Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)

KẾT QUẢ TỪ CHUYẾN ĐI THỰC TẾ SÁNG TÁC
TẠI BIÊN GIỚI

Ghi chép của Hồng Chiến



Chuẩn bị kỷ niệm 58 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Việt Nam (3.3.1955-3.3.2017) và 42 năm Ngày truyền thống Biên phòng Đắk Lắk (23.5.1975-23.5.2017), Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức cho anh chị em văn nghệ sỹ đi thực tế sáng tác trên tuyến biên giới thuộc địa bàn tỉnh nhà.
7 giờ sáng ngày 22.2.2017, xe ô tô của Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đến trụ sở Hội đón đoàn. Thượng tá Đỗ Quang Thấm – Phó chủ nhiệm Chính trị và thiếu tá Đỗ Văn Nhương, cán bộ Ban Tuyên huấn trực tiếp dẫn đoàn ra biên giới. Đầu năm, công việc còn nhiều nên Thường trực Hội mời 15 hội viên thuộc 3 chuyên ngành: Âm nhạc, Văn học và Sân khấu - Điện ảnh tham gia chuyến đi. Trong số hội viên tham gia đi thực tế sáng tác đợt này nhiều người cao tuổi như nhà thơ Hữu Chỉnh đã bảy sáu, nhà văn Nguyễn Hoàng Thu, nhạc sỹ Sĩ Hùng cũng trên bảy mươi…; trẻ nhất là nữ nhà văn Nguyễn Thị Thu Hồng mới ngoài ba mươi. Ai cũng tươi vui phấn khởi khi được ra biên giới mùa xuân.
Với một đội quân “hùng hậu” tham gia chuyến đi, trong đó có nhiều hội viên từng đến địa đầu Tổ quốc thăm và làm việc với Đồn Biên phòng Lũng Cú, trên cao nguyên đá Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang, hay đến tận xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Sau mỗi chuyến đi, nhiều tác phẩm đã hoàn thành và được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, điều đó khẳng định tính chuyên nghiệp của các hội viên. Chuyến đi thực tế lần này “mở hàng” cho năm mới 2017 của Hội, vì vậy Thường trực Hội đặt ra chỉ tiêu: Tất cả các nơi đoàn đến thực tế đều phải có tác phẩm. Đây là lần đầu tiên văn nghệ sỹ đi thực tế được giao chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu mặc dù thời gian xâm nhập thực tế, tìm nguồn cảm hứng, ghi chép, lấy tài liệu… chỉ có hai ngày và một đêm cho cả chuyến đi. Trước đây các đoàn đi thực tế thời gian ít nhất cũng ba bốn ngày, nhiều thì mười ngày hoặc hơn và không giao chỉ tiêu cụ thể mà tùy theo cảm hứng, các tác giả sáng tác theo cảm hứng riêng của mình; còn chuyến đi này có yêu cầu cụ thể: Phục vụ nhiệm vụ chính trị, sáng tác về Bộ đội Biên phòng tỉnh - lực lượng vũ trang đã có truyền thống anh dũng, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, góp phần quan trọng ổn định và nâng cao mức sống của người dân vùng biên. Những chiến công thầm lặng ấy thông qua lăng kính của người văn nghệ sỹ phải được xây dựng thành tác phẩm văn học nghệ thuật để mọi người dân ít nhất là trong tỉnh biết, qua đó mà cảm phục, tin yêu và trân trọng.
*
Trên chuyến xe ra biên giới, các văn nghệ sỹ tranh thủ hỏi chuyện Thượng tá Đỗ Quang Thấm về tình hình an ninh biên giới, về công việc của người chiến sỹ biên phòng trong thời bình, những khó khăn mà hàng ngày các anh phải đối mặt… Đồng chí Phó chủ nhiệm Chính trị rất vui vẻ trả lời các câu hỏi của anh em trong đoàn, và thật bất ngờ, nhiều câu trả lời tế nhị tránh vấn đề nhạy cảm kết thúc bằng một trận cười vui vẻ cho cả xe làm quãng đường đất có nhiều dốc đá khó đi hình như cũng ngắn lại.
Để hoàn thành kế hoạch đề ra, lãnh đạo đoàn bố trí các văn nghệ sỹ thành từng tổ hai hoặc ba người ở một đồn. Mỗi tổ có một nhạc sỹ và một hoặc hai nhà văn. Ngay trong buổi sáng đoàn đến Đồn Yok Đôn, đồn đầu tiên của tỉnh Đắk Lắk tính từ phía nam giáp tỉnh Đăk Nông để đổ quân xuống và cứ lần lượt như thế tiến dần ra bắc theo Quốc lộ 14C, đến nửa buổi chiều đoàn đến đồn Ia Rvê – nơi được chọn làm điểm cuối cùng và cũng là nơi đóng “đại bản doanh chỉ huy”. Đồn Ia Rvê có “đại bản doanh” nên quân số cũng đông nhất, ngoài một nhạc sỹ, hai nhà văn còn có hai nghệ sỹ điện ảnh hội viên của Hội nhưng cũng là nhà báo đang công tác tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh. Việc rải quân đúng theo kế hoạch mà Chủ tịch Hội vạch ra từ nhà, riêng đồn Biên phòng Ea H’Leo ở phía bắc tỉnh, tháng 12 năm 2016 các văn nghệ sỹ dự Trại sáng tác Văn học Nghệ thuật huyện Ea Súp đã đến nên đợt này không bố trí người đến nữa.
Một đêm, hai ngày trôi vụt qua thật nhanh, chiều ngày thứ hai xe xuất phát từ Đồn Ia Rvê quay về và ghé các đồn đón văn nghệ sỹ, chứng kiến các nhà văn nữ như: Nguyễn Thị Bích Thiêm, Nguyễn Thị Thu Hồng chia tay với cán bộ chiến sỹ thật xúc động, giống như anh chị em trong một gia đình chia tay nhau để đi xa; trên khóe mắt ai cũng long lanh. Không chỉ các nhà văn nữ xúc động mà ngay nhạc sỹ Trung tá Dương Tấn Bình – Phó phòng PX15, Công an tỉnh cũng bịn rịn nắm tay các đồng chí đồng đội không muốn buông ra, hình như các văn nghệ sỹ và chiến sỹ đã thành anh em một nhà, khi chia tay sao mà quyến luyến đến vậy! Xe đến rồi từ từ chuyển bánh, cán bộ chiến sỹ các đồn biên phòng đều chào đón niềm nở và những cái vẫy tay tạm biệt cho đến khi xe khuất hẳn in đậm vào tâm trí của anh chị em văn nghệ sỹ.
Chiều muộn mới về tới thành phố Buôn Ma Thuột, các anh chị em văn nghệ sỹ bịn rịn chia tay hai cán bộ của Bộ chỉ huy Biên phòng dẫn đoàn đi và đều có một chút tiếc nuối, thời gian quá ngắn, giá như được có thêm hai hoặc ba ngày nữa thì… Thôi đành hẹn dịp sau sẽ có nhiều thời gian hơn. Thời gian đi thực tế ngắn nhưng ba nhạc sỹ đã kịp hoàn thành ba ca khúc, anh em còn lại trong đoàn thống nhất về nhà sử dụng tư liệu đã có tiếp tục sáng tác, hoàn thiện tác phẩm, sau ba chục ngày sẽ nộp tác phẩm để kịp in vào số đặc biệt tháng năm.
*
Thật bất ngờ khi đến ngày hẹn, số tác phẩm hoàn thành và đem nộp làm nhiều người ngạc nhiên. Nhà thơ Hữu Chỉnh - “người lính già” nhất của đoàn trên mặt trận Văn học Nghệ thuật hoàn thành một bài thơ, một bài ký; nhà văn Nguyễn Hoàng Thu một bài ký; nhà thơ Lê Đình Liệu hai bài thơ; nhà văn Nguyễn Thị Bích Thiêm một bài ký, một tản văn; nhà văn Nguyễn Thị Thu Hồng một bài ký; nhà văn Trương Nhất Vương một bài thơ, một bài ký; nhà văn Hồng Chiến một bài ghi chép. Về chuyên ngành Âm nhạc, số tác phẩm hoàn thành vượt quá cả sự mong đợi: nhạc sỹ Sĩ Hùng, nhạc sỹ Nguyễn Văn Hạnh, nhạc sỹ Dương Tấn Bình, nhạc sỹ Nguyễn Hưng hoàn thành một ca khúc; riêng nhạc sỹ Mạnh Trí có tới hai ca khúc mang nộp; Nghệ sỹ Nguyễn Công Việt và nghệ sỹ Nguyễn Linh Nguyên hoàn thành một phóng sự truyền hình mười lăm phút phát trên sóng ngay trong ngày đầu tháng tư. Các tác phẩm văn học viết ở sáu địa điểm khác nhau có chung đề tài về anh Bộ đội Biên phòng, nhưng mỗi tác phẩm là mộc bức phác họa chân dung sinh động về tình quân dân, tình đồng đội, giúp nhau vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao… không có bài nào trùng ý tưởng. Từ kết quả của chuyến đi thực tế lần này đã gợi ra cho lãnh đạo Hội Văn Học Nghệ thuật cách thức tổ chức các trại tiếp theo hy vọng gặt hái thành công hơn nữa.
Từ kết quả tốt đẹp của chuyến đi thực tế sáng tác trên biên giới, dự kiến vào tối ngày 17 tháng 5 năm 2017 Thường trực Hội và Bộ chỉ huy Biên Phòng tỉnh sẽ phối hợp tổ chức một đêm ca nhạc chào mừng ngày sinh nhật Bác (19/5/1890-19/5/2017) và Kỷ niệm 42 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk. Đây cũng là dịp để văn nghệ sỹ báo cáo kết quả hai chuyến đi thực tế sáng tác, có sự phối hợp giữa hai cơ quan: Hội Văn học Nghệ thuật và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk cuối năm 2016 và đầu năm 2017.
                                                                                                Tháng 4 năm 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)



TÌNH QUÂN DÂN VÙNG BIÊN GIỚI IA RVÊ


Ký của NGUYỄN HOÀNG THU

Từ Đồn Biên phòng Yok Đôn, lần lượt qua các Đồn Biên phòng Bo Heng, Sê Rê Pôk, Yok M'Bre, Đăk Ruê, đến Đồn biên phòng Ia Rvê, thuộc địa phận 2 huyện Buôn Đôn và Ea Súp của tỉnh miền núi Đắk Lắk, bốn bề trải rộng sắc màu rừng cây đang mùa thay lá. Rừng khộp - loại rừng thay lá mùa khô với muôn ngàn chiếc lá vàng rơi rụng đó đây cho màu xanh non lá mới nẩy nở đầy đặn vào những tháng mùa xuân. Rừng bên này, rừng bên kia đường vành đai biên giới từng năm tháng thay màu lá mới bên sông bên suối trong xanh yên lành bên cạnh sự sống người dân vùng biên giới đổi mới dần theo tháng ngày. Cán bộ chiến sĩ các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Đắk Lắk đêm ngày tuần tra bảo vệ an toàn từng thước đất biên cương Tổ quốc, đồng thời luôn giữ mối quan hệ hữu nghị hài hòa với các lực lượng bảo vệ biên giới Campuchia.
 An ninh vùng biên giới đất nước yên ổn, đời sống vật chất tinh thần không thiếu thốn, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn tâm niệm "đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt" làm chỗ dựa tin yêu thân thiết để thực hiện lý tưởng sống ý nghĩa: vì tổ quốc vì nhân dân; nghĩa vụ nào, trước sau cũng vì an toàn, an sinh cho sự phát triển bền vững đời sống kinh tế - xã hội của người dân. Đồn biên phòng Ia Rvê tọa lạc bề thế thông thoáng bóng cây bên đường vành đai biên giới bên dòng suối Ia Rvê thuộc xã Ia Rvê. Đồn biên phòng và xã biên giới cùng mang tên suối Ia Rvê, lại thêm ý nghĩa tô đậm tình quân dân và trách nhiệm gắn bó với vùng đất rừng cây có dòng nước suối chảy qua...
Đến với đồn biên phòng Ia Rvê cho tôi thấy rõ hơn ý nghĩa tốt đẹp tình quân dân vùng biên giới xã Ia Rvê, vùng đất rừng khộp rộng hơn 20.000 hecta có gần 7.000 dân với 22 dân tộc anh em từ các tỉnh miền Bắc và miền Nam đến lập nghiệp. Xã mới thành lập năm 2006, hãy còn khó khăn, từ ban đầu cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Rvê đã quan tâm giúp đỡ dân. Trong nắng mưa, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ an ninh vùng biên giới, những người chiến sĩ biên phòng vẫn phân công nhau, không ngần ngại giúp dân làm đường giao thông liên thôn, giúp dân làm nhà, thu hoạch nông sản. Những hộ dân nghèo khó khăn trong dịp Tết, cán bộ chiến sĩ lại chia sẻ gạo, thực phẩm, cùng người dân tổ chức đêm văn nghệ "Mừng Xuân Mới" với nhiều tiết mục, có cả giao lưu bóng chuyền giữa quân và dân trong những ngày đầu năm. Nhiều năm qua, chương trình "nâng bước em đến trường" của của cán bộ chiến sĩ biên phòng Đồn Ia Rvê đã tự nguyện chung tay chung lòng đóng góp tiền hàng tháng đỡ đầu cho 10 em học sinh nghèo và khuyết tật học giỏi có điều kiện đến trường. Cùng lúc các em học sinh nghèo bậc tiểu học và trung học cơ sở yên tâm vui bước đến trường, mấy năm qua lãnh đạo Đồn Biên phòng Ia Rvê đã cử trung úy Hoàng Văn Thọ đêm đêm tham gia xóa mù chữ cho các học viên từ 15 đến 60 tuổi tại 6 thôn gần xa của xã Ia Rvê.
Góp phần giúp cho dân việc học, Đồn Biên phòng Ia Rvê sau hơn 10 năm thành lập còn vận động các doanh nghiệp đóng góp tiền xây Trạm quân dân y kết hợp tại thôn 5, tránh khó khăn vất vả cho người dân xã Ia Rvê ở các thôn lân cận phải di chuyển xa xôi mấy mươi kilômét đường lầy lội mùa mưa khi cần khám chữa bệnh như trước kia... Trường học và trạm y tế khang trang được dựng lên đã kết nối tốt đẹp nghĩa tình quân dân nơi vùng đất nghèo biên giới cách xa trung tâm phố huyện Ea Súp đến 50 kilômét đường rừng.
*
 Năm 2015, "mô hình hỗ trợ việc làm cho dân" của Đồn biên phòng Ia Rvê đã thực hiện nuôi bò tại thôn 13 với phương thức hỗ trợ 100% vốn giúp gia đình dân nghèo mua giống, làm chuồng và trồng vườn cỏ cho các hộ dân. Buổi sáng đầu năm 2017, qua sự giới thiệu của Thượng tá Đồng Văn Triệu, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Ia Rvê, Đại úy Trương Văn Hoành, Chính trị viên phó của Đồn còn đưa tôi đi thăm gia đình anh Hà Văn Quanh, người dân tộc Thái di cư tụ do từ huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa đã cùng vợ và 3 người con đến vùng biên giới xã Ia Rvê năm 2000. Quanh năm vợ chồng trồng lúa, bắp, đậu trên đất khô cằn sống đắp đổi qua ngày, cho đến năm 2014, mô hình hỗ trợ việc làm cho dân của Đồn Biên phòng Ia Rvê đã đến với gia đình anh Hà Văn Quanh. Với 8 con dê được cán bộ chiến sĩ vùng biên giới hỗ trợ hoàn toàn vốn ban đầu cho vợ chồng anh Quanh, đến đầu xuân 2017 này, đã nhân giống lên thành 50 con bằng công sức và quyết tâm của người mong muốn thoát khỏi khổ nghèo, lại có thêm niềm vui góp phần cung cấp sản phẩm cho đời. Những người con của vợ chồng anh Hà Văn Quanh giờ đã lớn, đang cùng cha mẹ nuôi dê và sản xuất nông sản tại thôn 13 - xã Ia Rvê. Hàng tháng, gia đình này đều có dê thịt và dê giống để bán, sau khi trừ chi phí ăn uống, may mặc và mua sắm, mỗi năm còn lại 50 triệu đồng tiết kiệm. Tình quân dân qua "mô hình hỗ trợ việc làm cho dân", cán bộ chiến sĩ biên phòng quan tâm hỗ trợ vốn cho người dân ra sức gây dựng nên cuộc sống mới đã làm nên ý nghĩa sống tốt đẹp hơn nơi vùng biên giới Ia Rvê. Tôi tiếp tục đến nhà và trang trại nuôi vịt trời của anh Hồ Văn Điều, 60 tuổi, từ quê Bình Thuận đến thôn 3 xã Ia Rvê năm 2006. Một đàn vịt trời hơn 100 con, cả con giống và con thịt, luôn được nhân giống thêm và lúc nào cũng có sản phẩm cung cấp cho người mua; tất cả bắt đầu từ đàn vịt trời 20 con do Đồn biên phòng Ia Rvê hỗ trợ vốn ban đầu theo mô hình giúp dân việc làm phát triển kinh tế. Mô hình này, điều đáng nói, đậm tính nhân văn, đang được Đồn Biên phòng Ia Rvê tiếp tục triển khai thêm trên địa bàn xã biên giới Ia Rvê.
Trên đường trở về thành phố Buôn Ma Thuột lòng tôi mang theo những cảm xúc tốt đẹp về tình người nơi biên giới. Xa dần Đồn Biên phòng Ia Rvê, xa dần địa bàn biên giới, tất cả chưa đủ đầy, đó đây còn khó khăn nhưng đã đằm thắm tình nghĩa quân dân. Sức mạnh lâu bền của cán bộ chiến sĩ biên phòng không chỉ là trí tuệ bàn tay với vũ khí tuần tra biên giới đêm ngày, mà ở đó còn có nhân dân vui sống yên lành gắn bó với đất đai, không quên tình nghĩa quân dân, luôn trách nhiệm cùng người chiến sĩ đang bảo vệ an ninh an toàn trên vùng đất biên giới của Tổ quốc thân yêu...

Buôn Ma Thuột, tháng 3-2017

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

CHÚA RỪNG NỔI GIẬN truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỐ: 448 ra ngày 04 tháng 5 năm 2017




                                                                              

Cái buôn nhỏ bé nằm dưới chân dãy nùi Krông Đóa bổng nhiên ồn ào cả lên trước cái tin Y Đhinh mượn súng về bắn cọp. Ông buôn trưởng mặt hằm hằm chỉ vào mặt Y Đhinh:
- Từ bao đời nay “Ông ” là vị thần hộ mệnh cho buôn, xua đuổi lủ thú rừng không cho chúng phá hoại hoa màu; “ông” không bao giờ lấy của chúng ta con gì, nên không thể giết được.
-Ông buôn trưởng nhầm rồi, con cọp là cả một kho vàng to lớn. Bắn nó, ta mua được máy cày đất đỡ phải cuốc, mua được cái máy tưới nước, mua được cái xe khỏi phải đạp, như vậy không tốt à! Mình không bắn, người khác bắn mất uổng.
- Y Đhinh! Cái bụng mày độc ác chỉ nghỉ cho riêng mày, không nghĩ cái tình người của buôn mất rồi. Nay thời sống mới, chính phủ cấm săn bắn thú quý. Nếu mày bắn tao bắt.
Mặt buôn trưởng tím bầm, mắt như có ngọn lửa nhìn chằm chằm vào mặt Y Đhinh. Y Đhinh tức lắm; nhưng không dám cãi, cái bụng không phục. Ai đời cả một núi bạc như vậy mà bỏ đi bao giờ. Hắn lầm lủi bỏ về nhà lôi rượu ra uống. Thứ rượu nếp Ha Nội thơm phảng phất như hoa lúa, uống đến đâu biết đến đấy, càng làm hắn thêm tỉnh táo. Cả cái buôn ngu dốt này không ai biết điều, chỉ có hắn làm mở mày mở mặt cho buôn mà thôi. Hắn cứ uống và càng uống càng thấy cái vô lí của ông buôn trưởng. Mấy ông cán bộ ở ngoài huyện thích cao hổ để tẩm bổ. Còn mấy tay buôn thú rừng ngoài thị trấn cưỡi xe máy chạy như gió, sao mà oai thế. Chỉ có cách phải bắn cọp thôi. Bắn nó ta sẽ có mọi thứ …
*
* *
Từ bao đời nay các chúa tể sơn lâm thích sống độc thân, cho dù là đực hay cái. Chỉ đến mùa giao hoan chúng mới tìm đến ghép đôi tình tự. Qua mùa ấy “anh đi đàng anh, tôi đàng tôi”, chúng lại về xứ sở của mình hẹn tái ngộ mùa sau. Rừng vùng Krông Đóa có con cọp đực chắc đã sống nhiều mùa rẫy lắm rồi nên to như con bò mộng. Thỉnh thoảng khi mùa khô tới, vào buổi chiều tà, nó lững thững đi dạo trên đồi cỏ gianh đã cháy rụi. Đứng dưới buôn nhìn lên thấy nó oai vệ làm sao. Con cọp ấy là niềm tự hào của buôn Krông Đóa. Thỉnh thoảng nó về xua đuổi bọn heo, nai… không cho phá hoa màu, rồi đi; có khi một tháng, có khi hơn mới quay lại. Có lẽ tại thú rừng nhiều hay còn vì một điều gì đó ẩn chứa bên trong nên nó không bao giờ quấy nhiếu cái buôn nhỏ bé này. Lâu lâu không thấy nó về người dân ở đây cảm thấy nhớ như thiếu đi một cái gì đó. Còn khi nó về cũng làm nhiều người dựng tóc gáy, đứng tim vì sự ngịch ngợm hay tò mò của “Ông ”.
Mới mấy tháng trước có người ra suối câu cá, mãi câu không để ý xung quanh, cho đến lúc chiều tà định đứng dậy ra về mới té xỉu cái rầm khi thấy “Ông” ngồi chổm hổm phía bên kia suối xem câu cá từ lúc nảo lúc nào. Con suối đâu có rộng gì, chỉ khoảng bốn sải tay là cùng; nhưng vì ông đứng cuối gió nên không biết.
Lại một lần khác, cả buôn đi săn trọn ngày không gặp con gì. Khi ông mặt trời sắp đi ngủ mới lếch thếch kéo nhau về. Bầy chó săn hớn hở chạy phía trước. Khi gần tới buôn, bầy chó quấn quýt chạy ngược trở lại luẩn quẫn dưới chân người; đuôi cặp sát đít, đầu ngẩng cao, tai dựng ngược, mắt nhìn nhớn nhác xung quanh, chỉ nghe dẫm cành cây khô gãy “rắc” cũng kêu “oẳng”, ngã dúi dụi vào chân người. Chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì người đi trước ngã khụyu xuống, miệng ú ơ nói không thành tiếng. Mấy người đi sau rùng mình, mồ hôi vã ra như tắm khi thấy “Ông” ngồi chổm hổm trên tảng đá ngay cạnh lối rẽ vào buôn; qua lần đó bầy chó sợ bỏ ăn đến cả tuần.
Có một buổi tối người đàn bà nhà ở đầu buôn dỗ mãi mà con không chịu ăn, bực quá chị ta dọa con: “mày có ăn không tao cho Ông này!” Vừa nói chị vừa cầm tô cơm chìa ra ngoài của sổ. Và như có phép thần, ai đó giành  luôn tô cơm đưa đi, chị giật mình nhìn qua cửa sổ dưới ánh trăng “Ông ” ngồi chổm hổm ở đó từ lúc nào, chân trước cầm tô cơm đung đưa, đung đưa dưới ánh trăng. Chị chủ nhà sợ quá ngã lăn quay đập đầu vào xoong canh vang lên tiếng “keng” khiến “Ông” giật mình làm rơi tô cơm đến “xoảng” một cái rồi vươn vai chạy biến. Ông chồng ngồi bên bếp không hiểu đầu đuôi ra sao, tưởng vợ trúng gió, chạy lại định lôi vợ dậy, nghe tiếng chén vỡ mới ngoái ra nhìn thấy “Ông” đang chạy.
Những câu chuyện về “Ông” thật nhiều, nhưng không thể ngăn cản người ta ao ước làm giáu, đổi đời. Biết là phạm luật nhưng mối lợi lớn quá làm sao bỏ cho được. Y Đhinh càng nghĩ càng tức và cái bụng muốn bắn lắm. Khi chiều “Ông” mới đủng đỉnh đi qua triền đồi về phía suối lớn, khu rừng cấm. “Rừng cấm”, vùng đất đã trở thành một quy ước không thành văn bản của buôn, nhưng ai cũng tuân theo là không chặt phá cây cối và đốt cỏ tranh. Nơi con suối chảy qua bỗng dưng phình to lên, có đám sậy mọc um tùm chừng một hét ta được bao bọc ba phía bằng những quả đồi cỏ tranh, thỉnh thoảng mới có cây Kơ nia gốc to bằng vòng tay người ôm, tạo nên quang cảnh thoáng đảng làm chỗ cho heo, nai đầm, nằm ngủ và cũng là nơi dừng chân của “Ông”.
*
**
Y Đhinh uống hết chai rượu, đốt hết cả gói “Địa cầu” vẫn không sao ngủ được. Ngôi nhà sàn ba gian như rộng đến mênh mông. Con vợ vô tâm đã ôm con ngủ như kéo bễ lò rèn. Hắn không ngủ được và lòng tham trỗi dậy. Cây súng AR16 với hai chục viên đạn đủ cho buổi săn quyết định đổi đời.
Màn đêm dày đặc. Trên cao, những vì sao li ti nhỏ bé như những con mắt nhìn hắn trách móc. Kệ! Hắn khoác bình ắc quy lên vai, đầu đội đèn rồi vớ khẩu súng bước xuống cầu thang nhẹ như con mèo. Hắn lầm lủi đi ra khỏi buôn một đoạn thật xa mới dám bật đèn soi đường vào rừng cấm.
Với rừng già ai mà đoán được cái chữ “nhưng” đầy bất ngờ ấy; khi đèn bật lên quét về phía trước thì bắt gặp hai đốm lửa đỏ, phát ra những tia sáng lạnh lẽo, và mấy giây sau chỉ còn một đốm. Hắn rùng mình, bủn rủn cả người khi nhận ra đó là “Ông”. Nhưng rồi những đồng tiền, những cây vàng lấp loáng hiện ra trong đầu: ta sẽ giáu có, trời giúp ta đây. Hắn run run nâng súng lên…
Trong đời hắn bắn giết đã nhiều. Mới mười sáu tuổi theo quân đội Cộng hòa làm biệt kích. Chế độ tan, hắn chạy vào rừng theo Fulro. Khổ quá chịu không nỗi, sau hơn hai năm ở rừng, hắn về đầu thú. Cái quảng đời binh nghiệp hơn chục năm trời, hắn bắn mọi thứ mà người ta bảo hắn bắn, chưa trật bao giờ. Hôm nay cũng vậy, với điểm bắn khoảng hai chục mét làm sao trượt được!
- Đoàng!
- H … ừ … m!
Tiếng súng nổ dội vào núi rừng chưa dứt thì liền ngay đó là tiếng gấm khủng khiếp của “Ông” làm núi rừng rung chuyển. Người trong buôn chòng tỉnh giấc, nháo nhào thức dậy, giá trẻ lớn bé rồng rắn kéo nhau về nhà ông buôn trưởng, trên tay người nào cũng cầm bó đuốc cháy rừng rực. Ông buôn trưởng tay cầm đuốc, tay cầm cây xà gạc dẫn đầu đoàn người như một con rồng lửa đi như chạy về phía tiếng súng, miệng gào lên:
- H … ú! H … ú! H…ú!
   Mặc mọi người lên tiếng, phía trước vẫn im lặng, cái im lặng khủng khiếp của tử thần báo hiệu điều gì đó ghê rợn đã và đang xãy ra. Đúng vậy! Khi mọi người đến nơi tiếng súng nổ, một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt: Y Đhinh nằm ngửa, một mắt mở trợn trừng, còn con mắt bên phải cùng với nửa mặt đã bị văng đi, để lại một đống thịt lầy nhầy. Cây súng bị nghiền nát phần nhựa với cả cánh tay bị xé rời.
Tuy giận kẻ trái ý buôn gây tội với thần linh nên chuốc phải tai họa, nhưng người ta không thể không mang hắn về mai táng theo nghi lễ của dân tộc. Song có điều lạ, chiều hôm trước chôn hắn thì sáng hôm sau xác  hắn đã bị móc lên phơi trên mặt đất làm mối cho quạ và kiến. Sự trừng phạt của chúa sơn lâm thật khủng khiếp. Ba lần chôn hắn là ba lần “Ông” về lôi xác hắn lên. Ông buôn trưởng phải vận động dân buôn chôn hắn lần thứ tư khi da thịt đã rữa, và mang rượu thịt ra mồ cúng thêm ba ngày ba đêm liên tục. Nhờ vậy, mồ hắn không bị đào lên lần nữa; nhưng cũng từ đó cái buôn nhỏ bé dưới chân dãy núi Krông Đóa không bao giờ còn thấy “Ông” trở về nữa.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017 tác giả NGUYỄN THỊ THU HỒNG

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)
 
CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU Ở ĐỒN BIÊN PHÒNG
CỬA KHẨU ĐẮK RUÊ
Bút ký

 
“Chiều biên giới anh thầm nhớ về,
Nơi em đó bộn bề,
Bao nỗi nhớ tha thiết,
Hỡi anh có biết những lời em thương…”
Đoàn chúng tôi đến thăm Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê vào một buổi chiều tháng 3 Tây Nguyên. Tháng 3 của mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước… Tháng 3 Tây Nguyên luôn chan chứa đầy khát vọng, hứa hẹn và tình yêu… Tháng 3 trên Biên giới cũng vậy.
“Anh em ở trong đồn rất yêu văn nghệ, đặc biệt là những khúc hát dân ca và ca khúc cách mạng, trong đó thích nhất là được nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tha thiết, sâu lắng…”, Đại úy Trần Ngọc Kiên - Phó đồn trưởng vừa rót nước trà, vừa tươi cười giải thích cho chúng tôi hiểu vì sao khi đoàn vừa đến đã được nghe những câu hát ngọt ngào, da diết của dân ca Quan họ Bắc Ninh qua bài “Lời thương ta ngỏ cùng nhau”. Thiếu tá Lưu Minh Hưng - Chính trị viên phó giải thích thêm: “Tình yêu với những khúc hát dân ca và các ca khúc cách mạng khiến cán bộ và chiến sĩ trong đồn có tinh thần lạc quan, vui vẻ, khí thế hơn hẳn. Dù nhiệm vụ có lúc khó khăn, vất vả, dù phải chịu cái nắng, gió khắc nghiệt của biên giới trong những ngày mùa khô Tây Nguyên nhưng chỉ cần nghe những giai điệu quen thuộc cất lên mọi sự khó khăn, gian nan, vất vả đều tan biến. Thậm chí chỉ cần nghĩ và hát lẩm nhẩm vài câu ca quen thuộc cũng khiến tinh thần của chúng tôi phấn chấn… Đó là tình yêu của chúng tôi trên biên giới này đấy các anh chị ạ.” Anh Hưng kết thúc phần giải thích của mình bằng một câu hết sức lãng mạn nhưng dường như ở câu nói ấy lại chứa đựng sức mạnh của riêng mình và của tất cả các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê. Có lẽ là vậy. Ở đâu có tình yêu, ở đó sẽ có sức mạnh và sức mạnh đó chiến thắng tất cả.
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi tiếp xúc với cán bộ và chiến sĩ trong đồn là luôn thấy nụ cười thường trực trên những khuôn mặt sạm đen, dù đó là đồng chí cán bộ chỉ huy đang ngồi mải mê với những kế hoạch, báo cáo hay là chiến sĩ đang vội vã lau những giọt mồ hôi trong cái nắng nóng hầm hập khi đang làm nhiệm vụ. Họ vui vẻ kể cho chúng tôi nghe về công việc hàng ngày của mình. Nào là tuần tra, kiểm soát trên biên giới, có khi phải ăn, ở, ngủ với rừng cả đêm, bị muỗi rừng bủa vây khắp người… nhưng vậy thì đã sao khi tôi nhìn thấy sự lạc quan, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống trong mỗi đôi mắt, nụ cười, trong mỗi câu chuyện kể gian khổ của họ.
Trao đổi với chúng tôi Thiếu tá Lưu Minh Hưng cho biết: Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1975 với tên gọi tiền thân là Đồn Đá Bằng. Sở dĩ ban đầu Đồn được đặt tên là Đồn Đá Bằng là bởi vì tại đây có rất nhiều hòn đá xanh lớn; những viên đá này rất đẹp và bằng phẳng nên những cán bộ chiến sĩ đầu tiên của đơn vị đã đặt luôn tên là Đồn Đá Bằng.
Đến năm 2013, Đồn được đổi tên thành Đồn Đắk Ruê cho phù hợp với tên gọi của người dân địa phương. Khuôn viên của Đồn rộng hơn 6 ha, với cán bộ chiến sĩ đa số còn rất trẻ, làm nhiệm vụ bảo vệ 8,3 km chủ quyền Biên giới với 01 cột mốc chính mang số hiệu 42 giáp ranh với nước bạn Campuchia. Nhìn vẻ mặt hào hứng, phấn khởi của anh khi giới thiệu về Đồn của mình, chúng tôi cảm nhận được tình cảm thật ấm áp, gần gũi… đúng như câu khẩu hiệu của các anh “Đồn là nhà, biên giới là quê hương…”.
Trở lại với tình yêu của cán bộ, chiến sĩ trong Đồn, anh Hưng cho biết: Anh em trong Đồn rất nhiệt tình, tích cực với các hoạt động phong trào, nhất là các hoạt động phong trào nhân ái trên địa bàn xã Ea Bung, nơi Đồn đóng quân. “Đó cũng là tình yêu lớn của anh em chúng tôi đấy các anh chị ạ” – anh Hưng bỗng nhiên đổi giọng kể hào hứng kèm theo nụ cười tươi rói và nhấn mạnh câu nói khiến chúng tôi cũng phải bất ngờ. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Đồn cũng xác định tuyên truyền, vận động anh em hăng hái tổ chức các hoạt động “tương thân tương ái”, nhân rộng các mô hình tiên tiến, điển hình, những việc làm hay, gương chiến sĩ tốt coi như một cách thiết thực nhất thực hiện việc Học tập và làm theo gương Bác trong đơn vị. Cụ thể, từ tháng 3 năm 2016, Đồn đã vận động anh em cán bộ đóng góp để có số tiền năm trăm ngàn đồng mỗi tháng phụng dưỡng mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Liễu, 95 tuổi. Ngoài ra, hàng tháng Đồn đã cử quân y đến thăm khám sức khỏe cho mẹ, động viên mẹ mỗi lúc đau ốm, giúp đỡ gia đình mẹ khi có công việc cần.
Thấy hoàn cảnh đáng thương của bà Nguyễn Thị Sửu, thôn 4 xã Ea Bung, một mình phải nuôi hai cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ, từ tháng 10.2015 cán bộ trong đơn vị đã quyết định xây dựng “Hũ gạo tình thương”, hàng ngày chiến sĩ xuất gạo bớt lại một phần để mỗi tháng được 15 kg gạo giúp đỡ bà nuôi cháu.
Tiếp tục phát huy và nhân rộng mô hình này, đơn vị đã thực hiện chương trình “Nâng bước em đến trường” với mong muốn giúp đỡ các cháu học sinh nghèo học giỏi, Đồn đã nhận giúp đỡ, hỗ trợ hai cháu ở thôn 4 và thôn 7 học hết lớp 12, với số tiền năm trăm ngàn đồng mỗi tháng cho mỗi cháu, đó là cháu Nguyễn Tiến Đạt lớp 6a - cháu bà Sửu, Bùi Lan Anh lớp 8. Đây cũng là số tiền được trích từ đóng góp hàng tháng của cán bộ đơn vị.
Tiêu biểu trong hoạt động này phải kể đến tấm gương của Thượng tá Nguyễn Hữu Phúc là cán bộ Biên phòng tỉnh được tăng cường về công tác tại xã Ea Bung từ năm 2014. Trên cương vị là Đảng ủy viên, Bí thư chi bộ thôn 9, xã Ea Bung, từ năm 2015 đến nay, anh đã tự vận động, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các mạnh thường quân hảo tâm trên địa bàn huyện hỗ trợ được bảy 77 chiếc xe đạp tặng cho 77 cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong xã nhằm giúp đường đến trường của các em ngắn hơn. Đáng kể hơn, trong số đó, có những chiếc xe đạp đã cũ, đã bị hư hỏng, anh Phúc tự mua đồ về sửa chữa, phục hồi lại cho nó thành chiếc xe đạp đẹp và tốt để tặng lại cho các cháu. Đây là việc làm hết sức nhân văn và ý nghĩa đối với các cháu học sinh vùng biên giới. Việc làm của anh đã được nhân dân ghi nhận, được đơn vị đề nghị các cấp khen thưởng, tuy nhiên anh đã khiêm tốn từ chối. Bởi đối với anh “Giấy khen trong lòng nhân dân mới là quan trọng”.
Quả đúng là như vậy. Với mỗi cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê, tình quân dân luôn được các anh quan tâm, chú trọng; giữa quân và dân có mối quan hệ gắn bó thân thiết; nhân dân được các anh coi như những người thân trong một nhà. Mặc dù từ đơn vị đến địa bàn xã cách khoảng 50 km nhưng những người được đơn vị phân công phụ trách địa bàn xã không quản ngại đường sá xa xôi, không ngại mưa nắng, bất cứ khi nào nhân dân cần sự giúp đỡ và được tổ chức phân công các anh đều sẵn sàng đến với nhân dân, chia sẻ, giúp đỡ nhân dân. Cán bộ chiến sĩ trong đơn vị đã đăng ký các công việc cụ thể giúp đỡ nhân dân, trong đó phải kể đến vai trò của Đội vận động quần chúng và cá nhân anh Vũ Văn Tín. Đội phó đội công tác. Trong 12 năm công tác tại Đồn, cùng với các thành viên trong đội phối hợp với chính quyền địa phương, anh đã luôn có mặt tại các thôn trên địa bàn xã Ea Bung để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Bên cạnh đó, các anh còn giúp đỡ nhân dân xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo như mô hình thử nghiệm “trồng thanh long ruột đỏ” của gia đình ông Đỗ Xuân Dương thôn 5, bước đầu đã cho thu hoạch và mang lại giá trị kinh tế cao; mô hình “nuôi cá nước ngọt” của hộ ông Dương Văn Minh, thôn 7, xã Ea Bung chỉ với 0,3 ha diện tích mặt hồ đã cho thu hoạch hàng chục triệu đồng mỗi năm; mô hình “Nuôi chim bồ câu Pháp” của hộ ông Phan Thanh Phương, thôn 2, xã Ea Bung với 5 cặp chim giống ban đầu (trong đó có 2 cặp chim giống do anh em trong Đội hỗ trợ), đến nay ông đã xuất bán được số lượng lớn vừa chim giống, vừa chim thịt. Từ năm 2015 đến nay, ước tính số tiền thu về từ việc nuôi chim đã được vài chục triệu đồng. Sắp tới, anh Tín cùng với chính quyền địa phương xã Ea Bung sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình canh tác và chăn nuôi này đến các hộ dân trên địa bàn xã. Không chỉ vậy, anh còn tham mưu với cán bộ chỉ huy Đồn tổ chức xây dựng chương trình “Thắp sáng đường quê” trích 6 triệu đồng từ quỹ vốn của đơn vị để làm đường điện thắp sáng tại thôn 1 và thôn 2 xã Ea Bung khi anh biết đây là hai thôn cửa ngõ của huyện, có diễn biến phức tạp về tình hình an ninh. Nhờ đó, xã Ea Bung được huyện đánh giá là xã phát triển về kinh tế - văn hóa - xã hội, ổn định về chính trị - an ninh - quốc phòng.
“Đó là tình quân dân, là tình cảm của cán bộ chiến sĩ với đồng bào của mình. Vậy còn quan hệ giữa đơn vị ta với đơn vị bạn, với Đồn biên phòng Ô Rô của nước bạn Campuchia thì sao”? Tôi hỏi anh Hưng.
Hàng tháng, hai đơn vị chúng tôi có tổ chức giao ban định kỳ để trao đổi tình hình có liên quân đến bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới; hàng quý thì tổ chức tuần tra, kiểm tra cột mốc đường biên giới. Hai đơn vị luôn giữ gìn và phát huy truyền thống gắn bó, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau từ trước tới nay. Những việc làm giúp đỡ giữa hai Đồn tuy nhỏ nhưng thể hiện tình cảm, tình bạn láng giềng đoàn kết, gắn bó keo sơn, lâu bền của hai nước Việt Nam và Campuchia nói chung, giữa Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê và Đồn Ô Rô nói riêng. Vào dịp lễ tết, ngày truyền thống của Đồn, chúng tôi đều mời đơn vị bạn sang giao lưu văn hóa văn nghệ rất vui vẻ”. Anh Hưng cho biết.
“Tình yêu trên biên giới của chúng tôi chỉ đơn giản có vậy thôi”, Đại úy Trần Ngọc Kiên - Phó đồn trưởng kết thúc câu chuyện giữa chúng tôi bằng một câu nói thật ngắn gọn, nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng ở đó chứa đựng biết bao là tình. Tình yêu của người lính là vậy đấy “đơn sơ mà ấm nồng” như trong câu hát. Và tình yêu của người lính trên biên giới này theo cảm nhận của riêng tôi còn có gì đó rất đặc biệt “Không chỉ đơn sơ, không chỉ ấm nồng mà nó còn trong sáng và mãnh liệt vô cùng” như nắng gió, như đất như rừng nơi đây, như những câu hát dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng.
Đến với các anh vào một buổi chiều và giờ đây đoàn chúng tôi cũng chia tay các anh khi ánh hoàng hôn biên giới đã bắt đầu gọi. Một cảm giác thật kỳ lạ và khó tả khi ở đâu có vang lên câu hát “Chiều biên giới em ơi có nơi nào xanh hơn như chồi non cỏ biếc, như rừng cây của lá, như tình yêu đôi ta…”.
Những tình yêu trên biên giới và trên Đồn Biên phòng Đắk Ruê thật đẹp!

    Tháng 3 năm 2017




GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017 tác giả TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)

MỘT LẦN THĂM ĐỒN BIÊN PHÒNG SÊ RÊ PỐK
                                              
  Ký

  

Một ngày cuối tháng 2/2017, trong không khí se lạnh khác lạ của mùa xuân Tây Nguyên, đoàn văn nghệ sỹ - Hội văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk - được chiếc xe biển số đỏ của Bộ đội Biên phòng tỉnh chở đi thực tế sáng tác tại các đồn biên phòng nơi biên giới Tây Nam của Tổ quốc.
Rừng lá chín
Theo Quốc lộ 14 hướng Buôn Ma Thuột đi thành phố Hồ Chí Minh đến ngã ba Đắk Min, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi rẽ phải vào Quốc lộ 14C. Từ đây, rừng như những quân đoàn trùng trùng, điệp điệp vây chiếc xe chúng tôi vào giữa, còn chiếc xe như chiến sĩ quả cảm mở đường cứ phăng phăng lao lên phía trước. Cả tuyến dài hàng trăm km toàn rừng là rừng. Có lẽ, đến với Tây Nguyên phải đi biên giới, phải đến thăm các đồn biên phòng thì mới thấy, mới biết thế nào là rừng và cái khái niệm đại ngàn nó bao la, bí ẩn như thế nào.
Có nhiều loại rừng, nhiều loại cây khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là rừng khộp. Cái kỳ lạ của rừng khộp là cứ cuối đông, đầu xuân, toàn bộ lá rừng chuyển vàng rực, rồi chuyển sang màu đỏ, cuối cùng rụng hết. Khi ấy, rừng chỉ còn lại những thân cây trụi lá, những cành cây gầy, khô chĩa lên không trung như triệu triệu bàn tay của ma quỷ vạch lên bầu trời những vết bầm như than oán dưới cái nắng đổ lửa miền biên giới.
Thượng tá Đỗ Quang Thẩm, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh, người hướng dẫn đoàn cho biết: Năm nay khí hậu thay đổi khác lạ hoàn toàn, nên đi trong mùa này vẫn thấy rừng còn đầy lá vàng, lá đỏ, gọi là rừng lá chín như thế đấy. Những năm trước, vào cuối tháng 2 như thế này thì chỉ còn những thân cây trơ trụi...

Đồn Sê Rê Pốk
Tôi may mắn được phân công cùng nhạc sĩ Mạnh Trí lưu lại tại đồn Sê Rê Pốk. Đây là đơn vị đã đạt danh hiệu Quyết thắng, là lá cờ đầu trong các phong trào thi đua yêu nước của Bộ đội Biên phòng tỉnh năm 2016. Là nơi phong cảnh hữu tình nhất, có núi có sông, có cột mốc biên giới 44 và 45, có di tích lịch sử Bến phà sông Sê Rê Pốk...
Đồn Biên phòng Sê Rê Pốk nằm cách dòng sông cùng tên hơn một ki lô mét, thuộc địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Đồn có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường biên giới dài 12,2 km, phía bắc tiếp giáp với đồn Yok M’bre, phía nam tiếp giáp với đồn Bo Heng, phía tây tiếp giáp với xã Sơ Re Hui, huyện Cô Nhéc, tỉnh Mul Đul Ki Ri, Vương quốc Căm Pu Chia.
Sau bữa cơm trưa thân mật cùng các chiến sĩ, tôi và nhạc sĩ Mạnh Trí được hai chiến sĩ đưa đi thăm cột mốc 44, cột mốc đôi 45, cầu Sê Rê Pốk… Đặc biệt là thăm Bến phà Sê Rê Pốk, di tích lịch sử và thắp hương tại nhà tưởng niệm 71 chiến sĩ đã hy sinh tại khu vực này. Ngay trong đêm, nhạc sĩ Mạnh Trí đã ôm đàn ghi ta thể hiện hai bài hát mà chỉ qua một buổi chiều đi dạo, cảm xúc trào dâng thành tác phẩm đã khiến cán bộ, chiến sỹ đồn biên phòng say mê. Nhạc sĩ hát, chiến sĩ hát, tất cả cùng hát… khiến đêm bịn rịn kéo dài mãi.
Có tiếng kẻng báo thức, nhìn đồng hồ 4h30, rồi tiếng một hai, một hai đều đặn của các chiến sĩ tập thể dục buổi sáng kéo tôi dậy. Có nhiều việc cần phải làm, tôi phải đến tận nơi các địa điểm chiều hôm qua đã đến, cần phải có thời gian một mình trải nghiệm. Bến phà sông Sê Rê Pốk, cột mốc biên giới, sông Sê Rê Pốk, suối Đắk Đam, Sông Mê Kông… Những điều trước đây chỉ nghe qua báo đài và trong giấc mơ, trong ao ước một lần đặt chân đến thì giờ đây chúng đang hiện hữu ở rất gần. Tôi nhanh chóng thực hiện công việc cá nhân buổi sáng rồi báo cho Trực ban biết là tôi xin phép ra khỏi đồn và đi bộ đến những nơi mà tôi tha thiết ấy.
Bình minh trên sông Sê Rê Pốk.
Lội bộ khoảng hơn cây số, giữa những tán rừng lá vàng, lá đỏ, giữa buổi sớm trong lành, giữa hàng trăm tiếng chim đủ các loại. Tiếng dòng sông trầm hùng, đùng đục như ở bên cạnh. Tôi lên cầu Sê Rê Pốk. Cây cầu bê tông dài 175 mét, rộng 8 mét thuộc Quốc lộ 14C. Nhìn từ xa, chiếc cầu như một pháo đài màu trắng bắc ngang qua dòng sông bàng bạc đang sôi sục réo gào. Pháo đài ấy càng trở nên uy nghi giữa bầu trời xam xám đang sáng dần lên từ phía đông, nơi mặt trời nhỏ nhẹ đang nhích dần lên trên những vòm lá làm cho cảnh rừng, cảnh sông nơi đây thêm màu sắc hùng vĩ. 
Phía dưới, dòng Sê Rê pốk căng tràn sức lực đang chảy ngược, cuồn cuộn đổ về phía biên giới Cămpuchia. Thỉnh thoảng, giữa dòng có những ghềnh đá thoắt ẩn, thoắt hiện khiến dòng nước như con giao long khổng lồ bị chặn ngang cổ, quằn quại xoáy tròn, đôi lúc ùng ục, sục sôi phát ra những tiếng ầm ào như tiếng của một ngọn thác, lúc thì rào rào, rào rào dài bất tận.
Bình minh càng trở nên sống động. Mặt trời xuất hiện từ nơi đầu nguồn con sông. Nhìn từ biên giới, mặt trời như có vẻ bé hơn khi quan sát ở những nơi khác. Cũng có thể là do nó xuất hiện dưới tận những chân rừng xa lắc rồi leo dần trên đầu của rừng lá chín như cách ví von của Thượng tá Đỗ Quang Thẩm nói về cảnh rừng trước đó nên nó mới nhỏ nhẻ, khiêm tốn như vậy! Có tiếng cá quẫy giữa dòng nước. Rồi những cái sống lưng đen trũi lấp ló. Một đàn cá lăng rất lớn đang chào đón bình minh. Những quầng nước lớn cuồn cuộn loang ra thành hàng trăm vòng tròn to nhỏ, rồi nhanh chóng biến mất vào dòng nước đang đổ về phía tây ấy.
Sát đầu cầu bên phải, khi nhìn về hướng đông, rừng nguyên sinh như một đám mây lớn sầm sầm lao thẳng xuống mép sông. Nơi tôi đứng có nhiều cây kơ nia to lớn như những gã lực điền cởi trần trùng trục phơi tấm thân cường tráng hứng lấy tất cả cái không khí ban mai mát rười rượi. Có cây đã chết, da bong tróc, những lớp vỏ lâu ngày bị mối mục rã ra từng mảng lớn. Còn thân cây vẫn đang bị một dây leo to như bắp đùi tráng sĩ quấn quanh từ gốc lên ngọn. Nhìn thật gần vẫn tưởng nó đang bị một con chằn tinh to lớn siết chặt đến chết mà vẫn không chịu buông tha.
Bến phà Sê Rê Pốk
Bờ bên trái đa phần là rừng tre nứa. Những cây tre dài quá khổ và cong đều như một thế trận cạm bẫy. Nó có thể bật dậy nhanh mạnh như một cây ná bắn đi những mũi tên nguy hiểm. Gần sát mép nước, nổi bật là một cây săng lẻ, lá nhỏ như những đồng xu màu cam vàng rực, nghiêng về phía mặt nước, nửa như cô gái soi gương, nửa nhìn có hình thù như cánh buồm màu vàng no gió đang lao nhanh về phía bến phà.
Tôi quay trở về hướng đồn và rẽ trái đi khoảng 1,5 km để xuống bến phà. Cách bến phà khoảng 150 mét là nhà Bia ghi danh 71 liệt sĩ đã hy sinh nơi đây, mà hôm qua chúng tôi đã có dịp thắp hương. Đường xuống bến phà rộng khoảng 12 mét. Nói là đường nhưng thực tế nó chỉ còn là dấu tích được thể hiện rõ nhờ hai bên bờ là vách núi được bộ đội đào hạ độ cao xuống khoảng hơn 3 mét và thấp dần xuống mép nước.
Tôi tìm khắp xem mình có thấy kỷ vật, dấu vết của những đoàn quân năm xưa không nhưng không còn gì sót lại. Chỉ có một cái xăm ô tô đã rách nằm giữa dốc. Một trụ sắt chữ I lớn cắm sâu sát bờ sông còn ló lên khoảng nửa mét. Đây có lẽ là dấu hiệu sống động nhất của những chuyến phà đã neo đậu tại trụ sắt này. Bờ bên kia là rừng tre nứa. Những cây tre nằm phủ phục như những ba-ri-e chắn hết lối lên xuống bến phà như thầm bảo: Hết chiến tranh rồi, bến phà không hoạt động nữa… Và tre, nứa lại như muốn dấu kín một trang oanh liệt, một quá khứ bi hùng diễn ra nơi đây mà không muốn khơi gợi lại.
Mặt trời đã lên khá cao. Sau những quãng đường lội bộ và tìm kiếm, người tôi đang như sôi lên. Khát! Khát khô cổ, còn mồ hôi thì nhễ nhại. Đã quá! Sướng quá! Lâu lắm rồi có bao giờ mồ hôi tự chảy tràn ra mặt như thế này đâu. Sung sướng quá, tôi đang mơ đóng lại cảnh vất vả của cha, anh ngày trước, cắm mặt xuống dòng nước mát và tu ừng ực. Nước ngày xưa chắc trong và không ô nhiễm như bây giờ, nhưng mặc kệ. Tôi cứ nuốt, sướng quá, mát quá!
Điện thoại reo, tiếng Đồn trưởng gọi hỏi:
- Anh ở chỗ nào, về ăn sáng. 
- Mình đang ở bến phà. Anh em cứ ăn trước đi.
Đang ngồi sát mép nước, ném những vốc cát vào dòng chảy và không biết những hạt cát ấy rồi sẽ dừng lại ở chốn nào thì có tiếng xe máy. Một chiến sĩ ra đón tôi về…
Cán bộ và các chiến sĩ đã ăn sáng xong, tỏa đi mỗi người mỗi hướng. Mâm cơm với những thịt cá và rau do các chiến sĩ trong đồn tự chăm, nuôi nhanh chóng cho tôi hồi phục sức khỏe. Tôi phải tiếp tục đi, phải lên cột mốc đôi, phải đi hơn 5 km, tuy hơi xa nhưng tôi từ chối việc đi xe máy do các chiến sĩ chở để thực sự sống trong cái cảm giác vất vả của những chiến sĩ đang công tác nơi đây.
Cột mốc đôi - cột mốc 45
Đồn 743 có nhiệm vụ bảo vệ 2 cột mốc 44 và 45. Cột mốc 44 ở gần hơn, cách khoảng 1 km và ở một vị trí khá thoáng đãng nên tôi chọn hướng cột mốc 45 để tìm cảm hứng. Theo Đại úy Nguyễn Đức Nam, Phó đồn trưởng hôm trước đã giới thiệu: Do vị trí địa lý nơi đây có dòng Sê Rê Pốk đi qua nên chọn giữa dòng sông làm biên giới chung. Chính vì vậy, phải đặt hai cột mốc đối diện hai bên bờ sông và có tên gọi cột mốc đôi là vậy.
Trời đã nắng gắt, Đại úy Nam cho tôi mượn mũ của anh để đỡ nắng. Tôi từ chối, song nghĩ lại tôi đã cầm mũ và đến trưa trở về, tôi mới biết giá trị của chiếc mũ này. Ra khỏi đồn, tôi nhanh chóng trang bị thêm cho mình một chiếc gậy bằng cây le khô. Có cây gậy trong tay, tôi tự tin mình có thể là Võ Tòng thứ 2 nếu rừng có cọp. Lên đến giữa cầu, tôi gặp chiếc xe bán tải chở nhà thơ Hữu Chỉnh (tác giả bài hát nổi tiếng Nghe câu quan họ trên cao nguyên) và nhà thơ Lê Đình Liệu. Họ đang dừng để hai nhà thơ tìm cảm hứng và sẽ lại lên đường nên tôi tiếp tục hành trình của riêng mình.
Qua khỏi cầu Sê Rê Pốc khoảng 500 m, tôi rẽ phải theo đường mòn mà các chiến sĩ hay đi tuần tra cột mốc. Con đường đất đỏ uốn lượn dưới tán rừng khộp. Tôi vừa bước vừa nương vào cây gậy cầm tay. Mắt tôi căng ra nhìn tứ hướng đề phòng có thú rừng. Vậy mà đôi lúc cũng phải giật nảy người, toát mồ hôi vì những lá khộp to lớn rơi xuống như là lính nhảy dù vừa tiếp đất bên cạnh.
Rồi tôi cũng đến được nơi cần đến, cho dù chân mỏi rã rời và cái đầu gối củ lạc đôi lúc như muốn tự rơi ra. Tại cột mốc 45 này có nhiều điểm thú vị. Trước cột mốc là 3 cây kơ nia rất lớn, trong đó hai cây lớn hơn đứng giữa thành hai trụ cổng uy nghi để đi vào cột mốc. Chếch về bên trái khoảng gần 100 mét, một quần thể có đến chục cây  kơ nia to lớn trấn giữ, khiến cảnh trí nơi cột mốc này có điều gì đó trầm mặc, trang nghiêm và huyền bí. Đứng tại đây nhìn sang bên kia bờ sông khá xa, chỉ thấy cột mốc bên đó nhỏ xíu, bên cạnh là một cây cổ thụ to lớn, màu trắng, tròn lẳn, thẳng tắp và cao hơn 30 mét, rất ấn tượng và dễ nhớ.
Ngồi bên cột mốc một lúc với những cảm xúc rất kỳ lạ. Một điều gì đó thiêng liêng khiến trái tim nơi ngực trái tôi nhoi nhói… Gia đình tôi, anh, em, bạn bè… vợ và các con tôi dẫu có tưởng tượng cũng không thể tin, tôi đang một mình bên cột mốc đôi và chỉ cách một con sông là nước bạn Cămpuchia.
Ngã ba sông - suối hẹn hò
Không nhớ là tôi ngồi bên cột mốc bao lâu, bỗng nghe thoảng trong gió như có tiếng nước chảy, tôi đứng dậy cắt rừng đi khám phá. Con đường đưa tôi tới một doi đất sát mép sông như kiểu mũi tàu. Cây gậy Trường Sơn mà tôi cầm theo tỏ ra cực kỳ lợi hại. Tôi cắm cây gậy xuống nước và đu mình nhướng mắt ra khỏi những tán lá cuối cùng để nhìn về phía xuôi dòng, và phát hiện ra một điều kỳ thú… Ngã ba sông và suối gặp nhau tại nơi đây.
Trước mặt tôi không phải một con sông mà là hai con sông được ngăn cách bởi một cù lao đang thắt nhỏ dần về phía tây. Bên cạnh là sông Sê Rê Pốk, còn bên kia cù lao là con sông còn lớn hơn. Trên dòng sông ấy phía xa xa, nhiều chiếc thuyền thả neo giữa sông, thấy cả những ngư dân đang thả lưới. Hai con sông chạy tiếp sức một đoạn ngắn rồi hòa vào nhau làm một. Quay lưng lại và ngay trước mắt tôi là suối Đắk Đam trong vắt. Ở nơi nó hòa vào sông Sê Rê Pốk lòng suối khá rộng, nước chảy hiền hòa. Luồng nước trắng đục mà tôi phát hiện lúc trước chính là nơi suối Đắk Đam hòa vào dòng Sê Rê Pốk tạo thành hai dòng trong – đục trước khi chảy vào lãnh thổ Cam Pu Chia, đổ vào sông Mê Kông.
Thật không hẹn hò mà thành hò hẹn, tôi đã thật sự may mắn khi tự mình phát hiện ra cái ngã ba kỳ thú này.
 Hành khúc giữa rừng lá đỏ
Ngay chiều hôm đó, chiếc xe của Bộ đội Biên phòng tỉnh quay lại đón chúng tôi trở về. Tôi chọn ngồi ghế trước gần bác tài để có dịp quan sát con đường và cảnh rừng lá đỏ. Giữa những cánh rừng bạt ngàn đó, vẫn thấy thấp thoáng bóng những chiến sĩ lặng lẽ tuần tra, lòng tôi dạt dào xúc cảm. Những ý thơ xuất hiện trong đầu và khi tôi viết xong bài viết này đưa cho nhạc sĩ Mạnh Trí, sau một thời gian ngắn, nhạc sỹ thông báo đã hoàn thành ca khúc cùng tên, phổ thơ của tôi.
Tạm biệt biên giới, tạm biệt các chiến sĩ Đồn biên phòng Sê Rê Pốk… Hy vọng sẽ có ngày tôi trở lại. Được cùng ăn, cùng ở, được hò hát, được theo các chiến sĩ tuần tra… được nếm vị mặn của mồ hôi gian khổ, được nghe tiếng hát của rừng, tiếng rộn rã chảy ngược của dòng sông Sê Rê Pốk quê hương. Tất cả như bản trường ca bất hủ sẽ sống mãi trong lòng các chiến sĩ, trong lòng tôi và những ai có may mắn được đến nơi này dù chỉ một lần trong đời, sẽ chẳng bao giờ quên được!

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

KINH HOÀNG ĐÊM SRÊPOK!

Bác cháu tôi ngày tết năm 2012

Bút ký của HỒNG CHIẾN
Tit! Tít! Tít!...
Tôi giật mình chồm dậy cầm điện thoại trả lời: Alô, nhưng đôi mắt cứ trĩu xuống. Hồi chiều vui bạn bè có hơi quá ly một chút nên về ngủ quên cả mắc màn, ai lại gọi mình lúc nửa đêm thế này không biết. Đầu máy bên kia có tiếng nói đứt quãng: “Cháu đi xuống Thành phố trên chuyến xe vừa bị tai nạn ở cầu 14 anh ạ, nghe nói bị thương nhiều lắm!”. Như cái máy tôi bật dậy trả lời: “Để anh qua bệnh viện tỉnh xem thế nào”. Bao nhiêu hơi men bay đi đâu mất cả, tôi vơ vội chiếc áo khoác, liếc nhìn đồng hồ, kim giờ đã đi qua số 12 một chút. Lao xe vào sân bệnh viện, khu vực cấp cứu cửa mở toang, không có bảo vệ, chỉ có sáu người đứng thành hai hàng nơi cửa, tay đeo găng. Tôi hỏi:
-         Các anh ơi, nghe có vụ tai nạn xe ở cầu 14 đã đưa bệnh nhân về chưa ạ!
-         Xe sắp về rồi đấy, bác tránh đường để xe vào.
Tôi vội vàng đưa xe qua khu vực gửi rồi chạy lại cửa khu vực cấp cứu đứng đợi. Một lát sau, tiếng còi xe cảnh sát rú ầm ĩ, một chiêc mô tô cảnh sát giao thông lao vụt đến dừng lại ngay bên cạnh cổng, phía sau một xe cứu thương bật còi ưu tiên, lao thẳng vào sân. Cửa xe bật mở, các y bác sĩ bệnh viện hối hả lao ra xe đưa bệnh nhân vào phòng cấp cứu. Tôi chạy theo xem mặt từng bệnh nhân; người máu me đầy mặt, người cười sằng sặc lại có người kêu khóc thảm thiết... Xe cứu thương nối đuôi nhau đổ về, phút chốc hai phòng cấp cứu đầy ắp bệnh nhân, một số người đến sau phải để tạm ở hành lang bệnh viện. Bác sĩ tất bật kiểm tra, tất bật chuyền tay ghi chép và lại hối hả chuyển sang phòng mổ. Người nhà bệnh nhân cũng ùa đến, nhiều tiếng nức nở vang lên. Bên hành lang, hai sĩ quan công an đang tranh thủ hỏi một thanh niên nằm trên cáng, cánh tay gãy mới được nẹp tạm.
Tôi không nhớ rõ đã bao nhiêu xe cứu thương chạy về, chắc phải hơn chục xe thì phải. Trong số người bị nạn không thấy cháu tôi. Tôi chạy ra sân hỏi bác tài xế cứu thương vừa chuyển hết bệnh nhân: “Anh ơi, có còn xe nào nữa không?” “Còn một chiếc cuối cùng chở một người nữa thôi, còn chết hết rồi anh ạ!” Bác tài vừa dứt lời, xe mô tô cảnh sát lại rú còi và đỗ ngay trước cổng, theo sau một xe cứu thương cũng dừng lại một lát, một số người ùa ra cổng; chiếc xe bổng nhiên lăn bánh, không vào phòng cấp cứu nữa. Tôi hỏi anh bác sĩ đứng bên cạnh: “Sao xe không vào, chạy đi đâu vậy?” “Bệnh nhân chết rồi, xe đưa luôn ra nhà xác.”
Tôi lao qua sân bệnh viện chạy xuống nhà xác, mới đến cửa đã có người nắm lấy áo tôi giật lại: “Không có cháu ở đây anh ạ, ta xuống cầu thôi!” Quay lại thấy em tôi tay vẫn cầm khư khư chiếc mũ bảo hiểm, khuôn mặt bơ phờ, vô hồn; không biết nó chạy xe máy từ nhà lên bệnh viện gần 70 km thế nào mà nhanh thế. “Chú chờ anh ở đây để anh vào lấy xe đưa đi.” “Đi taxi cho nhanh anh ạ!” “Đi xe anh; chứ xuống đó kẹt xe làm sao taxi đi được?” Tôi chạy qua lấy được xe quay lại thì không thấy chú em đâu cả, đoán nó đã đi taxi, nên định tăng ga chạy theo. Điện thoại lại reo, tiếng cô em dâu nghèn nghẹn: “Thấy cháu chưa anh?” “Không có cháu ở bệnh viện, chú ấy đã lên đây rồi, đang đi xuống cầu 14. Thím ở đâu?” “Em và mấy anh chị đang đi ô tô của cậu lên”. “Mọi chuyện không may đã xảy ra rồi, chắc mọi người phải chấp nhận tình huống xấu nhất xảy ra đấy; cố lên!” Tôi nói dứt câu thì hình như nghe tiếng điện thoại rơi thì phải.
Gần đến cầu Srêpok, người đổ về đông đặc, một cảnh sát giao thông ra hiệu cho tôi dừng xe rồi nói: “Chú đi tác nghiệp ạ! Đường đông người lắm không chạy xe vào được đâu.” “Mình có người cháu đi trên chuyến xe này, cho gửi xe nhé”. Tôi dựng xe bên cạnh chiếc ô tô cảnh sát rồi vội vã đi theo người sĩ quan cảnh sát giao thông mang quân hàm Trung tá nhưng không kịp đọc tên anh ta. Người sĩ quan đi cùng nói với tôi: “Hành khách chết nhiều lắm anh ạ!” Tôi bước đi như người say, miệng đắng chát và không thể trả lời nỗi. Đến đầu cầu 14, phía bên trái đường, thấy hai hàng chiếu xếp đầy xác người làm tôi hoa mắt suýt khụy xuống. Lại có người giật áo tôi: “Không có cháu ở đây đâu anh!” Quay lại thấy em tôi tay vẫn khư khư ôm chiếc mũ bảo hiểm, khuôn mặt thẩn thờ. Tôi bảo: “Chú về bệnh viện kiểm tra lại xem sao”. “Dạ!” Em tôi lại tất bật rẽ người lao đi. Tôi quay lại hỏi anh sĩ quan cảnh sát đi cùng: “Dưới xe bị tai nạn còn ai nữa không?” “Còn ba nạn nhân kẹt trong xe chưa lấy ra được!” Tôi thập thững len chân qua dòng thác người đến đầu cầu xi măng làm từ thời Pháp, tựa lưng vào thành cầu nhìn lên mặt cầu Mới, nơi tai nạn xảy ra. Cách đầu cầu độ chục mét về phía thành phố Buôn Ma Thuột, lan can cầu còn nguyên; nhưng tiếp theo khoảng 20 mét toàn bộ lan can đã mất hẳn, giống như có ai đó vừa nhấc vứt đi. Dưới gầm cầu chiếc xe ô tô màu đỏ chổng hai bánh lên trời, còn đầu xe và hai bánh trước chìm xuống nước. Bên cạnh xe rất đông người đang xúm vào chặt, cuốc vỏ xe. Người mặc áo có nẹp dạ quang (chắc là nhân viên cứu hộ), người mang sắc phục công an, và nhiều người chỉ mặc độc chiếc quần đùi vẫn mãi mê: lôi, kéo, chèn xe... Trên thành cầu hai chiếc cần cẩu thả ròng rọc xuống móc xe bị nạn, ánh đèn pin, đèn điện loang loáng soi xuống mép sông cạnh chiếc xe bị nạn.
Bỗng ánh đèn Falas trên thành cầu chớp liên tục, tôi ngước lên thấy một cô phóng viên mặc sắc phục cảnh sát giao thông cùng hai đồng nghiệp mặc đồ an ninh đang tác nghiệp; phía bên phải, bốn người cảnh sát giao thông cố lôi hai người phụ nữ đang lăn xả trên mặt cầu, gào thét: “Anh ơi, sao lại bỏ em!” Đám đông người dân đổ xô lại kéo hai người phụ nữ ra; lại thấy một người đàn ông đổ sụp xuống mặt cầu gào lên: “Con ơi!” Công an, nhân dân đang đứng trên cầu lại phải vất vả lắm mới lôi được ông ta ra khỏi mép cầu đổ đưa vào phía sau. Hai đầu cầu người đứng đông kín, nhiều người còn len cả vào hai chiếc xe cứu hỏa đứng án ngữ hai đầu cầu.
Dưới gầm cầu, đầu xe bị nạn hình như vừa được xe cần cẩu kéo lên khỏi mặt nước, tiếng cưa, tiếng chặt thép chói tai vang lên. Một lúc sau mấy người cứu hộ đưa được xác nạn nhân ra khỏi xe, đặt vào cáng có sáu người mặc áo sọc dạ quang khênh lên. Xe bị nạn rơi phía tây cầu mới, nhưng dòng người cứu hộ phải khênh qua gầm cầu mới rồi đi xiên xiên lên đầu cầu xi măng xây từ thời Pháp, nay đã bỏ hoang. Hai hàng người, hầu hết còn trai tráng, chắc là người dân xung quang khu vực cầu, đứng thành hai hàng từ mặt cầu xuống đến gầm cầu mới cùng giang tay làm chỗ vịn cho những người khiêng nạn nhân lên. Đường dốc gần như dựng đứng, họ phải nắm tay nhau mới đưa nạn nhân lên được mặt đường. Nhẹ nhàng đặt xác nạn nhân xuống bên phải đường có hai hàng chiếu trải sẵn, cả sáu người cùng bê nạn nhân đặt vào chiếu rồi vội vã xách cáng quay lại dưới chân cầu. Bốn sĩ quan công an xúm lại, người soi đèn, người ghi chép, người lục túi nạn nhân lấy bót xem giấy tờ. Tôi giật cây đèn pin của một người cảnh sát soi vào mặt nạn nhân nhưng không thể nhận ra hình giáng vì khuôn mặt chỉ còn một nửa. Quay lại soi chiếc ví nơi túi sau nạn nhân vừa được người công an lôi ra tấm chứng minh nhân dân, anh ta bảo: “Nơi sinh tỉnh Thái Bình!” Thẻ chứng minh nhòe máu và nước chảy nhỏ giọt. Tôi trả lại đèn và nói không thành tiếng: “Không phải cháu tôi!”
Bên đầu cầu cũ, người dân vẫn chen nhau đứng, mắt dõi xuống lòng sông nơi chiếc xe bị tai nạn bẹp dúm dó đang được những người cứu hộ phá ra để lấy xác nạn nhân. Tiếng một người bên cạnh tôi kể: “Vừa lên giường nằm được một tý, bỗng nghe một tiếng nổ rất to phía cầu, cả nhà tôi chạy túa ra đầu cầu thì nghe dưới gầm cầu có tiếng khóc, tiếng kêu la thảm thiết lắm. Trời tối không thấy gì, mấy người chạy về, nhà nào có gì thì mang theo cái ấy: đèn pin, cuốc chim, dao, xà beng... Không ai bảo ai, các hộ hai bên đầu cầu chạy xuống chỗ xe bị nạn phá xe cứu người. Cứ nghe tiếng kêu khóc ở phía nào là cố phá phía ấy mang người ra”.  Quả thật, những người tham gia cứu hộ dưới mép sông vẫn có người mặc độc chiếc quần lót. Đã quá nửa đêm, gió trên sông bắt đầu thổi mạnh, người trên bờ đã phải mặc áo ấm, vậy mà... có lẽ chỉ vì tình người, vì lương tâm, họ quên đi cả cái lạnh giá, cố mang nốt những xác người còn mắc lại trong xe lên bờ.
Lại một xác người nữa được đưa lên. Ánh đèn pin loang loáng mở đường, soi rõ những khuôn mặt đang tham gia cứu nạn, mặt ai cũng đăm chiêu, đau xót. Họ lại níu tay nhau, chuyền tay nhau để kéo những người khênh cáng lên mặt đường. Tôi chạy theo lại thấy mấy người bê cái xác ướt đẫm, máu và nước chảy thành dòng trên mặt chiếu. Cái xác nhàu nhĩ, tóc dài quá vai, tôi thẩn thờ nói với mấy người cảnh sát: “Phụ nữ, không phải cháu tôi.” Ai đó kiếm đâu được nắm hương đốt lên, cắm xuống phía dưới chân người chết ngay mép đường.
Tôi lại ra đầu cầu dõi mắt nhìn xuống chiếc xe bị nạn đang được cần cẩu nâng đầu xe lên. Người ta lại xúm nhau cưa, xẻ chiếc xe dúm dó. Tiếng mấy người phụ nữ bàn tán: “Có mấy đứa trẻ độ ba bốn tuổi gì đấy may mắn chỉ gãy tay, gãy chân thôi”. “Què tay què chân còn may mắn cái nỗi gì!” “Bà này nói lạ, từ thành cầu xuống đến mép sông thế kia sâu phải hơn hai chục mét lại toàn đá mà không chết mới lạ chứ. Bị thương là phúc đức lắm rồi.”  “Nếu bình thường đứng trên cầu nhìn xác xe cũng phải chóng mặt chứ nói gì ngồi trên chiếc xe bị rơi xuống đó”. Ai đó chép miệng góp lời. Trên mặt cả hai cây cầu, người đứng xem cứu hộ vẫn đông đặc. Dưới mép sông, những người cứu hộ và công an vẫn tất bật làm việc. Một lúc sau cái xác cuối cùng cũng được đặt vào cáng khiêng lên bờ. Tôi lại chạy theo cầm đèn cho mấy anh công an soi vào khuôn mặt người bị nạn đã bị biến dạng, đầu bị ép bẹp, không nhận dạng được. Một người cảnh sát móc túi ngực người bị nạn lôi ra chiếc bót màu vàng dày cộm, lần rút ra tấm bằng lái xe, anh ta kêu lên: “Đây là tài xế!”. Tôi quay sang hỏi người cảnh sát đứng cạnh: “Nạn nhân ở đây, ngoài số được đưa lên bệnh viện tỉnh còn đưa đi đâu nữa không?”. “Lúc đầu người dân đưa được một số người bị thương qua Bệnh viện huyện Cư Jut cấp cứu, nhưng sau đó đã chuyển hết về bệnh viện tỉnh Dak Lak rồi.” Tôi quay lại chỗ để xe nói với mấy người cảnh sát giao thông: “Không thấy cháu đâu cả, cho mình qua bệnh viện Cư Yut xem sao”. Tôi chạy xe qua cầu, xuống bệnh viện huyện, người giữ xe bệnh viện vẫn ngồi uống nước trà; tôi dựng xe, không kịp lấy vé và cũng không nói năng gì lao vào phòng trực: “Cô ơi, mấy người bị tai nạn trên cầu 14 có còn ai ở đây không ạ!” “Dạ, chuyển hết về bệnh viện tỉnh rồi, chỉ còn một người để lại thôi”. “Nạn nhân nằm ở đâu ạ?” “Dưới nhà xác, bác theo tôi!”. Người trực đưa tôi đến cửa phòng bảo vệ gọi ông ta dậy mở cửa nhà xác, tôi bước vào và chạy lại ôm chầm lấy xác cháu. Nó vẫn nằm như đang ngủ, thanh thản lạ lùng. Vâng, cháu tôi đây, người thanh niên cao gần bằng tôi, mười bảy tuổi học vừa xong lớp 11; thế mà mỗi lần bác về vẫn chạy lại ôm cổ đòi cõng xem cháu có nặng thêm cân nào không; lại nữa vừa chủ nhật tuần rồi mang lên biếu bác qủa mít vườn nhà mới chín; bác bận nhậu, cháu không chịu về vì... bác chưa thơm cháu; mấy anh chị ngồi nhậu trêu: lớn sắp lấy vợ rồi còn đòi bác thơm. Nhưng em vẫn là cháu bác, em anh chị mà – cháu trả lời. Mới có mấy ngày xa cháu thôi mà giờ cháu tôi thế này đây...
Tiếng ai đó vọng lại: “Cháu là một trong những nạn nhân được đưa vào đây cấp cứu đầu tiên nhưng bị gãy cổ nên không thể cứu được”. Một lúc sau có người vỗ vai tôi: “Bác là người nhà nạn nhân phải không? Xin phép cho chuyển nạn nhân lên bệnh viện tỉnh Dak Lak.” Tôi quay lại thấy ba người mặc quân phục, trên ve áo mang phù hiệu quân y nên đứng lên. Người mang quân hàm trung úy nói: “Bác là người nhà nâng đầu đưa anh ấy ra xe.” Tôi như cái máy vòng hai bàn tay xuống gáy cháu nâng lên. Hình như máu còn chưa đông, đọng thành vũng và tay tôi chạm vào một vết lõm sau gáy.

Xe cứu thương quân đội đưa cháu tôi vào nhà xác bệnh viện Đa khoa tỉnh Dak Lak, khênh xuống đặt lên nền nhà có trải chiếu để sẵn. Một nhân viên bệnh viện đặt lên ngực cháu con số 34. Ba mươi tư xác người trong một vụ tai nạn để xếp thành hàng trên nền nhà. Tiếng khóc, tiếng nỉ non của thân nhân những người bị nạn tạo nên một không khí tang tóc đến khủng khiếp. Có lẽ vụ tai nạn trên cầu 14 bắc qua sông Srêpok, quốc lộ 14 đêm 17 tháng 5 năm 2012 vừa qua tại địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột là tai nạn thảm khốc nhất, khủng khiếp nhât mà cho đến bây giờ tôi từng được biết!

EA H'LEO truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN NGHỆ PHÚ YÊN SỐ: 215 tháng 5 năm 2017



M’tao(1) H’Leo cai quản cả vùng đất rộng lớn phía bắc cao nguyên Đắk Lắk, đất đai màu mỡ lại được Yang(2) ban ơn mưa thuận gió hòa, cuộc sống mọi người no đủ. Mùa mưa, lũ đàn bà con gái kéo nhau đi gieo trồng, thu hoạch lương thực chất ngay trên kho dựng ngoài rẫy, khi nào cần lên gùi về ăn, không ai lấy nhầm của ai bao giờ. Cánh đàn ông mùa khô dọn cây, đốt cỏ chuẩn bị đất chờ mưa xuống cho phụ nữ gieo trồng; thời gian rảnh rỗi kéo nhau vào rừng săn bắt thú về ăn và uống rượu. Cá ở sông suối nhiều lắm, ai muốn ăn bao nhiêu, ăn loại cá gì mang rổ ra bắt về ăn… Cuộc sống thanh bình cứ vậy trôi qua, người dân các buôn sống với nhau hòa thuận như anh em một nhà.
M’tao H’Leo sống tròn năm chục mùa rẫy, người lực lưỡng, tóc xoăn, mặt vuông chữ điền, có đôi mắt sáng luôn nhìn thẳng vào người đối diện. Có lẽ nhờ đẹp trai nên được ami H’Leo bắt về làm chồng và nối nghiệp luôn chức M’tao của ama(3) vợ truyền lại. Gần ba chục năm làm M’tao, ama H’Leo dẫn dắt người dân trong vùng chiến thắng tất cả các cuộc xâm lược của các thế lực xung quanh, đảm bảo sự bình yên cho mọi gia đình. Nhà nào lúa, bắp cũng đầy kho; trâu, bò, heo, gà… đầy gầm sàn; người buôn xa buôn gần ai ai cũng kính trọng M’tao, sẵn sàng làm tất cả vì M’tao không đắn đo cân nhắc khi được yêu cầu.
Vợ chồng M’tao H’Leo sinh được duy nhất một người con gái có khuôn mặt như mặt trăng rằm, mắt lá răm, tóc mượt mà dài chấm gót, nước da màu bánh mật; khi cất tiếng hát chim chóc cũng phải nín thở lắng nghe. Năm con gái tròn mười sáu tuổi cũng là năm M’tao tổ chức sinh nhật lần thứ năm mươi của mình nên kết hợp mở hội bắt chồng cho con. Mười hai chàng trai con của mười hai M’tao khắp các vụng lân cận từ xứ Triệu Voi đến vùng đất Chùa Tháp xa xôi lũ lượt kéo đến thi tài, lấy vợ. Sau mười một ngày các hoàng tử thi tài bắn cung, phóng lao, đấu võ… có ba người M’tao H’Leo ưng ý nhất chưa biết chọn người nào nên hỏi ý kiến vợ. Vợ M’tao là người phúc hậu, khi nghe chồng nói vậy liền đề nghị cho hỏi ý con gái. Chiều ngày thứ mười hai, nàng H’Leo mặc bộ quần áo truyền thống đẹp nhất của người Ê đê ngồi bên cạnh M’tao và ami, hai bên có mười hai M’tao cùng con trai của họ ngồi thưởng thức rượu cần cất đã mười năm trong ché túc, ché ba. Khi mọi người còn đang say sưa thưởng thức các bài chiêng gọi Yang, ngắm ánh mặt trời vàng rực buông xuống các mái nhà dài những ánh hào quang cuối cùng tạo nên bức tranh kỳ vĩ của đất trời.
Bỗng có tiếng gầm khủng khiếp vang lên cùng lúc một con hổ lớn như con trâu mộng bay qua đám người ngồi ngoài cùng vồ một cô gái xinh đẹp phía trong chạy biến vào rừng. Người đánh chiêng làm rơi dùi, người vít cần rượu làm gãy cần, quân lính đứng phía ngoài giáo mác rơi lúc nào không biết. Các M’tao và hoàng tử ngồi trên cao tóc tai dựng ngược cả lên, mặt người nào cũng chuyển từ màu đỏ qua màu lá chuối. Sau phút bàng hoàng, M’tao H’Leo ra lệnh cho quân lính đốt đuốc, thúc voi lần theo dấu vết của con hổ dữ.
*
*   *
Từ xưa đến nay, vùng đất này từng có rất nhiều hổ báo, nhưng chúng chỉ lang thang trong rừng sâu, ít có con dám bén mảng đến bắt trâu, bò, heo, gà của người trong buôn. Hễ con nào xâm phạm liền bị trai tráng đuổi theo, truy bắt bằng được; vì thế hàng chục năm mới có một con đến sinh chuyện, vậy mà… Con hổ xuất hiện hôm nay quá lạ, nó lớn gấp ba bốn lần những con hổ to nhất từng thấy ở xứ này và lạ hơn dám xông vào nơi đang tổ chức lễ hội để bắt người. Nó ở đâu đến mà hung giữ như thế?
Sau một đêm, hơn trăm thớt voi, hàng ngàn trai tráng dàn hàng ngang từ bờ sông lớn đến chân núi cao truy lùng, mãi khi bình minh lên mọi người mới tìm được xác thiếu nữ xấu số đưa về an táng. Chiều đến, lại nghe tiếng hổ gầm bên bờ sông, bọn phụ nữ hớt hải chạy về, có người quên cả mặc váy, ú ớ chỉ về bến nước; con hổ xuất hiện bắt đi một thiếu nữ đang tắm. Đội quân đông đảo của các M’tao rầm rập lao vào rừng, tạo thành một vòng tròn lớn vây cả cánh rừng, quyết giết cho được con thú dữ. Nửa đêm, vòng vây khép dần lại, ánh đuốc rực sáng soi rõ từng gốc cây, mỏm đá, giáo mác lăm lăm trong tay sẵn sàng đâm chết ác thú. Trong đám cây lúp xúp rộng chừng hai gian nhà, cao hơn đầu người một chút có dấu vết ác thú đi vào, chưa có dấu ra; chắc nó đang nằm trong ấy. Trong khi mọi người đinh ninh sẽ bắt được ác thú thì… nó gầm lên một tiếng làm chim chóc đang ngủ giật mình bay táo tác, bầy voi hung hăng là vậy cũng hoảng hốt tháo lui, con hổ vươn mình như bay qua đầu ba hàng quân lính cầm đuốc sáng rực, thoát ra ngoài.
Sáng hôm sau, M’tao H’Leo ra lệnh đánh trống lớn, tiếng trống rền vang như tiếng sấm, vọng đến tận các đỉnh núi cao, len qua các hẻm núi sâu đến tận các buôn làng xa xôi… hiệu lệnh chiến tranh. Trai tráng trong vùng, người thúc voi, người cỡi ngựa, người chạy bộ trên mình mang cung tên, gươm giáo… rầm rập tiến về nhà M’tao. Trước mười hai M’tao và hơn chục ngàn quân lính, M’tao H’Leo chặt đầu gà cúng tế Yang rồi tuyên bố: Ai bắt hoặc giết chết ác thú sẽ được H’Leo bắt làm chồng. Cả rừng người hò hét hưởng ứng, chia nhau vào rừng.
Lạ thay, ngày nào các hoàng tử cũng gặp ác thú, nhưng thay vì giết được nó thì ngược lại quân lính của họ người bị chết, người bị thương lên đến cả chục. Sau một tuần, các M’tao lần lượt dẫn con đến chào M’tao H’Leo xin về, chấp nhận thua cuộc. Trong khi ấy ngày nào ác thú cũng ra bến nước rình bắt những cô gái xinh đẹp, chưa chồng ăn thịt. Buôn của M’tao H’Leo con gái không dám bước xuống chân cầu thang, trẻ con không dám khóc, cánh đàn ông hậm hực lùng sục nát rừng vẫn không sao hạ được ác thú.

*
*   *
M’tao H’Leo cho mời các thầy cúng trong vùng về cầu xin Yang giúp đỡ. Sau ba ngày đêm cầu khấn, vị thầy cúng mù sống ẩn cư lâu năm trong dãy núi Chư Yang Sin phán:
-         Khi còn là thanh niên M’tao H’Leo đã phạm luật khi đi săn voi nên bây giờ Yang phạt.
-         Đây là hậu quả của việc ta làm từ thời còn thanh niên sao?
-         Thưa M’tao, đúng vậy!
-         Yang ơi!
M’tao đau đớn kêu lên và nhớ lại…
          Năm ấy chàng thanh niên trai tráng, khỏe mạnh mới mười tám mùa rẫy nhưng nổi tiếng khắp vùng về tài săn bắt voi. Cách săn bắt voi ngày ấy khác xa cách săn bắt voi sau này. Thời ấy cứ vào cuối tháng hai, đầu tháng ba hàng năm những người đàn ông khỏe mạnh, dũng cảm rủ nhau đi săn voi. Họ nhờ thầy cúng đi cùng đến vùng đất có bầy voi mới đi qua, làm lễ cầu xin Yang, nếu Yang đồng ý – theo phán quyết của thầy bói mọi người bắt tay vào việc. Công việc nặng nhọc nhất phải đào một cái hố sâu hai sải tay, rộng hai sải và dài bốn sải tay người lớn. Đất đào lên khiêng đi đổ cách xa ít nhất một trăm sải tay để voi không biết. Đào xong lấy cây tre lát ngang qua miệng hố rồi phủ lá cây lên trên. Khi làm xong hố bẫy, đoàn người lần theo dấu voi ăn, vượt lên trước chặn đầu, dùng chiêng, tù và, hò hét để bầy voi hoảng sợ chạy lại theo đường cũ. Một số người được phân công đứng sẵn trên các chạc cây dọc hai bên đường dự đoán voi sẽ chạy đến, khi chúng vừa chạy qua họ lại khua chiêng thổi tù và, dồn bầy voi phải chạy theo hướng đặt bẫy. Vì bị xua đuổi liên tục, bầy voi cố sức chạy và con nào không may lao vào đúng hố đào sẵn sẽ không cựa quậy gì được nữa. Lúc này đám thợ săn tổ chức đào một con hào nhằm vào phía hai chân trước con voi bị sập bẫy. Khi hào đào đến sát chân voi, một chàng trai nhanh nhẹn nhất được cử xuống, dùng dây chão làm bằng da trâu đực hong khô lựa chiều ném vào chân trái của voi cột lại. Trong luật tục đi săn voi của người Ê đê, cấm người đi săn ném dây cột chân phải của voi vì bàn chân phải của voi đã có lần dẫm chết một người đi săn khi ném vòng bắt nó. Nếu người thợ săn nào ném nhầm dây buộc vào chân phải sẽ tự mình xuống cởi trói cho voi và chịu phạt của cả buôn. Con voi đực, ngà mới dài hơn một gang tay, chắc chỉ khoảng chục tuổi. Nó hung dữ gào thét, lấy vòi đập lên mặt đất làm bụi bay mù mịt.
Hôm ấy Y Khoa – M’tao H’Leo bây giờ được mọi người tin cậy giao cho việc xuống hào ném dây cột chân voi. Nếu cột được chân voi xem như cuộc đi săn đã thắng lợi, con voi chắc chắn sẽ được thuần hóa thành công. Trong con hào chật hẹp, cuộn dây chão lớn gây nhiều khó khăn cho người thợ săn. Lần đầu ném trượt, lần thứ hai vẫn trượt, lần thứ ba vẫn như lần thứ nhất… Y Khoa thoáng ngạc nhiên tự trách mình sao hôm nay kém thế. Chín con voi mình đã từng ném dây và mỗi con chỉ cần một lần ném đã khuất phục được nó, còn hôm nay con thứ mười - sẽ là một nốt thắt chẵn chục trên chiếc dây thắt nốt(4) ghi lại chiến công của mình lại khó khăn đến thế. Y Khoa căng mắt nhìn, đợi khi voi đứng hai chân trước xuống, mới tung vòng dây quyết định… Oái ăm thay, tay vừa buông dây, con voi như có mắt ở bụng, nó co chân trái lên, chiếc dây chão quấn ngay vào chân phải con voi. Sau phút hoảng hốt, Y Khoa trấn tĩnh và quyết định vẫn giữ nguyên chiếc chão buộc chân phải, ráng sức giật mạnh, con voi giật mình co chân bị trói lên để thoát dây, chân trái đứng im. Chỉ đợi vậy Y Khoa tung đầu dây còn lại thắt chân trái con voi, kéo chéo qua chân phải, giữ chặt lại mới gỡ vòng  buộc chân phải con voi. Xong việc Y Khoa còn tự khen mình thông minh, xử lý nhanh tình huống khó khăn mà không ai biết được ngoài đất, trời và chính con voi bị bắt.
Thời gian trôi qua, ba mươi năm có lẻ vậy mà hôm nay Yang mới nhắc lại để trừng phạt mình; M’Tao hỏi thầy cúng:
-         Làm thế nào bây giờ?
-         Chỉ có một cách duy nhất để chuộc tội với Yang thôi ạ!
-         Cách gì?
-         Đó là, đó… là!
-         Là gì?
-         Xin M’tao thứ tội.
-         Ta cho phép.
-         Đưa H’Leo ra sông làm vật tế Yang.
-         Yang ơi!
M’tao hét lên, đứng bật dậy làm cả lũ thầy cúng cũng hoảng hốt sụp xuống lạy như tế sao. Ami H’Leo nấc lên một tiếng lăn ra đất bất tỉnh. H’Leo nghẹn ngào lay ami tỉnh lại rồi nói:
-         Nếu Yang đã muốn vậy con sẽ tự nguyện ra đi để cứu mọi người.
-         Không được, không thể làm như thế!
M’tao gầm lên, nhưng H’Leo bước đến bên M’tao cúi đầu thưa:
-         Yang đã muốn vậy ta phải chấp nhận thôi M’tao ạ. Con sẵn lòng đi nhưng xin M’tao làm cho con một việc.
-         Con nói đi!
-         Cho con xin ba ngọn giáo thật sắc có cán cao bằng mặt nước sông mang ra cắm ngay nơi con đứng tắm, thế thôi ạ.
M’tao ôm lấy con nước mắt chảy thành dòng trên gò má.

*
*   *
Mặt trời đỏ rực như hòn máu từ từ chui xuống nấp sau dãy núi xa xa phía tây. Lũ thầy cúng khua chiêng trống, nhảy múa như điên dại cầu khấn Yang và các thần linh. Hàng vạn con người cùng nức nở nhìn ngắm H’Leo – người con gái của M’tao đẹp như hoa pơ lang buổi sáng, thanh thản nhìn mọi người, nhìn đất trời lần cuối rồi cúi đầu chào M’tao, chào ami trước khi trút bỏ áo, yeng bước xuống dòng sông đang cuộn sóng gầm thét. H’Leo từ từ đi ra xa bờ, tới vùng nước có sóng vờn lên vai như bàn tay ami tắm rửa ngày nhỏ mới dừng lại quay mặt nhìn về phía M’tao rồi cất tiếng hát. Làn điệu ei rei(5) bay vút lên trời xanh làm tiếng chiêng trống ngừng khua, các thầy cúng ngừng nhảy chỉ còn lại tiếng ca ngân dài bay trên mặt sông rộng, lan tỏa qua các khu rừng. Đám người đông đúc trên bờ bỗng như bị phép lạ cùng lúc ngồi bệt xuống mặt đất, mắt nhìn như bị thôi miên về phía H’Leo.
-         H… ừ… m!
Tiếng gầm của ác thú nổi lên như tiếng sấm làm mọi người bật dậy, chồm tới vừa kịp chứng kiến cảnh hãi hùng: con hổ to lớn không biết từ đâu lao vọt ra như tên bắn, nhằm H’Leo bổ xuống. Một cột nước khổng lồ văng lên tận ngọn cây cổ thụ đứng bên sông, những hạt nước văng tung tóe khắp một vùng rộng lớn như có mưa rào. Khi những hạt nước ngừng rơi, mọi người sửng sốt nhìn chỗ H’Leo vừa đứng lúc nãy chỉ thấy con hổ dữ đang giãy giụa, máu nhuộm đỏ cả dòng sông. M’tao cùng quân lính của mình cũng nhảy xuống sông reo hò, kéo xác hổ vào bờ thấy trên ngực nó có ngọn giáo nhọn đâm trúng tim.
Mọi người hớt hải quay lại sông đi tìm H’Leo, nhưng dòng sông vẫn ầm ầm lao về phái tây, mặt sông đỏ lòm những máu lúc nãy giờ đã tan dần, trả lại một màu xanh lấp lánh ánh vàng dưới ánh sáng của cả hàng vạn ngọn đuốc đốt lên. Người ta xuôi theo sông, đến soi từng gốc cây kẽ đá hai bên bờ sông cả tháng trời nhưng vẫn không tìm thấy xác của H’Leo đâu cả. Có người bảo chắc dòng sông đã đưa người con gái hiền hậu, xinh đẹp đến một vùng đất rất xa để làm hoàng hậu một vương triều mới. Nhưng cũng có người thực tế hơn họ bảo nàng đã trở về với đất mẹ thân yêu. Còn lũ thầy cúng thì quả quyết: Cô ấy đã bay về cõi vĩnh hằng với Yang rồi!
Người dân trong vùng thương tiếc H’Leo quá mới cầu xin M’tao cho được gọi tên con sông nơi H’Leo mất tích là Ea(6) H’Leo. Tên gọi còn truyền đến tận bây giờ.

Tháng 7 năm 2016
Chú thích:
1.     M’tao: tù trưởng – tiếng Êđê;
2.     Yang: thần linh – tiếng Êđê;
3.     Ama: ba – tiếng Êđê;
4.     Dây thắt nốt - người thợ săn voi Êđê có tục lệ: khi săn bắt được một con voi thì dùng dây thắt một nút rồi treo lên vách, mọi người nhìn số nút thắt biết người đó đã săn được bao nhiêu con voi.
5.     Ei rei: là điệu dân ca của người Ê đê; 
6.     Ea: suối – tiếng Êđê.