Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

VÌ SAO BÀNG RỤNG LÁ truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN NGHỆ CẦN THƠ SỐ 93 THÁNG 7+8 NĂM 2017





Sáng chủ nhật, sân trường vắng tanh không một bóng người. Ông mặt trời ngái ngủ chui ra khỏi đám mây hồng ngó xuống trần gian, ban phát những tia nắng vàng ấm áp. Chị em nhà Sẻ nằm ngủ trên tổ xây sát mái ngói lớp học, thức giấc ngó nhìn xung quanh không thấy ai, vội vã bay lên nóc nhà đậu. Cả xóm nhỏ nhà Sẻ đã đứng sữi nắng ở đó từ lâu, nhiều bạn cùng tuổi với Sẻ Em còn xù lông cổ, lắc lắc cái đầu ra vẻ thích thú lắm. Sẻ Em quan sát cảnh vật xung quanh và giật mình thúc đầu vào chị kêu lên:
-         Ôi, tội nghiệp bàng quá chị ơi!
-         Sao, cây bàng làm sao?
-         Cây bàng to đùng đứng giữa sân trường kia kìa.
-         Ơ, có gì khác đâu mà em lại nói vậy?
-         Chị không thấy tất cả lá bàng đều đỏ rực lên đấy thôi.
Sẻ Chị giật mình nhìn kỹ thấy lá bàng hôm qua còn màu xanh thẫm, thế mà sau một đêm đã ngả sang màu đỏ hết cả. Lạ quá. Cây bàng to thế, cành lá nhiều là thế và chắc sống ở đây lâu lắm rồi, bây giờ lá bị hỏng hết thế này thì nguy to.
-         Ừ nhỉ, chắc là Cụ ấy ốm nặng rồi!
Sẻ Chị nghẹn ngào nói. Một cơn gió thổi vù qua cuốn theo hàng trăm chiếc lá bàng đỏ ném vào không gian. Cây bàng giơ những cánh tay run rẩy chống chọi với gió hình như đang cố níu kéo lại những chiếc lá của mình mà không được. Một cơn gió nữa lại ào ào chạy đến, giật thêm những chiếc trên cành ném lên không trung. Những chiếc lá bàng bay nghiêng ngả, có cái xoay tít, có cái lại lao đi như mấy cậu học sinh ném máy bay giấy giờ ra chơi. Chẳng bao lâu sân trường bị phủ một lớp lá bàng màu đỏ như được rải thãm. Sẻ Em đau xót kêu lên:
-         Ôi, Cây bàng chắc chết mất.
-         Chắc Cụ ấy ốm nặng lắm rồi.
Sẻ Chị góp lời, vừa lúc một cơn gió nữa lại ào ào chạy đến giật tiếp những lá bàng còn lại ném xuống mặt đất. Sẻ Em kêu lên:
-         Bà Gió ơi, sao lại giật hết lá của cụ Bàng đi thế?
-         À, ta giúp cây bàng đấy chứ.
Bà gió mỉm cười vút nhẹ lên đám lông mềm mại trên đầu sẻ em, trả lời rồi vội vã bay đi. Sẻ Chị, Sẻ Em ngạc nhiên lắm, không hiểu vì sao bà Gió lại nói là giúp cụ Bàng.
-         Cụ Bàng già quá rồi không nuôi nổi lá nữa nên nhờ bà Gió bứt hộ vứt đi đấy mà.
Một chú chim sẻ chắc cũng độ tuổi chị em nhà sẻ đang tắm nắng gần đấy quay lại góp chuyện, trên đầu cậu ta vẫn còn những sợi lông tơ vàng mềm mại chưa rụng hết. Sẻ Em ngạc nhiên hỏi:
-         Sao cậu biết cụ Bàng già?
-                     Nhìn cái gốc to đến hai cô cậu học sinh ôm không hết, ngọn cao ngang lớp học ba tầng, không già mới lạ chứ.
-                     Đâu phải cứ to cao là già!
Sẻ Chị không chịu vặn lại, chim Sẻ đứng bên khẳng định:
-         Cụ Bàng già nên mới rụng lá, quy luật của cuộc sống thôi mà.
-                     Chú sẻ này nói gần đúng, đến mùa lá một số loài cây phải rụng đó là quy luật của tạo hóa.
Bà Gió chắc chạy hết một vòng nên ào đến góp lời rồi lại bay vù đi, cả ba con chim sẻ vẫn thấy mọi chuyện rối tung lên, không hiểu nguyên nhân chính là gì. May quá, một bác Sẻ Già từ ngọn cây Kơ Nia bay lại, đậu xuống bên cạnh sẻ em bảo:
-                     Theo quy luật của tự nhiên cuối mùa thu, đầu mùa đông một số loài cây rụng hết lá để tránh rét; khi mùa xuân đến, khí trời âm áp cây cối sẽ đâm chồi nảy lộc có thêm những chiếc lá mới như con người thay áo vậy. Lá bàng rụng theo mùa là hiện tượng tự nhiên báo hiệu chuyển mùa, không phải tại cây đau ốm hay già nua đâu các cháu ạ.
-                     Ô, lạ quá!
Cả ba con chim sẻ nhỏ đồng thanh kêu lên, bác Sẻ già nở một nụ cười hiền lành, nói thêm:
-                     Cuộc sống quanh ta nhiều điều lý thú lắm, các cháu hãy quan sát và chịu khó suy ngẫm một chút sẽ hiểu được thôi.
-                     Cảm ơn bác!
Cả ba con chim sẻ cùng đáp lời rồi sải cánh bay lại đậu trên cành cây phượng, nghiêng đầu ngắm những chiếc lá bàng đỏ au rãi khắp sân trường như đang chiêm nghiệm điều gì đấy quan trọng lắm.

Mùa thu năm 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

PHẠM MINH TRỊ



HAI CÁ TÍNH HÒA TRONG MỘT NGƯỜI THƠ



Một người lúc nào cũng kè kè bên mình chiếc cặp da đen bóng to kềnh. Không hiểu bên trong đựng những thứ gì mà lúc nào cũng căng phồng. Chưa thấy người đã nghe tiếng. Khi nói cứ như lên đồng, nói liên tục không ngừng nghỉ cứ như sợ người nghe cắt ngang. Anh ta có thể ngồi hàng giờ huơ tay nói nhiều khi văng cả nước vào mặt người đối diện. Hể hả khi nói xong một điều nào đó chợt bần thần nghĩ. Rồi cẩn thận mở khóa cặp ra, chọn chọn một chút, cầm hai tay rất cung kính, một cuốn sách nào đó, mở ra hí hoáy viết. À thì ra, anh ta mới in một tập thơ, viết đề tặng bạn bè. Tóc lúc nào cũng mượt nhoáng, có lẽ bôi gôm. Ngồi một chút là sờ tay lên vuốt vuốt ý chừng xem tóc tai có còn nguyên nếp không đấy. Đi đâu cũng vậy, đặc biệt đi dự một buổi gặp mặt nào đó hay dự một hội nghị tổng kết, nhận giải thưởng… Anh ta nghiêm chỉnh lắm: Comle, caravat, giầy đen, xịt nước hoa. Nói vậy thôi chứ anh ta thật thà lắm, có điều gì anh ta cũng toang toác kể, kể bằng hết thì thôi, chuyện gì cũng kể không giữ kẽ. Chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện may, chuyện rủi thậm chí kể xong anh ta còn thề độc nữa: “Tao mà nói dối đứt lưỡi chết ngay, ra đường xe tông” hoặc : “Tao mà nói dối tao làm con mày”. Đó chính là nhà thơ Đỗ Toàn Diện quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa sinh ngày 6 tháng 5 năm 1957. Là hội viên của Hội văn học nghệ thuật Đắc Lắc. Và điều này nữa, rất mừng cho anh, anh đã được toại nguyện, thỏa nỗi khát khao, mong mỏi, đợi chờ từ lâu, anh vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (6/1/2017).
Muốn nói gì thì nói, bàn gì thì bàn, ý này, ý kia thế nào đi nữa thì thơ anh đã được khẳng định, đã đứng được trong lòng bạn đọc. Đương nhiên trong quá trình sáng tác ai mà chả vậy, quá trình ấy thường đi theo đồ thị hình Sin. Lúc gập ghềnh, khấp khểnh khi xuôi chèo mát mái. Anh bước vào con đường thơ từ thuở còn học sinh. Mất cha từ hồi còn nhỏ, đi đâu cũng bị bắt nạt. Nhiều lần như vậy, anh tự rút ra một kinh nghiệm ứng xử mà sau này nó dính chặt vào khó gỡ ra được. Đi đâu, tới đâu, anh cũng cố lên gân to tiếng trước, áp đảo đối phương, có vậy anh mới không bị bắt nạt. Thật khổ cho anh, anh đâu muốn thế, tâm hồn anh thực ra rất nhạy cảm nhiều khi yếu đuối. Anh sống thiên về tình cảm. Anh rất ghét sự áp chế. Anh nhìn đời với con mắt sắc sảo. Ngòi bút của anh không hề né tránh những hiện tượng tiêu cực diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội. Anh góp phần vào công cuộc chống tham nhũng bằng cách của mình: “Tôi nghe có mùi tham nhũng/ Phả ra từ miệng quan tham/ Tôi ngửi thấy mùi hối lộ/ Ngô nghê từ miệng kẻ phàm/ Buông lời thăm dò nông sâu/ Tham nhũng, hối lộ hiểu nhau/ Cán cân công lý xô lệch/ Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” (Mùi tham nhũng). Anh phát hiện ra cái bản chất của bọn tham nhũng cùng bầy hối lộ, hai đối tượng này hiểu nhau từ chân tơ kẽ tóc. Chỉ mấy câu ngắn gọn mà anh bắt chúng hiện ra rõ ràng từng nét, người đọc như tưởng bọn tham ô hối lộ đang đứng ngay trước mặt mình. Cái đáng quý trong mảng thơ phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội của anh là: Ẩn đằng sau những bực bội căm ghét, châm biến, giễu cợt là nỗi lòng thương cảm đối với đại đa số người dân. Một câu hỏi “Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” cứ xoáy sâu vào lòng người đọc hẳn nhiên là vậy nhưng nó còn xoáy mãi, xoáy mãi vào những người được dân trao cho quyền lực để bảo vệ công lý. Cái sự ngược đời có lẽ nhiều người thấy, nhiều người nhìn, nhiều người nghĩ, nhưng ít ai viết như anh: “Đầy tớ thời này sướng như vua/ Muốn làm đầy tớ cũng phải mua/ Ngông nghênh một ghế ông chễm chệ/ Ngất nghểu trên ngai hưởng lộc chùa.” (Chuyện lạ). Người đọc thấy phảng phất giọng của cụ Tú ngày xưa. Hiện tượng  mua chức, bán quyền dưới cái nhìn của anh cũng không kém phần sắc bén: “Hiệu trưởng lắm nơi phải đấu thầu/ Nhiều chỉ, nhiều cây ắt nhiệm màu/ Đâu cần năng lực, đâu bằng cấp/ Có tiền, có chức ắt rung râu”. Anh không quanh co, chỉ thẳng tên, gọi đúng chỗ: “Hàng ngũ Đảng còn lắm kẻ mọt sâu/ Lợi dụng chức quyền lấn người vô tội”. Có người cho anh là kẻ ngang ngạnh, chuyên chọc gậy, móc máy, xỉa xói… đúng anh là vậy, nhưng cái móc máy, xỉa xói… ấy đúng lắm, có lý lắm. Ở đời làm sao có cái giống người bất hiếu với bậc sinh thành và nịnh bợ đến mức mất hết nhân cách như thế này: “Ngày giỗ  bố mình quên chẳng biết/ Bố người, tường tận lạch nông sâu/ Phong bì to, nhỏ dâng tha thiết/ Em nguyện suốt đời làm ngựa trâu”. Những kẻ ấy đúng là ngựa trâu thật sự. Những kẻ uốn gối dẻo như kẹo cao su, lưỡi miệng ngọt như mía lùi ấy là đối với cấp trên còn với người dân thì: “Cửa quyền hách dịch hành dân/ Công việc đi lại mươi lần chưa xong/ Thủ tục hành chính lòng thòng/ Như dây quấn cổ trăm vòng siết lôi”(Hành chính-hành dân là chính). Cái cổ của dân dễ quấn quá, bởi dưới dân còn ai nữa mà hành. Tệ nạn cửa quyền quan liêu là những dây xích trói dân, siết dân. Anh ước ao: “Hỏi bao giờ hết ách gông/ Bao giờ tháo cũi sổ lồng cho dân.”. Cái ao ước ấy chính là ao ước từ rất lâu rồi của mọi người. Nhân đây có một chuyện thật 100% không có chút xíu nào là bịa (vì anh đã thề nếu nói dối ra đường xe tông, đứt lưỡi). Đó là vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước, cán bộ công nhân viên đều có chế độ nghỉ phép, riêng giáo viên có chế độ phép hè. Anh là một giáo viên, một hôm đem giấy phép, vé xe, bảng kê khai đầy đủ cả, đưa vào cho kế toán của Phòng Giáo dục để thanh toán. Người vây quanh kế toán đông lắm. Từ ngoài cửa anh chen vào hỉ hả đưa cho kế toán các chứng từ đã chuẩn bị sẵn, nào ngờ, cô ta liếc qua bảo của anh không thanh toán được. Vì sao ? anh hét to. Vé giả – kế toán cũng chỏng lỏn đáp lại. Tính anh ương ngạnh, mỗi khi có chuyện là mặt tai đỏ cả lên, mắt phóng ra những tia giận dữ. Anh giở thói dân rừng: Á, à mày bảo vé giả hả, nghe đây cho rõ. Thốt nhiên có người to tiếng, nói năng văng mạng như chỗ không người. Tất cả im phăng phắc trố mắt nhìn anh. Dõng dạc anh thẳng người ngâm nga: “Ngày nay, làm đĩ lên bà…”. Ông trưởng phòng ở đâu đó hốt hoảng chạy vào kéo tuột anh ra ngoài và nhẹ nhàng bảo: Thầy cứ về đi, đưa giấy tờ đây cho tôi. Và thế là ngay ngày hôm sau anh nhận được đầy đủ số tiền thanh toán phép hè năm đó. Chẳng biết vé xe thật, giả ra sao? Sự việc có thể  nói là nhỏ, nhưng công dụng của câu thơ châm biếm, đả kích tức thì của anh phát huy hiệu quả ngay. Khốn khổ thế, nhiều khi người ta cứ tự cho mình một cái quyền, cái uy nào đó mà hão huyền rằng mình ở vị trí ấy là xứng đáng với mình  lắm, rồi sinh ra đủ thứ phiền phức. Nói về quan liêu, tham nhũng thì quá nhiều chuyện bởi vì thực sự nó đã trở thành giặc nội xâm rất nguy hiểm, trực tiếp hàng ngày, hàng giờ đe dọa sự tồn vong của chế độ và vận mệnh của quốc gia. Chính nó làm nghèo đất nước, kéo lùi sự tiến bộ, làm băng hoại đạo đức, khiến tâm hồn vẩn đục, ô nhiễm, sự bất công trong xã hội ngày càng gia tăng và quan trong hơn là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Chính phủ.
Anh không những lách ngòi bút của mình vào tệ quan liêu, tham nhũng vào những kẻ bán chức mua quyền, bất nhân bất nghĩa mà còn đưa ngòi bút của mình vào tệ nạn xã hội như chơi game, chát chít trên mạng… Tệ nạn này làm hư hỏng biết bao con trẻ: “Nào ngờ con chẳng học chăm/ Đua đòi game-chat nhố nhăng bỏ giờ/ Thân tàn, ma dại xác xơ/ Bỏ ăn… dứt bữa ngẩn ngơ cò gầy”. Đây chính là  lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những người làm cha, làm mẹ. Thói ăn theo, hùa theo dưới ngòi bút của anh nó sinh động hẳn lên, qua việc anh “Vịnh con chó”: “Chó vằn, chó vện, chó vàng/ Vào hùa với lũ chó khoang đốm đầu/ Suốt đời chỉ sủa gâu gâu/ Khom lưng, uốn gối, cúi đầu chủ sai.” Cái thứ người, loại người nào mà có tính ăn theo, hùa theo ắt nhiễm trong mình cái tính nịnh bợ đến mất tư cách như con chó mà anh đã giải phẫu ở trên. Thói dựa dẫm vào một cái quyền nào đó, một cái ghế nào đó, hoặc một ai đó cũng là một biến thể của sự cậy quyền thế để dậm dọa người khác, anh đã đóng dấu vào trán chúng nó: “Gần đèn thì bóng rất to/ Xa đèn thì bóng bị co rút vào/ Lắm người cái bóng to cao/ Nhưng óc lại nhỏ… bàn cào lại to” (Cái bóng). Thói lật lọng, dẻo mồm, dẻo miệng, hứa cho xong chuyện, anh cũng đưa vào thơ như một đối tượng cần phê phán, cảnh tỉnh: “Khi vay ngọn lưỡi có thần/ Đến khi trả, biến ân nhân thành thù”. Đây là một thực tế diễn ra hằng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ một việc nhổ răng đơn giản mà dưới ngòi bút của anh trở thành một bài học làm người rất đáng suy nghĩ: “Đã từng gang miệng bao người/ Nhổ đi những chiếc răng tồi, răng hư/ Những hàm trắng, sạch vô tư/ Suốt đời ai dám mó vô được cằm” (Nhổ răng). Thói rập khuôn, sáo rỗng cũng được anh đưa ra phê phán, giễu cợt, mỉa mai: “Chỉ chuyên bắt chước tiếng người/ Cũng uốn lưỡi, cũng học đòi ba hoa/ Mua vui lòng trẻ, lòng già/ Cả đời quanh quẩn trong ba tấc lồng” (Con vẹt). Anh cũng trăn trở với thơ hiện đại: “Thơ hiện đại đến nỗi/ Người đương thời chẳng nhớ nổi một câu/ Thử hỏi mai sau cháu, con còn nhớ!/ Đọc một câu thơ lắm khi ngộp thở/ Nghệ thuật ngôn từ như hũ nút đêm sâu”. Và băn khoăn day dứt: “Thơ sẽ đi đâu?/ Và thơ về đâu?” (Thơ hiện đại). Một câu hỏi nặng tình đầy trách nhiệm của một nhà thơ trước hiện tượng thơ hiện đại. Đây là vấn đề lớn đòi hỏi một cơ sở lý luận vững vàng, một cách tiếp cận khoa học với một sự trải nghiệm dày dặn sâu rộng lúc đó mới có thể mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách tương đối chính xác, vì thế nên để một dịp thuận lợi nào đó để luận bàn cho thấu đáo. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi nhận cái tình, sự trách nhiệm của một nhà thơ mà thôi. Ngòi bút châm biếm của Đỗ Toàn Diện ngày một lách sâu vào từng hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Dường như trong cuộc sống có cái gì tiêu cực xảy ra, ngòi bút của anh có mặt ngay tức khắc, không chần chừ, không lưỡng lự, không né tránh. Lâu nay, câu chuyện lợi ích nhóm được đưa ra rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, ở đâu đó cũng loáng thoáng bàn bạc, rỉ tai. Riêng anh, có ngay bài Liên kết ma: “Bìa rừng cổ thụ vây quanh/ Giữa rừng lâm tặc biến thành đất hoang/ Kiểm lâm lắm kẻ giàu sang/ Ăn cướp hợp pháp nghênh ngang xe, nhà/ Đua nhau chặt phá rừng già/ Của công chúng giữ, ắt là mồi ngon/ Xơi ngay nóng hổi cho giòn/ Liên kết lâm-tặc chẳng còn gì hơn/ Kiểm lâm, thảo khấu, sơn tràng/ Bọn chúng một giuộc tan hoang rừng già”. Có lẽ, anh đâu chỉ nói mỗi nhóm liên kết ma: Kiểm lâm-thảo khấu-sơn tràng mà người đọc hiểu rằng còn rất nhiều kiểu liên kết ma mãnh ken dày trong đời sống xã hội. Tiếng nói của anh đánh động đến ý thức trách nhiệm  của mỗi công dân. Hiện tượng vỡ nợ  xảy ra thường xuyên khiến cho nhiều gia đình lâm vào cảnh tan vỡ: “Thôi! Bán hết nhà, lợn/ Cho vay để kiếm lời/ Ai dè! Tiền bốc hơi/ Con nợ chuồn. Cuỗm sạch/ Một cú lừa ngoạn mục/ Lúc ấy mới tỉnh ra/ Con nợ đã tếch xa/ Kêu trời thì đã muộn” (Kẻ vay lãi nặng).
Mảng thơ trào phúng của anh ít nhiều đã để lại ấn tượng cho người đọc bởi, đối tượng phản ánh phong phú, đa dạng dường như bất cứ hiện tượng tiêu cực nào trong đời sống xã hội ngòi bút của anh đều chạm tới. Song đáng tiếc nếu anh khắc chế được kiểu ham nói thì có lẽ tiếng nói sâu hơn và giá trị của tiếng nói ấy đắt hơn rất nhiều. Thơ châm biếm của anh mới chỉ có diện mà chưa có điểm nên người đọc còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó, và có cảm giác luễnh loãng, dàn trải.
Anh không chỉ có thơ trào phúng mà anh còn có cả một mảng thơ trữ tình. Về số lượng của mảng thơ trữ tình đến nay anh đã cho ra mắt bạn đọc ba tập (Thời yêu dấu - NXB Hội Nhà văn, 2005; Ước mơ nhà rông - NXB Văn học,2010; Dấu chân thời gian - NXB Hội Nhà văn, 2016). Điều này chứng tỏ sự say thơ của anh. Có lẽ, thơ đối với anh là khí thở, không thể thiếu và không thể vắng trong đời sống tư tưởng, tình cảm của anh. Cứ ngỡ rằng cái tạng của anh là tung hoành ở mảng thơ châm biếm ai ngờ thoắt cái từ bờ này anh nhảy sang bờ kia của dòng cảm xúc nhẹ nhàng thế. Cũng giống như các nhà thơ khác, ít nhiều khi thử bút, đều tựa vào nhựa sống của tình yêu nam nữ. Mỗi người đều có một cách tiếp cận riêng biệt, không ai giống ai nhưng đều chung nhau ở  độ say, độ mê đến nỗi quên cả bản thân mình. Anh cũng thế: “Đã có lần ta say/ Đi nhầm vào cõi mộng/ Lưới tình vây kín nẻo quay về” (Say). Anh cũng giống mọi người trai khi yêu cũng ước đủ thứ: “Ước gì, em mãi còn duyên/ Để tôi ngóng đợi một miền xa xăm” (Hy vọng). Cái lưới tình sao nó ghê gớm quá: “Anh lạc vào mê mải/Tìm em”. Anh cũng huênh hoang như bao gã trai si tình khác: “Chỉ em, đôi mắt em thôi/ Hớp hồn tôi suốt cõi người ngả nghiêng.” (Liều). Thú thực, nói về tình yêu nam nữ, ngòi bút của anh chưa chạm tới được sự riêng biệt chỉ mình mới có. Cái anh nói thì rất nhiều người đã nói mà có khi họ nói còn hay hơn. Thế mới biết một người làm thơ để thực sự là thi sĩ khó biết chừng nào. Nói thế, không phải là chê thơ anh mà mong mỏi một điều rằng: Bất cứ người làm thơ nào muốn bạn đọc nhớ lâu, thì người đó dứt khoát không được nản lòng vì như cụ Nguyễn từng cảnh báo những ai lăm le bước vào nghề chữ nghĩa: “Nghề viết lách khó lắm, cơ cực lắm”. Rất may, anh không có tính tự ái, mà rất thích được người khác góp ý, càng góp ý thẳng thừng bao nhiêu anh càng hớn hở bấy nhiêu. Theo tôi, anh đã hiểu được chân tướng của câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn”. Chính sự kiên trì, lòng khao khát tìm tòi không ngừng nghỉ mà anh đã có những câu thơ hay về vùng đất anh đang sống: “Ta bước trên ngàn năm/ Nghe dòng Sê Rê Pôk thở” và “Họ thổi hồn vào ống lồ ô/ Và chắt lọc âm thanh vào ruột đá” hay “Tìm vết chân voi ngàn xưa hóa thạch/ Gió đại ngàn còn văng vẳng hồn chiêng” (Trên cầu treo Buôn Đôn). Nếu so sánh những câu thơ vừa trích với những câu nói về tình yêu nam nữ ở trên rõ ràng có sự phân cấp khác nhau rõ rệt. Mức độ cảm xúc nồng nàn hơn, ý thơ sâu hơn, tình đậm hơn. Nhưng đáng tiếc, lẽ ra anh đã có những câu thơ hay nhất về Tây Nguyên nếu anh không tham lam trong diễn đạt và biết chắt lọc ngôn từ hơn. Khi anh sử dụng các từ nối đã làm cho sức nặng và sự ám ảnh nhạt đi nhiều lắm. Tây Nguyên là quê hương thứ hai của anh, là máu thịt của anh. Anh đã cảm được nét đặc trưng của vùng đất bí ẩn và huyền thoại này: “Gió đại ngàn cứ thổi vào trống trải/ Nghe âm âm hồn sông núi hiện về”. Những con người sống trên vùng đất đỏ, được anh tái hiện thật sống động: “Những chàng Êđê giáo mác sáng ngời/ Bắp cuồn cuộn, ngực căng như cánh ná/ Cùng hò reo những âm thanh lạ/ Tiếng chiêng rền, đồng vọng thanh la”. Thơ anh ắp đầy yếu tố hiện thực, nhưng ẩn đằng sau các yếu tố hiện thực ấy là âm hưởng đặc trưng của vùng miền. Tượng nhà mồ là nét đặc trưng nổi bật của nền văn hóa Tây Nguyên. Nói về văn hóa Tây Nguyên mà không nói về tượng nhà mồ nghĩa là chưa hiểu rõ về nó. Và anh có những câu thơ về hình ảnh tượng nhà mồ đầy ấn tượng: “Da mật nhuộm mầu nắng gió/ Bó gối mắt vương nỗi sầu/ Suốt đời quẩn quanh bên lửa/ Vui buồn cần rượu vít cong/ Nỗi niềm khắc vào thớ gỗ/ Mắt quầng hun hút nỗi đau/ Chống cằm nhìn vào vô vọng/ Nổi chìm chẳng biết vì đâu?” (Dáng tượng nhà mồ). Có lẽ đây là một trong những bài thơ viết về tượng nhà mồ Tây Nguyên vấn vương nhiều suy nghĩ nhất của anh. Đây cũng là một dạng của “âm âm hồn sông núi hiện về”. Cái đáng để người đọc nhớ là anh đã khái quát được chiều sâu văn hóa của một miền đầy kỳ bí vào một hình ảnh thơ cụ thể tiêu biểu. Nếu mà anh để ý được điều này khi làm thơ có lẽ thơ anh bớt đi rất nhiều những điều vụn vặt những lỗi thơ không đáng có. Và tôi tin rằng thơ anh sẽ cô đọng hơn, người đọc nhớ thơ anh nhiều hơn. Ngay bài thơ này, là một trong những bài nổi trội mà anh vẫn không kìm hãm được tật ham trình bày. Đã có: “Mắt quầng hun hút nỗi đau” rồi mà sao kết bài anh lại viết: “Nổi chìm chẳng biết vì đâu?”. Chính câu thơ kết này đã làm toàn bộ bài thơ của anh tan loãng không còn sự đậm đặc của suy nghĩ nữa, mặc dù anh đã cố ý dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ để kết bài. Trong thơ, nhiều khi kỹ thuật làm hỏng và không bao giờ thay thế được độ nồng cảm hứng. Anh rất yêu mảnh đất đã cho anh cảm hứng để làm thơ vì thế anh có những phát hiện rất tinh, sự phát hiện này đã đáp ứng được các yếu tố truyền thống và hiện đại giữa tả - kể và suy ngẫm: “Cối gạo truyền đời, vẹt mòn đáy cối/ Nhịp chày nóng hổi kéo bình mình lên” (Ngày mới từ những nhịp chày). Đọc xong mà hình ảnh thơ vẫn còn ngân lên mãi, có điều gì đó đang bung tỏa. Văn hóa Tây Nguyên đã lặn ngấm trong anh nên cho anh những câu thơ thực sự là thơ: “Gùi nước lòng khe, hái gió đỉnh trời”; “Khoét ống lồ ô, nghe hồn của gió”; “Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”. Những câu thơ đượm màu suy tư, đầy bóng dáng của hình tượng. Có thể nói những câu thơ vừa trích là những câu thơ lay động thực sự tâm thức người đọc. Giá mà bài thơ nào của anh cũng xuất hiện những câu thơ như thế thì hay biết chừng nào? Phải nói rằng, khi viết về con người, vùng đất, phong tục, văn hóa Tây Nguyên, anh đã đạt đến độ cá tính. Nói vậy có thể hơi quá chăng? Nhưng nếu anh biết kìm nén sự ham trình bày, tham kể tả, thích dài dòng thì thơ anh sẽ có nhiều câu thơ như vừa nêu. Thơ anh có cảm xúc, song đôi lúc cảm xúc còn dàn trải, mới tràn trề trên bề mặt mà chưa chịu lắng sâu. Thơ anh có tình mà đôi lúc thiếu đi độ sâu của suy ngẫm. Chính những điều trên mà người đọc khi đọc thơ anh nhiều lúc nó cứ xuội đi, ít găm lại trong tâm trí.
Dù sao đi nữa trong mấy mươi năm làm thơ của anh, anh đã in được dấu thơ của mình trên bản đồ thơ Đắc Lắc. Sức làm thơ của anh bền bỉ, anh biết giữ cảm hứng của mình vì thế cứ tính trung bình 2 hoặc 3 năm lại cho ra mắt bạn đọc một tập thơ. Đến nay (2017) tính cả in riêng, in chung anh có trong tay đến 14 tập thơ. Đây quả là một con số ấn tượng. Về giải thưởng anh có: Giải thưởng VHNT năm 2012 - Giải C; năm 2016-Giải B của Hội VHNT Đắk Lắk; Giải C - Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk lần thứ 2 (2008-2013). Năm Đinh Dậu này là năm anh nhớ nhất bởi hai dấu ấn không thể quên: Một, anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hai, anh về hưu. Nhưng mong rằng anh chỉ về hưu cái nghề dạy học mà thôi, còn anh đừng để thơ phải nghỉ hưu. Bạn đọc đang chờ những sáng tác mới của anh.






Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

PHẠM MINH TRỊ



HAI CÁ TÍNH HÒA TRONG MỘT NGƯỜI THƠ



Một người lúc nào cũng kè kè bên mình chiếc cặp da đen bóng to kềnh. Không hiểu bên trong đựng những thứ gì mà lúc nào cũng căng phồng. Chưa thấy người đã nghe tiếng. Khi nói cứ như lên đồng, nói liên tục không ngừng nghỉ cứ như sợ người nghe cắt ngang. Anh ta có thể ngồi hàng giờ huơ tay nói nhiều khi văng cả nước vào mặt người đối diện. Hể hả khi nói xong một điều nào đó chợt bần thần nghĩ. Rồi cẩn thận mở khóa cặp ra, chọn chọn một chút, cầm hai tay rất cung kính, một cuốn sách nào đó, mở ra hí hoáy viết. À thì ra, anh ta mới in một tập thơ, viết đề tặng bạn bè. Tóc lúc nào cũng mượt nhoáng, có lẽ bôi gôm. Ngồi một chút là sờ tay lên vuốt vuốt ý chừng xem tóc tai có còn nguyên nếp không đấy. Đi đâu cũng vậy, đặc biệt đi dự một buổi gặp mặt nào đó hay dự một hội nghị tổng kết, nhận giải thưởng… Anh ta nghiêm chỉnh lắm: Comle, caravat, giầy đen, xịt nước hoa. Nói vậy thôi chứ anh ta thật thà lắm, có điều gì anh ta cũng toang toác kể, kể bằng hết thì thôi, chuyện gì cũng kể không giữ kẽ. Chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện may, chuyện rủi thậm chí kể xong anh ta còn thề độc nữa: “Tao mà nói dối đứt lưỡi chết ngay, ra đường xe tông” hoặc : “Tao mà nói dối tao làm con mày”. Đó chính là nhà thơ Đỗ Toàn Diện quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa sinh ngày 6 tháng 5 năm 1957. Là hội viên của Hội văn học nghệ thuật Đắc Lắc. Và điều này nữa, rất mừng cho anh, anh đã được toại nguyện, thỏa nỗi khát khao, mong mỏi, đợi chờ từ lâu, anh vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (6/1/2017).
Muốn nói gì thì nói, bàn gì thì bàn, ý này, ý kia thế nào đi nữa thì thơ anh đã được khẳng định, đã đứng được trong lòng bạn đọc. Đương nhiên trong quá trình sáng tác ai mà chả vậy, quá trình ấy thường đi theo đồ thị hình Sin. Lúc gập ghềnh, khấp khểnh khi xuôi chèo mát mái. Anh bước vào con đường thơ từ thuở còn học sinh. Mất cha từ hồi còn nhỏ, đi đâu cũng bị bắt nạt. Nhiều lần như vậy, anh tự rút ra một kinh nghiệm ứng xử mà sau này nó dính chặt vào khó gỡ ra được. Đi đâu, tới đâu, anh cũng cố lên gân to tiếng trước, áp đảo đối phương, có vậy anh mới không bị bắt nạt. Thật khổ cho anh, anh đâu muốn thế, tâm hồn anh thực ra rất nhạy cảm nhiều khi yếu đuối. Anh sống thiên về tình cảm. Anh rất ghét sự áp chế. Anh nhìn đời với con mắt sắc sảo. Ngòi bút của anh không hề né tránh những hiện tượng tiêu cực diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội. Anh góp phần vào công cuộc chống tham nhũng bằng cách của mình: “Tôi nghe có mùi tham nhũng/ Phả ra từ miệng quan tham/ Tôi ngửi thấy mùi hối lộ/ Ngô nghê từ miệng kẻ phàm/ Buông lời thăm dò nông sâu/ Tham nhũng, hối lộ hiểu nhau/ Cán cân công lý xô lệch/ Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” (Mùi tham nhũng). Anh phát hiện ra cái bản chất của bọn tham nhũng cùng bầy hối lộ, hai đối tượng này hiểu nhau từ chân tơ kẽ tóc. Chỉ mấy câu ngắn gọn mà anh bắt chúng hiện ra rõ ràng từng nét, người đọc như tưởng bọn tham ô hối lộ đang đứng ngay trước mặt mình. Cái đáng quý trong mảng thơ phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội của anh là: Ẩn đằng sau những bực bội căm ghét, châm biến, giễu cợt là nỗi lòng thương cảm đối với đại đa số người dân. Một câu hỏi “Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” cứ xoáy sâu vào lòng người đọc hẳn nhiên là vậy nhưng nó còn xoáy mãi, xoáy mãi vào những người được dân trao cho quyền lực để bảo vệ công lý. Cái sự ngược đời có lẽ nhiều người thấy, nhiều người nhìn, nhiều người nghĩ, nhưng ít ai viết như anh: “Đầy tớ thời này sướng như vua/ Muốn làm đầy tớ cũng phải mua/ Ngông nghênh một ghế ông chễm chệ/ Ngất nghểu trên ngai hưởng lộc chùa.” (Chuyện lạ). Người đọc thấy phảng phất giọng của cụ Tú ngày xưa. Hiện tượng  mua chức, bán quyền dưới cái nhìn của anh cũng không kém phần sắc bén: “Hiệu trưởng lắm nơi phải đấu thầu/ Nhiều chỉ, nhiều cây ắt nhiệm màu/ Đâu cần năng lực, đâu bằng cấp/ Có tiền, có chức ắt rung râu”. Anh không quanh co, chỉ thẳng tên, gọi đúng chỗ: “Hàng ngũ Đảng còn lắm kẻ mọt sâu/ Lợi dụng chức quyền lấn người vô tội”. Có người cho anh là kẻ ngang ngạnh, chuyên chọc gậy, móc máy, xỉa xói… đúng anh là vậy, nhưng cái móc máy, xỉa xói… ấy đúng lắm, có lý lắm. Ở đời làm sao có cái giống người bất hiếu với bậc sinh thành và nịnh bợ đến mức mất hết nhân cách như thế này: “Ngày giỗ  bố mình quên chẳng biết/ Bố người, tường tận lạch nông sâu/ Phong bì to, nhỏ dâng tha thiết/ Em nguyện suốt đời làm ngựa trâu”. Những kẻ ấy đúng là ngựa trâu thật sự. Những kẻ uốn gối dẻo như kẹo cao su, lưỡi miệng ngọt như mía lùi ấy là đối với cấp trên còn với người dân thì: “Cửa quyền hách dịch hành dân/ Công việc đi lại mươi lần chưa xong/ Thủ tục hành chính lòng thòng/ Như dây quấn cổ trăm vòng siết lôi”(Hành chính-hành dân là chính). Cái cổ của dân dễ quấn quá, bởi dưới dân còn ai nữa mà hành. Tệ nạn cửa quyền quan liêu là những dây xích trói dân, siết dân. Anh ước ao: “Hỏi bao giờ hết ách gông/ Bao giờ tháo cũi sổ lồng cho dân.”. Cái ao ước ấy chính là ao ước từ rất lâu rồi của mọi người. Nhân đây có một chuyện thật 100% không có chút xíu nào là bịa (vì anh đã thề nếu nói dối ra đường xe tông, đứt lưỡi). Đó là vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước, cán bộ công nhân viên đều có chế độ nghỉ phép, riêng giáo viên có chế độ phép hè. Anh là một giáo viên, một hôm đem giấy phép, vé xe, bảng kê khai đầy đủ cả, đưa vào cho kế toán của Phòng Giáo dục để thanh toán. Người vây quanh kế toán đông lắm. Từ ngoài cửa anh chen vào hỉ hả đưa cho kế toán các chứng từ đã chuẩn bị sẵn, nào ngờ, cô ta liếc qua bảo của anh không thanh toán được. Vì sao ? anh hét to. Vé giả – kế toán cũng chỏng lỏn đáp lại. Tính anh ương ngạnh, mỗi khi có chuyện là mặt tai đỏ cả lên, mắt phóng ra những tia giận dữ. Anh giở thói dân rừng: Á, à mày bảo vé giả hả, nghe đây cho rõ. Thốt nhiên có người to tiếng, nói năng văng mạng như chỗ không người. Tất cả im phăng phắc trố mắt nhìn anh. Dõng dạc anh thẳng người ngâm nga: “Ngày nay, làm đĩ lên bà…”. Ông trưởng phòng ở đâu đó hốt hoảng chạy vào kéo tuột anh ra ngoài và nhẹ nhàng bảo: Thầy cứ về đi, đưa giấy tờ đây cho tôi. Và thế là ngay ngày hôm sau anh nhận được đầy đủ số tiền thanh toán phép hè năm đó. Chẳng biết vé xe thật, giả ra sao? Sự việc có thể  nói là nhỏ, nhưng công dụng của câu thơ châm biếm, đả kích tức thì của anh phát huy hiệu quả ngay. Khốn khổ thế, nhiều khi người ta cứ tự cho mình một cái quyền, cái uy nào đó mà hão huyền rằng mình ở vị trí ấy là xứng đáng với mình  lắm, rồi sinh ra đủ thứ phiền phức. Nói về quan liêu, tham nhũng thì quá nhiều chuyện bởi vì thực sự nó đã trở thành giặc nội xâm rất nguy hiểm, trực tiếp hàng ngày, hàng giờ đe dọa sự tồn vong của chế độ và vận mệnh của quốc gia. Chính nó làm nghèo đất nước, kéo lùi sự tiến bộ, làm băng hoại đạo đức, khiến tâm hồn vẩn đục, ô nhiễm, sự bất công trong xã hội ngày càng gia tăng và quan trong hơn là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Chính phủ.
Anh không những lách ngòi bút của mình vào tệ quan liêu, tham nhũng vào những kẻ bán chức mua quyền, bất nhân bất nghĩa mà còn đưa ngòi bút của mình vào tệ nạn xã hội như chơi game, chát chít trên mạng… Tệ nạn này làm hư hỏng biết bao con trẻ: “Nào ngờ con chẳng học chăm/ Đua đòi game-chat nhố nhăng bỏ giờ/ Thân tàn, ma dại xác xơ/ Bỏ ăn… dứt bữa ngẩn ngơ cò gầy”. Đây chính là  lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những người làm cha, làm mẹ. Thói ăn theo, hùa theo dưới ngòi bút của anh nó sinh động hẳn lên, qua việc anh “Vịnh con chó”: “Chó vằn, chó vện, chó vàng/ Vào hùa với lũ chó khoang đốm đầu/ Suốt đời chỉ sủa gâu gâu/ Khom lưng, uốn gối, cúi đầu chủ sai.” Cái thứ người, loại người nào mà có tính ăn theo, hùa theo ắt nhiễm trong mình cái tính nịnh bợ đến mất tư cách như con chó mà anh đã giải phẫu ở trên. Thói dựa dẫm vào một cái quyền nào đó, một cái ghế nào đó, hoặc một ai đó cũng là một biến thể của sự cậy quyền thế để dậm dọa người khác, anh đã đóng dấu vào trán chúng nó: “Gần đèn thì bóng rất to/ Xa đèn thì bóng bị co rút vào/ Lắm người cái bóng to cao/ Nhưng óc lại nhỏ… bàn cào lại to” (Cái bóng). Thói lật lọng, dẻo mồm, dẻo miệng, hứa cho xong chuyện, anh cũng đưa vào thơ như một đối tượng cần phê phán, cảnh tỉnh: “Khi vay ngọn lưỡi có thần/ Đến khi trả, biến ân nhân thành thù”. Đây là một thực tế diễn ra hằng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ một việc nhổ răng đơn giản mà dưới ngòi bút của anh trở thành một bài học làm người rất đáng suy nghĩ: “Đã từng gang miệng bao người/ Nhổ đi những chiếc răng tồi, răng hư/ Những hàm trắng, sạch vô tư/ Suốt đời ai dám mó vô được cằm” (Nhổ răng). Thói rập khuôn, sáo rỗng cũng được anh đưa ra phê phán, giễu cợt, mỉa mai: “Chỉ chuyên bắt chước tiếng người/ Cũng uốn lưỡi, cũng học đòi ba hoa/ Mua vui lòng trẻ, lòng già/ Cả đời quanh quẩn trong ba tấc lồng” (Con vẹt). Anh cũng trăn trở với thơ hiện đại: “Thơ hiện đại đến nỗi/ Người đương thời chẳng nhớ nổi một câu/ Thử hỏi mai sau cháu, con còn nhớ!/ Đọc một câu thơ lắm khi ngộp thở/ Nghệ thuật ngôn từ như hũ nút đêm sâu”. Và băn khoăn day dứt: “Thơ sẽ đi đâu?/ Và thơ về đâu?” (Thơ hiện đại). Một câu hỏi nặng tình đầy trách nhiệm của một nhà thơ trước hiện tượng thơ hiện đại. Đây là vấn đề lớn đòi hỏi một cơ sở lý luận vững vàng, một cách tiếp cận khoa học với một sự trải nghiệm dày dặn sâu rộng lúc đó mới có thể mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách tương đối chính xác, vì thế nên để một dịp thuận lợi nào đó để luận bàn cho thấu đáo. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi nhận cái tình, sự trách nhiệm của một nhà thơ mà thôi. Ngòi bút châm biếm của Đỗ Toàn Diện ngày một lách sâu vào từng hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Dường như trong cuộc sống có cái gì tiêu cực xảy ra, ngòi bút của anh có mặt ngay tức khắc, không chần chừ, không lưỡng lự, không né tránh. Lâu nay, câu chuyện lợi ích nhóm được đưa ra rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, ở đâu đó cũng loáng thoáng bàn bạc, rỉ tai. Riêng anh, có ngay bài Liên kết ma: “Bìa rừng cổ thụ vây quanh/ Giữa rừng lâm tặc biến thành đất hoang/ Kiểm lâm lắm kẻ giàu sang/ Ăn cướp hợp pháp nghênh ngang xe, nhà/ Đua nhau chặt phá rừng già/ Của công chúng giữ, ắt là mồi ngon/ Xơi ngay nóng hổi cho giòn/ Liên kết lâm-tặc chẳng còn gì hơn/ Kiểm lâm, thảo khấu, sơn tràng/ Bọn chúng một giuộc tan hoang rừng già”. Có lẽ, anh đâu chỉ nói mỗi nhóm liên kết ma: Kiểm lâm-thảo khấu-sơn tràng mà người đọc hiểu rằng còn rất nhiều kiểu liên kết ma mãnh ken dày trong đời sống xã hội. Tiếng nói của anh đánh động đến ý thức trách nhiệm  của mỗi công dân. Hiện tượng vỡ nợ  xảy ra thường xuyên khiến cho nhiều gia đình lâm vào cảnh tan vỡ: “Thôi! Bán hết nhà, lợn/ Cho vay để kiếm lời/ Ai dè! Tiền bốc hơi/ Con nợ chuồn. Cuỗm sạch/ Một cú lừa ngoạn mục/ Lúc ấy mới tỉnh ra/ Con nợ đã tếch xa/ Kêu trời thì đã muộn” (Kẻ vay lãi nặng).
Mảng thơ trào phúng của anh ít nhiều đã để lại ấn tượng cho người đọc bởi, đối tượng phản ánh phong phú, đa dạng dường như bất cứ hiện tượng tiêu cực nào trong đời sống xã hội ngòi bút của anh đều chạm tới. Song đáng tiếc nếu anh khắc chế được kiểu ham nói thì có lẽ tiếng nói sâu hơn và giá trị của tiếng nói ấy đắt hơn rất nhiều. Thơ châm biếm của anh mới chỉ có diện mà chưa có điểm nên người đọc còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó, và có cảm giác luễnh loãng, dàn trải.
Anh không chỉ có thơ trào phúng mà anh còn có cả một mảng thơ trữ tình. Về số lượng của mảng thơ trữ tình đến nay anh đã cho ra mắt bạn đọc ba tập (Thời yêu dấu - NXB Hội Nhà văn, 2005; Ước mơ nhà rông - NXB Văn học,2010; Dấu chân thời gian - NXB Hội Nhà văn, 2016). Điều này chứng tỏ sự say thơ của anh. Có lẽ, thơ đối với anh là khí thở, không thể thiếu và không thể vắng trong đời sống tư tưởng, tình cảm của anh. Cứ ngỡ rằng cái tạng của anh là tung hoành ở mảng thơ châm biếm ai ngờ thoắt cái từ bờ này anh nhảy sang bờ kia của dòng cảm xúc nhẹ nhàng thế. Cũng giống như các nhà thơ khác, ít nhiều khi thử bút, đều tựa vào nhựa sống của tình yêu nam nữ. Mỗi người đều có một cách tiếp cận riêng biệt, không ai giống ai nhưng đều chung nhau ở  độ say, độ mê đến nỗi quên cả bản thân mình. Anh cũng thế: “Đã có lần ta say/ Đi nhầm vào cõi mộng/ Lưới tình vây kín nẻo quay về” (Say). Anh cũng giống mọi người trai khi yêu cũng ước đủ thứ: “Ước gì, em mãi còn duyên/ Để tôi ngóng đợi một miền xa xăm” (Hy vọng). Cái lưới tình sao nó ghê gớm quá: “Anh lạc vào mê mải/Tìm em”. Anh cũng huênh hoang như bao gã trai si tình khác: “Chỉ em, đôi mắt em thôi/ Hớp hồn tôi suốt cõi người ngả nghiêng.” (Liều). Thú thực, nói về tình yêu nam nữ, ngòi bút của anh chưa chạm tới được sự riêng biệt chỉ mình mới có. Cái anh nói thì rất nhiều người đã nói mà có khi họ nói còn hay hơn. Thế mới biết một người làm thơ để thực sự là thi sĩ khó biết chừng nào. Nói thế, không phải là chê thơ anh mà mong mỏi một điều rằng: Bất cứ người làm thơ nào muốn bạn đọc nhớ lâu, thì người đó dứt khoát không được nản lòng vì như cụ Nguyễn từng cảnh báo những ai lăm le bước vào nghề chữ nghĩa: “Nghề viết lách khó lắm, cơ cực lắm”. Rất may, anh không có tính tự ái, mà rất thích được người khác góp ý, càng góp ý thẳng thừng bao nhiêu anh càng hớn hở bấy nhiêu. Theo tôi, anh đã hiểu được chân tướng của câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn”. Chính sự kiên trì, lòng khao khát tìm tòi không ngừng nghỉ mà anh đã có những câu thơ hay về vùng đất anh đang sống: “Ta bước trên ngàn năm/ Nghe dòng Sê Rê Pôk thở” và “Họ thổi hồn vào ống lồ ô/ Và chắt lọc âm thanh vào ruột đá” hay “Tìm vết chân voi ngàn xưa hóa thạch/ Gió đại ngàn còn văng vẳng hồn chiêng” (Trên cầu treo Buôn Đôn). Nếu so sánh những câu thơ vừa trích với những câu nói về tình yêu nam nữ ở trên rõ ràng có sự phân cấp khác nhau rõ rệt. Mức độ cảm xúc nồng nàn hơn, ý thơ sâu hơn, tình đậm hơn. Nhưng đáng tiếc, lẽ ra anh đã có những câu thơ hay nhất về Tây Nguyên nếu anh không tham lam trong diễn đạt và biết chắt lọc ngôn từ hơn. Khi anh sử dụng các từ nối đã làm cho sức nặng và sự ám ảnh nhạt đi nhiều lắm. Tây Nguyên là quê hương thứ hai của anh, là máu thịt của anh. Anh đã cảm được nét đặc trưng của vùng đất bí ẩn và huyền thoại này: “Gió đại ngàn cứ thổi vào trống trải/ Nghe âm âm hồn sông núi hiện về”. Những con người sống trên vùng đất đỏ, được anh tái hiện thật sống động: “Những chàng Êđê giáo mác sáng ngời/ Bắp cuồn cuộn, ngực căng như cánh ná/ Cùng hò reo những âm thanh lạ/ Tiếng chiêng rền, đồng vọng thanh la”. Thơ anh ắp đầy yếu tố hiện thực, nhưng ẩn đằng sau các yếu tố hiện thực ấy là âm hưởng đặc trưng của vùng miền. Tượng nhà mồ là nét đặc trưng nổi bật của nền văn hóa Tây Nguyên. Nói về văn hóa Tây Nguyên mà không nói về tượng nhà mồ nghĩa là chưa hiểu rõ về nó. Và anh có những câu thơ về hình ảnh tượng nhà mồ đầy ấn tượng: “Da mật nhuộm mầu nắng gió/ Bó gối mắt vương nỗi sầu/ Suốt đời quẩn quanh bên lửa/ Vui buồn cần rượu vít cong/ Nỗi niềm khắc vào thớ gỗ/ Mắt quầng hun hút nỗi đau/ Chống cằm nhìn vào vô vọng/ Nổi chìm chẳng biết vì đâu?” (Dáng tượng nhà mồ). Có lẽ đây là một trong những bài thơ viết về tượng nhà mồ Tây Nguyên vấn vương nhiều suy nghĩ nhất của anh. Đây cũng là một dạng của “âm âm hồn sông núi hiện về”. Cái đáng để người đọc nhớ là anh đã khái quát được chiều sâu văn hóa của một miền đầy kỳ bí vào một hình ảnh thơ cụ thể tiêu biểu. Nếu mà anh để ý được điều này khi làm thơ có lẽ thơ anh bớt đi rất nhiều những điều vụn vặt những lỗi thơ không đáng có. Và tôi tin rằng thơ anh sẽ cô đọng hơn, người đọc nhớ thơ anh nhiều hơn. Ngay bài thơ này, là một trong những bài nổi trội mà anh vẫn không kìm hãm được tật ham trình bày. Đã có: “Mắt quầng hun hút nỗi đau” rồi mà sao kết bài anh lại viết: “Nổi chìm chẳng biết vì đâu?”. Chính câu thơ kết này đã làm toàn bộ bài thơ của anh tan loãng không còn sự đậm đặc của suy nghĩ nữa, mặc dù anh đã cố ý dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ để kết bài. Trong thơ, nhiều khi kỹ thuật làm hỏng và không bao giờ thay thế được độ nồng cảm hứng. Anh rất yêu mảnh đất đã cho anh cảm hứng để làm thơ vì thế anh có những phát hiện rất tinh, sự phát hiện này đã đáp ứng được các yếu tố truyền thống và hiện đại giữa tả - kể và suy ngẫm: “Cối gạo truyền đời, vẹt mòn đáy cối/ Nhịp chày nóng hổi kéo bình mình lên” (Ngày mới từ những nhịp chày). Đọc xong mà hình ảnh thơ vẫn còn ngân lên mãi, có điều gì đó đang bung tỏa. Văn hóa Tây Nguyên đã lặn ngấm trong anh nên cho anh những câu thơ thực sự là thơ: “Gùi nước lòng khe, hái gió đỉnh trời”; “Khoét ống lồ ô, nghe hồn của gió”; “Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”. Những câu thơ đượm màu suy tư, đầy bóng dáng của hình tượng. Có thể nói những câu thơ vừa trích là những câu thơ lay động thực sự tâm thức người đọc. Giá mà bài thơ nào của anh cũng xuất hiện những câu thơ như thế thì hay biết chừng nào? Phải nói rằng, khi viết về con người, vùng đất, phong tục, văn hóa Tây Nguyên, anh đã đạt đến độ cá tính. Nói vậy có thể hơi quá chăng? Nhưng nếu anh biết kìm nén sự ham trình bày, tham kể tả, thích dài dòng thì thơ anh sẽ có nhiều câu thơ như vừa nêu. Thơ anh có cảm xúc, song đôi lúc cảm xúc còn dàn trải, mới tràn trề trên bề mặt mà chưa chịu lắng sâu. Thơ anh có tình mà đôi lúc thiếu đi độ sâu của suy ngẫm. Chính những điều trên mà người đọc khi đọc thơ anh nhiều lúc nó cứ xuội đi, ít găm lại trong tâm trí.
Dù sao đi nữa trong mấy mươi năm làm thơ của anh, anh đã in được dấu thơ của mình trên bản đồ thơ Đắc Lắc. Sức làm thơ của anh bền bỉ, anh biết giữ cảm hứng của mình vì thế cứ tính trung bình 2 hoặc 3 năm lại cho ra mắt bạn đọc một tập thơ. Đến nay (2017) tính cả in riêng, in chung anh có trong tay đến 14 tập thơ. Đây quả là một con số ấn tượng. Về giải thưởng anh có: Giải thưởng VHNT năm 2012 - Giải C; năm 2016-Giải B của Hội VHNT Đắk Lắk; Giải C - Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk lần thứ 2 (2008-2013). Năm Đinh Dậu này là năm anh nhớ nhất bởi hai dấu ấn không thể quên: Một, anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hai, anh về hưu. Nhưng mong rằng anh chỉ về hưu cái nghề dạy học mà thôi, còn anh đừng để thơ phải nghỉ hưu. Bạn đọc đang chờ những sáng tác mới của anh.






Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

 PHẠM TUẤN VŨ



HÌNH TƯỢNG TIẾNG GÀ TRƯA TRONG BÀI THƠ CÙNG TÊN CỦA XUÂN QUỲNH



Không phải ngẫu nhiên mà tiếng gà lại xuất hiện thường xuyên trong thơ ca nước ta. Dài theo hành trình thơ Việt, từ những bài ca dao của cha ông thuở xưa cho đến những vần thơ hiện đại, hình ảnh tiếng gà gáy có một vị trí khá đặc biệt. Có điều này bởi lẽ, tiếng gà là âm thanh bình dị, quen thuộc trong đời sống thường ngày, gần gũi trong tâm thức người Việt. Hình ảnh tiếng gà xuất hiện khá phổ biến, được thể hiện thành công trong nhiều bài thơ, gắn liền với những tình cảm tốt đẹp về quê hương, đất nước, tuổi thơ.
Tiếng gà trưa là một bài thơ hay viết về tiếng gà, đồng thời là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh: Nhẹ nhàng, lắng sâu mà nồng nàn, tha thiết. Bài thơ hoàn thành vào ngày 2.7.1965, được đưa vào tập Hoa dọc chiến hào (1968), là một trong những tác phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hiện nay, bài thơ được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn 7 (tập 1).
Bài thơ bắt đầu từ hình ảnh một tiếng gà và kết thúc cũng bằng hình ảnh tiếng gà. Trong suốt 43 dòng của bài thơ, cùng với điệp ngữ “tiếng gà trưa” được nhắc lại 4 lần, tiếng gà là hình ảnh lặp lại liên tục, trở thành âm thanh chủ đạo trong tác phẩm. Trong bài thơ này, Xuân Quỳnh đã rất thành công trong việc khắc họa tiếng gà thành một hình tượng nghệ thuật sinh động, giàu sức biểu cảm, có sức sống lâu bền trong lòng độc giả.
Không gian thực tại trong tác phẩm là “xóm nhỏ” “trên đường hành quân xa” nơi người lính dừng lại nghỉ chân. Thời gian thực tại là một buổi trưa nắng. Âm thanh nổi bật trong khung cảnh này “tiếng gà trưa”. Có nhiều thời điểm trong ngày xuất hiện tiếng gà nhưng tác giả đã chọn thời điểm buổi trưa. Bởi không gian trưa bao giờ cũng yên ắng và tiếng gà trưa thường lắng sâu trong tâm khảm mỗi người. Đó sẽ là âm thanh mở ra không gian và thời gian tâm tưởng - hoài niệm, âm thanh gọi về bao kỷ niệm tuổi thơ trong lòng người lính.
Trước Cách mạng Tháng Tám, có một tiếng gà trưa gọi về trong nhân vật trữ tình “tôi” bao kỷ niệm về người mẹ có “nét cười đen nhánh sau tay áo” trong thơ Lưu Trọng Lư được thể hiện với một giọng thơ buồn thương, da diết: Xao xác gà trưa gáy não nùng/ Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng… (Nắng mới). Trong thơ ca 1954-1975, cũng có một tiếng gà trưa “gọi về tuổi thơ” với những kỷ niệm êm đềm bên người bà được trong thơ Xuân Quỳnh thể hiện bằng giọng thơ nhớ thương, trìu mến. Nhưng có một điểm khác nhau quan trọng: Nếu như tiếng gà trưa trong Nắng mới chỉ xuất hiện một lần và chỉ một chi tiết nhỏ, là một trong nhiều tác nhân của tâm trạng, cảm xúc thì trong Tiếng gà trưa, tiếng gà trưa được nhấn mạnh bằng cách lặp lại nhiều lần, là chi tiết mấu chốt và là tác nhân duy nhất khơi dậy dòng tâm tư, ký ức. Tiếng gà vang vọng suốt bài thơ dài 43 dòng, trở thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc mà Xuân Quỳnh đã dụng công khắc họa:
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục… cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Một chi tiết thú vị nữa là tiếng gà trưa trong bài thơ của Xuân Quỳnh không phải là tiếng gáy của gà trống (phổ biến hơn, có độ vang lớn nên dễ gây sự chú ý hơn) mà là tiếng gà mái “nhảy ổ”. Có lẽ hình ảnh những “con gà mái mơ”, “con gà mái vàng” cùng “ổ rơm hồng những trứng” thân quen với tuổi thơ và kỷ niệm về bà hơn. Hơn nữa, khác tiếng gáy “ò ó o” dõng dạc và mạnh mẽ, tiếng “cục… cục tác cục ta” nghe thân thương, gần gũi, đầm ấm hơn nhiều. Một chi tiết nhỏ thôi nhưng cũng đủ để thấy được sự nhạy cảm, tinh tế trong lựa chọn nghệ thuật của nhà thơ.
Từ những tiếng “cục… cục tác cục ta” thân thương ấy, vào một khoảnh khắc vô tình nghe được tiếng gà khi “dừng chân bên xóm nhỏ”, trong lòng người lính có biết bao kỷ niệm theo tiếng gọi ùa về. Kỷ niệm về tuổi thơ, về bà liên tục được tái hiện trong dòng tâm tưởng của nhân vật trữ tình.
Đó là nỗi lo lắng rất đỗi hồn nhiên vì sợ bị lang mặt do tò mò mà nhìn gà đẻ của người cháu khi bị bà mắng:
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng:
- Gà đẻ mà mày nhìn
Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi
Mà trong lòng lo lắng
Đó là hình ảnh bà lom khom, khum tay soi trứng đã trở nên rất đỗi thân quen trong tâm trí của người cháu:
Tiếng gà trưa
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Đó là những lo lắng về đàn gà của bà khi gió mùa đông tới, là ước mơ gà bán được để bà có tiền sắm quần áo tết cho cháu mình:
Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới
Đó còn là cả giấc ngủ tuổi thơ êm đềm với bao hạnh phúc len về trong những giấc mơ ánh hồng sắc trứng:
Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm về cháu nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
Tất cả những kỷ niệm ấy đều được khơi nguồn từ “tiếng gà ai nhảy ổ” nhà ai và gói trọn trong tiếng gà tuổi thơ thân thuộc. Tiếng gà là tác nhân khơi nguồn ký ức, nơi quy tụ kỷ niệm tuổi thơ và chất xúc tác làm bung tỏa cảm xúc. Cho nên không phải ngẫu nhiên điệp ngữ “tiếng gà trưa” lặp lại 4 lần ở đầu mỗi khổ thơ, đồng thời là 4 câu đặc biệt 3 chữ trong một bài thơ ngũ ngôn dài đến 43 dòng mà không cần phải thêm bất cứ một chữ nào (chẳng hạn số từ, định ngữ,… nhằm tránh lặp, tránh vi phạm luật thơ). Một cụm “tiếng gà trưa” đủ nói lên tất cả. Rõ ràng, nhà thơ Xuân Quỳnh đã cố tình phạm luật thơ bằng cách tách cụm từ này thành một câu đặc biệt đứng độc lập nhằm nhấn mạnh, khắc họa đậm nét hơn về hình tượng tiếng gà đặc biệt trong tác phẩm của mình.
Không chỉ là hình ảnh của tuổi thơ bên bà và tình cảm bà cháu, tiếng gà trong bài thơ của tác giả Sóng còn là hình ảnh của xóm làng và tình yêu quê hương, đất nước trong lòng người lính đang hành quân xa. Kỷ niệm tuổi thơ và tình bà cháu gắn với thời gian quá khứ. Hình ảnh xóm làng và tình yêu Tổ quốc, quê hương gắn với thời gian hiện tại, tương lai. Giữa hai chiều thời gian ấy có một mắt xích gắn kết. Đó là hình tượng trung tâm, chi tiết quan trọng xuyên suốt bài thơ: “Tiếng gà cục tác”:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ
Kết thúc bài thơ, hình ảnh “ổ trứng hồng” và “tiếng gà cục tác” lại xuất hiện. Một cách đơn sơ mà cảm động, tiếng gà cũng là một mục đích cao đẹp để “cháu chiến đấu hôm nay”. Phải chăng chỉ là một tiếng gà bình thường như bao tiếng gà trên đời? Có lẽ không, bởi đây là tiếng gà đặc biệt, tiếng gà là hình bóng của Tổ quốc, của xóm làng, của tuổi thơ và của cả người bà hiền từ trong lòng người cháu. Với việc nâng hình tượng tiếng gà lên thành biểu tượng của tình bà cháu, tình yêu quê hương, đất nước, Xuân Quỳnh đã góp vào nền thơ cánh mạng Việt Nam một biểu tượng đẹp, giàu ý nghĩa.
Tóm lại, Tiếng gà trưa là bài thơ hay của Xuân Quỳnh, tác phẩm đặc sắc trong số những bài thơ viết về tiếng gà. Khác với hầu hết những tác phẩm khác chỉ nhắc qua, xem tiếng gà là một chi tiết nhỏ, bài thơ của Xuân Quỳnh tập trung khắc họa thành công hình tượng tiếng gà. Đó là một hình tượng đẹp về kỷ niệm tuổi thơ, về tình bà cháu, tình yêu quê hương đất nước; một trong những tiếng gà trong trẻo, thân thương, đẹp đẽ nhất trong thơ Việt Nam.





Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

“HÁI GẮM”- MỘT TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HỒNG CHIẾN tác giả TƯ HƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017








Trong bối cảnh truyện viết cho thiếu nhi ở nước ta đang thưa vắng những tác phẩm đặc sắc, viết về đề tài thiếu nhi người dân tộc thiểu số lại càng hiếm hoi như hiện nay, tập truyện Bí mật của H’Loan (do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2016) của nhà văn Nguyễn Hồng Chiến, người có nhiều năm gắn bó với mảnh đất và con người Tây Nguyên, là một nỗ lực đáng ghi nhận. Tác phẩm gồm 12 truyện ngắn với nhiều câu chuyện thú vị, đậm chất phiêu lưu về núi rừng và trẻ em nơi cao nguyên đất đỏ, như chính đề từ in ở trang bìa của tập truyện “thế giới núi rừng hùng vĩ của trẻ em Tây Nguyên”. Trong đó, Hái gắm là một truyện ngắn hay, thành công ở nhiều phương diện.
Thành công trước hết, đồng thời làm nên sức hấp dẫn của truyện chính là không gian núi rừng Tây Nguyên tươi đẹp, hùng vĩ với bao nhiêu sắc màu và những điều kì bí. “Vùng đất Tây Nguyên dưới ngòi bút miêu tả chân thực của Nguyễn Hồng Chiến, hiện lên đầy sảng khoái và đậm chất phiêu lưu” (1). Đặc điểm này được thể hiện sinh động trong toàn bộ tập truyện Bí mật của H’Loan, trong đó có truyện Hái gấm. Mở đầu câu chuyện, theo bước chân của cậu bé Y Ngoan, một không gian núi rừng mới lạ, kì vĩ mở ra trước mắt Hoàng Vân: “Núi có nhiều cây to lắm, cành lá như những bàn tay khổng lồ đan vào nhau che nắng cho mặt đất. Buổi sáng mùa khô Tây Nguyên hình như bầu trời xanh và cao hơn. Gió thỉnh thoảng vờn qua làm lắc lư những ngọn cây cổ thụ, tạo nên bản nhạc rừng thánh thót từ những chiếc lá chạm vào nhau và các cành đệm thêm kiếng kẽo kẹt, kẽo kẹt… thật vui tai. Bầy chim bạc má không biết bàn nhau chuyện gì bên các gốc cây cũng ồn ã cả lên với những nốt trầm bổng như một bản hòa tấu của thiên nhiên chào đón những chàng trai vào thăm rừng già”. Không gian mở đầu tác phẩm này ngay lập tức gây ra những ấn tượng thị giác, kích thích trí trò mò của độc giả, hứa hẹn mở ra những câu chuyện kì thú sẽ diễn ra tiếp theo giữa không gian này.
Xuyên suốt câu chuyện, theo bước chân phiêu lưu của nhân vật, tác giả còn đưa người đọc đến với nhiều cảnh sắc tươi đẹp, hùng vĩ khác của rừng núi đại ngàn: “Trên tán cây cổ thụ có nhiều dây leo chằng chịt xuất hiện những con chim lông màu đen, hai bên cánh và đuôi có điểm thêm vài chiếc lông trắng”. Xây dựng thành công không gian rừng núi, tác giả đã hé mở dần cho người đọc về thế giới kì vĩ, huyền bí của đại ngàn Tây Nguyên. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của truyện trước hết nằm ở điều này.
Nhân vật cũng là một thành công của Nguyễn Hồng Chiến trong Bí mật của H’Loan nói chung, Hái gắm nói riêng. Trong truyện ngắn này chỉ có hai nhân vật: Một cậu bé người Kinh tên Hoàng Vân và một người Êđê tên Y Ngoan, trong đó, nổi bật hơn cả là cậu bé Y Ngoan. “Y Ngoan làm lớp trưởng, là người được cô giáo chủ nhiệm phân công giúp đỡ Hoàng Vân khi mới chuyển vào học lớp 7A, năm học đầu tiên ở quê mới”. Nhân vật này mang những nét đặc trưng của trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên: “Vai đeo gùi thoăn thoắt nhảy qua các hòn đá, rễ cây như con chim bay lượn; thỉnh thoảng ngoái đầu lại tủm tỉm cười, mái tóc quăn tít rủ xuống vừng trán hơi dô màu nâu đen làm tăng thêm vẻ đẹp rất đặc trưng của người bản địa Tây Nguyên”. Y Ngoan còn có những phẩm chất tốt đẹp khiến bạn bè, nhất là Hoàng Vân, yêu mến, tin tưởng và nể phục: Thông minh, nhanh nhẹn và nhất là am hiểu về núi rừng Tây Nguyên. Từ hiểu biết về vết đào xới của heo rừng, đặc trưng của những loài thú dữ như heo rừng, hổ đến đặc điểm của loài chim phượng hoàng đất, nhất là đặc tính của quả gắm (cách hái, cách chế biến để có thể ăn được, tính gây dị ứng và cách chữa)… Y Ngoan đều rất tường tận. Đặc biệt, nhân vật này còn có một quan niệm nhân văn, một cách hồn nhiên, về việc hòa hợp với thiên nhiên, tôn trọng tự nhiên và bảo tồn môi trường sống thông qua chi tiết bảo Hoàng Vân hái gắm vừa đủ dùng: “Của rừng mà, mình ăn còn để cho con thú ăn nữa chứ. Hôm nay hái từng này về ăn là đủ rồi, hôm sau ưng thì vào lấy nữa”. Có thể nói, trong bối cảnh nhân vật trẻ em người dân tộc thiểu số vốn còn hiếm hoi trong văn học thiếu nhi hiện nay, Y Ngoan là một nhân vật thành công của nhà văn Nguyễn Hồng Chiến.
Một thành công khác của truyện là những bài học giáo dục được rút ra từ tác phẩm. Tác phẩm văn học thiếu nhi, ngoài chức năng giải trí còn một chức năng quan trọng là giáo dục. Qua mỗi vần thơ, câu chuyện, người viết đều cố gắng hướng độc giả nhỏ tuổi của mình đến những bài học bổ ích. Cố nhiên, đó là những bài học cuộc sống phù hợp với tâm lí lứa tuổi của trẻ em. Khi viết Hái gắm, Nguyễn Hồng Chiến ý thức rõ điều này. Cho nên ở kết thúc truyện, thông qua lời độc thoại của nhân vật Hoàng Vân là cậu bé lần đầu tiên vào rừng và gặp một trục trặc nhỏ (bị ngứa) vì tự ý giải quyết vấn đề (bỏ gắm vào túi quần), tác giả trực tiếp gửi đến độc giả nhí của mình một bài học cụ thể, thiết thực: “cái gì không biết phải hỏi người biết, không thể làm liều dù đó chỉ là một việc nhỏ như… hái quả gắm”. Ngoài ra, thông qua câu chuyện hái gắm trong rừng, nhà văn còn gián tiếp nhắn gửi đến các em bài học về lòng dũng cảm, tình yêu thiên nhiên, tình bạn… Truyện vì thế mang tính giáo dục rõ nét.
Cuối cùng, Hái gắm còn thành công ở một số phương diện hình thức nghệ thuật. Viết cho đối tượng thiếu nhi, Nguyễn Hồng Chiến luôn ý thức về cách tổ chức câu chuyện, xây dựng nhân vật, tạo tình huống truyện, sử dụng ngôn ngữ… sao cho phù hợp với năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của trẻ em nhất. Truyện vì thế có cốt truyện đơn giản, tình huống truyện nhẹ nhàng nhưng vẫn đảm bảo tính bất ngờ, hệ thống nhân vật không phức tạp (chỉ có hai nhân vật), giọng văn tâm tình, lời văn trong sáng… Đặc biệt, truyện còn gây ấn tượng với những đoạn văn giàu hình ảnh, đậm chất thơ về cảnh sắc núi rừng Tây Nguyên, ví như: “Buổi sáng mùa khô Tây Nguyên hình như bầu trời xanh và cao hơn. Gió thỉnh thoảng vờn qua làm lắc lư những ngọn cây cổ thụ, tạo nên bản nhạc rừng thánh thót từ những chiếc lá chạm vào nhau và các cành đệm thêm kiếng kẽo kẹt, kẽo kẹt… thật vui tai. Bầy chim bạc má không biết bàn nhau chuyện gì bên các gốc cây cũng ồn ã cả lên với những nốt trầm bổng như một bản hòa tấu của thiên nhiên chào đón những chàng trai vào thăm rừng già”.
Tóm lại, viết cho thiếu nhi đã khó, viết về thiếu nhi người dân tộc thiểu số lại càng không dễ. Bởi truyện muốn thành công phải đảm bảo nhiều yếu tố, vừa mang tính giải trí lại vừa có tính giáo dục; vừa gay cấn, bất ngờ nhưng lại vừa đơn giản, dễ theo dõi, phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ; vừa giàu hình ảnh, sắc màu nhưng phải vừa trong sáng, dễ hiểu… Nhà văn Nguyễn Hồng Chiến trong tập truyện Bí mật của H’Loan, đặc biệt là trong truyện Hái gắm đã làm được điều này. Truyện của anh vì thế hay và thành công trên nhiều phương diện, có đóng góp nhất định cho mảng truyện viết về đề tài Tây Nguyên, về trẻ em người dân tộc thiểu số trong văn học thiếu nhi Việt Nam hiện nay.



Chú thích:
1. Trình Lê, “Cuốn sách hé lộ những huyền bí của núi rừng Tây Nguyên”, báo điện tử Vietnamnet.vn ngày 7/12/2016.


Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ





MẮT LƯỚI
Truyện ngắn



Tôi bắt đầu nhìn thấy nó ở khắp mọi nơi.
Những chốn tôi đã từng dừng chân trú ngụ hoặc chỉ tạm thời thăm viếng dăm ba thời giờ nào đó rảnh rỗi.
Lần này, tôi lại phải khẳng định thêm nữa, rằng nó không phải là giấc mơ hoặc thứ tưởng tượng chập chờn trong trí não. Tôi đã nhìn thấy nó. Rõ ràng, không một chút mờ ảo, khuất tất. Nó sống động hệt như hình ảnh ba chiều. Tôi không nhìn nó bằng mắt. Nó nằm trong não. Tôi nghĩ, nên tập nhìn mọi thứ xung quanh mình bằng não thay vì mắt thường. Não, hẳn sẽ sáng suốt hơn. Nhưng rồi, tôi không còn nhìn thấy nó nữa. Nó đã rời bỏ tôi. Nó đã biến mất khỏi trí não đầy mộng mị của tôi. Nó rời bỏ tôi không một chút thương xót. Những mắt lưới xanh xao, kết nối bầu trời và các vũ trụ song song hiện thể. Những mắt lưới hiển hiện đằng sau cánh cửa vừa mở toang ra nơi lòng biển mà tôi nhận thấy. 
Rồi, bất giác, tôi trở nên chán ghét việc phải suy tưởng về chúng, những mắt lưới lạc lõng đu bám ẩn hiện trên các đốt ngón tay xương gầy uốn lượn, vươn ra tứ phía chỉ để bíu với một niềm tin vô hình về sự hiện hữu của chính mình.
Tôi, quyết, sẽ rời bỏ những mắt lưới, để nghĩ nhiều hơn về những giấc mơ.
Hẳn nhiên rằng, tôi phải thường xuyên nghĩ về những giấc mơ. Bởi, một lẽ xác đáng, tôi biết, đó cũng là một thế giới. Giữa tôi và chúng luôn có sự kết nối rất đỗi gũi gần, quen thuộc khó lòng tách rời.
Tôi bắt đầu mơ về nó.
Khi tất cả mọi giác quan của tôi chìm dần vào những cơn mê, nó xuất hiện, chĩnh chện cười cợt trêu đùa với tôi.
Thỉnh thoảng, nó biến mất một cách lạ lùng, khiến tâm trí tôi hỗn độn như mớ bòng bong rối loạn, không rõ hình thù, màu sắc.
Tôi nghĩ đến việc ghét bỏ mọi giấc mơ.
Những giấc mơ thường chết đột ngột như khi nó đến không cần báo trước. Tôi chẳng còn nhìn thấy nó nữa. Sau một vài cơn va quệt nhẹ với các loại tường. Chúng, những bức tường dựng lên sừng sững ngăn cách tôi và nó; tôi và giấc mơ; tôi và cả chính tôi nữa. Kẻ siêu nhiên lẩn nấp, khuất dạng phía sau những giấc mơ đã bị ảo hóa bởi rất nhiều hình khối, thanh âm giả trá.
Tôi cần nó xuất hiện đều đặn trong giấc ngủ của mình. Dù rằng, chỉ là một góc tối vụn vặt. Ai đó thường tìm cách thì thào những lời khó hiểu vào tai tôi, trước khi tôi chợp mắt: “Mày cần một góc tối. Mày cần phải chui ngay vào cái góc đó và ẩn nấp”. Khả dĩ, tôi chiều lòng và quyết định lắng nghe những lời ám thị đó bên tai mỗi đêm, cũng bởi tôi cần, rất cần đến cái góc tối ấy. Tôi phải tìm ra nó, để hỏi một vài câu ngớ ngẩn: “Vì sao, nó có mặt trên thế gian này?”.
Một địa điểm không thể tối hơn được nữa so với bầu trời đêm nay. Tôi cần nó xuất hiện và nhốt tôi vào đó. Tôi muốn chạy trốn những mắt lưới. Chúng có màu đỏ, chúng thường xuyên chơi trò vờn đuổi, rồi sau, chụp xuống đầu tôi một cách bất ngờ. Chiếc lưới khổng lồ. Tôi nhớ, mình luôn phải tìm cách chạy trốn chúng, cái mắt lưới biết cười, biết nhễu nhại nhếch mép hoặc thè lưỡi dài ngoẵng đỏ lòm huênh hoang. Thi thoảng, tôi tự trấn an rằng, sẽ chẳng bao giờ sợ chúng. Ấy thế, tôi vẫn cảm thấy thật khó lòng rời bỏ nỗi sợ hãi này, bởi những mắt lưới quỷ ám, chúng, hình như vẫn đang bị cầm nắm, điều khiển bởi một vài bàn tay lấp lửng, vô hình. Tôi thử nghĩ, hẳn là “những kẻ bí ẩn giấu mặt, vẫn thường xuyên tìm cách kết nối với tôi, bằng cách chơi trò đan bện những sợi tơ nhền nhện hòng thít chặt và ràng buộc không gian thời gian của riêng tôi lại với nhau, khiến tôi nghẹn thở”.
Tôi vẫn đang tìm kiếm những nơi có thể cho tôi được quyền trốn nấp. Vì, ít ra, vào lúc này tôi sẽ bớt được những cơn hãi hùng sợ sệt mơ hồ vô lí, khiến đôi chân tôi thi thoảng run lên bần bật. Thế giới bỗng trở nên khó hiểu và bất an hơn những gì tôi biết từ khi mới mở mắt chào đời. Thế giới như những mắt lưới chằng chịt. Xung quanh tôi, sự ích kỉ ngập tràn trong từng con mắt liếc dọc liếc ngang. Họ ngấm nguýt nhau. Họ nheo mắt nhìn nhau một cách cà khịa, ghét bỏ. Họ gầm gừ, đe dọa lẫn nhau mỗi ngày trôi qua đến phát chán trước mặt tôi. Những lần tôi hờ hững lạnh lùng, với nỗi buồn ngập sâu và dậy sóng một cách hồn nhiên trong lòng mình là khi mọi cảm giác đều lặng lẽ chuồi khỏi tâm hồn tôi và lần lượt tắt ngóm, chết dần chết mòn đến thê thảm.
Chiều nay, tôi không cần cái không gian sang trọng đủ đầy trong căn phòng quét vôi trắng, và phản chiếu bởi ánh đèn màu mờ ảo mà tôi yêu thích nữa. Tôi quyết định hướng ánh mắt mình về phía sân phơi, nơi có chiếc bếp lửa đun củi từ thời tối tăm mù mịt khói. (đến bây giờ vẫn tối tăm mù mịt khói). Tôi nghĩ về góc phòng mẹ dùng làm kho bé nhỏ chỉ để vừa vài chiếc thùng carton ở cuối dãy nhà này. Hóa ra, trong những thứ lớn lao, bấy lâu nay tôi vẫn thường ngẫm ngợi, lại có sự tồn tại của những điều nhỏ bé rất cần thiết. Chúng an toàn hơn nhiều so với cái mắt lưới sắc nhọn đang cố tình vây bủa xung quanh tôi và thế giới này.
Nhưng, chính vì vậy, lại khiến tôi không thể nào thoát khỏi cái mắt lưới ấy.
Phía sau ngọn núi. Đứng từ lan can này, tôi có thể nhìn thấy hết thành phố. Chiều xuống tự lâu lắm rồi, và đêm đã bắt đầu làm cái công việc thay thế. Nhưng, đêm nay, tất thảy đều ảo mờ trong đáy mắt tôi. Những âm u lên ngôi. Chúng xoạc cẳng, vung tất thảy các mắt lưới khổng lồ ra thâu tóm toàn bộ thung lũng, và thân phận của rất nhiều kẻ mù lòa hoặc cố tình mù lòa. Những mái nhà chỉ là nơi neo buộc tạm thời cho sự sống và cái chết. Có gì để người ta hào hứng khoa trương khoe khoang sự ốm yếu, nhợt nhạt hiển hiện trên khuôn mặt xám ngoét kia. Ngay lúc này, giữa hàng đống thanh âm bộn bề, hỗn tạp, tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi, sát sườn núi càng rõ rệt, thê lương.
Thời gian trôi đi khá nhiều năm lắm rồi, vậy mà cái mắt lưới ấy vẫn bám riết, ám ảnh và trói buộc tôi không chịu buông rời. Thỉnh thoảng chúng chơi trò xoay chuyển không gian. Nhưng, thật ra cũng chỉ là những bức tường vôi áp vào nhau hòng lừa đảo mỗi người trong căn nhà này từng khoảnh khắc. Chúng len lỏi vào mắt tôi, vào tim tôi, trườn bò lên môi tôi như những giọt mặn từ biển khơi bắn tung tóe không ngơi nghỉ mỗi đêm khuya về khi lên cơn nghẹn sóng. Sóng cũng mắc nghẹn như nỗi đau mắc vào vai áo, dính nhèm nhẹp lên từng sợi vải chẳng thể nào tẩy xóa đi được. Kí ức của tôi, có khi chúng như những giấc mơ tôi đã từng thấy người ta thay nhau leo lên các nhành cây yếu ớt ngoài cơn bão chỉ để buộc chùm khăn tang trong đêm sâu thăm thẳm.
Ai đó vừa nhắc tôi đi ngủ.
Tôi cúi đầu. Im lặng. Hẳn là người nhắc tôi đi ngủ sẽ chán ngay thôi.
Tôi chẳng thể chợp mắt nếu như, chúng, cái đêm sâu thăm thẳm này không chịu chết phứt đi, cái đám hình nhân ảo ảnh này không chịu biến mất đi, hoặc là giả vờ nấp lén đâu đó trong chốc lát thôi cũng được. Tôi sẽ không ngủ, nếu ngoài kia trời vẫn tối, mưa vẫn à ơi ru hời các linh hồn nằm dưới mộ cỏ. Tôi sẽ không ngủ, nếu sau thung lũng này vẫn nhập nhoạng tiếng bọn mèo hoang khóc la thảm thiết.
Tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi vẫn khò khè kéo rê theo tiếng mưa rơi rả rích trên mái tôn, rớt xuống hiên. Tôi khoanh chân ngồi nghe, như nghe tiếng kinh cầu của núi rừng và của từng nóc nhà u ám dưới những bóng đèn đủ màu nhấp nháy phía thành phố.
Ai đó lại tiếp tục nhắc tôi đi ngủ.
Họ thì biết làm sao được về những cái mắt lưới này. Họ luôn luôn tìm cách bắc loa ở các cột điện và nhắc nhở mọi người đi ngủ. Tôi quyết định thức trắng đêm, để xem, những cái mắt lưới bướng bỉnh kia còn định giở trò gì hòng quấy nhiễu giễu cợt tôi như ý muốn của chúng. Người đàn ông ấy lại vừa nhắc tôi đi ngủ. Rõ ràng, người đã nhắc tôi đi ngủ luôn luôn là ông ấy, chẳng phải ai khác. Vậy mà, tôi lại nhìn thấy những cái bóng lúc ẩn lúc hiện hét toáng vào tai tôi át hẳn giọng trầm của người đàn ông quen thuộc. Chẳng có cái mắt lưới nào biết nói. Tiếng kèn đưa đám tiếp tục kéo rê lê thê giai điệu não nề. Tôi không thể nhắm mắt. Người chết thì phải nhắm mắt. Chết mà không nhắm mắt, hẳn đáng sợ lắm.
Lại tiếng ba tôi lẩm bẩm một mình ngay lan can cầu thang tối: "Bầu trời ban đêm như tấm lưới bủa vây". Tôi giật mình, bên tai tôi lại vang vọng tiếng ai đó nhắc nhở tôi đi ngủ. Lúc này, tôi không thể nào chịu đựng được sự rền rỉ bám riết dai dẳng của cái thứ vô hình đằng sau bóng đêm ấy nữa. Tôi mong trời sáng. Có lẽ khi trời sáng, sẽ mang lại một chút ít cảm giác vượt thoát khỏi những bức bối lặng lẽ của đêm.
Bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, tiếng kèn đám ma vẫn thổi ò í e dưới chân núi, ngay bên hông nhà tôi. Có thể, kẻ sống quá tiếc thương mà không chịu di dời kẻ chết rời khỏi thế giới này. Hoặc giả, kẻ sống muốn hoài niệm mãi mãi với những xác thịt đang dần dần thối rữa trong chiếc quan tài? Có lẽ, họ sẽ chẳng bao giờ chịu chôn cất cái chết.
Thung lũng chìm sâu hơn khi những vì sao bắt đầu nhấp nháy như những mắt lưới khổng lồ. Tôi vẫn không thể nào chợp nổi mắt vào ban đêm. Vì vậy, tôi luôn mong mỏi bình minh lên. Căn nhà của tôi lọt thỏm chính giữa thung lũng, như một con mồi vừa lọt vào những mắt lưới của bầu trời ảo diệu. Khe sắt từ các khung cửa sổ len lỏi vài ngọn gió. Có khi, nó chính là dấu hiệu của một sự đổi thay. Tôi so vai lại, đầu nặng trĩu, máu chạy hai bên thái dương tưởng chừng ai đó cầm búa gõ từng nhịp. Buốt như một tiếng chuông. Bên ngoài cánh cổng sơn màu sẫm tối của buổi chiều mưa, tôi nhìn thấy những tia sét. Có thể, chúng sẽ xé toạc cái mắt lưới ấy, kể cả chân mây phía cuối con đường rẽ lối đến mái vòm của chiếc cổng ánh sáng.
Tôi mơ màng nghe tiếng người đàn ông quen thuộc đang gọi từ phía cửa nhà bếp. Hóa ra, đêm qua, tôi đã lẻn vào góc phòng tối của mẹ và đánh một giấc dài chập chờn đầy mộng mị như kẻ mê hoang bị lạc trong mắt lưới của chính mình. Những chiếc loa phường chễm chệ ngay đầu phố nhà tôi, đến hẹn lại lên. Chúng thường xuyên chăm chỉ phát một bản thông báo ngắn mỗi sáng sớm, chỉ để nhắc nhở mọi người về việc đi ngủ.