Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả PHAN THUỲ DUNG


(Trại viên Trại Núi Hoa, huyện Cư M’Gar)


NỤ VÀ HOA

Truyện ngắn



Lớp chuyên Toán ghét lớp chuyên Văn, điều đó thì ai cũng biết, nhưng cái lí do mà họ ghét nhau thì vô lí cực kì…
Đó là chuyện khi đang còn học lớp 10. Năm đó trường tổ chức thi Hội khỏe Phù Đổng để chào mừng Ngày Nhà giáo. Trời xui đất khiến làm sao mà lớp chuyên Toán bắt cặp thi với lớp chuyên Văn . Vì lớp chuyên Văn toàn là gái với một cậu con trai gầy như cò hương, vì vậy lớp Toán chấp mấy nàng công chúa lớp Văn đến ba người nữa. Vậy là cuộc thi diễn ra với đội hình là 13-10. Cứ tưởng, phần thằng nắm chắc trong tay lớp chuyên Toán rồi… oái ăm thay, lớp Toán thua 3-1 trước các nàng công chúa lớp bạn. Cả trường đang xôn xao trước kết quả đầy bất ngờ này, dân Toán đờ đẫn giữa sân trường, khó chịu không phục. Là lớp trưởng của lớp chuyên Văn nên Ngọc ra cầu hòa, cô tiến lại gần cậu lớp trưởng lớp Toán niềm nở :
- Chào cậu, mình là lớp trưởng lớp chuyên Văn !
Mặt cậu lớp trưởng kia bí xị, vẻ giận dữ không nói gì. Ngọc tiếp lời:
- Hôm nay lớp cậu chơi cừ lắm đó, chỉ là lớp tớ được ăn hên thôi mà…!
Cậu lớp trưởng kia vẫn ra vẻ khó chịu, nhếch mép cười:
- Thật sao?
Ngọc hơi chột dạ trước câu nói của đối phương:
- Thật… Thật đấy.. lớp cậu cừ lắm…!
- Ha… thật vậy sao! - Cậu ta cười lớn:
- Vậy mà vẫn thua lớp Văn của cậu đấy, thấy lớp tôi cừ ghê chưa!
Câu nói “móc họng” của cậu ta làm cho Ngọc không thể nói được gì thêm. Cậu ta vẫn vẻ mặt khó chịu ấy mà nói với Ngọc:
- Cậu nói xem, lớp tôi đường đường là một đám nam nhi mà đi thua cái lớp toàn là bọn công chúa ẻo lả với một thằng gầy nhom kia thì thử hỏi xem lớp toán chúng tôi để mặt mũi đi đâu hả?
- Chỉ là một cược chơi thôi mà… cậu …!
Cậu lớp trưởng kia nhìn Ngọc với ánh mắt cháy lửa, quay lưng lại đi về phía dân Toán đang bực dọc. Ngọc lầm bầm: “Người đâu mà khó chịu đến vậy, dân toán chả nhẽ ai cũng vậy hay sao?”. Sau chuyện bị thua thê thảm của dân Toán, mối quan hệ của hai lướp Văn - Toán từ trạng thái “xa lạ” trở thành “kẻ thù” của nhau. Từ ngày đó, lớp Văn thường hay nghe dân Toán truyền tai nhau rằng lớp Văn thiếu thông minh, tâm hồn bay bổng như đang ở trên trời, thiếu thực tế vân vân và mây mây. Lớp Văn cũng đâu có dễ bị bắt nạt như vậy, lâu lâu lại qua lớp Toán rủ hàng xóm “cùng đi chơi kéo co nào”. Mỗi lần như vậy dân Toán lại đỏ mặt tía tai.
 Thấm thoắt đã qua hai mùa tựu trường, cả hai lớp vẫn chưa giải quyết được “mối thâm thù” này. Trường năm nay lại tổ chức cho khối 12 đi tham quan Vườn Quốc gia, lại duyên trời định… lớp Văn và lớp Toán lại đi chung một đoàn. Vườn quốc gia thật lớn, tán cây xum xuê mát rượi khiến ai cũng thích đến mê mẩn, đang mải miết với máy chụp hình Ngọc lỡ dẫm chân lên chân của bạn nào đó, một giọng nói đanh đá nghe quen quen cất lên sau lưng cô:
- Đi với đứng cái kiểu gì vậy?
Ngọc quay lại, hóa ra là Trung lớp trưởng chuyên Toán chứ ai, cô cười mỉa mai:
- Có vậy mà cũng la om sòm lên, con trai gì mà…!
Trung liếc nhìn cô:
- Cái chân như chân voi dẫm vào chân người ta không đau làm sao được!
- Này nhé cậu vừa phải thôi nhé, con trai gì mà ích kỉ quá vậy…!
Cuộc cãi vã của hai người một to hơn, họ không để ý là đoàn của mình đã đi rất xa họ. Cả khu rừng đang xôn sao vì tiếng cãi vã của Ngọc với Trung bỗng chốc im lặng hẳn đi. Họ nhận ra mình đã bị bỏ lại phía sau, nói đúng hơn là bị lạc nhóm mất rồi. Còn gì tệ hơn là phải ở chung với kẻ thù của mình trong một khu rừng không một bóng người. Trời đã quá trưa, mãi mà chưa có ai quay lại tìm họ, cả Ngọc và Trung lúc này có vẻ đều rất hoang mang. Ngọc ngồi xuống tảng đá gần đó, mở ba lô ra cẩm lấy hai cái bánh mì, một cái ném về phía Trung:
- Cái cuối cùng đó, lo mà ăn đi!
Trung tròn mắt nhìn Ngọc:
- Tôi không đói cậu ăn đi!
- Làm giá ghê nhỉ? Không còn cái thứ hai nữa đâu ăn đi ông!
Ngọc nhìn Trung cười rồi cô ngủ thiếp đi trên tảng đá. Trung ngạc nhiên, không hiểu sao kẻ thù của mình hôm nay lại hiền quá vậy, thay đổi 360 độ so với mọi ngày luôn. Cậu ăn cái bánh mà Ngọc đưa cho mình, rồi tiến lại gần Ngọc, nhìn cô ấy ngủ, chưa bao giờ cậu thấy một người con gái nào lại xinh dến vậy… Trung thấy lòng mình chợt rung rinh như những tia nắng đang xuyên qua từng chiếc là trong khu rừng này...
Trời đã xế chiều, Ngọc tỉnh giấc vì nắng hắt vào mặt cô, mở mắt ra, cô ngạc nhiên khi Trung đang cầm một cái là gì đấy như là lá môn, che nắng cho cô. Trên tay Trung vẫn còn một nửa cái bánh mì được gói lại đàng hoàng, cậu ta nghĩ đó là cái cuối cũng nên dành cho mình, ngốc quá vậy! Nhìn Trung ngủ gật, tay vẫn cầm cái lá che cho mình, cô mắc cười, thấy Trung thật đáng yêu không đanh đá như ngày thường, lúc nào cũng như vậy có phải hơn không? Trung tỉnh dậy, vội vàng vứt ngay cái lá đang cầm trên tay đi, nhưng không Ngọc đã thấy điều này tữ nãy giờ rồi:
- Thôi, không cần làm bộ đâu tớ thấy cả rồi nhé!
- Ơ hay có ai làm gì đâu mà thấy với không thấy chứ!
- Cậu tốt tính thế kia mà sao cứ tự làm mình xấu đi trong mắt người khác thế nhỉ?
- Không phải như cậu nghĩ đâu nhé!
- Chứ là như thế nào? Tớ thấy cậu che nắng cho tớ ngủ kìa, không tốt thì là gì!
- Không phải tớ chỉ là…!
- Chỉ là gì cơ?
Ngọc cười tủm tỉm còn Trung thì mặt đỏ ửng:
- Chỉ là tớ cầm là lên che cho mình thôi chứ ai hơi đâu mà đi che nắng cho cậu ngủ chứ!
Ngọc lại cười trong cái nắng đang dịu đi của cảnh rừng chiều, nụ cười ấy làm Trung say nắng…
- A..a…a, mọi người kia rồi ! Ngọc kêu lớn.
Cuối cùng thì mấy bạn trong lớp Văn- Toán và một số thầy cô khác cũng đã tìm được hai tên lớp trưởng này, Trung chạy một mạch về gần chỗ đám đông, bỏ mặc cô bạn dễ thương đang ở đằng sau. Chuyến tham quan đầy những kỷ niệm đáng nhớ, có lẽ đã có một nụ hoa của tình cảm trong lòng Ngọc  và Trung đang chờ ngày nở thành một đóa hoa xinh đẹp…
Thời gian trôi qua. Thêm một sự cố nữa khiến cho mối quan hệ của hai lớp Văn, Toán lại căng như sợi dây đàn. Một sáng sớm đẹp trời nọ, Tiến - đứa con trai duy nhất của lớp chuyên Văn phải trực nhật, chẳng hiểu chân tay thê nào mà cậu ta hất nguyên chậu nước vào người của một cô bạn nào đó đi ngang qua lớp, cậu vội chạy ra rối rít xin lỗi:
Xin lỗi bạn… xin lỗi bạn mình không cố ý đâu…thật đấy!
Cô bạn kia liếc nhìn Tiến một cái đau điếng:
- Bộ xin lỗi là được đấy hả? Ướt thế này rồi sao tôi đi học đây, mới sáng mà gặp phải cô hồn rồi!
- Mình… không cố ý mà…!
- Tưởng ai chứ, hóa ra là Bích, hoa khôi lớp Toán cạnh bên đây mà!
Ngọc bước tới, nói với giọng đầy mỉa mai vì vốn dĩ Bích nổi tiếng chua chát. Bích mặt hầm hầm tiến về phía Ngọc đẩy cô bạn ra:
- Cậu thì biết cái gì mà nói chứ!
- Cậu quá đáng rồi đó nha, Tiến đã xin lỗi cậu rồi cơ mà, lớp Toán các cậu hiếp người vừa thôi nhé!
Bích đỏ mặt, đưa tay định tát Ngọc, thấy vậy như sợ cô lớp trưởng của mình bị đánh Tiến chạy lại xô Bích té ngã, vừa lúc đó Trung từ đâu chạy đến, cậu ấy quay lại đỡ Bích đứng lên.
- Lớp Văn đúng là vô duyên vô cớ mà ăn hiếp người quá đáng mà! Trung nói với giọng điệu đầy mỉa mai.
Ngọc nhìn Trung, rồi quay phắt lại kéo tay áo Tiến đi. Trung nhìn Ngọc nhưng cô không một lần quay lại nhìn thêm một lần nào nữa. Trung bối rối. Bỏ đi vậy thôi chứ Ngọc không để yên cho Bích đâu. Ra về, cô chạy nhanh ra đến nhà xe, tính kế hãm hại Bích, Cô nghĩ tới cái cảnh cậu ta phát điên trên đường về mà không nhịn được cười, cô thích chí, từ đằng sau một bàn tay đập nhẹ vào vai cô:
- Này cậu cười cái gì đó!
Ngọc giật mình, quay lại:
- Này cậu theo dõi tôi đấy hả?
- Không có nha!
- Chứ sao cậu theo tôi ra đây làm cái gì chứ!
- À … Thì tớ có chuyện muốn nói với Ngọc đấy!
- Chuyện gì nói lẹ coi !
- À chuyện quan trọng đó mà!
Ngọc thoáng chút bối rối, tim đập  nhanh hơn:
- Chuyện gì mà quan trọng thế chứ!
- À… Không về chung nhé!
Trung nở một nụ cười với Ngọc. Cô ngập ngừng đồng ý, chưa bao giờ cô nhận được một nụ cười nào ấm áp như vậy từ một người con trai nào, cô nhận ra điều gì đó trong tim mình, cả Trung nữa cậu cũng vậy. Hai người cũng về nhà trên con đường nắng đang dịu đi nhẹ nhàng khẽ đọng lại trên vai áo, một thứ tình cảm đang nảy nở lạ và đẹp như một bông hoa trong lòng Ngọc và Trung.




Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả TRỌNG HÙNG




ANH TÔI
Truyện ngắn


Tôi lớn lên, nghe mẹ nói, anh tôi đã hy sinh ở Tây Nguyên. Thân xác đã gửi lại mảnh đất Tây Nguyên không sao tìm lại được nên mẹ tôi đã làm cho anh tôi “ngôi nhà” ở phần mộ của gia đình tôi. Tháng Giêng nào, chúng tôi cũng đi tảo mộ. Chúng tôi thắp hương cho cha, cho ông bà, cố can và thắp hương cho anh tôi nữa. Cứ mỗi lần, chúng tôi đi thắp hương về, mẹ tôi mừng mừng, tủi tủi đứng trước di ảnh của anh tôi, hướng về Tây Nguyên cầu khẩn, mong hồn anh tôi được vui vầy ở mảnh đất đầy nắng gió ấy. Có lần, tôi nghe mẹ nói: Có đêm, mẹ mơ thấy nhân dân Tây Nguyên từ người già đến trẻ em, cả thanh niên, phụ nữ… đều đến thắp hương ở một ngôi mộ lớn ở vùng đồi K’Nác. Trận đánh K’Nác ngày ấy, nghe nói quân ta hy sinh nhiều lắm. Lúc rút lui, quân ta không lấy được xác các liệt sĩ. Xác các liệt sĩ phơi trắng ven suối và chân đồi K’Nác!”. Quân địch đã gom lại, đổ xăng đốt nên gia đình tôi năm lần bảy lượt vào Tây Nguyên tìm mộ anh tôi mà không sao tìm được, mẹ tôi mới làm một ngôi mộ ở nghĩa trang của gia đình tôi, để anh tôi có nơi về yên nghỉ với tổ tiên, giòng họ nhà tôi.
Cứ tháng giêng, quê tôi có tục lễ tảo mộ. Hương trầm thả theo gió mùi thơm đến xao xuyến lòng người. Những lần như thế, chúng tôi nhìn lên mộ anh tôi xanh rờn sắc cỏ. Mẹ tôi bảo, đấy là niềm vui của anh tôi dưới mộ đã làm cho cỏ xanh thêm. Tin hay không tin thì ngôi mộ không hài cốt của anh tôi lúc nào cũng ngập tràn hương khói. Nghe nói, trong sương sớm có người đã đến thắp ở mộ anh tôi bùng đỏ như hoa lửa. Có người còn cho gia đình tôi biết: Nhiều đêm, sương dày đặc như tuyết rơi, nhưng ai đó đã đến thắp hương trên mộ của anh rất sớm, hương hồng bồng bềnh trong tuyết trắng. Tàn hương thì quăn lại như tóc người con gái uốn phi-dê. Đã nhiều lần, tôi qua mộ, tôi cũng thấy như thế. Có lần tôi đã rình xem ai đã thắp hương lên mộ, nhưng tôi nào thấy ai. Tôi cứ nghĩ, anh tôi hy sinh vì quê hương đất nước nên Trời, Phật đã cho anh tôi được hưởng hồng phúc như thế.
Anh hy sinh lúc 25 tuổi và đã có 5 năm tuổi quân. Ngày ra đi, anh sợ mẹ tôi già không sao cáng đáng được ruộng vườn để nuôi nấng các em nên đã chơi thân với một chị ở quê. Rồi chị ấy chờ mãi, chẳng thấy anh về. Biết anh đã hy sinh, chị cũng không lấy chồng. Chị bảo, chị mở quán hàng ở gốc đa cuối làng để nhìn rõ mộ anh, rồi sau đó chị xin làm nhà tạm ở đấy luôn. Chị ấy, ngày ấy xinh xắn lắm. Bao trai làng đến dạm hỏi, chị ấy cứ bảo, tôi đã hò hẹn rồi, không thể lấy người khác được. Bọn chúng tôi nào biết chị đã hò hẹn với anh tôi, chỉ thấy sau ngày anh ra đi, chị thường đến nhà tôi giúp đỡ mẹ tôi. Những lúc tôi đi học chậm, chị lấy xe đạp đèo tôi đến trường khỏi muộn. Lúc chia tay, chị thường bảo, em cố học cho giỏi để nối nghiệp nhà nhé. Tôi vâng lời chị, rồi vào lớp.
Một hôm, tôi lục tìm hồ sơ liệt sĩ để đưa cho Văn phòng nhà trường, thấy một phong bì lớn. Mở ra, tôi rất ngạc nhiên khi biết anh tôi đã đến cánh rừng Krông Púk, Đắk Min, đã qua đỉnh Chư Prông, Chư Lây, đèo Măng Giang, đèo An Khê, đã được nghe tiếng chim Kơtia, chim Phí hót, tôi lại nhớ đến chuyện anh hùng Đam San, Xinh Nhã. Tôi tự hào anh tôi đã sống và chiến đấu như những người anh hùng năm xưa. Tôi mơ ước sau khi tốt nghiệp đại học, được về công tác nơi ấy thì sướng biết bao, nhất là để có thời gian đi thắp hương cho anh tôi ở đồi K’Nác. Nghe nói, người Êđê, người M’nông biết cày ruộng nước rồi, biết gọi gió từ rừng về ru cho hồn liệt sĩ, tôi càng yêu Tây Nguyên hơn. Có người lại nói, ngày hội mùa, những cánh tay trần của những cô gái Tây Nguyên rất đẹp, đã làm xốn xang ánh mắt các chàng trai. Tây Nguyên đầy mơ ước, đầy thơ mộng. Không biết những buôn làng ở Ea Tiêu, Ea Súp, Ea K’tua có đẹp như những làng dưới xuôi nơi sông Hồng, sông Lam, sông Mã không nhỉ? Tôi mơ ước về với Tây Nguyên mênh mông đầy nước lành, suối ngọt.
Tốt nghiệp đại học, không về Tây Nguyên vì tôi được cử đi học thêm ở nước ngoài. Học xong, trở về Hà Nội làm việc. Chưa vội nhận công tác, tôi về quê thăm mẹ. Bây giờ mẹ già lắm rồi. Mẹ đã trên 90 tuổi, cái nhớ cái quên. Thương lắm! Rất may, anh thứ hai có cháu gái rất ngoan đã tự nguyện ở với bà nội. Bà cháu thương nhau ríu rít. Ngày ấy, chị Hương ở quán gốc đa vẫn thường xuyên vào thăm nom, chăm sóc mẹ tôi. Khi thì gói quà tấm bánh, lúc gói thuốc bổ, lúc lại là cái khăn ấm đẹp. Có lúc chị còn ở lại nấu nước lá chanh, lá bưởi tắm cho thơm tho, mát mẻ nữa. Chị không công bố, nhưng ai cũng nghĩ, anh tôi và chị chắc đã hẹn hò với nhau rồi…
Đang sửa soạn đồ đạc, tôi nhận được điện, mẹ đã qua đời! Tôi lao về ngay. Tôi có lỗi với mẹ tôi nhiều lắm. Trên đường về tôi ân hận mãi. Giá như xuống sân bay, về cơ quan, tôi xin về ngay thì đâu đến nỗi. Tôi ôm chầm thi hài mẹ, khóc ròng. Trong đám tang, anh chị em, con cháu chúng tôi ai cũng ủ ê, nhưng sao không thấy chị Hương. Tôi nghe anh chị tôi bảo chị Hương tốt với mẹ tôi lắm, sao bây giờ không thấy chị đến, tôi ấm ức trong lòng…
Ba ngày việc tang của mẹ tôi xong, tôi ra quán chị Hương. Chị Hương đã đi gần một tháng rồi. Chị đã y ước với anh bộ đội ở Tây Nguyên về hưu. Anh ấy ngày trước cũng đánh nhau với giặc ở Tây Nguyên. Hiện anh đang ở huyện K’Bang gần đồi K’Nác. Anh chị ấy đã hứa hẹn với nhau vào xây dựng gia đình ở trong đó. Anh ấy còn hứa với chị Hương sẽ trông coi phần mộ anh tôi như người nhà. Hôm ra đi, anh chị ấy cũng đến thăm mẹ tôi và đều hứa với mẹ tôi – luôn hương khói cho phần mộ anh tôi chu đáo. Chao ôi, sao lại có những con người như thế. Phúc đức cho anh tôi. Chị Hương, chị xứng đáng là chị của em. Em hứa, ổn định công tác, em sẽ vào viếng mộ anh và thăm vợ chồng anh chị luôn.
Tháng năm, nghỉ hè, tôi đi Tây Nguyên. Trên đường, những cánh rừng già nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ cây cối um tùm, cao vút, còn nguyên vẻ uy nghi của rừng đại ngàn. Trời chiều êm ả, mơ màng. Trên những mái nhà nằm rải rác, chênh vênh thả khói lam thơ mộng, huyền ảo. Theo người hướng dẫn, đây là nhà chị Hương. Tôi xuống xe, vào nhà, chồng chị đi vắng. Chị Hương nhận ra tôi ngay, chị hỏi: “Em về bao giờ, sao không cho chị biết?”.
Tôi nói cho chị hay: “Em đã đến đồi K’Nác, đã đến phần mộ chung của các anh, ngắm mộ anh, em biết mộ ấy đã có bàn tay của chị ấp iu. Không ai như chị cả. Lòng chị đẹp lạ lùng. Tâm hồn chị như nước suối ban mai. Tình yêu của chị và anh vừa lãng mạn vừa hiện thực. Hiện thực như những vòng hương xoăn tít tựa đuôi tóc của chị cắm lên mộ. Nhìn ngôi mộ tập thể ấy, em vẫn biết linh hồn anh em đang xanh rờn khi có mái tóc hương quăn đẹp của chị chia sẻ. Không biết anh Đức có lúc nào ganh tị với anh em không?
“Không đâu, trước khi xây dựng gia đình, anh đã hứa với chị rồi cơ mà. Không có anh ấy, làm sao lại có những cụm hương quăn như thế. Và anh ấy còn bảo ước gì lúc anh qua đời bình hương của anh cũng quăn như vậy. Chị lại bảo, làm sao lại không được như thế! Anh ấy cầm lấy tay chị và bảo: Hồn em đã kết tinh ở những cây hương đó rồi. Chị lại bảo, thế anh không thấy được tình yêu của em đối với anh hay sao? Anh bảo, anh có thấy đầy đủ”.
Nghe chị kể, nước mắt tôi chảy dòng, chi đưa khăn lau cho tôi như lau mặt một em nhỏ. Tôi còn sụt sịt, chị giật giật bảo, chị biết lòng em rồi mà. Em cứ yên tâm đi, lúc nào chị cũng ở bên anh Hường của em cả. Em cứ tin như thế. Lúc nào rảnh rỗi, em lại vào đây, ta đi thăm anh. Tôi sực nhớ, hỏi chị, thế anh Đức chồng chị đi đâu?
“Anh ấy về Nghệ, mười ngày nữa mới vào”.
Hai chị em tôi nói chuyện với nhau suốt chiều hôm áy. Chị bảo, lúc nào chị cũng coi tôi là em ruột của chị. Rồi chị hỏi mẹ thế nào? Tôi bảo: “Mẹ đã đi xa”. Chị òa lên khóc, nước mắt chảy ròng ròng, chị trách, sao không có ai báo cho chị biết? Tôi bảo, em có biết anh chị ở đâu đâu, mấy tháng sau mới tìm được địa chỉ của chị thì muộn rồi. Bởi thế, em mới nhất quyết vào đây thăm mộ anh và thăm anh chị một thể. Chị bảo, lúc về, đầu tiên, em phải đến bàn thờ mẹ, thắp hương cho mẹ và xin lỗi mẹ cho chị. Mẹ mất mà chị không về phúng viếng, chị thật có lỗi. Tôi bảo, nhưng chị và anh đã công bố gì đâu. Chị gắt, dù chưa công bố, nhưng chị đã hứa với anh, chị phải giữ trọn lời hứa, giữ trọn đạo dâu con chứ. Tôi ờ lên một tiếng, rồi im bặt. Chị đứng dậy, mặt ngoảnh về phía bắc vái ba vái và nói to: con xin lỗi mẹ. Xong chị lại ngoảnh về đồi K’Nác vái ba vái, nói lẩm bẩm: “Em xin lỗi anh!”. Trời nổi cơn giông ào ào. Tôi vội đứng chắn gió cho chị. Chị lại bước lên nói to: “Mẹ và anh đã thấu lòng chị”.
Chiều đã tàn, tôi thưa với chị ra thăm mộ anh lần nữa, rồi xin phép chị về. Chị ngẫm nghĩ một lúc rồi à lên một tiếng. Được, để chị cùng đi với em. Thế rồi, hai chị em tôi lên xe ra đồi K’Nác. Một ngày, phần mộ anh tôi, khói hương nghi ngút những hai lần, chắc anh tôi bằng lòng lắm…
Lúc chia tay, trên đường về, tôi nghĩ, thế là anh tôi không cô đơn, không “trắng tay” vì đã có chị Hương. Chị Hương là vợ của anh Hường là chị dâu của tôi. Một ngàn lần, tôi kính yêu chị Hương người vợ thân thiết của anh tôi.


Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ


 


NGỌN ROI ĐÁ
Truyện ngắn

1.
Đó là một khối hình hộp cũ kỹ đóng vệt rêu xanh, ẩm ướt in đậm thành một cái bóng cô độc dưới nền trời lạnh lẽo. Thỉnh thoảng mới thấy ít mùi nắng lướt qua những khóm cây mỏng manh thưa lá. Thảng hoặc lại thấp thoáng nỗi buồn rũ rượi nào đó lạ lẫm dưới ánh chiều ủ rũ.
Chẳng ai muốn ngắm nhìn những thứ lấp lửng nửa sáng nửa tối ấy. Chúng chỉ là một gam nắng nhạt nhòa chỉ khiến người ta dễ bị váng vất. Và, hẳn nhiên nếu đã nhạt nhòa đến vậy, chắc chắn sẽ không đủ để xuyên thấu qua những vòm lá mỏng manh đã thủng nằm ngay bên cạnh góc vườn nhỏ ấy.
Nếu như ai đó tinh ý một chút hoặc vô tình phát hiện thôi cũng được, sẽ thấy ở ngay khe cửa khép chặt có một đường ánh sáng lấp lánh nằm nghiêng đóng từng lớp bụi nhảy nhót, ít ra vẫn còn thấy một chút ít sự sống đang thoi thóp thở và mong hồi sinh dưới mái nhà của người đàn ông kì lạ kia.
Cánh cửa vẫn đóng. Không hề có một chút động thái hé mở như những ngôi nhà khác vào lúc bắt đầu ánh sáng bình minh hé lộ. Nó lặng yên đến nỗi, khiến những ai bước ngang qua đó cũng có cảm giác rờn rợn rùng mình gai lạnh.
Hẳn nhiên, không phải vì nơi đây vắng vẻ, thiếu tiếng người. Chẳng phải sự lặng yên từ phía ngôi nhà làm người ta sợ, rồi đặt một vài dấu chấm hỏi. Thỉnh thoảng nhìn về phía đó, thấy nắng len lỏi theo từng khe hở, lại mừng vui, mong mỏi một tia hi vọng, chúng cũng sẽ lấp lánh như nắng, biết cách sưởi ấm những ẩn giấu bên trong cánh cửa đó chăng? Hoặc, có thể một ngày đẹp trời, ngôi nhà ấy sẽ mở toang ra với nụ cười và bắt đầu đón ánh nắng ấm áp lan tỏa vào phía bên trong.
Tuy nhiên, thật đáng buồn là, chúng vẫn còn bị khóa chặt từ lúc chiều tối hôm trước, và không có bàn tay nào vươn ra vào sáng sớm hôm sau.
Ngôi nhà cũng buồn như thân phận của những con người đi ra đi vào qua cánh cửa gỗ ấy. Phía trước nhà, là một khoảng sân nhỏ vừa đủ để bày biện vài ba bức tượng đá đã được tạc thành hình thù nào đó lạ kì không rõ rệt. Đôi khi đối với những trí não phong phú thì những bức tượng ấy trở nên thú vị, bởi chúng khơi gợi vài ý nghĩa nghệ thuật mà họ đang quan tâm. Nhưng, với con mắt người thường, chúng chỉ là những bức tượng đá để lâu ngoài sân, và phủ rêu xanh lạnh lẽo.
Mùa hè bỏng lửa.
Những mùa hè thường xuyên bỏng lửa. Và dưới nền trời bỏng lửa ấy, mùa hè đã nhanh chóng trở thành những mùa bão trong một vài khoảnh khắc lấp lánh nắng còn sót lại dưới những mái nhà thấp nằm nem nép nhỏ bé đáng thương. Người miền Trung hình như không ra biển nữa. Nếu có ra, cũng chỉ ngồi thụp xuống bờ cát để ngắm biển đăm đăm từ phía chân trời xa ngút mắt.
Chúng như chiếc hộp cũ kỹ nằm chĩnh chện giữa những khoảng trống chấp chới, nhìn nó, người ta thoáng nghĩ hoặc tưởng chừng cô đọng cả một nỗi buồn lớn của thế giới luôn thường trực, ám ảnh và bám riết lấy ánh mắt đau đáu mỗi lần nhìn vào. Cánh cửa trước của ngôi nhà ít khi thấy mở, dù chỉ he hé hòng đón chút ánh nắng thưa thớt mỏng tang lọt vào phía bên trong mỗi sớm bình minh.
Thỉnh thoảng hàng xóm mới thấy một người đàn ông râu tóc xồm xoàm bước ra, nheo mắt, nhíu mày nhìn mặt trời. Rồi, lẳng lặng bước vào nhà khép cửa lại. Tiếng bản lề hoen rỉ bật lên thứ âm thanh cũ mốc, nặng nề. Cót két.
Khi bóng tối tràn xuống từng nóc nhà, ngoài dàn nhạc của bọn côn trùng thủng thẳng tấu lên những bản giao hưởng của đêm, chỉ còn tiếng thở bị nhốt chặt trong những khối bê tông lạnh buốt. Thi thoảng, những âm thanh vun vút xa lạ đâu đó tạo nên sự đứt quãng tạm thời của thứ bình yên không đáng tin. Tôi lắng tai, cố nghe thử xem đó là thứ âm thanh gì, nhưng chẳng thể. Chúng khó chịu đến mức khiến tôi ngạt thở. Chúng lúc gần, lúc xa, lúc gió thoảng, lúc im bặt tuyệt đối. Rồi chúng quay trở lại chậm rãi, dích dắc như những tiếng nấc đứt quãng, chập chờn như cơn mộng mị. Chẳng thể nào nhầm lẫn được, tôi biết, chúng hẳn là đến từ phía u ám, cô độc của ngôi nhà không mấy khi mở cửa ấy.
2. 
Âm thanh vun vút ấy tiếp tục vung lên, rồi réo rắt bổng trầm. Tiếng rơi có khi thăm thẳm, chùng lại giữa lưng chừng, sau đó lao nhanh như thác đổ. Tựa hồ tiếng của những hòn đá rớt vào giếng sâu. Tôi không muốn tưởng tượng thêm nữa. Tôi thấy khó chợp mắt. Đúng hơn, là không thể chợp mắt vào lúc này.
Tôi gắng chắp vá những thanh âm chập chờn ấy lại với nhau. Trong trí nhớ ngắn hạn của tôi, mảnh sân trước của ngôi nhà ấy có rất nhiều màu sắc. Thi thoảng, vài người đi qua thường dừng chân lại ngắm nghía, đăm chiêu. Một vườn hoa hồng đỏ. Một hàng tầm xuân nằm dọc rào gỗ sơn trắng. Mỗi lần mất ngủ, tôi hay lén nhìn qua khe cửa sổ. Tôi thấy, một đứa con gái vẫn thường lặng lẽ tưới vườn hoa, vào ban đêm. Tôi đoán, chắc nó chờ những bông hoa mơn mởn sương đọng giọt vào buổi sáng hôm sau chăng? Nó hát. Căn nhà xiêu vẹo lọt thỏm giữa tiếng hát và tiếng đục đẽo, nhưng không phải tiếng roi. “Một ngôi nhà đẹp. Chắc chẳng có bí ẩn gì”, tôi lấp đầy ý nghĩ của mình bằng những điều thánh thiện.
Mặt trời gác núi. Thứ tiếng ấy lại ngược chiều gió thổi vang vọng đến đầu giường tôi rồi nhỏ dần. Giấc mơ hoang, lạnh, khiến tôi có cảm giác bất an. Tôi vùng dậy, trừng mắt nhìn vào khoảng trống trước mặt. Ngôi nhà có hàng tầm xuân, hình ảnh cô gái tưới hoa và hát, người đàn ông đam mê đục đẽo những bức tượng đá. Tôi mở bung cửa. Nhất định tôi phải nhìn thấy tận mắt những gì diễn ra bên trong ngôi nhà. Và, tôi có thể sẽ trở thành một kẻ trộm. Ắt hẳn thế. Một kẻ trộm tò mò.
3.
Cơn mưa nhỏ đầu mùa chầm chậm chạm vào da thịt của đất. Gió se lạnh vo tròn ánh mắt tôi về phía ngôi nhà ấy và những hàng cây trơ xương gầy guộc. Tôi mơ về những mầm xanh, chộn rộn đâm chồi nhú lộc trên cành non.
Sau bữa cơm tối, cả nhà tôi thường quây quần lại bên ấm trà nóng và thơm. Thi thoảng, gió lùa thốc vào từng khe cửa. Bất giác, tôi nghĩ về căn nhà cô độc nọ, rồi nhìn nghiêng mái tóc cha, đầy những sợi bạc. Tôi sợ tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo tường quay vòng vòng theo từng con số. Đó là thời gian. Những chiếc kim ấy có thể đâm xuyên vào tim tôi đau nhói.
Vài đêm mộng mị với những giấc mơ.
Về căn nhà, về âm thanh của những chiếc roi vun vút, về cô gái tưới hoa buổi đêm, về tiếng hát, tiếng khóc nấc kì lạ trong đêm. “Giá, trời nhanh sáng”, tôi nghĩ. Cha mẹ và kể cả tôi hình như không quan tâm lắm đến những gì đang diễn ra bên ngoài cánh cửa. Những bức tường giáp nhau ở thành phố, lúc nào cũng kín mít.
Một đêm khác, thứ âm thanh đó vẫn vun vút đều đặn.
“Chắc là gió”.
Vách tường nhà tôi kín gió lắm, làm sao gió có thể lọt vào và gào thét? Hẳn là ở phía bên kia, âm thanh ấy phát ra từ phía bên kia. Chúng chỉ cách nhau một bức tường. Những bức tường vẫn còn chút kẻ hở cho gió được phép réo rắt.
4.
Tôi có thói quen đi bộ quanh hồ nước nằm trong khu phố nhỏ của mình cùng mẹ mỗi sáng chủ nhật. Sương từ mặt hồ bung tỏa như khói. “Đêm qua con mất ngủ?”, mẹ đột ngột hỏi. “Có lẽ, tại âm thanh ấy”, mẹ bất ngờ tự trả lời. Tiếng chuông chùa gõ đều phía xa xa. Mẹ nhìn tôi, thì thào: “Đó là người đàn ông đặc biệt. Chú ấy làm nghề điêu khắc”. Tôi bất ngờ nhìn sâu vào mắt mẹ: “Mẹ, chú ấy đặc biệt như thế nào?”. Mẹ nhìn mặt hồ, lặng im. Không ai lí giải nổi những khoảng thời gian trắng của kí ức. 
Đầu tháng, hoặc những ngày rằm tôi chở mẹ lên chùa.
Phố xao xác. Buồn hiu hắt. Chẳng biết lòng mẹ tôi có yên. Có vài lần, tôi sững sờ khi nhìn thấy đứa con gái bằng tuổi mình, bên nhà hàng xóm ngồi đung đưa chân trên thành lan can cao ngất. Khuôn mặt tròn đầy đặn, nụ cười rạng ngời tươi thắm như hoa mặt trời, lòng tôi hoang mang tự hỏi: “Liệu cô có nhìn thấy tôi. Mọi thứ đều khả hữu”, rồi nghĩ thầm: “Hẳn là, cô bé chỉ cần nhìn thấy những chân trời đang trôi ở phía dưới”.
5.
Cha tôi không thích chơi các loại cây cảnh. Sân vườn nhà tôi trống trải. Chỉ có độc mỗi cây khế trước ngõ. Có bận, tôi len lén nghe cha thủ thỉ với mẹ: "Hãy để hoa cỏ được tự nhiên vươn mình, hé nở dưới ánh sáng của mặt trời. Đừng bật gốc, đào mầm, đừng nhốt nó lại trong những bình, những chậu". Tôi liếc nhìn sang khu vườn nhà bên, thấy khóm hồng tỉ muội đã bung nở. Người đàn ông mở tung cánh cửa, khệ nệ mang bức tượng điêu khắc có hình dáng quái dị, giống một chiếc roi tầm xuân màu nâu đất oằn xuống trên giá đỡ ra nắng. Phơi.
Từ khi căn nhà bên mở toang cửa mang bức tượng lạ kì ấy ra phơi nắng, tiếng roi vùn vụt trong đêm biến mất. Mẹ tôi lại thường xuyên mất ngủ. Đôi mắt mẹ trũng sâu. Cha tôi trầm ngâm hút thuốc nhiều hơn. Mẹ bỏ thói quen đi dạo vào sáng chủ nhật. Nhưng, vẫn lên chùa.
Đứa con gái khá duyên. Nhiều lần, tôi định làm quen, vậy mà ngại ngần không dám. Nắng vờn trên lá trong veo cả mùa sương lạnh. Đêm qua, tôi chỉ nằm mơ thấy một mặt trời rạng rỡ như ánh mắt nào đó bên nhà hàng xóm. Mẹ thì thào phía sau lưng tôi: “Tầm Xuân không biết nói. Con bé chỉ biết khóc và hát.”
Cha tôi, yêu mẹ, nhưng mắt cha trĩu buồn khi nhìn thấy ngọn tầm xuân bung nở. Đã từng có những âm thanh rơi như cơn gió vỡ, sau lưng cha mỗi lần người đàn ông ấy mở cánh cửa thường xuyên khép kín.





Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả TRẦN THANH PHƯƠNG

Sổ tay Thơ

HAI NỬA VẦNG TRĂNG

Tình cờ anh gặp lại vầng trăng
Một nửa vầng trăng thôi, một nửa
Trăng vẫn đấy mà em xa quá
Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên.

Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm
Trăng đầu tháng có lần em ví
Chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa
Tên anh như nửa trăng mờ tỏ
Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.

Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào trên cỏ ướt
Trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được
Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết
Em đã khóc
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát
Em đã khóc
Nhưng làm sao tới được
Bến bờ anh tim dội sóng không cùng

Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh
Cứ một nửa như đời anh, một nửa
Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ…

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau.
                                                                    8.1981  
                                                                 Hoàng Hữu
  MỘT BÀI THƠ ÁM ẢNH

  Đây là bài thơ đạt giải B Cuộc thi thơ năm 1981 – 1982 của Tuần báo Văn Nghệ. Đọc bài thơ, mặc dù còn nhiều chỗ chưa thể hiểu ngay được, nhưng nỗi xót xa của hai nửa vầng trăng chẳng thể nào đến được sự viên mãn cũng như linh cảm về cuộc đời “một nửa” của nhân vật trữ tình cứ luôn ám ảnh trong tâm trí, buộc tôi phải đi tìm hiểu sự thật suốt nhiều năm qua. Và lần theo những nguồn tư liệu tôi đã biết được nhà thơ tên thật là Nguyễn Hữu Dũng (một chữ D hoa – tên anh). Anh là họa sĩ. Khi đã có vợ con đề huề, tình cờ anh gặp một nữ đồng nghiệp dịu dàng, xinh đẹp cũng có tên bắt đầu bằng chữ D hoa (tên em) thì mối tình không cưỡng lại được bỗng dưng bùng cháy trong lòng làm anh cứ mất ăn mất ngủ. Mối tình ấy chủ yếu là đơn phương nên nó nung nấu những khát vọng được đền đáp một cách mãnh liệt và hết sức trong sáng. Bản thân nhà thơ lại bị bệnh tim nên cuộc đời ngắn ngủi chỉ có “một nửa”, nếu được yêu lại chắc cũng không thể đến với nhau “viên mãn” được. Như vậy ý tưởng của bài thơ là nói về mối tình dang dở của hai nửa vầng trăng (ẩn dụ bằng chữ D hoa) cùng khát vọng tình yêu vượt lên trên hoàn cảnh và bệnh tật.
  Khổ thơ đầu tiên nói về “vầng trăng – một nửa” tượng hình thành chữ D hoa (tên em). Nhưng “Trăng vẫn đấy mà em xa quá” đã xác định mối tình đơn phương của nhân vật trữ tình. Loại tình cảm này chỉ có cho mà không mong được nhận, không giống như mối tình “mây – gió” trong thơ Xuân Diệu: “Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu” (Anh yêu em chừng ấy còn em yêu anh được bao nhiêu*). Vì thế mà khát khao được đền đáp trở nên tha thiết, cháy bỏng hơn bao giờ hết. Nhà thơ hỏi trong sự tưởng tượng người yêu có hay “ngóng” trăng say đắm như mình: “Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên” – Mượn trăng để thổ lộ lòng mình là cách nói kín đáo tế nhị giống với những cách nói của cha ông ta trong kho tàng ca dao dân ca.
  Khổ thơ thứ hai cho ta biết lý do của sự hình thành thi tứ: “Trăng đầu tháng có lần em ví/ Chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa/ Tên anh như nửa trăng mờ tỏ/ Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời”. Một sự liên tưởng rất cụ thể và thú vị của các họa sĩ vốn rất nhạy cảm với những hình khối mang tính biểu tượng như thế. Một nửa vầng trăng cũng đã từng xuất hiện trong thơ Nguyễn Du (Vầng trăng ai xẻ làm đôi – Truyện Kiều) hay gần đây, trong ca từ của nhạc sĩ An Thuyên (Cắt nửa vầng trăng… Ca dao em và tôi), nhưng để nói về một cái tên người cụ thể thì có lẽ đây là một sáng tạo đầu tiên và duy nhất trong kho tàng thi ca nhân loại.
   Nếu hai khổ thơ đầu ít nhiều còn nói sự việc (Tình cờ anh gặp lại vầng trăng; Nắng tắt đã lâu rồi trăng thức dậy dịu êm) hoặc giải thích lý do (Trăng đầu tháng có lần em ví…), thì đến các khổ thơ tiếp theo hoàn toàn chỉ còn tình cảm tha thiết, ám gợi:
Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào lên cỏ ướt
  Câu thơ thứ nhất vận dụng những kiến thức khoa học về mối liên hệ giữa thủy triều lên xuống và quỹ đạo của vầng trăng, nhưng chỉ cần một chữ “theo” đã làm cho vầng trăng hóa nên sống động và nặng tình. Câu thơ thứ hai thật là tài hoa của sự kết hợp giữa ngôn từ và hình khối: “Trăng say đắm dào lên cỏ ướt”. Từ “theo” đến “say đắm” đã là cả một bước tiến dài về mặt tình cảm và hình tượng. Các chữ “dào lên cỏ ướt” rất tạo hình. Động từ “dào” ở đây thật đắt. Đã từng có những cách đặc tả ánh trăng rất hay như ánh trăng “nhễ nhại” (Nam Cao) hay ánh trăng “dàn dụa” (Dương Kiều Minh), nhưng chưa thấy ai sử dụng động từ chính xác và đắc địa như tác giả bài thơ này - “Trăng say đắm dào lên cỏ ướt” đúng là một sáng tạo độc đáo của riêng Hoàng Hữu -  Ở bên trên đã có “con nước” thì ở bên dưới “cỏ ướt” là lẽ tất nhiên: Từng đợt sóng trăng trào lên bờ cỏ ướt nước cũng là ướt ánh trăng lóng lánh mê ly. Trăng đẹp như thế, cuộc sống đẹp như thế mà nhà thơ đã như linh cảm thấy mình sắp sửa phải ra đi mãi mãi vì quỹ thời gian (theo dự báo của bác sĩ điều trị) đã sắp cạn kiệt rồi! Những câu thơ giống như những lời nói “gở” nhưng không “gở” chút nào vì nhà thơ đã biết trước tất cả để khẳng định như đinh đóng cột:
Trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được
Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết
Em đã khóc
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát
Em đã khóc
   Không chỉ “Em đã khóc” mà tất cả những bạn bè của nhà thơ, những người đọc thơ đều rưng rưng trong tâm hồn trước một con người tài hoa bạc mệnh! Hai câu thơ tiếp theo như cứa vào lòng người đọc: Một người bị bệnh tim đã sống hết mình cho tình yêu, cho nghệ thuật, trái tim của anh đã “phát sóng” hết công suất: “Nhưng làm sao tới được/ Bến bờ anh tim dội sóng không cùng”. Đó là một cuộc sống đích thực dám đi đến cùng trong tình yêu và niềm đam mê của mình - Nó làm cho những người đang sống khỏe mạnh không khỏi có sự chạnh lòng và tự xem lại bản thân.
   Ba câu thơ tiếp theo như đúc kết lại một cách đầy xót xa nhưng vẫn lấp lánh niềm tin: “Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh/ Cứ một nửa như đời anh, một nửa/ Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ…”. Sự đay đi đay lại “Một nửa vầng trăng thôi, một nửa” rồi lại xác  quyết: “Cứ một nửa như đời anh một nửa”, đúng như Hữu Thỉnh cảm nhận:“nó cứ như bào như xát vào gan ruột người ta. Và đấy là thành công, là hiệu quả nghệ thuật của bài thơ…Cái dở dang vĩnh viễn của Hoàng Hữu đánh thức cái dở dang của mọi kiếp người”** Câu thơ cuối cùng không nói hết được, như hụt hơi, nấc nghẹn, còn biết bao điều âm vang trong dấu ba chấm (…) để cho người đọc tự suy đoán lấy bằng sự trải nghiệm của riêng mình.
  Khổ thơ kết bài giống lời dặn dò, trăng trối giàu tính chiêm nghiệm:
Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau
   Xuất phát từ sự quan sát tinh tế: Một nửa trăng hình chữ  D hoa, nhìn kỹ, ta vẫn có thể thấy được một nửa trăng phía bên kia mờ mờ, khớp với nhau để tạo thành một vầng trăng tròn đầy, viên mãn. Nhà thơ hỏi em, dặn em nhưng cũng là nói với tất cả chúng ta, hay ngược lại, đọc hai câu thơ này, ta cảm thấy như chính mình đang nói với một ai đó những lời tha thiết chân thành nhất. Đó là sự kỳ lạ của thơ, hay nói rộng hơn là của nghệ thuật nói chung. Vì vậy, đối tượng trữ tình được gọi là “em” trong bài thơ này không nên giới hạn vào chỉ một cô gái có tên bắt đầu bằng một chữ D hoa nào đó. Đấy chỉ là cái cớ cho ý tưởng thơ phát triển. Sự chiêm nghiệm “Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau” vẫn thường phổ biến trong cõi nhân sinh, có trong tất cả mọi người và nó mang tính nhân loại phổ quát. Đó cũng là điều mà chị Nguyễn Thị Minh, vợ của cố họa sĩ - nhà thơ Hoàng Hữu, sau 31 năm hờn giận chồng vì cô gái có chữ D hoa trong bài thơ, cuối cùng cũng đã nhận ra rằng: “Sự “tình cờ” bởi cái tên cúng cơm do cha mẹ đặt: Nguyễn Hữu Dũng, cái tên bắt đầu bằng chữ D hoa đã khiến anh viết thành công bài thơ gửi tặng cho đời. Vượt nỗi đau số phận nghiệt ngã của mình chắt lọc ra hai nửa vầng trăng, nửa “tròn đầy” nửa “viên mãn” vững tin ở ngày mai tốt đẹp”***
Quy Nhơn, 12. 2016


                                                            

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả HỒNG CHIẾN





HỘI THI

Truyện ngắn


Công việc nương rẫy vừa xong, cả vùng thảo nguyên bước vào mùa lễ hội, tổ chức mừng được mùa và tạ ơn Yang(1) giúp đỡ, mưa thuận gió hòa, mọi nhà no ấm. Các già làng ngồi lại với nhau quyết định tổ chức cuộc thi chọn người khỏe mạnh, dẻo dai và khéo léo nhất vùng để trao thưởng. Năm nay chủ đề cuộc thi: “Lên rẫy”, nhằm vinh danh người phụ nữ.
Mỗi buôn cử một người phụ nữ tham gia cuộc thi. Người dự thi lưng đeo gùi, hai tay cầm hai chiếc lá dong mọc hoang ven suối di chuyển đến đích là một cây tre được treo nhiều sản vật như: bông lúa, bắp, bầu, bí, rau xanh… cách vạch xuất phát hai chục sải tay. Khi di chuyển đến đích để lấy sản vật treo trên cây rồi trở về vạch xuất phát, người tham gia thi phải luôn luôn đi trên hai chiếc lá dong, không được để bàn chân hoặc bất cứ một bộ phận nào trên cơ thể chạm đất. Cuộc thi đòi hỏi người tham gia không chỉ khỏe mạnh, mà còn phải khéo léo giữ trọng lực bản thân luôn trên một chân và thao tác tay chân đều nhau: Tay phải đặt lá để chân phải bước lên, chân trái nhấc lên để tay trái lấy lá đặt lên phía trước… cứ như vậy tiến dần về đích; ai đi nhanh nhất, không phạm quy và lấy được nhiều sản phẩm thì người ấy thắng cuộc.
***
Truyền thuyết kể rằng: Ngày ấy, cách nay đã xa lắm rồi, nhân dân trong vùng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đất đai màu mỡ, khi mùa mưa đến chỉ cần tra hạt xuống, là có thu hoạch. Đàn bà lo làm rượu cúng Yang còn cánh đàn ông ban ngày rủ nhau săn bắn rồi về vít cần rượu. Phụ nữ đua nhau dệt vải thêu thùa lo làm đẹp và nuôi dạy con cái. Đêm đêm, làn điệu ay ray(2), tiếng kể khan(3) quấn quýt bên bếp lửa nhà dài…  cuộc sống vui vẻ cứ vậy trôi đi.
Vụ mùa năm ấy, cây cối đơm hoa kết trái rực rỡ hơn các năm trước; hạt bắp thả xuống khi lớn lên mỗi lá trên cây đều ôm một quả to như cổ tay người lớn; hạt lúa mới gieo vào lỗ đã bật dậy nảy mầm, cây vươn lên ngang vai người, vào mùa thu hoạch bông dài hơn hai gang tay, hạt nào cũng to như đầu đũa, mập căng. Mọi nhà vui lắm làm lễ cúng Yang, xin đưa lúa, bắp về nhà.
Trên trời, một con Quỷ nhìn xuống hạ giới thấy con người sống vui vẻ, hạnh phúc thì tỏ ra ghen tỵ mới nói với Yang:
- Tại sao lũ người lại được ưu ái ban cho nhiều thứ như chúa tể dưới đó vậy?
- Tại con người thông minh nhất so với các loài động vật dưới hạ giới.
- Con không thể tin được điều ấy thưa Yang.
- Ý nhà ngươi có vẻ coi thường con người muốn xuống thử sức chứ gì?
- Dạ! Xin Yang cho con xuống xem có đúng vậy không!
 Yang nở nụ cười nhân từ chấp thuận cho Quỷ xuống hạ giới thi tài.
Buổi sáng, mọi người rủ nhau lên rẫy bắt đầu thu hoạch. Trời trong xanh không một gợn mây, bỗng nhiên mây đen cuồn cuộn kéo đến, gió bão nổi lên, bắp lúa trong vùng bị cuốn bay hết lên trời rồi rơi xuống một bãi bằng ven sông, chất cao như núi. Mọi người vội đuổi theo nhặt lại. Trên đống lương thực, con Quỷ ba đầu sáu tay, hình thù rất khủng khiếp ngồi trên đó từ lúc nào rồi; thấy người kéo đến, nó vẽ một vòng tròn cách đống lương thực một trăm bước chân con người rồi nói:
- Con người có công trồng, ta có công thu về đây bây giời nếu con người muốn lấy, ta cũng không cấm nhưng phải có điều kiện.
Già làng buôn Đơk nghe Quỷ nói vậy mới bước ra hỏi:
- Quỷ muốn có điều kiện gì?
- Nghe nói con người giỏi giang và thông minh lắm, vậy ta tổ chức thi nếu ai thắng thì toàn bộ số lương thực thực này thuộc về bên ấy.
- Thi như thế nào?
Già làng băn khoăn hỏi lại, Quỷ nhe nanh cười, trả lời:
- Ta vạch vòng tròn rồi, con người đứng bên ngoài vòng tròn này nếu đi vào lấy được lương thực và đi ra khỏi vòng, chân không chạm đất thì thắng cuộc; toàn bộ số lương thực này trả lại cho con người, còn nếu một bộ phận nào của con người chạm đất thì thua, người đó sẽ biến thành quỷ.
Mọi người nhìn nhau lắc đầu vì con người không biết bay làm sao vượt qua được khoảng cách dài như thế mà không chạm đất. Thế này thì con người thua mất thôi. Già làng các buôn ngồi lại với nhau bàn kế trị Quỷ, nhưng bàn mãi vẫn chưa có cách gì. Hàng ngàn con người đang phân vân đưa mắt nhìn nhau chưa biết phải làm sao. Trong lúc khó khăn ấy, Y Luc con già làng buôn Phăn Lăm bước đến trước các già làng xin thử sức. Y Luc năm nay tròn mười tám mùa rẫy, nước da như màu chiêng đồng mới đúc, bắp tay cuồn cuộn như con trăn cuốn mồi, cao hơn hẳn đám bạn cùng lứa một cái đầu, tay không có thể vật ngã một con bò đực lớn. Già làng hỏi:
- Con có cách gì vượt qua khoảng cách đó?
- Con có thể dùng cây le dài, chạy lấy đà rồi chống cây nhảy vào đống lương thực, chân sẽ không chạm đất.
- Xa thế có nhảy đến không?
- Con phải thử, chẵng lẽ để mọi người chết đói sao?
Quỷ ngồi trên đống lương thực, luôn mồm thúc giục con người ra đấu; thấy Y Luc vác cây le dài gần chục sải tay, lưng đeo gùi bước ra xin đọ sức thì bật cười bảo:
- Ta sẽ có thêm một con Quỷ con đây, vào lấy đi, nhớ lấy cho đầy gùi nhé.
Y Lúc, yêu cầu mọi người đứng dẹp qua hai bên nhường cho mình một lối đi rộng một sải tay, chạy một đọan lấy đà rồi chống cây le vào trong vạch tung người lên không trung, vẽ một đường vòng cung trên trời rơi ngay vào đống lương thực. Mọi người vỗ tay như sấm trước cú nhảy tuyệt vời. Con quỷ há hốc mồm, thè lưỡi dài cả sải tay như không tin ở mắt mình. Qua phút bối rối, Quỷ gầm lên:
- Con người giỏi lắm, nhưng đây mới được một nửa đường đi thôi, nào hãy trổ tài mang được bao nhiêu lúa bắp thì cứ lấy đi rồi trở về bên kia vạch.
Y Lúc xếp một bông lúa, một quả bắp vào gùi; đứng trên đống lương thực lấy đà, chống mạnh cây le xuống đất tung người bay ra khỏi vòng. Mọi người căng mắt nhìn, cánh phụ nữ nhiều người ngửa mặt lên trời cầu khấn Yang giúp sức…
Đám đông lặng ngắt rồi gần như đồng thanh thét lên: Yang ơi! Y Lúc chỉ còn cách vạch chừng một sải tay đã rơi xuống, không qua khỏi vòng; chân vừa chạm đất cả người run rẫy như bị sốt rét ngã lăn quay trên mặt đất, lên cơn co giật, phút chốc biến thành một làn khói xanh chui tọt vào quả bầu Quỷ đeo bên mình. Con Quỷ khoái trá cười lên như sấm:
- Còn ai dám thử nữa không?
Đám phụ nữ nhiều nước mắt, ôm mặt khóc hu hu, thương xót người thanh niên dũng cảm. Cánh đàn ông, mặt tái xanh như nhuộm nước vỏ cây phải vịn vào nhau cho khỏi ngã, nước mắt cũng giàn dụa…
Con Quỷ đắc chí hò hét:
- Nào có ai muốn thành quỷ nữa không, bước ra thử đi. Nếu không còn ai nữa thì đưa nhau vào rừng làm khỉ nhé.
Rẽ đám phụ nữ đang ôm nhau khóc, có một thiếu nữ mặt tròn như trăng rằm, đôi mắt sắc, tuổi độ được mười bảy mùa rẫy, từ từ bước đến bên vòng ranh giới cuộc thi nói với quỷ:
- Tôi vào lấy được không?
- Được, được lắm, ta còn thiếu con quỷ cái con nữa cho đủ đôi đây.
- Nhưng nếu tôi thắng, quỷ phải hứa với tôi một điều.
- Điều gì?
- Trả Y Luc lại cho tôi.
- Được!
- Quỷ nhìn đây.
Mọi người ngạc nhiên, ồ lên khi nhận ra H’Lin, con của già làng buôn Đơk; nổi tiếng xinh đẹp, thông minh, khéo tay nhất vùng; nhiều chàng trai mơ ước được nàng mang củi xếp dưới gầm sàn(4); vai khoác gùi chất đầy lá dong rừng mọc ven suối, nhẹ nhàng thả lá dong lên mặt đất rồi đặt chân lên, bước từng bước một lên trên lá dong tiến vào bên đống lương thực… Mọi người vỗ tay reo hò thán phục trước sự thông minh của H’Lin. Con quỷ ức quá, gầm lên làm gió nổi lên ầm ầm, cô gái phải cúi mình tránh gió làm toàn bộ số lá dong đựng trong gùi rơi xuống đất bị gió cuốn đi hết. Gió lặng, cô gái đứng thẳng người lên nhìn xung quanh không còn chiếc lá dong nào ngoài hai lá dẫm dưới chân. Con quỷ lại cất tiếng dục:
- Nào lấy đi rồi quay về chứ.
Nói dứt lời, Quỷ lại rống lên cười đắc chí vì tin rằng với hai lá dong dưới chân cô gái không thể đi ra khỏi vòng được. Phía ngoài, mọi người lặng ngắt trước việc chơi xấu của quỷ và lo cho H’Lin sẽ thua cuộc vì bây giờ chỉ còn hai chiếc lá dưới chân, đi làm sao đây? Mọi người căng mắt nhìn, lòng nhấp nhổm không yên; có người còn nhắm mắt lại không dám nhìn vì đã đoán ra kết cục đang chờ H’Lin khi hết lá lót chân đi trở ra... H’Lin mặt không đổi sắc, nhặt một bắp ngô bỏ vào gùi đeo lệch qua một bên vai, nhanh tay đưa một bông lúa lên mồm cắn chặt rồi cúi xuống dùng hai tay nắm lấy cuống lá của hai chiếc lá dong, thong thả nhấc chân phải lên thì rút lá lên đặt ra phía trước, đưa chân phải dẫm lên và nhấc chân trái, tay trái cầm lá dong đặt lên trước… cứ như vậy cô gái bước chầm chậm ra sát vòng tròn. Quỷ biết sắp thua liền há mồm làm phép cho gió nổi lên, buộc cô gái phải cúi mình chống tay vào bàn chân giữ thăng bằng, quả bắp đựng trong gùi rơi xuống đất bị gió cuốn đi mất. Cô gái bước ra khỏi vòng tròn quay lại nói với Quỷ:
- Quỷ thua rồi, hãy trả lại người và lương thực như đã hứa.
- Nhưng trong gùi của người còn gì trong đó đâu?
Quỷ cất tiếng cười khoái chí vì thông minh hơn, đã chiến thắng. Con người tưởng như đã thắng vì đi vào đến tận nơi lấy được bắp bỏ vào gùi quay ra, nhưng lại đánh rơi mất, chỉ còn gùi không, thế là thua rồi. H’Lin mỉm cười bảo:
- Quỷ nhìn đây!
Nói dứt lời H’Lin cầm bông lúa ngậm trong mồm lúc nãy giơ lên, Quỷ thét một tiếng hãi hùng làm văng cả chiếc bầu bên hông xuống đất rồi vội vã bay thẳng về trời, không dám quay đầu nhìn lại. Quả bầu rơi xuống đất bật nắp, Y Luc hiện nguyên hình trở lại như cũ, chạy lại nắm tay H’Lin cảm ơn và hình như họ có trao vòng cho nhau(5) thì phải. Mọi người mừng lắm, hò nhau vào lấy lương thực mang hết về buôn. Từ đó người dân trong vùng có tục lệ sau khi đưa lúa bắp vào kho sẽ tổ chức cuộc thi “lên rẫy” để tưởng nhớ đến trận quyết đấu năm xưa.
***
Dàn chiêng tấu lên bản chào khách, người đàn bà đứng tuổi đánh trống cầm nhịp. Tiếng chiêng, tiếng trống ngân vút lên trời cao, lan tỏa ra tận các đỉnh núi phía xa. Các già làng uy nghi trong bộ áo truyền thống chống gậy đứng trước, mọi người đứng thành vòng tròn xung quanh cây tre chôn giữa một khoảng đất bằng ven sông. Trên cây tre được cột nhiều sản vật để người dự thi vào lấy.
Phía ngoài vạch, hai mươi ba cô gái mặc bộ yen(6) áo đẹp nhất, lưng đeo gùi có nhiều hoa văn tinh xảo bước đến bên vòng tròn chuẩn bị xuất phát. Già làng buôn Um giơ tay ra hiệu bảo mọi người yên lặng rồi nói:
- Theo quy định như mọi năm, người nào đi nhanh nhất, lấy được nhiều sản vật nhất sẽ thắng cuộc. Khi nào nghe ta gõ chiêng thì xuất phát. Vào vị trí, chuẩn bị!
Các cô gái hăm hở cúi xuống bên vòng tròn, hai tay cầm hai cái lá dong, tư thế sẵn sàng.
Boong! Tiếng chiêng vừa ngân lên, đám đông hò reo, vỗ tay, khua chiêng, đánh trống vang lừng thúc dục, động viên. Hai mươi hai cô gái vội vã đặt lá dẫm lên tiến dần vào gốc cây tre làm đích. Người lớn, trẻ em, người nào khuôn mặt cũng hồ hởi, khua tay múa chân, luôn mồm la hét… còn các gìa làng khuôn mặt rạng rỡ, ánh mắt như cười khi chứng kiến con cháu trổ tài di chuyển. Trong số người thi, có người đi nhanh không khéo bị ngã nghiêng phải chống tay xuống đất, thế là bị loại chạy ra ngoài úp mặt vào lưng bạn, giấu vẻ mắc cỡ. Nhiều người chậm rãi di chuyển vào gần đến đích. Có tiếng ai đó kêu lên:
- H’Lê Na đâu, không dự thi à?
- Vào đi, vào đi H’Lê Na!
Mọi người ngạc nhiên quay lại nhìn cô gái xinh đẹp đứng bên vạch xuất phát vỗ tay, hò hét động viên đám người đang trổ tài mà quên mất mình cũng là người dự thi. Một người di chuyển nhanh nhất đã đến đích, đứng thẳng người lên giật mỗi thứ trên cây một ít bỏ vào gùi rồi cúi xuống định di chuyển ra ngoài; nhưng vừa cúi xuống, bao nhiêu thứ trên gùi đổ xuống đất hết cả. Mấy người đến sau nhanh ý, chọn một thứ bỏ vào mồm ngậm lại rồi quay ra không dám bỏ vào gùi vì sợ đổ.
H’Lê Na lấy từ trong gùi ra hai lá dong, dùng dây buộc vào chân rồi chạy đến bên cây tre giật hết rau quả xếp đầy gùi, ung dung rảo bước ra ngoài vòng, đến bên già làng buôn Um đặt gùi xuống, nở nụ cười tươi như hoa. Trong khi ấy nhiều người còn chưa đề được gốc cây tre treo giải. Cánh con trai hò hét vang trời:
- H’Lê Na thắng rồi! H’Lê Na thắng rồi!
- H’Lê Na phạm quy, không được tính!
- Không chơi cột chân, không tính, không tính!
Các già làng vội vàng hội ý, nhưng mỗi người một ý. Một số người muốn xử H’Lê Na thua vì dùng chân, không dùng tay khi di chuyển; một số khác lại cho H’Lê Na thắng vì quy định dùng lá dong di chuyển mà không cấm buộc vào chân. Họ khen cô gái thông minh biết lách luật chơi bao đời nay bằng cách dễ dàng nhất để thắng cuộc. Cuối cùng già làng buôn Um nói:
- Tại từ trước tới nay không ai nghĩ ra cách di chuyển đơn giản như H’Lê Na vừa làm nên chúng ta không cấm, mà chưa cấm thì không phạm lỗi, vì thế phải công nhận kết quả thôi. Từ năm sau phải quy định lại chặt chẽ luật thi mới được. Các già thấy thế nào!
- Ừ, Đành phải vậy thôi.
Đám đông thanh niên nam nữ nhảy múa xung quanh H’Lê Na và già làng buôn Um, trao phần thưởng cho người thắng cuộc một chiếc abăn bă(7). H’Lê Na choàng abăn bă qua vai cúi đầu chào mọi người. Dàn chiêng lại nổi lên chúc mừng, nhiều người xuýt xoa: Đẹp quá, H’Lê Na đẹp như Yang ấy!
Chưa ai thấy Yang bao giờ, nhưng chắc họ không còn từ nào để khen nên đành phải nói vậy thôi. Nhưng quả thật H’Lê Na đẹp rực rỡ như bông hoa hồng chớm nở buổi sáng vậy, đã nhìn thì không thể quay mặt đi nơi khác được.
Trại sáng tác Nha Trang tháng 11 năm 2016

Chú tích:
1.Yang: thần linh - tiếng Ê đê;
2. Aray: dân ca Ê đê;
3. Khan: chuyện - tiếng Ê đê gọi bà;
4. Mang củi xếp dưới gầm nhà sàn: người con gái tỏ tình với người con trai theo phong tục người Ê đê;
5. Trao vòng tay: đính hôn theo tục lệ người Ê đê;
6. Yen: váy – tiếng Ê đê;

7.Abăn bă: tấm chăn để địu con – tiếng Ê đê.