén được ông phát huy tối đa công lực, đó là bút pháp trào phúng. Trào phúng là một nghệ thuật, trong đó, nhà văn sử dụng tiếng cười, khả năng gây cười, để đạt được mục đích giễu nhại, phê phán, đả kích.
Trong toàn bộ tiểu thuyết “Số đỏ”, bạn đọc thấy, hầu như tất cả các trang sách đều văng vẳng tiếng cười. Riêng trong chương XV, “Hạnh phúc của một tang gia”, là một màn hài kịch lố lăng kệch cỡm.
Trước hết, tác giả đã phát hiện và khoét sâu vào mâu thuẫn gây cười: Tang gia và hạnh phúc! Tang gia, tức gia đình có người chết, thói thường, phải đau khổ, xót xa chia lìa, đằng này, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều cảm thấy vô cùng hạnh phúc, hạnh phúc đến nỗi không giấu được, và cũng không thèm che đậy! Niềm hạnh phúc của đám con cháu khốn nạn, chỉ vì mỗi lý do đơn giản, đơn giản đến trần trụi: Người chết, cụ Cố Tổ, có một gia sản kếch xù để lại cho con cháu chia chác! Chuyện như đùa mà lại có thật, thật đến nỗi, độc giả không hề nghi ngờ câu chuyện mà tác giả đang kể. Vừa tin, vừa cười, cười mà trào nước mắt!
Hóa ra, cụ Cố Tổ đã rất già, đám con cháu bất hiếu đã mong cụ chết từ lâu, thậm chí họ còn định lợi dụng các phương thuốc thất đức của các lang băm để hạ độc cụ, nhưng cụ vẫn sống. Thành ra, cụ sống ngày nào, con cháu sốt ruột ngày đó. Và cụ chết, tâm trạng sốt ruột chuyển sang sốt sắng, rồi náo nức. Họ tổ chức một đám ma thật to, linh đình và hết sức vui vẻ! Có lẽ, nhà văn đã không phải tưởng tượng nhiều, chỉ ngồi đâu đó ở Hà thành, và quan sát đời sống thị dân nhố nhăng đương thời, “ông vua phóng sự Bắc kỳ” đã bắt ngay được bản chất của “những đám ma to tát” khoe mẽ nhưng thiếu đạo đức của những đám con cháu bất hiếu. Và với tài năng của mình, tác giả tô đậm lên bức tranh kệch cỡm ấy. Có cảm giác nhà văn như một nghệ sĩ đạo diễn truyền hình đang chỉ đạo các máy quay hoạt động hết công suất, lúc thì cận cảnh, lúc thì lùi xa ra để “lấy nét” hết tất cả các chân dung, những bức chân dung méo mó, gây cười.
Tác giả đã khá tỉ mỉ công sức khi cố gắng tô đậm những gương mặt, trang phục của đám nhân vật đông đúc.
Trước hết là cụ cố Hồng với câu nói cửa miệng: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Xưa nay cụ mới chỉ được diễn trò già yếu ở nhà, giờ cụ được trình diễn trước đám đông: “Cụ cố Hồng đã nhắm nghiền mắt lại mơ màng đến lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: úi giời ơi, trai lớn đã già đến thế kia kìa…”.
Cô Tuyết, cháu gái của người quá cố thì sung sướng được mặc bộ y phục “ngây thơ” - cái áo voan mỏng “hở cả nách và nửa vú” với cái tráp trầu cau và thuốc lá mời khách với vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt.
Ông Phán mọc sừng, chàng con rể quý hóa của cụ Cố Hồng, ông là kẻ vớ bở nhờ cái chết của cụ Tổ. Nhờ “đôi sừng vô hình trên đầu”, ông được gia đình bên vợ hứa chia thêm một số tiền, coi như đền bù sự thiệt thòi. Có vẻ như nhờ thế mà ông bộc lộ nỗi đau xót cùa mình một cách ồn ào hơn ai hết: ông oặt người khi khóc mãi không thôi: “Hứt! Hứt!”. Nhưng trào phúng thay khi ông Phán dúi vào tay Xuân tờ bạc năm đồng để trả ơn Xuân. Ông ta khóc y như thật để che đậy hành động thật của mình!
Đây cũng là dịp may hiếm có để tiệm may Âu hóa và ông Typn có thể lăng xê những mốt trang phục mà có thể ban cho những ai có tang thương đau đớn vì kẻ chết cũng được chút ít hạnh phúc ở đời.
Cậu tú Tân thì mừng quá và đang điên người lên vì đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mãi mà không được dùng đến. Đám ma là dịp cậu trổ tài chụp ảnh, cậu bắt người này đứng thế này, khóc thế kia, để chụp ảnh cho sinh động! Trong khi, lẽ ra, là cháu chắt của người chết, cậu phải xót thương, đau khổ!
Còn Xuân tóc đỏ càng vênh váo vì nhờ hắn mà cụ Tổ lăn đùng ra chết. Cái niềm tự hào của người có công lớn, “gây ra cái chết cho cụ già đáng chết”!
Hạnh phúc lan tràn cả ra ngoài gia đình người chết: Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang thất nghiệp bỗng được thuê giữ trật tự... Bạn bè cụ cố Hồng có điều kiện khoe khoang sự oai vệ của mình...
Một trong những nét đặc sắc của ngòi bút trào phúng Vũ Trọng Phụng là sự thể hiện đám đông. Tác giả lùi ống kính thật xa quay toàn cảnh đám tang với điệp khúc đám cứ đi. Có khi tác giả lại quay cận cảnh để vạch trần bản chất nhố nhăng giả tạo của đám tang này. Vũ Trọng Phụng đã thể hiện ngôn ngữ trào phúng khi miêu tả một số kiểu râu ria của các cụ: Có cụ râu lún phún rầm rậm, có vị râu hung hung, lại có vị râu loăn xoăn... Các cụ ấy đã thực sự cảm động vì làn da trắng nơi ngực và cánh tay cô Tuyết. Đến đưa ma cụ Tổ phần đông là trai thanh gái lịch đất Hà thành ngàn năm văn hiến, đến với đám cốt để chim nhau, hò hẹn nhau... nói với nhau đủ chuyện hàng ngày, cho nên đám ma đông là thế, ồn ào náo nhiệt là vậy.
Với “Số đỏ”, Vũ Trọng Phụng tạo ra một giọng văn riêng, chưa hề gặp trong nền văn xuôi đương thời, và có lẽ đến sau này cũng chưa mấy ai bắt kịp: giọng điệu hài hước, ác khẩu, giễu cợt, lạnh lùng, dửng dưng, chả còn phân biệt bịa hay thật! Luôn luôn có sự khập khiễng giữa sự vật được nói tới với giọng điệu câu văn, khập khiễng giữa các con chữ trong cùng một câu văn: “Ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bĩnh tĩnh”, “Bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết”, tiếng khóc cũng nhại lại đầy sự châm biếm: Hứt!.. Hứt... Hứt!
Trong cuộc bút chiến với các nhà văn thuộc trường phái lãng mạn cùng thời, Vũ Trọng Phụng tuyên bố: Các ông muốn tiểu thuyết là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn cùng chí hướng, thì tiểu thuyết là sự thực ở đời! Tác phẩm của ông góp phần khắc họa bức tranh hiện thực thối nát đương thời. Ông viết “Số đỏ” khi tuổi đời còn rất trẻ, song đã thể hiện được là một tiểu thuyết gia bậc thầy, một ngòi bút lạnh lùng tỉnh táo, đủ để làm chủ mọi tình thế. Nghệ thuật trào phúng của ông là tiếng cười trực diện, phê phán không nương tay những lố lăng kệch cỡm ở đời.
Sử dụng nghệ thuật trào phúng một cách đắc địa, đó là thành công nổi bật của tiểu thuyết “Số đỏ”.



Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SÔ 279 - VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

NHỮNG TIẾNG NÓI TỪ CHERNOBYL
Của Svetlana Alexievich
(Tác giả được giải Nobel Văn chương năm 2015)

Belarussian writer Svetlana Alexievich.          
(Nhà văn Svetlana Alexievich – tác giả được tặng giải Nobel văn chương năm 2015)

Vào ngày 26 tháng tư năm 1986, lò phản ứng hạt nhân số 4 ở Chernobyl nổ tung. Đối diện với thảm họa hạt nhân ở mức độ không xác định rõ, nhà cầm quyền Xô viết cố kiểm soát tình huống bằng cách gửi hàng ngàn người được trang bị thiếu thốn vào khu vực phóng xạ. Trong một trích đoạn từ một quyển sách mới của nhà báo Nga (Belarus) Svetlana Alexievich, những người tận mắt chứng kiến nhớ lại một thảm họa khủng khiếp cho đến ngày nay vẫn chưa bạch hóa.
Khi một cuộc kiểm tra hàng ngày được tiến hành sai lầm nghiêm trọng, một phản ứng dây chuyền vượt khỏi tầm kiểm soát ở lò phản ứng số 4 ở nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine, tạo nên một quả cầu lửa khổng lồ thổi tung nắp lò làm bằng xi măng và thép nặng 1000 tấn của lò phản ứng. Than chì cháy và vật liệu lõi phản ứng nóng bắn ra bởi vụ nổ tạo nên vô số vụ cháy khác, trong đó có mái nhựa đường dễ cháy của lò phản ứng kế cận. Hậu quả trực tiếp của vụ nổ có 31 người chết và nhiễm phóng xạ nghiêm trọng trong khi chống cháy, và hơn 200 trường hợp nhiễm phóng xạ nghiêm trọng trong những ngày tiếp theo.
Sự di tản cư dân bị trì hoãn vì chính quyền Xô viết không sẵn sàng thừa nhận tầm quan trọng của tai nạn. Cuối cùng, hơn 100.000 người được di tản từ khu vực chung quanh UkraineBelarus.
Trong tuần lễ sau khi tai nạn xảy ra chính quyền Xô viết đổ hàng ngàn người không được bảo vệ thỏa đáng, chưa được huấn luyện đến khu vực thảm họa. Những túi cát được thả lên đám cháy ở lò phản ứng từ những khung cửa mở của những chiếc trực thăng (các nhà phân tích bây giờ nghĩ việc làm này có hại hơn là có lợi). Khi đám cháy cuối cùng được dập tắt, những người đàn ông leo lên mái lò để dọn những mảnh phóng xạ. Các thứ máy đem đến đó không xài được vì bị phóng xạ. Những người đến đó chỉ làm hơn vài tuần, là những người chết đau đớn kéo dài.
Nhưng nếu nỗ lực này đã không được thực hiện, thì thảm họa có thể đã xấu hơn nhiều. Những quan tài, được thiết kế bởi những kỹ sư từ Lenigrad, được sản xuất cẩu thả - những tấm kim loại lắp ráp với sự trợ giúp của những người máy và máy bay trực thăng – và như một hệ quả chúng có những vết nứt. Bây giờ nó được gọi là Vỏ Bọc, lò phản ứng số 4 vẫn còn gần xấp xỉ 20 tấn nhiên liệu hạt nhân trong lõi chì và kim loại của nó. Không ai biết những gì đang xảy ra với nó.
Về nước Belarus kế cận, có dân số chỉ 10 triệu người, vụ nổ hạt nhân là một thảm họa ở cấp quốc gia: 70% nuclit phóng xạ phóng thích trong tai nạn rơi xuống Belarus. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Phát xít hủy diệt 619 ngôi làng ở Belarus cùng với cư dân của chúng. Hậu quả từ phóng xạ của Chernobyl, quốc gia mất 485 làng và khu định cư. Trong số này, 70 làng bị chôn vùi xuống đất bởi những nhóm dọn dẹp gọi là những nhóm thanh lý.
Ngày nay, cứ năm người Belarus thì có một người sống trên đất bị nhiễm độc. Tức là 2,1 triệu người sống trên đất nhiễm độc, trong số đó có 700.000 trẻ em. Vì hầu như lúc nào cũng có những liều nhỏ phóng xạ chung quanh “Khu vực”, con số người bị ung thư, rối loạn thần kinh và biến đổi gien gia tăng mỗi năm.
Lyudmilla Ignatenko - vợ lính cứu hỏa Vasily Ignatenko.
Chúng tôi mới kết hôn. Chúng tôi vẫn còn đi dạo tay trong tay, kể cả khi chúng tôi chỉ đi tới cửa hàng. Tôi sẽ nói với anh ấy, “Em yêu anh”.
Chúng tôi sống trong cư xá của trạm cứu hỏa nơi anh ấy làm việc. Ở đó có ba cặp trẻ tuổi khác; chúng tôi cùng dùng chung nhà bếp. Những người chồng trẻ lái những chiếc xe tải và xe cứu hỏa màu đỏ.
Một đêm bỗng tôi nghe có tiếng động. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Anh ấy thấy tôi như thế bèn nói, “Đóng cửa sổ và ngủ lại đi. Có một đám cháy ở lò phản ứng. Anh sẽ trở về sớm”.
Tôi không chứng kiến chính vụ nổ. Chỉ thấy lửa. Mọi thứ phát sáng. Cả bầu trời. Một cột lửa cao. Và khói. Sức nóng thì kinh khủng. Và anh ấy không trở lại. Khói là từ nhựa rải đường đang cháy, là thứ phủ trên mái lò. Sau này anh ấy nói nó giống như đi trên hắc ín.
Họ cố dập lửa. Họ đá vào than chì bằng chân… Họ không đang mặc quần áo bằng vải bạt. Họ đi như lúc bình thường, mặc áo sơ mi. Không ai bảo họ gì cả.
Lúc bảy giờ sáng người ta cho tôi biết anh đã vào bệnh viện. Tôi chạy đến đó nhưng ở đó cảnh sát đã vây quanh, và họ không cho ai vào, chỉ xe cứu thương mà thôi. Nhân viên cảnh sát quát: “Xe cứu thương nhiễm phóng xạ, tránh xa!”
Tôi thấy anh. Anh sưng phồng cả người. Chỉ có thể thấy mắt của anh.
“Anh ấy cần sữa. Nhiều sữa,” người bạn tôi nói. “Họ nên uống ít nhất mỗi người ba lít.”
“Nhưng anh ấy không thích sữa.”
“Bây giờ anh ấy sẽ uống.”
Nhiều bác sĩ và y tá trong bệnh viện đó và đặc biệt là những hộ lý, sẽ bị ngã bệnh và chết. Nhưng lúc ấy chúng tôi không biết điều đó.
Tối hôm đó tôi không vào được trong bệnh viện. Người bác sĩ ra ngoài nói, vâng, họ sẽ được máy bay đưa đi Moscow, nhưng chúng tôi cần đem quần áo lại cho họ. Quần áo mà họ mặc ở trạm đã bị cháy. Lúc ấy những chuyến xe buýt đã ngừng chạy rồi và chúng tôi chạy băng qua thành phố. Chúng tôi chạy trở lại với các túi xách của họ, nhưng máy bay đã cất cánh. Họ đã gạt chúng tôi.
Đó là một bệnh viện chuyên khoa X quang, và bạn không thể vào được nếu không có giấy phép. Tôi cho người đàn bà giữ cửa một ít tiền, và bà ấy nói, “Vào đi.” Rồi tôi phải hỏi một người khác, cầu xin. Cuối cùng tôi ngồi trong văn phòng của trưởng khoa X quang. Ngay lập tức bà ấy hỏi tôi: “Chị có con chưa?” Tôi nên nói gì với bà ấy đây? Tôi thấy rằng tôi cần phải giấu việc tôi đang có mang. Nếu biết, họ sẽ không cho tôi gặp anh ấy. May là tôi gầy.
“Dạ có,” tôi nói.
“Bao nhiêu đứa?” Tôi suy nghĩ, tôi cần nói với bà ấy là hai đứa. Nếu chỉ nói một, bà ấy sẽ không cho tôi vào.
“Một trai một gái.”
“Chị không cần có thêm con nữa. Được rồi, nghe đây: hệ thần kinh trung ương của anh ấy bị tổn thương hoàn toàn, sọ anh ấy bị tổn thương hoàn toàn. Nếu chị khóc, tôi sẽ đuổi chị ra ngay. Không được ôm cũng không được hôn. Thậm chí không được đến gần anh ấy. Chị có được nửa giờ.”
Anh trông khá buồn cười, cỡ pyjamas của anh số 48, bây giờ cỡ của anh là 52. Tay áo trở nên quá ngắn, quần dài trở nên quá ngắn. Nhưng mặt anh không sưng thêm nữa. Họ đã cho một loại chất lỏng nào đó. Tôi nói, “Anh đã chạy đến đâu?” Anh muốn ôm tôi. Bác sĩ không cho phép. “Ngồi xuống, ngồi xuống,” bà nói. “Không được ôm nhau ở đây.”
Ngay ngày đầu tiên ở cư xá họ đã đo tôi bằng một dụng cụ đo lường bức xạ. Quần áo, túi xách, ví, giày – tất cả đều “nóng”. Và họ lấy đi tất cả đồ đạc của tôi ngay tại đó. Thậm chí cả đồ lót của tôi. Thứ duy nhất họ để lại cho tôi là tiền của tôi.
Anh bắt đầu thay đổi; gần như mỗi ngày tôi gặp một người mới. Những vết bỏng bắt đầu lan lên bề mặt. Trong miệng, trên lưỡi, trên gò má của anh – mới đầu là những chỗ da nhiễm trùng nhỏ, và rồi chúng phát triển. Chúng trở thành từng lớp – như lớp màng trắng… màu da mặt anh… thân anh… xanh, đỏ, nâu nhạt.
Điều duy nhất cứu tôi là sự việc diễn ra khá nhanh; không có thời gian để suy nghĩ, không có thời gian để khóc. Đó là một bệnh viện dành cho những người bị nhiễm xạ nghiêm trọng. Mười bốn ngày. Trong vòng 14 ngày thì người ta chết.
Anh đi đại tiện từ 25 đến 30 lần một ngày, có máu và chất nhầy. Da anh bắt đầu nứt trên tay và chân. Người anh đầy những vết sưng tấy mủ. Khi anh quay đầu, cả một cụm tóc rớt nằm trên gối. Tôi cố đùa: “Vậy càng thuận tiện, anh khỏi cần xài lược.” Sau đó họ cạo trọc anh.
Tôi nói với cô y tá: “Anh ấy đang chết.” Và chị ấy nói với tôi: “Chứ chị còn mong đợi gì nữa? Anh ấy nhiễm đến 1600 đơn vị rơn ghen. Bốn trăm đơn vị là đủ để chết người. Chị đang ngồi bên một lò phản ứng hạt nhân đấy.”
Khi tất cả những người nhiễm phóng xạ chết, người ta tân trang lại bệnh viện. Họ đập bể các bức tường và đào xới nền nhà. Khi anh chết, họ mặc cho anh quần áo khi công tác, với nón cứu hỏa. Họ không thể mang giầy cho anh vì chân anh sưng phồng. Họ chôn anh chân trần. Đó là tình yêu của tôi.
Sergei Vasilyevich Sobolev - Phó Ban quản lý bộ phận Bảo vệ Chernobyl.
Có một khoảng thời gian ngắn khi có nguy cơ về một vụ nổ hạt nhân, và người ta phải rút nước từ dưới lò phản ứng ra, để hợp chất uranium và than chì sẽ không lọt vào đó – với nước, chúng sẽ tạo thành một khối lượng lớn. Vụ nổ sẽ mạnh cỡ ba đến năm megatons. Điều này sẽ có nghĩa là không chỉ KievMinsk, mà một phần lớn châu Âu sẽ không thể cư trú. Bạn có thể tưởng tượng được không? Một thảm họa châu Âu.
Vì thế đây là nhiệm vụ: ai là người sẽ lặn xuống đó và tháo chốt van an toàn. Người ta hứa hẹn cho những ai dám lặn xuống đó một chiếc ô tô, một căn hộ, một ngôi nhà ở miền quê, trợ cấp cho gia đình họ đến hết đời. Họ đã tìm được những người tình nguyện. Những chàng trai lặn xuống, nhiều lần, và họ tháo được cái chốt đó, và số tiền được cho là 7000 rúp. Người ta đã quên đi lời hứa về những chiếc xe những căn hộ - đó không phải là lý do để họ lặn. Những người lặn xuống này xuất thân từ một nền văn hóa, nền văn hóa của thành tựu lớn. Họ là sự hy sinh.
Và về những người lính làm việc trên nóc lò phản ứng thì sao? Hai trăm mười đơn vị quân đội được ném vào khu vực phóng xạ, tương đương với 340.000 quân nhân. Những người dọn dẹp nóc lò bị nặng nhất. Họ mặc áo chì, nhưng phóng xạ bốc lên từ bên dưới, và ở đó thì họ không được bảo hộ. Họ đi những đôi ủng giả da rẻ tiền, bình thường. Họ trải qua khoảng một phút rưỡi đến hai phút trên nóc lò mỗi ngày, rồi được bãi nhiệm, được cho một giấy chứng nhận và một khoản tiền thưởng – 100 rúp. Rồi họ biến mất trong vùng đất mẹ mênh mông. Trên nóc lò họ thu nhặt nhiên liệu và than chì từ lò phản ứng, những mảnh vỡ vụn bê tông và kim khí.
Mất khoảng từ 20 – 30 giây để nhặt đầy một xe cút kít và thêm 30 giây khác để ném “rác” khỏi nóc. Những xe cút kít đặc biệt này nặng 40 ký lô. Vì vậy bạn có thể hình dung: một chiếc áo chì, mặt nạ, xe cút kít và tốc độ làm việc điên cuồng.
Trong bảo tàng ở Kiev họ có một khuôn đúc chì cỡ chiếc mũ của người lính; người ta nói rằng nếu chiếc mũ đó là thật thì nó nặng cỡ 16 ký lô, mật độ chì nặng như thế. Những máy kiểm soát vô tuyến họ dùng thường không thể sử dụng được hay là thực hiện ngược lại những gì họ định làm, bởi vì điện tử bị nhiễu bởi độ phóng xạ cao. Những “người máy” đáng tin cậy nhất là những người lính. Họ được đặt tên là “những người máy xanh” (do màu quân phục của họ). Khoảng 3600 người lính làm việc trên mái lò phản ứng đã bị hư. Họ ngủ trên đất trong những chiếc lều. Họ là những chàng trai trẻ.
Những người này nay không còn nữa, chỉ còn những tài liệu trong viện bảo tàng, có tên của họ.
Eduard Borisovich Kortkov - phi công trực thăng.
Tôi sợ trước khi tôi đến đó. Nhưng khi tôi đến đó thì nỗi sợ không còn. Tất cả chỉ là mệnh lệnh, công việc, nhiệm vụ. Tôi muốn nhìn lò phản ứng từ trên cao, từ một trực thăng – để thấy những gì đã thực sự xảy ra ở đó. Tuy nhiên điều đó bị cấm. Trên thẻ y tế của tôi người ta ghi tôi ở mức 21 đơn vị Rơn ghen, nhưng tôi không tin điều đó là đúng. Có một số ngày con số là 80 Rơn ghen, một số ngày con số là 120. Thỉnh thoảng vào ban đêm tôi bay vòng trên lò phản ứng khoảng hai giờ đồng hồ.
Tôi nói chuyện với một số nhà khoa học. Một người bảo tôi: “Tôi có thể liếm trực thăng của anh bằng lưỡi và sẽ không có gì xảy ra cho tôi.” Một người khác nói: “Anh bay mà không có bảo hộ à? Anh không muốn sống thọ hả? Sai lầm lớn! Anh phải che kín toàn thân!” Chúng tôi ngăn các ghế trên trực thăng bằng chì, tự làm cho mình những chiếc áo chì, nhưng hóa ra những công cụ đó bảo vệ bạn từ một loại tia phóng xạ này, nhưng lại không bảo vệ được từ loại tia khác. Chúng tôi bay từ sáng đến tối. Vào ban đêm chúng tôi xem truyền hình – Bóng đá thế giới đang diễn ra, vì thế chúng tôi nói chuyện nhiều về bóng đá.
Tôi cho rằng phải chừng ba năm sau. Một trong những chàng trai bị bệnh, rồi thêm người khác. Có người chết. Có người phát điên và tự tử. Đó là khi chúng tôi bắt đầu suy nghĩ.
Tôi đã không kể với cha mẹ tôi là tôi được phái đến Chernobyl. Một hôm anh tôi tình cờ đọc tờ Izvestia và thấy ảnh tôi. Anh cầm tờ báo đến cho mẹ tôi. “Mẹ xem này,” anh nói, “nó là một anh hùng!”. Mẹ tôi bắt đầu khóc.
Aleksandr Kudryagin - người thanh lý
Chúng tôi có những trò đùa. Đây là một: một người máy Mỹ ở được trên nóc lò năm phút, rồi nó bị hỏng. Người máy Nhật ở trên nóc được năm phút, rồi bị hỏng.
Người máy Nga ở trên đó được hai giờ! Rồi một mệnh lệnh phát ra từ loa phóng thanh: “Bình nhì Ivanov! Trong hai giờ, anh được mời xuống nghỉ và giải lao một điếu thuốc lá.”
Ha ha!
Nikolai Fomich Kalugin - người cha.
Chúng tôi không chỉ mất một thành phố, chúng tôi mất toàn bộ cuộc sống. Chúng tôi rời thành phố vào ngày thứ ba. Lò phản ứng đang cháy. Tôi nhớ một trong những người bạn tôi nói, “Có mùi của lò phản ứng.” Đó là một mùi không thể diễn tả.
Họ thông báo qua ra-đi-ô rằng không ai được đem theo gì! Được thôi, tôi sẽ không đem theo những tài sản của tôi, tôi chỉ đem theo một món. Tôi cần gỡ cánh cửa căn hộ và đem nó theo với tôi. Tôi không thể để cánh cửa lại. Nó là bùa hộ mệnh của tôi, là di tích của gia đình tôi. Cha tôi nằm trên cánh cửa này. Tôi không biết tục lệ này là của ai đặt ra, nhưng mẹ tôi bảo tôi rằng người chết phải được đặt nằm trên cánh cửa nhà mình.
Tôi đem cánh cửa ấy theo tôi – vào ban đêm, trên một chiếc xe gắn máy, xuyên qua rừng. Đó là hai năm sau, khi căn hộ của chúng tôi đã bị cướp phá trống rỗng. Cảnh sát đang theo đuổi tôi. “Chúng tôi sẽ bắn! Chúng tôi sẽ bắn!” Họ nghĩ tôi là một tên trộm. Đó là cách tôi đã đánh cắp cánh cửa của chính nhà mình.
Tôi đưa con gái và vợ tôi đến bệnh viện. Họ có những đốm đen khắp toàn thân. Những đốm này hiện ra, rồi biến mất. Cỡ của chúng bằng một đồng năm cô pếch. Nhưng không đau. Họ đã làm vài xét nghiệm về chúng. Con gái tôi sáu tuổi. Khi tôi bế nó đến giường, nó thì thầm vào tai tôi: “Bố ơi, con muốn sống, con vẫn còn nhỏ.” Và tôi đã nghĩ nó không hiểu gì.
Bạn có thể hình dung bảy cô bé đầu cạo trọc trong một gian phòng không? Có bảy em như thế trong gian phòng của bệnh viện… Vợ tôi không thể chịu nổi. “Con bé chết đi thì tốt hơn phải chịu như thế này. Hay cho em chết đi, để em khỏi phải nhìn cảnh này nữa.”
Chúng tôi đặt nó lên cánh cửa… lên cánh cửa mà cha tôi nằm. Cho tới khi họ đưa vào một cái quan tài nhỏ. Cái quan tài nhỏ, như một chiếc hộp để đựng một con búp bê lớn.
Tôi muốn xác nhận: Con gái tôi chết vì Chernobyl. Và người ta muốn chúng tôi quên chuyện đó đi.
Arkady Filin - người thanh lý.
Ngay tức khắc bạn thấy mình ở trong một thế giới ngoài sức tưởng tượng, ở đó một cuộc tận thế thời kỳ đồ đá. Chúng tôi sống trong rừng, trong những chiếc lều, cách lò phản ứng 200 km, giống như những dân quân du kích.
Chúng tôi trong khoảng từ 25 đến 40 tuổi; một số chúng tôi có bằng đại học hay bằng tốt nghiệp phổ thông. Ví dụ như tôi là một giáo viên sử. Thay vì súng máy họ cho chúng tôi những chiếc xẻng. Chúng tôi chôn những đống rác và những khu vườn. Phụ nữ trong các làng nhìn chúng tôi và làm dấu thập giá. Chúng tôi có găng tay, máy thở, và quần áo y tế. Mặt trời chiếu xuống chúng tôi. Chúng tôi xuất hiện trong những sân vườn của họ giống như những con quỷ. Họ không hiểu tại sao chúng tôi phải chôn lấp khu vườn của họ, xé tỏi và cải bắp của họ khi chúng trông như tỏi và cải bắp bình thường. Những bà già sẽ làm dấu thập giá và nói, “Các chàng trai, chuyện này là gì – là ngày tận thế hả?”.
Trong nhà, bếp lò đang cháy, mỡ lợn đang rán. Bạn đặt một dụng cụ đo phóng xạ vào đó, và bạn thấy đó không phải là một cái lò, mà là một lò phản ứng hạt nhân nhỏ.
Tôi thấy một người đàn ông nhìn nhà của ông ta bị chôn vùi. Chúng tôi chôn những ngôi nhà, giếng nước, cây. Chúng tôi chôn đất. Chúng tôi cắt sập các thứ, lăn chúng vào những tấm vải nhựa lớn. Chúng tôi chôn cánh rừng. Chúng tôi cưa cây thành từng khúc 1,5 mét và bọc chúng trong giấy bóng kính và ném chúng vào những hầm chôn.
Vào ban đêm tôi không thể ngủ. Tôi nhắm mắt và thấy vật gì đó đen đen đang chuyển động, lật qua – như thể nó sống – những dãi đất sống, với côn trùng, nhện, sâu bọ. Tôi không biết chúng là gì, tên của chúng, chỉ biết là côn trùng, nhện, kiến. Và chúng thì nhỏ và lớn, màu vàng và đen, tất cả những màu khác.
Một trong những nhà thơ nói ở đâu đó rằng những con thú là những con người khác. Tôi giết chúng từng mười, từng trăm, từng ngàn con, mà thậm chí không biết chúng được gọi là gì. Tôi hủy diệt nhà của chúng, bí mật của chúng. Và chôn chúng. Chôn chúng.
Vanya Kovarov.
Tôi 12 tuổi và bệnh tật. Người phát thư mang đến nhà tôi hai tấm séc tiền trợ cấp – cho tôi và cho ông tôi.
Khi những đứa con gái trong lớp tôi biết rằng tôi bị ung thư máu, chúng sợ phải ngồi gần tôi. Chúng không muốn đụng vào tôi.
Các bác sĩ nói tôi mắc bệnh vì cha tôi làm việc ở Chernobyl. Và tôi sinh ra sau vụ nổ. Tôi yêu cha tôi.
Ivan Nikolaevich Zhykhov - kỹ sư hóa.
Chúng tôi đào lên lớp đất chết trên cùng, chất chúng lên những chiếc xe và đưa chúng đến khu chôn rác. Tôi nghĩ rằng khu chôn rác là một kiến trúc được thiết kế phức tạp, nhưng hóa ra đó chỉ là một cái hầm bình thường. Chúng tôi lật đất lên và lăn nó, giống như những tấm thảm lớn. Chúng tôi lật lên toàn bộ cây xanh cùng đất, với cỏ, hoa, rễ. Đó là công việc dành cho những người điên.
Nếu chúng tôi không uống ào ào hàng đêm, tôi cho rằng chúng tôi sẽ có thể điên mất. Tinh thần của chúng tôi hẳn sẽ suy sụp. Chúng tôi đã cày tung lên hàng trăm km2 đất bỏ hoang.
Có một điều nhấn mạnh về những vị anh hùng của chúng ta. Mỗi tuần một lần, người nào đào đất thực sự giỏi sẽ nhận một giấy khen trước mặt những người khác. Đó là người đào huyệt giỏi nhất Liên bang Xô viết. Thật là điên khùng.


                                                VÕ HOÀNG MINH dịch




Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SÔ 279 - tác giả LÊ THÀNH VĂN


Sổ tay thơ:

CẦM CHÂN EM, CẦM CHÂN HOA


Em đến xin hồng, hồng mới nụ
Hôm nay hồng nở, bóng em xa
Cầm em bữa trước, em không ở
Giờ biết làm sao cầm được hoa?
                                          Yến Lan
       (Tuyển tập thơ Yến Lan, NXB Văn học, Hà Nội, 2006)
                       

LỜI BÌNH
                       
GIỜ BIẾT LÀM SAO CẦM ĐƯỢC HOA?


Nhà thơ Yến Lan là một trong số không nhiều tác giả thơ lớn của phong trào Thơ mới. Ông nổi tiếng với thi phẩm Bến My Lăng từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Là người trong nhóm Bàn thành tứ hữu gồm Yến Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử, thơ Yến Lan không sắc cạnh như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, không cổ kính và hào hoa như Quách Tấn, song sự nhỏ nhẹ tâm tình của thơ ông cũng tạo nên một phong cách riêng, điểm một chấm son trong lich sử văn học nước nhà. Bài thơ Cầm chân em, cầm chân hoa viết năm 1974 là một thi phẩm tứ tuyệt hay vào bậc nhất trong những bài thơ viết về tình yêu của ông.
Bài thơ là một câu chuyện tình đầy trắc ẩn, giống như một cuộc đuổi bắt kì lạ. Sự trắc ẩn ấy bắt đầu bằng sự tương phản thời gian, khiến cho nỗi mất mát cứ cứa lòng cứa dạ. Ngày em đến xin hồng, hồng chỉ mới chớm nụ, biết làm sao mà hái tặng người đẹp đây? Người đọc bắt gặp một chút bâng khuâng, lúng túng ở cái anh chàng trồng hồng ra hoa không đúng dịp này: "Em đến xin hồng, hồng mới nụ". "Hồng mới nụ" nghĩa là chưa thể dùng được. Đóa hồng mới chớm đang e ấp giữa vườn. Một chút tiếc nuối, nhưng dù sao vẫn còn đầy hi vọng, biết là không thuận buồm xuôi gió, chàng trai cố nài nỉ người con gái đến xin hồng nán lại để đợi chờ ngày hồng nở hoa. Bữa trước với hôm nay nào có xa lắm đâu, gần thì độ một ngày, lâu thì vài ba bữa là cùng. Nhưng rồi không thể đợi chờ lâu được, cô gái bước đi xa hút mãi khiến cho bao nỗi tiếc nuối ngập tràn trong lòng thi nhân. Tất cả hóa ra nhỡ nhàng hết rồi! Cái hay của bài thơ là dựng lên một câu chuyện xin hồng, từ đó làm nổi bật tấm lòng xót xa, luyến tiếc về một cuộc tình duyên không trọn vẹn:
Hôm nay hồng nở, bóng em xa
Câu thơ xé làm hai vế, hồng nở đằng hồng, em đi đằng em. Chia biệt. Đoạn tuyệt. Bất giác buổi em đến xin hồng đã hóa thành quá khứ buồn vương vấn trong lòng người ở lại - chủ nhân của vườn hồng xinh đẹp. Bây giờ hình ảnh người con gái xin hồng và đóa hồng đang nở lại đồng hiện trong tâm hồn tác giả, nhớ tiếc ngẩn ngơ:
Cầm em bữa trước, em không ở
Giờ biết làm sao cầm được hoa?
Chữ "cầm" ở đây được tác giả dùng rất đắc địa. Cầm là giữ lại, mời lại một cách thân tình. Hình như người miền Trung ở Quảng Ngãi và Bình Định mới hay dùng chữ cầm khi thể hiện tình cảm muốn níu kéo ai đó nán lại. "Cầm em" hôm em đến xin hồng sao em không chịu khó ở lại, để bây giờ hoa nở rồi em lại không có đây. Sự boăn khoăn của tác giả ở câu thơ cuối bài thật tội nghiệp. Ta như hình dung nhà thơ đang ve vuốt những bông hồng tươi thắm, đồng thời như vừa van xin nài nỉ và mong mỏi hoa chớ vội tàn. Người xa mà hoa nở, giờ có gọi ngàn lần người cũng không thể tìm về. Câu thơ tưởng thoáng nhẹ nhàng mà ẩn chứa một bi kịch lớn về tình yêu không trọn vẹn: "Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ em có chồng anh tiếc lắm thay". Đó là sự nghiệt ngã của thời gian hay là sự trớ trêu của định mệnh? Một tình yêu không thành là sự bất hạnh của cả hai. Đọc đến đây, ta bất giác nhớ đến câu ca dao quen thuộc cũng gợi lên sự trễ tràng nên đến nỗi dở dang tình cảm:
Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở
Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông
Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng
Em yêu anh như rứa có mặn nồng chi mô?
Trong bài Đề đô thành nam trang của nhà thơ Thôi Hộ, hình ảnh hoa đào và khuôn mặt người đẹp sóng sánh tương hồng trong mùa hoa năm ngoái thật đẹp, giờ nhà thơ quay về, cánh hoa đào năm nay vẫn nở hoa mà người đẹp thì khuất xa vạn dặm. Thật não nùng và chua xót. Bài thơ của Yến Lan có cảnh, có người, có diễn biến sự việc nhờ thế trở nên sinh động hơn nhiều, chứ không đến nỗi não nề, chua chát. Cấu tứ bài thơ được xây dựng bằng thủ pháp đối lập, tương phản. Đối lập hôm nay với bữa trước, hồng mới nụ với hồng đã nở, cầm em với em không ở để rồi em cách xa biền biệt biết sao tìm.
Cầm chân em, cầm chân hoa có cấu tứ vừa phảng phất ý ca dao, vừa tiếp thu thơ cổ điển nước ngoài, song lại được chưng cất từ một tâm hồn hết sức đa cảm và nhân bản trong tình yêu đôi lứa, nhờ đó hàm lượng trữ tình tăng lên rất rõ rệt, đánh động nhiều tâm hồn, nhiều khát vọng cháy bỏng về một tình yêu bền chặt, thủy chung.






Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

CHUYỆN LẠ DƯỚI CHÂN CHƯ YANG SIN truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 280 tháng 12 năm 2015


Buôn Cư San nằm dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ. Người dân nơi đây sống thọ lắm, người nào đoản mệnh cũng sống được một trăm mùa rẫy, còn đa số sống đến hơn một trăm ba mươi mùa rẫy mới từ giã người thân lên ở với Yang (1). Họ sống thọ vì khí hậu nơi đây trong lành, ba mặt buôn được núi cao che chở; người ta ăn rau quả, thực phẩm lấy từ rừng về; uống dòng nước suối trong vắt được rừng già chắt lọc đưa đến. Và một điều quan trọng, khi không may có người đau ốm thì người nhà của dòng họ Byă vào rừng tìm cỏ, cây, hoa, lá… đưa về uống là khỏi bệnh, không phải cúng tế, cầu xin thần linh như các buôn khác trong vùng. Họ Byă ở buôn Cư San đông con cháu lắm, nhưng mỗi đời chỉ truyền nghề hái thuốc cho một người con gái duy nhất của dòng họ. Người được lựa chọn không những thông minh, đẹp người, đẹp nết mà phải luôn sống vì mọi người và được mọi người kính trọng ngang với già làng. Năm ấy bà ngoại tổ chức kỷ niệm tròn một trăm năm mươi mùa rẫy đã gọi H’Rút, con của người con gái út đến căn dặn:
-Tun (2) sắp theo Yang về nơi sung sướng, nay giao cho con thay ta chữa bệnh cứu giúp mọi người, con phải tận tụy với người bệnh như đối với ama (3), ami (4). Với muông thú cũng phải có lòng yêu thương, thấy giúp được thì phải giúp.
-Người phải giúp là đúng rồi, sao loài vật cũng phải giúp ạ?
-Khi ta còn trẻ như con bây giờ, cũng được Tun của ta giao trọng trách thay người lên rừng hái thuốc.
Ngày ấy, ta bằng tuổi con bây giờ, lần đầu tiên một mình lên núi hái thuốc…
-          Hu..u…!
Bất ngờ, một tiếng kêu như hú ngân dài từ trên ngọn cây mít rừng, gốc phải năm người lớn ôm mới hết bật lên, vang xa làm vách núi nhái lại như dàn đồng ca của cả ngàn con khỉ cùng hòa nhịp. H’Nhi ngước nhìn lên thấy một con khỉ lông màu ánh kim ngồi chót vót trên ngọn cây cao đang cúi xuống chăm chú quan sát, ánh mắt hai bên chạm nhau, nó vươn mình lao vào đám lá phía dưới. Tiếng ồn ào trên ngọn cây mít như lớp học giờ ra chơi, giờ im bặt. H’Nhi mỉm cười tự nhủ: Con khỉ canh gác phát hiện ra mình kêu báo động cho cả đàn biết tìm cách lẩn trốn đây mà; việc của chúng, chúng cứ làm, mình đi hái thuốc chứ có chọc ghẹo gì chúng đâu; lỗi tại cây mít rừng mọc bên lối đi của mình thôi mà.
Mít rừng, giống như mít nhà nhưng quả chỉ to bằng nắm tay người lớn, loài khỉ thích ăn lắm, mùa trái chín chúng lũ lượt kéo về ở lại, ăn bao giờ hết quả mới chịu đi.
-          Bịch!
Bất ngờ một quả mít chín rơi xuống, sạt qua đầu H’Nhi vỡ làm đôi trên mặt đất để lộ ra những múi mít vàng ươm, to bằng ngón tay cái. Cúi lượm một múi đưa lên miệng ăn thử, mùi thơm phảng phất, vị ngọt hơi chua một chút, đang định đi tiếp, bỗng trên cây lại vang lên một tiếng kêu như thét, H’Nhi ngước nhìn lên thấy bầy khỉ chạy nhảy rối rít như có một vật gì đó làm chúng hoảng sợ lắm. Bình thường, lũ khỉ khi phát hiện ra người đến gần bẻ lá lại ngồi lên trên, chúng yên tâm vì con người từ dưới nhìn lên không thấy, trừ trường hợp bị săn đuổi mới bỏ chạy. Hôm nay chúng cứ nhảy quanh các cành trên ngọn cây mít, không bỏ đi. Đang thắc mắc không hiểu chuyện gì xảy ra với chúng thì…
-          Bịch!
Một con báo lửa chắc phải nặng trên ba chục ký từ trên cây rơi xuống, mồm ngậm tay một con khỉ khoảng bốn ký, mặt xanh, mình lông ánh kim, hai đùi và đuôi lông trắng muốt. H’Nhi giật mình hét lên:
- H... ây!
 Con báo nghe tiếng hét, ngoái cổ nhìn H’Nhi, gào lên: “A…o”, nhã con khỉ ra rồi lao biến vào rừng. Đặt chiếc gùi xuống đất, H’Nhi chạy lại nhấc con khỉ lên thấy bắp tay bị báo cắn rách da máu chảy thành dòng, vội chạy quanh gốc cây mít, vặt một nắm lá bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến rồi đắp vào cánh tay con khỉ bị thương. Như có phép lạ, chỉ khoảng một lúc sau, máu ngừng chảy, con khỉ mở hé mắt nhìn, đôi mắt hình như thể hiện sự hoảng sợ nhiều lắm. H’Nhi dùng tay xoa nhẹ lên đầu nó, tỏ thái độ thân thiện. Con khỉ nằm im, hình như đang chăm chú quan sát con người ngồi đối diện không dám cựa quậy.
-          Ngồi dậy đi, đừng giả vờ nữa, mày sợ quá nên giả chết thôi mà!
H’Nhi nói với con khỉ, rồi nhẹ nhàng đỡ nó ngồi lên. Con khỉ hình như không còn chút sức lực nào, nó ngồi im, hai mắt nhìn chăm chăm vào mắt H’Nhi như bị thôi miên. Đoán ra tâm trạng chú khỉ, H’Nhi xốc nách nó bế lên, đặt vào gốc cây mọc gần gốc mít, nói:
-          Mày khỏe rồi đấy, lên cây theo bầy đi. 
Lạ thay, H’Nhi vừa buông tay ra nó đã quay lại nắm lấy yeng như muốn đi theo. Bầy khỉ trên cây thấy vậy, nhảy xuống các cành thấp chen chúc nhau ngồi nhìn con khỉ con. Con khỉ con nắm chặt lấy yeng (5) của H’Nhi không chịu buông ra. H’Nhi ngồi xuống dùng tay xoa xoa lên đầu nó, những sợi lông trên đầu màu ánh kim dài gần bằng một ngón tay, mượt mà như được chải chuốt. Nó ngước cặp mắt tròn màu vàng nhìn lên khuôn mặt H’Nhi như cầu xin được đi theo.
-          Mày không theo tao được đâu, về với đàn đi. Mày phải ở với rừng, nhà của mày mà; ngoan nhé, chị thương!
H’Nhi dắt tay nó đến gốc cây lúc trước, cầm hai tay nó cho ôm vào thân cây; nhưng khi bỏ tay ra, nó lại quay mặt lại nhìn không chịu leo lên cây. Đang lúc chưa biết phải làm gì với con khỉ thì bỗng nghe tiếng “rào”, ngước lên đã thấy một con khỉ cao đến hơn một mét, nhảy xuống đất đứng bằng hai chân hơi khuỳnh ra, hai tay trước chắp lại như định vái.
-          A, đến đón con hả, trả mày nè!
H’Nhi nhấc con khỉ nhỏ lại đặt vào tay con khỉ lớn, nó ôm con vào ngực, ngước cặp mắt màu vàng trên khuôn mặt có nước da mặt màu xanh lục như cảm ơn rồi cất tiếng kêu:
-           Hú…!
Tiếng kêu của con khỉ dưới đất vang lên, cả đàn đồng thanh cùng cất tiếng hòa theo, tay, chân rung cho cây cối ngả nghiêng. Con khỉ cầm tay con nhảy lên nắm một chiếc dây đu người bay vút lên cành cao.
Sau lần gặp bất ngờ ấy, mỗi lần H’Nhi vào rừng bầy khỉ này thường đi theo phía trên đầu, chúng đi tới đâu tiếng chí chóe, tiếng trò chuyện ồn ào như lớp học mẫu giáo, lâu dần thành quen.
Một hôm khi chiều gần tàn, H’Nhi trên đường đi hái thuốc đang định băng qua vạt cỏ gianh theo đường mòn xuôi về phía buôn, bỗng bầy khỉ tỏ vẻ giận dữ cất tiếng gầm gừ khác hẳn mọi ngày. Khoảng chục con khỉ lớn tung mình bay ra mỏm mấy hòn đá lớn đứng gầm rú như dọa nạt ai đó; còn các con nhỏ hơn thi nhau rung lắc cành cây; có con tung mình bay qua sát đầu ra phía trước rung cây ngay trước mặt hình như có ý định ngăn không cho H’Nhi đi tiếp. Thường ngày đây là con đường đi lại không chỉ của người mà các loài thú như: min, heo, nai… Sao hôm nay chúng lại ngăn mình, tò mò H’Nhi định đi tiếp xem có chuyện gì thì... hình như có ai đó nắm gùi lôi lại. Ngoái nhìn ra sau thấy con khỉ bị thương hôm trước một tay nắm gùi, một tay bám vào cây kéo lại.
-          A, để tao về chứ sao lại đùa thế?
Gỡ tay con khỉ khỏi gùi, nó buông tay nhảy xuống đất nắm yeng H’Nhi giật giật. Bầy khỉ vừa như hoảng hốt, vừa như giận dữ ai đó đang định đánh nhau làm ồn ã cả khu rừng. Loại khỉ này cũng lạ lắm, toàn thân lông màu đen ánh kim riêng mông, đùi và đuôi màu trắng; khi di chuyển chúng đu người như ta chơi xích đu buông cành này bay qua hàng chục mét đến cành khác, rất ít khi xuống đất. Trong bầy cũng có từng nhóm hình thành gia đình nhỏ chăm sóc lẫn nhau, sống rất hòa thuận không cắn nhau bao giờ. Sao hôm nay chúng lại giở trò lạ thế, H’Nhi đang phân vân chưa biết làm thế nào để đi tiếp.
Ngoài đám cỏ gianh, lũ khỉ lớn, con nào cũng phải nặng trên ba chục ký, luôn miệng gào thét, chạy nhảy như bay lượn qua các mỏn đá. Bỗng một tiếng gầm vang vọng vào vách núi:
-    H…ư…m!
Lũ khỉ đang rung cây nghe tiếng hổ gầm, vội bám chặt vào cây không dám cựa quậy, có con sợ quá tuột tay rơi bộp xuống đất run lẫy bẩy; H’Nhi theo bản năng cũng hét lên: H…â…y…, rồi rút phắt con dao đeo bên mình lên thủ thế. Lũ khỉ ngoài mỏm đá được dịp kêu rống lên như cười, cả bầy quay lại rừng nhảy tót lên tán cây cao trên đầu H’Nhi. Lúc ấy H’Nhi mới biết có con hổ lớn núp bên đám cỏ gianh gần đường đi để rình mồi, bầy khỉ phát hiện ra nên tìm cách vừa đuổi hổ, vừa ngăn mình, may quá!
Một lần khác khi vào rừng sâu, H’Nhi mải miết nhìn dưới mặt đất tìm hái nấm già mọc trong các gốc cây cổ thụ về làm thuốc; bỗng thấy bầy khỉ hò hét inh ỏi, con rung cây, con nhảy xuống đất sát mặt H’Nhi rồi lại lao lên cây tỏ vẻ rất sợ hãi. Khu rừng già âm u, nhiều cây cổ thụ gốc lớn hàng chục người ôm không hết, dây leo chằng chịt, dưới mặt đất rất ít cây con, dấu heo ủi dày đặc như bị nhốt trong chuồng. Sườn núi dốc nhưng ít cây thấp nhìn rất thoáng, trông được xa, vậy mà lũ khỉ hình như đã thấy vật gì đó sợ lắm, không muốn H’Nhi đi tiếp. Tò mò, H’Nhi quyết định vào xem sao. Lũ khỉ không dàm đi theo, chỉ nhảy nhót trên cây kêu la hoảng loạn, một con chắc can đảm nhất nhảy theo H’Nhi sà xuống sát đầu nắm lấy tóc kéo lại. Bị giật tóc, H’Nhi ngửa mặt lên mới giật mình phát hiện trước mặt một con trăn thân to như cây cột, mình óng ánh những đốm vàng đen, sáng lấp lánh, dài gần chục mét, nằm vắt đầu và đuôi qua hai cái cây giống như người ta mắc võng. Đây là cách săn mồi quen thuộc của loài trăn gió sống trong rừng sâu, chúng nằm im như một sợi dây vắt qua lối mòn nơi có thú rừng hay đi qua, chờ con mồi đi đến, chúng buông mình rơi xuống quấn chặt con mồi như người ta bện dây, siết chết rồi nuốt luôn. Loài trăn ăn khỏe lắm, chúng có thể nuốt cả con mồi có trọng lượng nặng bằng chúng dù đó là heo hay mang, nai… có sừng hay không có sừng đều bị nuốt chửng hết. May mà lũ khỉ phát hiện kịp chứ không thì… H’Nhi thầm nghĩ rồi rẽ ngang, tránh đường con trăn đang nằm phục kích.
Lại một lần có người khách phương xa đến buôn cầu xin cứu giúp vì bệnh tình dù đã dược nhiều danh y khắp nước chữa trị nhưng không khỏi. Xem sắc thái người bệnh, biết họ bị trúng loại thuốc độc đặc biệt của người phương Bắc; mắc bệnh đã lâu ngày nên thuốc đã ngấm vào trong gan, trong tim… muốn chữa phải có biệt dược, một loài nấm mọc trong rừng sâu màu tím, nơi không có ánh mặt trời chiếu đến, nhưng phải nhiều hơi nước và luôn có gió thổi qua và hái buổi sáng, khi mặt trời chưa mọc. H’Nhi phải đi một ngày, ngủ một đêm trong rừng sâu mới tìm và hái được vị thuốc như ý. Trên đường trở về, vừa băng qua thung lũng, đến một sườn đồi mọc toàn le to như cổ tay người lớn, cao vút; thỉnh thoảng mới có một cây đa cổ thụ mọc xen vào, vươn lên xòe tán như chiếc ô che cho vườn le. Đang mải rảo bước dưới tán rừng le, bỗng nghe “bịch!”, con khỉ bị rắn cắn ngày nào giờ to bự, từ cây đa nhảy xuống chắn đường, nhe nanh như dọa dẫm rồi nắm lấy cây le tung mình tót lên cành cây đa ngồi im; mắt nhìn ra phía trước mặt như có gì đó làm nó sợ lắm. H’ Nhi thấy lạ, vội dừng lại và phát hiện ra tiếng cây gãy như có hàng trăm người cùng bẻ phía trước. Tiếng le gãy nghe mỗi lúc một gần, H’Nhi vội bám gốc cây leo tuốt lên cành cao. Ngồi trên cây, H’Nhi thấy bầy voi rừng khoảng hai chục con dàn hàng ngang vừa đi vừa vít ngọn le xuống ăn. Một con đến bên gốc cây đa H’Nhi vừa leo lên, nó dừng lại hít hít trong không khí rồi phì một tiếng rõ to; bầy voi ngừng ăn, kéo cả lại đứng xung quanh gốc cây đa. Mấy con voi đực đứng thành vòng tròn phía ngoài tung vòi hít hít trong không khí như đánh hơi, khoe bộ ngà dài gần sải tay người lớn, nhọn hoắt chìa ra phía trước. Voi cái và voi con đứng phía trong, quay đít vào gốc cây đa nơi H’Nhi đang ngồi. Bầy voi cứ đứng vậy không chịu đi, hình như chúng ngửi thấy mùi con người, nhưng không xác định ở đâu nên dừng lại tìm kiếm. H’Nhi chưa biết làm cách nào để đuổi voi, bỗng ngay trên đầu một con khỉ hét lên: V… o… c! Lập tức hàng trăm con khỉ trên ngọn cây đa nơi H’Nhi ngồi cùng đồng thanh kêu lên hưởng ứng làm bầy voi giật mình bỏ chạy như bị ma đuổi, tiếng le gãy đổ ào ào như có trận cuồng phong tràn đến…
-Con biết không, các loài động vật sống trong rừng cũng thông minh lắm, lại sống có nghĩa nữa; chúng có tiếng nói riêng của từng loài, biết phân biệt thiện ác và trả ơn cho ân nhân. Cả cuộc đời ta gắn bó với núi cao, rừng sâu đã rất nhiều lần được chúng giúp đỡ đấy, con phải ghi nhớ điều ấy.
H’Rút nắm chặt bàn tay ngoại trả lời:
-          Dạ, con nhớ rồi ạ!
Mùa đông năm 2015

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 279 - tác giả VIỆT NGA




 Nhà văn VIỆT NGA
(Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương)

SEN TÀN

              Tản văn



Tôi thích hoa sen từ nhỏ.
Ngày ấy, ao nhà bà nội thả đầy sen hồng, sen trắng. Cứ chớm hè là hoa đua nhau nở. Hoa sen có vẻ đẹp thật đài các, thanh cao, thật thần tiên, tuyệt mỹ… Đứng trước những đóa sen thanh khiết, tôi cứ có cảm giác mình không thể dùng lời để miêu tả vẻ đẹp của hoa. Bắt đầu là những búp nụ nho nhỏ, màu phớt xanh (nếu là sen trắng) và màu nâu hồng (nếu là sen hồng) nhô lên khỏi mặt nước. Ngày một, ngày hai, những búp nụ nhô cao hơn, đỡ gầy guộc hơn, và sắc nụ cũng rõ hơn nhiều. Nụ nhỏ thường núp sau những lá sen to, xanh biếc. Nụ to vươn lên tự tin hơn, cao bằng, rồi có khi cao hơn những chiếc lá mượt mà, lòng trũng lại khum khum. Khi hoa bắt đầu nở là khi những điều thần tiên bắt đầu hé lộ. Thoạt tiên, chỉ là đôi cánh sen khe khẽ tách ra. Nụ sen chúm chím hàm tiếu. Những cánh hoa cứ hé dần, hé dần. Chu trình để nở một bông sen từ lúc hàm tiếu cho đến lúc mãn khai mất khoảng 3 ngày. Hoa sen đẹp nhất là khi nở ngập ngừng được một nửa. Những lượt cánh bên ngoài xòe ra duyên dáng. Màu hồng đậm, màu trắng tinh khôi được khoe trọn vẹn trên những cánh nuột nà. Những lượt cánh bên trong vẫn khép, ôm lấy đài sen và lớp nhụy vàng kín đáo. Lúc đó, nhìn bông sen mơn mởn, đẹp kiêu hãnh và lộng lẫy. Nhưng chỉ ngày sau, những lớp cánh bên trong tiếp tục nở. Bông sen mãn khai to bằng hai bàn tay xòe, khoe cả lớp nhụy vàng với đài sen lấm tấm những đầu hạt sen chỉ bằng hạt tấm nhỏ. Đây là lúc sen tỏa hương. Hương sen thanh khiết lách qua những lớp cánh mịn như nhung, thơm dịu dàng, kín đáo mà vẫn mãnh liệt. Đứng từ xa đã cảm nhận được hương sen lan trong gió. Cái mùi hương như có như không, vừa hiển hiện rõ ràng lại vừa mơ hồ không thể nào nắm bắt. Hễ để ý đến hương sen thì tự nhiên không thấy nó đâu cả. Nhưng cứ bất thần, tình cờ, thì hương sen lại quấn quýt, nồng nàn, ướp thơm từ ngọn gió đến cỏ cây, mây nước. Sau thời điểm mãn khai, hoa sen bắt đầu rụng cánh. Cứ lần lượt cánh nào xòe trước thì rụng trước. Sau một đợt gió là mặt nước lại lao xao bởi những cánh sen vừa khẽ khàng chạm xuống. Mỗi cánh sen như một chiếc thuyền tí xíu, xinh xắn, xoay tròn trong gió, bập bềnh trên mặt nước xanh trong. Sen rụng hết cánh, còn lại đài sen màu xanh nhạt đung đưa, như thể những chiếc micro nho nhỏ. Gió qua lại hát trong những chiếc micro xíu xiu ấy, bật lên những âm thanh mơ hồ. Cô ruột tôi là một người con gái có nhan sắc. Vào mùa sen, cô hay bơi chiếc thuyền nan mỏng mảnh ra hái sen để bán. Nụ sen bán cho những người đi lễ chùa. Lá sen bán cho những người bán hàng dùng để gói hàng. Những gương sen còn non bán cho người ăn chơi, hoặc để nấu chè. Tôi thường đứng trên bờ, ngắm đôi tay trắng trẻo, nuột nà của cô thoăn thoắt hái lá sen bó thành từng bó để trong lòng thuyền hoặc ngắt nụ sen buộc lại, cứ mười bông thành một bó. Tôi thắc mắc tại sao cô không hái hoa mà chỉ hái nụ. Cô bảo vì sen đã nở nếu chạm vào sẽ rơi hết cánh. Mái tóc đen của cô thấp thoáng giữa đầm hoa. Dù muốn lắm mà chưa bao giờ tôi được lên thuyền ra hái sen với cô. Cô bảo thuyền nhỏ, chỉ một người ngồi được. Hai cô cháu cùng lên, không khéo chìm thuyền. Tôi cứ đứng trên bờ, tưởng tượng rằng được len lỏi giữa những đóa sen thế kia chắc là thần tiên lắm. Cả người được ướp trong thứ hương thơm rất diệu huyền. Đến khi cô cập thuyền vào bờ, ôm những nụ sen lên, tôi cứ ngây người ngắm mãi, không biết gương mặt đang ưng ửng hồng của cô có lấm tấm mấy giọt mồ hôi với những đóa sen kia, bên nào đẹp hơn. Buổi tối nằm bên cô, tôi vẫn còn ngửi thấy hương sen trong từng sợi tóc dài vấn vít.
Nhưng đấy là đầm sen thời kỳ xanh tốt. Đến lúc sen tàn, chỉ ngắm thôi mà thấy buồn hiu hắt. Cuối hạ, chớm thu là lúc sen rạc dần. Mặt đầm mênh mông hơn bởi những lá sen đã bợt hết màu xanh, rách tả tơi, héo úa, gục đầu xuống mặt nước. Có những lá đã khô quắt. Có những lá nửa xanh nửa úa. Những đài sen già đã được thu hoạch hết. Thảng hoặc còn một hai bông hoa còi cọc nở muộn, le lói hồng trong đám lá úa nâu. Những cọng sen già nua, khô sắt run run trong heo may đầu mùa vừa chớm. Ngắm đầm sen tàn, thấy lạnh lòng khôn tả. Cái ý niệm về sự tàn phá khủng khiếp của thời gian cứ nhoi nhói tâm tư. Trước cái đẹp đã lụi tàn, ai không chạnh lòng xa xót? Không còn hoa sen. Không còn những cánh hồng, cánh trắng rung rinh trong gió thơm. Không còn những lá xanh mượt mà, mỡ màng trải khắp đầm, khiến cho nắng cũng dịu lại, gió cũng run rẩy. Không còn những đài sen non ngây thơ. Không còn hương sen thanh khiết dịu dàng lan trong gió… Chỉ còn sắc xám xịt u buồn của những lá sen tàn đổ gục trên mặt nước. Chỉ còn những cọng sen lô nhô gân guốc đang âm thầm tóp dần, tóp dần. Chỉ còn những cánh chuồn chuồn chập chờn bay đậu trên những cọng sen già… Mùa hè rực rỡ và cháy bỏng đã qua. Những cọng cỏ gà ven đầm sen run run trong heo may đầu mùa vừa chớm… Cô tôi đi chợ làng về qua, mải mốt lấy thuyền thúng chèo ra để mót nốt một vài đài sen còn sót đâu đó. Cô lấy chồng làng bên. Hình ảnh người đàn bà khắc khổ, già trước tuổi đang tần tảo mót từng đài sen già chẳng còn đọng lại tí ti bóng dáng nào của cô thôn nữ hơn hai chục năm trước rạng rỡ giữa những đóa sen hàm tiếu thơm tho. Gió ào qua như tiếng thở dài. Thời gian! Thời gian thật là nghiệt ngã. Cái đẹp lại càng mong manh, dễ lụi, dễ tan…
Tôi thích hoa sen từ nhỏ. Nhưng mỗi lần nhìn thấy đầm sen đã tàn lại thấy nghẹn ngào trong nỗi đau khó tả. Nỗi đau thấy thời gian nghiệt ngã. Nỗi đau thấy nhiều thứ cũ xưa đẹp đẽ đã biến mất hoàn toàn. Nỗi đau thấy mình thực sự bất lực trước những tàn phá của tháng năm. Trước đầm sen đã tàn, chỉ còn nhớ tiếc và xa xót…



Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 279 - tác giả LÊ MINH PHONG





SÔNG HINH

Truyện ngắn


Em đã tới đầu nguồn Sông Hinh hay chưa. Ngày xưa em nói nếu xa anh em sẽ tìm về với đầu nguồn Sông Hinh và hát một mình trong đêm tối.
Em ơi, hãy trả lại mái tóc cho anh. Anh đã để mái tóc của anh vào đó trước lúc em ra đi. Anh giấu kín nó trong vali của em. Anh quấn nó vào chiếc áo màu xanh có những đường đăng ten nhỏ, rồi anh bỏ vào vali của em trước lúc em lên tàu.
Anh nhớ đó là vào một buổi chiều chủ nhật có mưa nhẹ và lúc đó anh còn nghe cả tiếng mèo kêu sau bức vách ngôi nhà trọ mà chúng ta đã ở.
Em nhớ không, nơi ấy chúng ta đã ngắm những vì sao mọc lên từ đất qua những song sắt đã hoen rỉ mà em cá với anh rằng chúng tồn tại từ ngày các hoàng đế chưa biết khóc trong kinh thành.
Anh đã tới bên bờ Sông Hinh, nhưng họ nói rằng không thấy em, họ không thấy người con gái với đôi mắt ướt như thế bao giờ.
Em ơi, hãy trả lại cho anh đi. Những thứ mà em đã mang theo. Ít nhất cũng phải để lại cho anh những hơi thở. Chúng là linh hồn của anh. Ngày nhỏ bà nội thường nói với anh hơi thở là linh hồn. Khi chúng ta chết đi linh hồn sẽ thoát ra ngoài cùng với hơi thở và bay lượn trên những rặng núi vào những buổi chiều tà.
Em ơi, hãy trả lại những hơi thở cho anh. Anh cần chúng như cần sự hiện hữu của em. Đêm nay đây, dưới ánh đèn vàng này, chiếc bóng của anh đã rệu rã, tâm thần anh bấn loạn. Anh đã giấu em. Thú thật có những thứ anh đã không nói với em ngày em còn ở bên anh. Anh đã lặng lẽ, chính vào cái lúc em bước vào nhà tắm anh đã âm thầm trút những hơi thở của anh vào trong một chiếc túi bóng rồi bỏ vào vali của em.
Anh bỏ những hơi thở thoi thóp đó vào ngăn ngoài cùng của vali, nơi mà em ít để ý nhất. Bởi anh sợ em sẽ phát hiện ra những hơi thở của anh và em sẽ không nhẫn tâm mang chúng đi về phía mà em đã chọn.
Vào mùa thu, Sông Hinh như một tấm thảm. Nước trong như đôi mắt em.
Khi tàu chuyển bánh anh trở nên ngu dại. Tiếng còi tàu rúc vào xé nát tâm can anh. Lúc ấy, em biết không, tiếng còi tàu như hàng tỉ những con rết nhỏ rúc vào da thịt anh. Chúng làm tình và sinh sản trong thân thể anh rồi chúng say sưa với cái vũ điệu ấy trong lúc em đã ngồi trên tàu và ra đi.
Em ơi, hãy trả lại những tiếng nói cho anh. Đành rằng em có thể mang theo tiếng nói của anh nhưng những tiếng hát của anh em phải gửi lại. Anh cần chúng. Anh cần những tiếng hát của anh, những tiếng hát ru anh ngủ vào mỗi đêm và đánh thức anh khi bình minh ló dạng.
Hãy trả lại cho anh những tiếng hát để chúng vỗ về anh khi anh đi qua những hàng cây trong thành phố. Hãy trả lại cho anh những tiếng hát đó bởi ngày mai đây, khi hoàng hôn buông xuống, anh sẽ ra ngồi ở bờ sông và hát lại những bản tình ca mà anh đã hát cho em nghe.
Ngày bên nhau anh nói khi em tan đi, những bài hát mà anh đã hát anh sẽ hát cho mọi người và họ cùng anh nhìn ngắm mối tình diễm tuyệt của chúng ta.
Em, đúng thế. Mặc dù anh đã chủ động gói những tiếng hát của anh vào trong một phong thư nhỏ rồi lặng lẽ anh để nó vào trong cuốn sách của em, cuốn Suối Nguồn của Ayn Rand ấy, nhưng không vì thế mà em nhẫn tâm mang nó đi. Bây giờ em có thể lấy nó ra và lắng nghe nó rồi trả lại cho anh được không?
Anh đã tới Sông Hinh vào một chiều cả gió và người ta nói đi ngược lên phía trên có thể sẽ tìm thấy em, người con gái có đôi mắt ướt đó có thể đang đứng trên những tảng đá đầy rêu ở phía thượng nguồn rồi hát lên những giai điệu sầu thảm về huyền thoại Sông Hinh.
Bây giờ em ở đâu. Ở đó em có còn đi đôi bít tất màu vàng và mang đôi giày mà anh đã tặng không. Ở đó mắt em có sáng lung linh như những vì sao nhỏ trên đồi mà chúng ta đã ngắm vào ngày 12 tháng 8 hay không.
Người ta thường nói đôi mắt chính là mẹ của những vì sao. Đôi mắt sinh ra những vì sao rồi dạy cho chúng cách chiếu sáng lên trần thế. Anh không tin vào những điều huyễn mộng đó, nhưng Em ơi, mắt em chính là những vì sao.
Những người đàn bà đi lượm củi khô nói với anh rằng vào một chiều mưa họ đã thấy một người con gái ngồi khóc bên hàng liễu trên bờ Sông Hinh. Đôi mắt cô ấy ướt và đôi gót cô ấy màu hồng trông như những cánh hoa.
Khi đêm tới anh nhớ làn da của anh vô cùng. Lúc anh nằm xuống trên cỏ anh mới biết làn da nâu sạm của anh không còn bên anh nữa. Và anh đã làm như thế. Anh nhớ lúc đó em đã giận anh và lao ra phố. Chính cái lúc không có em anh đã lột tấm da trên thân thể mình và cuộn lại như người ta cuộn một tấm bản đồ đi tìm kho báu.
Anh dúi tấm da của anh vào dưới đáy vali của em. Anh còn nhớ khi mũi dao chạm vào thân thể anh thì anh đã khóc như một đứa trẻ. Anh khóc òa lên cho đến lúc em quay trở lại và hôn lên đôi mắt nhòe nước mắt của anh trong lúc anh ngủ thiếp đi.
Đêm nay anh không thể ngủ được nếu thiếu đi tấm da của mình. Kiến sẽ cắn lên những mạch máu của anh và chúng cũng sẽ làm tổ trong đó. Và nữa em ơi, bụi trên chiếu sẽ dính lên những vết thương của anh.
Và em biết không, sẽ đau đớn biết nhường nào nếu sớm mai khi bình minh lên, ánh nắng sẽ chiếu thẳng vào thân xác anh. Sẽ như một đàn kiến lửa lao đến và khiến anh cuồng loạn.
Anh vẫn đi ngược lên phía thượng nguồn. Anh cảm nhận được hơi thở của em đang réo gọi anh. Em ơi, Sông Hinh mát rượi như tóc em. Nước Sông Hinh mềm như môi em vậy.
Anh mong rằng chiếc vali sẽ không khiến em mệt mỏi. Nó sẽ không quá nặng đối với đôi tay kiều diễm của em. Ngày xưa anh nói những khi mệt mỏi em hãy tựa vào đôi vai của anh nhưng giờ không có anh bên cạnh em hãy dựa vào một gốc cây nào đó rồi ngủ một giấc em nhé.
Trong khi ngủ những giấc mơ sẽ kéo đến và ngày nhỏ người lớn thường nói rằng có những giấc mơ xấu và có cả những giấc tuyệt vời. Những giấc mơ đẹp sẽ khiến em vui cười rồi từ trong giấc mơ em biết rằng phải gửi lại tiếng cười cho anh.
Em đã mang tiếng cười của anh đi tới nơi em tới. Giờ đây, khi không còn tiếng cười nữa anh thấy mọi thứ vô nghĩa em à. Tất nhiên là anh không có quyền lấy lại tiếng cười của anh bởi chính anh là người để tiếng cười của mình vào trong túi áo của em.
Khi em gấp chiếc áo đó em đã vô tình không nhận ra tiếng cười của anh nằm trong túi áo. Anh còn nhớ khi đó em nói với anh rằng nếu sau này vắng em anh hãy vui cười bởi nụ cười sẽ khiến anh yêu cuộc sống dù cuộc sống có kéo ta về phía tủi nhục của thân phận.
Anh đã đi suốt mấy ngày đường. Anh hỏi họ rằng đã đến thượng nguồn Sông Hinh chưa, họ nói rằng anh phải đi ngược lại về phía anh đã đi. Thượng nguồn sông Hinh ở phía sau lưng anh. Anh đã lạc đường nhưng anh vẫn cảm nhận được hơi thở của em.
Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 13 tháng 6, điều tệ hại đó đã đến với chúng ta. Cả em và anh cùng câm nín. Cái giây phút đó anh đã quyết định để em ra đi.
Em không thể ở lại với anh bởi anh chỉ là một thi sỹ, một cuồng nhân cảm hứng và thiếu thực tế như có lần em nói với anh. Em đi, em đã ra đi cùng với con tàu khuất xa trong ráng khói, nhưng em ơi, giờ đây anh van xin em hãy trả lại đây cho anh đôi mắt của mình.
Anh không còn nhìn thấy gì nữa. Mọi thứ tối sầm lại như trong đêm đen. Anh bước đi và cảm nhận mọi thứ qua trực cảm của anh. Anh đã trở nên mù lòa bởi anh đã bỏ đôi mắt của mình vào trong chiếc ví của em trước lúc em ra đi. Bây giờ nếu có thể hãy lấy nó ra. Anh nghĩ khi em lấy nó ra anh sẽ nhìn thấy em dù rằng chúng ta đã cách xa nhau hàng ngàn cây số.
Hãy lấy ra đi em. Hãy trả lại ánh sáng cho anh, hãy để anh nhìn thấy bình minh hát ca và hoàng hôn nhóm lửa. Hãy để khi ánh trăng xuyên qua song cửa sổ nơi gác trọ của chúng ta mà anh có thể nhìn ngắm nó như những ngày có em. Hãy giải thoát đôi mắt anh khỏi chiếc ví nhỏ bé của em để anh được nhìn thấy em cười trong khi em bước đi trên thảm cỏ.
Mấy gã thợ săn nói với anh rằng sông này không phải là Sông Hinh. Sông Hinh nước đỏ như máu. Anh hỏi Sông Hinh ở đâu họ nói họ không biết và tổ tiên họ cũng chưa bao giờ nghe tới Sông Hinh.
Vào trưa nay, nếu không có những người thợ xẻ thì có lẽ anh đã không còn nữa. Lúc anh ngã xuống bên bờ sông họ đã chạy đến và đưa anh vào một ngôi làng không hề có mái ngói.
Chỉ có tiếng hát của trẻ nhỏ và tiếng đàn đá. Họ nói với anh rằng lồng ngực của anh rỗng không. Họ đau đớn trong nỗi quằn quại của anh. Họ đã khóc cho anh, khóc cho một thi sĩ nghèo nàn suốt một đời đi bán thơ dạo. Anh gói thơ anh trong những chiếc lá nhỏ. Và họ đã căm phẫn vì em.
Họ nói anh là kẻ rộng lượng và đần độn biết bao bởi anh đã cho đi trái tim của mình. Nhưng em ơi, họ không phải là thi sĩ nên họ chẳng bao giờ hiểu những kẻ như anh.
Bây giờ em hãy sờ tay lên lồng ngực của em đi. Trái tim anh đang nằm trong đó. Nó đang thổn thức vì em. Anh đã bỏ trái tim mình vào bên cạnh trái tim của em lúc em vùi sâu trong giấc ngủ.
Anh chỉ còn sống đến chiều nay, những người già trong làng rỉ tai nhau như thế. Một cụ bà đã đút cháo cho anh và tập cho anh nói cười trở lại nhưng điều đó là bất khả em ơi.
Em ở đâu? Sông Hinh ở đâu?
Khi trái tim anh ở bên em thì anh chỉ còn sống được đến chiều nay nữa thôi. Vào tối nay nếu em không trả lại mọi thứ cho anh thì anh sẽ đi về miền vĩnh cửu, anh sẽ nằm xuống bên bờ sông, nơi đó những vần thơ của anh lại được mọc lên.
Rồi một ngày nào đó em sẽ về thăm anh, em sẽ quỳ lên mộ anh và hát cho anh nghe những bản tình ca mà ngày xưa anh đã hát.
Bây giờ anh đang gục xuống.
Và em ơi, những bông hoa dại trắng trên mộ anh đó chính là thơ của anh. Thơ anh sẽ nở bung ra trong chiều em trở lại.
Và ngày đó anh em mình lại dạo chơi bên bờ Sông Hinh và hát cho nhau nghe những bài hát xưa cũ và anh em mình hãy hứa với nhau sẽ không bao giờ để vụt mất những huyền thoại đó nữa nhé.

Hãy hứa đi em.