CHÂN DUNG HỘI VIÊN
Tên thật: Nguyễn Thị Anh Đào
Sinh ngày: 16. 09. 1981
Hiện sinh sống tại: 31B Nguyễn Trung Trực, Thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Daklak
Tác phẩm đã xuất bản:
Ngày em làm người lớn – 2007 (NXB Kim Đồng)
Chỉ cần em biết khóc – 2012 (Tủ sách 8x – NXB Văn hóa Văn nghệ)
Tiếng Đàn Khuyết – 2015 (Công ty Limbooks- NXB Lao Động)
Đom đóm lập lòe – 2016 (NXB Văn Học)
Giếng Hoang – 2016 (NXB Hà Nội)
Thà cứ một mình rồi quen – 2017 (Công ty Saigonbooks – NXB Văn hóa Văn nghệ)
Các giải thưởng:
Giải thưởng truyện ngắn Yume 2011
Giải thưởng Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk các năm 2014, 2015, 2016, 2017
Giải khuyến khích giải Chư Yang Sin lần 2 – 2015
Giải khuyến khích – Giải thưởng Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam 2016.
XUÂN MUỘN
Truyện ngắn
- Tui yêu chị!
Cô hất mái tóc đầy những sợi bạc nhìn thằng con trai mới hơn ba mươi tuổi, hét lên một câu như xé toạc trái tim cô. Một người đàn bà với đứa con gái hơn mười tuổi đầu có gì để một người đứa con trai yêu? Cô nhìn lại mình, thật sự, cô chẳng có gì ngoài sức cùng lực kiệt, bươn chải đến tróc cả những chiếc móng tay để kiếm tiền nuôi con. Cô nhướn mày nhìn đứa con trai ba mươi mà mình đã yêu thương nó như một đứa em nhỏ, nói giả lảng như mình chẳng hiểu vào câu nó nói:
- Mày thử ghét chị mày đi, chị cho mày biết tay!
Nó bước tới nhìn cô bằng cái nhìn mà đến giờ cô vẫn không tả được, nửa yêu thương, nửa giận dữ, có cả sự căm hờn hay trách móc... nó nắm hai vai cô bằng đôi bàn tay thanh niên rắn chắc:
- Làm vợ em đi, em yêu chị, chị hãy làm vợ em đi!
Giây phút đó trong trái tim đàn bà đã qua bốn mươi của cô gần như vỡ òa, những sợi dây buộc chặt lòng mình trong suốt bao nhiêu năm, bỗng mục ruỗng và bung ra từng mối. Cô dùng hết sức và sự tỉnh táo còn lại của mình cố gỡ đôi bàn tay ấy ra khỏi vai mình:
- Thạnh à, không được đâu! Đã bao nhiêu lần rồi, tôi nói là không được đâu!
- Tại sao?
- Cậu phải hiểu là chị hơn cậu rất nhiều tuổi, mà điều đó là không thể!
Thạnh, tên người con trai ba mươi tuổi, nắm chặt hai bàn tay mình thành nắm đấm, quay lưng, rồi đá mạnh vào chiếc xô rỗng cô dùng xách nước từ hồ chứa chung. Tiếng chiếc xô lăn long lóc kêu loảng xoảng, Thạnh rớt lại câu nói
- Tui sẽ làm chị yêu tui!
Thạnh rời đi rồi, cô vẫn chưa thôi đau đớn, có phải cô không yêu Thạnh đâu, một đứa con trai ba mươi, từ năm năm trước đã từ chối các cô gái cùng tuổi xinh đẹp chỉ để quan tâm mỗi mình cô và bé Nấm, dùng cả tuổi thanh xuân của mình để bên cạnh cô, mà đáng ra, phải ở cạnh những lựa chọn tốt hơn. Lòng cô có phải sắt đá đâu, đau đớn lắm. Nhưng cô buộc phải từ chối Thạnh, để Thạnh trở về nơi mà Thạnh xứng đáng thuộc về.
Gần tết rồi, dãy nhà trọ người ta thu dọn quần áo về quê, hồ chứa nước chung bắt đầu vắng người chiều chiều về tụ tập tắm giặt. Cô và Nấm, bao lâu rồi không về nơi mà cô gọi là quê nhỉ. Từ ngày Nấm tượng hình trong bụng, cô đã rời ngôi làng đó ra đi, sống lắt lay từ nơi này sang nơi khác, khi tới dãy trọ này, thì có lẽ cô ổn định hơn và đã ở lại đây lâu hơn, mọi người đã sống trong sự đùm bọc lẫn nhau, hoặc ít ra là không hại nhau. Ngày đầu tiên Thạnh dọn đến, Thạnh ở một mình cách phòng cô và Nấm một căn. Thạnh cũng làm công nhân ở trong khu công nghiệp gần đây như cô. Mỗi ngày, cô gặp Thạnh cũng như nhiều người khác ở bể nước chung của dãy trọ. Nhưng thay vì để tán tỉnh hay trêu ghẹo các cô gái trẻ khác, ánh mắt của Thạnh cứ dõi theo cô và bé Nấm.
Lãnh lương và thưởng tết, cô dắt Nấm ra chợ, sắm nó vài bộ quần áo mới, trẻ con mà, cứ sắm đồ mới là mắt tươi rói, cô nghe trái tim mình dịu lại mấy phần, cứ nghĩ, ừ chỉ cần con cười là đủ rồi. Đi qua quầy quần áo nam, bé Nấm níu tay cô lại, chỉ lên chiếc áo treo trên quầy
- Mẹ, áo này chú Thạnh mặc đẹp lắm nè!
Cô tần ngần vài giây rồi kéo tay con bé đi qua, nhưng Nấm không chịu, giằng lại
- Mẹ, mua cho chú Thạnh đi, lần nào con có đồ mới, chú Thạnh cũng có mà!
- Đồ chú Thạnh, để chú Thạnh mua!
- Không! Chú ấy chỉ mua cho con và mẹ thôi, mẹ phải mua cho chú ấy, tết chú mới có đồ mặc chớ!
Con bé thuyết phục được cô, nó nói đúng, tết nào Thạnh cũng sắm đồ cho Nấm và cô, những bộ quần áo Thạnh mặc ngoài đồng phục của xưởng làm đều do cô và Nấm đã chọn cho Thạnh trong những ngày đi chợ tết. Mà, phải chi Thạnh cứ ngoan và yên lành bên cô và Nấm như một cậu em trai, rồi Thạnh có bạn gái, Thạnh có vợ đi có phải tốt hơn không? Sao Thạnh lại yêu cô?
Ngang qua hàng khô, những bó lá chuối, lá dong đặt nằm gọn ghẽ trên quầy, cô nắm chặt tay bé Nấm
- Con muốn gói bánh không?
Mắt bé Nấm sáng lên, đúng là trẻ con, cô thầm cười như thế, nhưng trong lòng thì nghĩ về Thạnh, chắc đêm giao thừa, Thạnh sẽ về ngồi bên bếp lửa nấu bánh cùng mẹ con cô, chắc chắn Thạnh sẽ về, mọi lần, Thạnh cũng tự ái bỏ đi, nhưng rồi Thạnh cũng về đó thôi.
Hai mẹ con ngâm nếp, ngâm đậu rồi ướp thịt ở ngay sân của khu nhà trọ, người ta về nghỉ tết hết rồi, năm nào cũng vậy, tới giờ này thì khu nhà trọ chỉ còn hai mẹ con cô và Thạnh. Năm nào cô cũng hỏi sao Thạnh không về quê, Thạnh chỉ cười cười bảo ở Sài Gòn ăn tết với bé Nấm. Rồi chở Nấm và cô đi đường hoa Nguyễn Huệ, đi vòng vòng khắp Sài Gòn. Mà ngày tết, Sài Gòn lặng lẽ, vắng ngắt như quê.
Cô đổ nước vào nồi, hun củi lên, miệng luôn kêu Nấm
- Con lấy thêm củi cho mẹ đi!
Cô lặp đi lặp lại mấy lần thì Nấm nổi quạu
- Mẹ kỳ quá, một đống chà bá rồi mà mẹ còn thấy thiếu hả?
Cô giật mình nhìn đống củi to đùng mà bé Nấm ôm lại, nhìn mồ hôi nhễ nhại trên trán con, chợt hối hận
- Mẹ xin lỗi, nãy giờ mẹ không nhìn?
- Chớ mẹ nhìn cái gì?
Cô đâu thể nói cho nó biết là cô nhìn ra đầu ngõ, muốn nhìn xuyên qua con hẻm nhỏ, muốn lắng tiếng bước chân ai đó trở về. Cô bối rối nhìn con, lắc đầu
- Mẹ, con nhớ chú Thạnh, sao chú hổng ăn tết với mình hả mẹ?
Trời sụp tối, nồi bánh đã bắt đầu sôi, đêm nay là giao thừa, còn mấy tiếng nữa thành phố sẽ nổ pháo hoa, từ khu nhà trọ này cũng nhìn thấy được pháo hoa rực sáng cả bầu trời, Nấm buồn xo đẩy củi vào bếp, cô ngồi bên cạnh, muốn kể cho nó nghe chuyện ngày xưa mẹ cũng từng ngồi nấu bánh với ngoại, từng có những giây phút đầm ấm bên gia đình, nhưng chạnh lòng, lại thôi.
- Mẹ, mẹ làm gì cho chú Thạnh giận vậy mẹ?
- Mẹ... mẹ... đâu có...
- Ai nói chú Thạnh nhỏ mọn vậy hả? Chú Thạnh mà biết giận sao, hả?
Bé Nấm mừng rỡ hét lên
- A, chú Thạnh về!
Nó buông thanh củi, nhảy bổ ôm chầm lấy cổ Thạnh. Cô sửng lại mấy giây, vì Thạnh không về một mình, đàng sau Thạnh là hai người đàn bà, một người đã từng rất thương yêu cô:
- Xuân à!
Cô sụp xuống, khóc nấc
- Má ơi! Con xin lỗi má, má ơi...
- Tổ cha mầy! Lỗi với phải! ...
Hai mẹ con ôm lấy nhau, mười năm rồi cô không gặp, mười năm cô bỏ đi biệt xứ để những nếp nhăn trên da của má tăng thành cấp số nhân theo nỗi nhớ.
Đêm giao thừa đó, ngồi quanh nồi bánh tét, má của Thạnh cầm tay cô nói:
- Lỡ giao thừa này nữa thôi, năm sau thì tết cùng nhau về quê ăn tết với má, về còn thắp hương cho ông bà tổ tiên, về lau dọn cái bàn cái cửa, sửa cây bông cây hoa, hổng lẽ bây đi hết đời được sao?
Cô nhìn Thạnh, mấy ngày qua không phải Thạnh giận, mà Thạnh đã về tận quê đưa má cô và má anh lên Sài Gòn, tình yêu lớn của Thạnh, cô còn lý do gì để từ chối nữa hay không?
Bé Nấm chạy lại bu vô cổ Thạnh hỏi
- Chú mà làm chồng của mẹ con, vậy con kêu chú bằng ba, đúng hông?
Thạnh ngỡ ngàng nhìn mọi người, ai cũng gật đầu, Thạnh gật đầu với Nấm
- Tất nhiên rồi! Từ nay ta là ba của con!
Nấm mừng rỡ hét lên
- Con có ba rồi, con có ba rồi!!!
Thạnh nhìn Hạnh bằng ánh mắt ấm áp
- Chị đừng có suy nghĩ nữa...
Thạnh chưa kịp nói hết câu thì bị ngay một que củi vô lưng:
- Cái thằng này, vợ mày mà mày kêu bằng chị hả?
Cả nhà cười rộn lên. Trong mắt cô từ khoảnh khắc ấy là mùa xuân rộn ràng, là tình yêu được cho đi, được đáp trả mà không cần đè nén trong lòng mình nữa. Thanh xuân không phải ở số tuổi mình có, mà thanh xuân ở trong trái tim còn biết đập rộn ràng thương yêu.
NGUYỄN ANH ĐÀO
HOA TIÊN TRÊN ĐỈNH NÚI
Truyện ngắn
Mụ quảy cái gùi lên lưng, ra khỏi nhà từ khi trời chưa kịp sáng, từ lúc ngoài đường thưa thớt vài người đi chợ sớm. Mụ trùm kín mặt, ừ, thì cũng có những phút giây nào đó trong đời, mụ từng ước ao có thể nhoẻn miệng cười với thiên hạ ngoài kia một lần, muốn tay bắt mặt mừng với những người mà mụ quen biết. Nhưng lâu rồi, mụ thấy mình chẳng còn là một con người nữa, từ cái ngày tô canh đang nóng hôi hổi hắt lên một bên mặt của mụ, kèm theo những lời chì chiết, chỉ vì mụ lỡ nêm muối hơi mặn. Nên thôi, tốt nhất mụ cứ bịt kín mặt mình, che đi những vết sẹo chằng chịt đó, những vết sẹo khiến mụ trở thành “con quỷ” ngay trong nhà mình.
Vách đá cheo leo, bàn chân mụ cứ bám từng viên đá mà đi, những loại cây mọc bám vào đá thường bám rất cứng, phải dùng liềm được giắt sẵn trên gùi mà cắt chúng xuống. Khi chiếc liềm cắm phập vào đá, phát ra những tiếng lanh canh như tiếng những đồng xu hiếm hoi trong tay nải mụ mang về nhà mỗi chiều. Mụ mệt, thở hồng hộc giữa cheo leo núi cũng chẳng át nổi tiếng thở và rên rỉ trên chiếc nệm duy nhất trong nhà mụ trước gian thờ.
Đêm, chiếc đèn hột vịt leo lét, đỏ au in bóng người trên vách, căn nhà vắng tanh, chỉ nghe tiếng ồn ào náo nhiệt từ xung quanh. Thành phố mà, giữa thành phố tưởng như giàu nhất kia, cũng có một căn nhà ổ chuột nghèo tới mức chẳng có tiền mà mắc điện, ngọn đèn dầu cứ leo lét cháy. Rồi mụ nghĩ, cần gì phải điện, đời mụ, có ai cần nhìn thấy đâu, cứ thà sống trong bóng tối phút nào hay phút ấy. Chiếc rèm bằng vải thun nhàu nhĩ úa vàng kéo ngang chắn giữa bếp và gian thờ cũng chẳng đủ dày để che hẳn ánh sáng đi, thỉnh thoảng hắn, về còn bực dọc hét lên “cái nhà gì mà lúc nào cũng đầy bóng quỷ ám!”. Lúc đó, mụ rúc sâu hơn trong tấm rèm chắn, đến thở cũng không dám.
Trong bóng tối, mụ nghe tiếng rúc rích cười, tiếng thở và cả những lời nói của giống loài nào đó mà mụ không biết. Chỉ biết nó đang phát ra trên chiếc nệm duy nhất trong nhà, nơi mà ngày xưa, lâu lắm rồi, mụ cũng được ngủ trên đó vài lần, giờ nó cũng nhăn nhúm, nhàu nhĩ, bị cháy sém mấy lỗ vì hắn thỉnh thoảng làm rơi tàn thuốc. Khi những tiếng ồn ào bên ngoài chấm dứt, thì chiếc màn được vén lên, một bàn tay chìa vào, mụ lần tay trong tay nải, lấy hết những đồng bạc còm cõi trong ngày, bỏ lên bàn tay đó. Chiếc màn được buông xuống. Không ít lần mụ nghe bên ngoài có tiếng chửi thề:
- Có từng này tiền mà cũng đòi chơi đĩ!!!
Nhưng mụ chẳng mong nghe những tiếng chửi thề đó, bởi sau đó, mụ bị lôi ra giữa nhà, hắn nắm lấy tóc hay túm lấy cổ áo của mụ mà gầm gừ:
- Tiền đâu, sao mày đưa tao có từng đó?
Mụ lắc đầu, những cái lắc đầu liên tục cho tới khi hắn ném cái tay nải của mụ xuống đất, nhẹ tênh, hắn mới chịu tin rằng mụ chẳng còn tiền nữa. Rồi hắn tức tối bỏ đi ra ngoài. Mụ trở về tấm ván cũ kê bên trong chiếc rèm phủ đầy bóng tối, cong người rồi ngủ giấc chập chờn đợi sáng. Tự nhủ, mai, sẽ đi xa hơn, trèo lên những mõm đá cao hơn, thuốc quý thường ở những chỗ khó tìm.
Ngày mưa cũng như ngày nắng, mụ ra đường từ khi mặt trời còn chưa ló rạng, trở về nhà khi trời sụp tối sau khi mang những thứ hái được đến tiệm của một lương y trong phố, ngày nào ông cũng cười chào mụ bằng cái giọng nhẹ nhàng và ấm áp nhất mà hình như đã từng nghe trong tuổi thơ ngắn ngủi có đầy đủ mẹ cha của mụ. Rồi ông đưa cho mụ những đồng bạc, mụ cuốn tròn bỏ vào tay nải cột ngang lưng quần. Ngày nào trở về nhà cũng thấy lòng ấm áp hẳn lên, hình như ngày xưa, cha mụ, cũng từng là người như thế. Nhưng rồi, sau một lần lên núi hái thuốc, cha vĩnh viễn không trở về.
Trong những giấc mơ chập chờn của đứa con gái mồ côi, nó nhìn thấy bàn tay cha chấp chới từ chóp núi, bàn tay nở ra những bông hoa trắng, hương thơm ngào ngạt. Giấc mơ cứ lặp đi lặp lại trong suốt những tháng ngày đớn đau. Đã có lúc thấy chùng chân, thấy sợ hãi, rồi mình cũng nằm lọt thỏm đâu đó giữa những cây rừng giăng mắc, những mõm đá hay những vực sâu như cha. Nhưng chân mụ vẫn cứ vào rừng, bởi mụ nghĩ đến hương thơm của những bông hoa trong giấc mơ đó, mụ biết có bàn tay sẽ nâng mụ bay lên, có hương thơm phả vào người sẽ khiến mụ trở thành cô gái xinh đẹp như bao cô gái ngoài phố kia, mụ chẳng còn bịt mặt khi ra đường, mụ không còn đen đúa già nua ở cái tuổi người ta vẫn bảo là tuổi đương xuân, trên mặt mụ sẽ không còn những vết sẹo, dấu tích của sự tàn ác nhẫn tâm. Vậy nên vì giấc mơ đó mà mụ vẫn miệt mài lên rừng mỗi sáng, chỉ để tìm một bông hoa trắng.
Khi người ta tìm được lý do chính đáng cho việc mình làm, họ sẽ làm mà chẳng còn nghĩ ngợi gì, bởi mụ, đúng ra thì mụ cần cực khổ để làm gì, cần gì ngày nào cũng phải trèo leo mà tìm những cái cây, những cái rễ... mà chính mụ còn không rõ hết tác dụng của nó, đổi những đồng tiền còm cõi đó về cho hắn.
Hắn – người đàn ông từng chờ đợi mụ ở chân núi suốt mấy tháng trời, từng hứa hẹn suốt bao nhiêu điều ở tương lai, đến nỗi hắn khiến mụ tin hắn một cách khờ khạo khi mọi người xung quanh cản ngăn, bảo rằng hắn không là người tốt đâu. Ừ thì hắn xấu thôi, cái hình dáng bên ngoài không nói được bản chất bên trong, mụ không chịu tin ai hết, mụ tin vào trái tim mười tám tuổi đang đầy nhựa sống của mụ, mụ tin bằng niềm tin của đứa con gái mồ côi, thèm một bờ vai nương tựa. Rồi chưa đầy một năm sau, hắn biến mụ thành một đứa không mang hình dáng con người. Có lúc, mụ nghĩ hay mình chết đi cho rồi, nhưng mụ không có can đảm, mụ hèn lắm, bởi hèn nên mụ phải sống dưới sự khinh rẻ của người từng đầu ấp tay gối với mụ.
Nhưng muốn sống yên, mỗi ngày mụ phải đem tiền về, rồi nằm trong chiếc rèm nghe tiếng hì hụi bên ngoài của hắn với những mụ đàn bà thơm nức những mùi nước hoa có thể mua đầy ngoài sạp, thậm chí có ngày đầy mùi dầu xanh. Nhưng những bông hoa trắng nó quan trọng với mụ lắm, nó níu mụ sống lại với thế gian này, nó tạo cho mụ những hi vọng vào mỗi sớm mai, và nó làm mụ chờ đợi vào những đêm nằm cong cong trên tấm ván ọp ẹp sau bức rèm cũ.
Đêm, khi về mệt mỏi đặt mình nằm xuống, mụ lại mơ, cái giấc mơ với bông hoa trắng nở ra từ bàn tay của cha, nở cheo leo trên một vách đá, và di chuyển từ vách đá sang vách đá khác, không nơi bám víu. Mụ mang cái gùi trên lưng như thường ngày vẫn mang, cố bám vào những gì có thể bám trên đường đi mà rượt đuổi theo bàn tay của cha, theo những bông hoa trắng đang tỏa hương ngào ngạt, thanh khiết. Nhưng trên đường mụ đi theo bông hoa trắng, mùi hương bị cắt ngang bởi một mùi hương khác, nó thơm, nhưng nó tầm thường và rẻ tiền. Mụ bật cười, cả đời chẳng biết gì đến một bông hoa, vậy mà phân biệt được mùi hương rẻ tiền hay sang trọng. Nhưng rồi mụ cũng tự suy diễn được, là dù có bất cứ mùi hương nào cũng không thể bằng cái mùi hương được nở ra từ bàn tay của cha, đang đưa về cho mụ một dấu hiệu bình an nào đó. Vì cái mùi hương đáng ghét đó mà mụ khựng lại, rồi mụ nghe tiếng la hét sau lưng, nó khiến mụ giật mình và choàng tỉnh. Giờ thì mụ mới biết mình đang mơ, và mụ đã ngủ quên, ngủ trước cả cái giờ hắn dắt gái về nhà, ân ái dưới cái đèn dầu tù mù leo lét đỏ.
Tự dưng hôm nay mụ thấy giận, mụ muốn đập phá la hét hay chứng tỏ với hắn rằng mụ đang nổi điên, điều mà suốt gần chục năm qua, mụ chưa hề làm. Mụ ngồi dậy, ừ, sao chúng dám cản đường mụ, mụ đã chạm gần đến bông hoa trắng rồi kia mà. Mụ mò dưới kệ bếp có cây nến đỏ, bật diêm và đốt lên, mụ vén rèm rồi thẳng lưng mà bước ra. Tiếng động bên ngoài im bặt, rồi mụ nghe tiếng thét, cái bóng trắng muốt ôm quần áo vụt chạy dưới ánh đèn đỏ tù mù, chỉ còn hắn, người đàn ông mà ai ngoài kia cũng gọi là chồng của mụ, đang đứng đó, lia đôi mắt giận dữ về phía mụ, cái giận dữ vì mụ dám làm lỡ cuộc vui. Mụ chẳng thấy sợ, chính họ cũng vừa làm lỡ cuộc vui của mụ, chạm vào bông hoa trắng đó nó thanh cao thánh thiện hơn cái việc mà họ đang làm chứ. Mụ bước thẳng ra giữa nhà, chạm chân lên tấm nệm, nhưng mụ vội rụt lại vì thấy chân mình nhơm nhớp, mụ nhỏ vài giọt nến xuống bàn, rồi lay hoay cắm cây nến đang cháy lên đó. Mụ nghe tiếng nghiến răng và tiếng gió phật ngang và “bốp”. Tiếp là tiếng nghiến răng “con quỷ cái, sao mày dám...”.
Mụ đưa bàn tay mình lên xoa một bên má, mụ với lấy chiếc đèn dầu trên bàn, đổ ngược xuống nệm rồi nhếch môi cười, nói “quỷ cái bị đánh cũng biết đau mà!”. Hắn sững lại, mười năm, hay hai mươi năm, hay bao nhiêu hắn không nhớ được, rằng mụ chưa bao giờ dám nói lại một câu nào với hắn, đừng nói là thái độ khinh khỉnh coi hắn chẳng ra gì vừa rồi, hắn toan đưa tay tát mụ một cái nữa, nhưng mụ lại cười, hắn nghe rờn rợn, hắn chùng lại, hắn thối lui. Mụ ném cây nến trên bàn xuống, cái nệm bùng cháy, mùi dầu, mùi cao su khét lẹt.
Hắn ho sặc sụa, vơ vội cái quần dài chạy ra ngõ, hét lớn “con quỷ cái nó đốt nhà rồi!”, làm nhốn nháo những người hàng xóm quanh đó, mọi người ùn ùn mang nước lại cứu lửa. Mụ ngồi không cảm xúc. Ngoài kia, tiếng còi hụ của xe cứu hỏa tìm đường vô nhà, chắc có ai đó vì quá sợ hãi lửa cháy lan sang nhà họ nên đã gọi. Người ta đã lôi mụ ra khỏi đám lửa, với một gương mặt không kịp đeo khẩu trang, đầy những vết sẹo, đầy những nếp nhăn chồng chéo gớm ghiếc.
Mụ quay lưng khỏi ngôi nhà của mình, đúng hơn là chỗ mụ đã nằm còng queo mà ngủ suốt nhiều năm trời. Lợi dụng khi đám đông còn hỗn loạn bàn tán nhau, mụ rời ra dần những âm thanh kinh khiếp đó. Mụ thấy cuộc đời mình dần được sang trang, dần như thấy được ánh sáng. Ngoài kia, có nhiều ánh đèn điện xanh đỏ chớp tắt, đâu chỉ có những tảng đá to hay những dãy núi sừng sững, nơi mụ sống có cả bãi biển xanh đến ngút tầm mắt, đẹp đến nao lòng vậy mà sao cả cuộc đời mụ chưa nhìn thấy?
Mụ ngước nhìn lên mỏm đá cao, bỏ lại tiếng sóng biển rì rào sau lưng, mụ nghe mùi hương của bông hoa trắng, mụ nhìn thấy nụ cười của cha, mụ nhìn cái tay cha đang vẫy, trên mõm đá cao nhất, nơi mụ chưa bao giờ leo đến. Thế là chẳng suy nghĩ gì hết, bước chân mụ lại đi, đi bằng quán tính như suốt bao nhiêu năm qua mụ đã vào rừng, mụ đã leo đá, mụ đã vượt qua những ngọn núi mấp mô kia tìm những loài cây mang về cho lương y trong phố.
Hôm nay, trên lưng mụ không có gùi, không có chiếc liềm quen thuộc, trên mặt không có khẩu trang, mụ nhìn xuống người mình, ừ, tự dưng thiếu một số thứ cần thiết, thấy mình bỗng trống trải như không mặc cả quần áo. Mụ bước vào con đường mòn quen thuộc, trời vẫn còn tối mịt mù, mụ không biết mấy giờ nữa thì trời sẽ sáng, mụ chẳng quan tâm, hôm nay mụ không đi hái thuốc, mụ đi đến bông hoa trắng, nơi bàn tay của cha đang vẫy, mụ nghe luôn cả giọng nói của cha “con gái, đến đây, nắm được bông hoa này, con sẽ được xinh đẹp, được yêu thương...”. Đúng là giọng của cha rồi, dẫu cái ký ức nhỏ nhoi còn sót lại, mụ cũng nhận ra được giọng nói ấm áp yêu thương đó, chỉ có cha mới biết được cái ước mơ từ ngày thơ bé là mụ muốn trở thành tiên nữ, chỉ có cha mới biết trái tim của mụ cũng đập những nhịp yêu thương và muốn nhận được yêu thương. Và cũng chỉ có cha, dẫu đã lìa trần thế này đi lâu lắm rồi, cha vẫn cứ ở quanh mụ, vẫn cố gắng để thực hiện ước mơ cho đứa con gái vốn bị thần linh ruồng rẫy bỏ quên. Mụ men theo con đường mòn quen thuộc để bắt đầu, trời tối quá, mụ dò dẫm từng bước chân và hi vọng không dẫm phải con rắn nào đang khoanh tròn đâu đó dưới chân. Mụ hít thở thật sâu, hít căng cả mùi đất trời cỏ cây vào lồng ngực, tim đập nhanh vì hồi hộp, vì sợ, những cái sợ mơ hồ không thành hình dạng.
Bao lâu nữa thì trời sáng, mụ không biết, mụ chưa nhìn thấy dấu hiệu nào của ánh sáng mặt trời, mụ vẫn bước đi trong đêm tối. Có tiếng cười nhẹ nhàng âu yếm phía trước mặt, có tiếng hú hét khinh bỉ sau lưng. Mụ bỏ chạy, bàn chân vấp phải rễ cây, vấp gai tóe máu. Hề gì, chạy một đoạn thì mụ nghe hai bàn chân mình đau, nóng lên như có lửa. Nó bỗng bừng sáng lên, bước chân mụ soi đường đi, cả khu rừng như sáng bừng dậy, những con thú đang ngủ ngon bỗng sợ hãi chạy sâu về phía bóng tối. Mụ thấy mình bước đi như nữ thần, cơ thể nhẹ nhàng thanh thoát. Nhưng mùi hương của bông hoa trắng vẫn còn phía trước, mụ nhìn thấy nó rồi, chỉ còn cách mụ năm bảy bước chân nữa, mà sao lạ quá, dù bàn chân mụ giờ như hai ngọn đuốc, nhưng nó không dẫm lên mặt đất cứng, không dẫm những dây gai hay rễ cây nữa, nó nằm trong khoảng không, rừng vẫn còn nằm hai bên, lá cây vẫn xung quanh mụ, chỉ có bông hoa trắng là trước mặt rồi, chỉ hai bước chân nữa, mụ sẽ chạm vào nó được.
Mụ hồi hộp, sờ tay lên ngực mình, cố bấu vào thật đau, để nhắc nhở quả tim đừng đập nhanh quá. Một bước, hẫng! Mụ thấy mình rơi! Thôi rồi, không được, mọi thứ đang là ảo giác, và mụ đang rơi thật, như vậy là mụ sẽ chết dưới chân núi đá thật rồi, mụ bỗng thấy sợ hãi. Bàn tay từ bông hoa trắng chìa ra, nối dài xuống nắm lấy bàn tay mụ, rồi kéo lên. Bàn tay ấy kéo lên tới nơi mụ vừa còn đứng vững khi nãy, từ trong bông hoa ngào ngạt đó, là lời động viên “con gái, bước lên, chỉ chính con bước lên hái được bông hoa đó, con mới được nhận phép màu”. Mụ lại bấu lấy ngực mình lần nữa, mụ phải hít thở để cho cơ thể mình thật cân bằng, khi giữ được trạng thái cân bằng, mụ sẽ không rơi, mụ tin thế. Nhưng trong lòng mụ vẫn lo, mụ hỏi lại “con rơi nữa thì sao?”, giọng nói khi nãy lại cất lên, ấm áp “có ta rồi!”, từ đằng sau bông hoa, bàn tay vẫy vẫy gọi mời. Mụ không còn sợ, tim đập nhẹ hơn, mụ bước lên, một bước, may quá, không hẫng, hai bước, vẫn bình an, bàn tay vẫn vẫy, bông hoa trắng sáng bừng lên, mụ bước thêm bước nữa, bước nữa, bước nữa... Mụ đưa tay chạm vào bông hoa, chạm vào bàn tay đang vẫy, mụ thấy mình bay lên, nhẹ bẫng.
Những bông hoa bung ra, biến thành hàng ngàn bông hoa trắng, kết thành tấm thảm trắng tinh đưa mụ bay lên, mụ nhìn xuống chân mình, thôi rồi, mụ chẳng còn là “con quỷ cái” mà suốt mấy chục năm nay mụ được nghe người khác nói vào tai mình, bàn chân trắng muốt, gót chân hồng hào. Mụ soi mặt mình vào giọt sương còn đọng trên một cánh hoa, đâu rồi những vết thẹo chi chít, trên đó, chỉ có một cô gái tuổi đôi mươi đẹp như tiên nữ.
Mụ thành tiên nữ rồi! Tiên nữ đang bay, đang bay về phía tiếng gọi ngọt ngào, “con gái, con thấy hạnh phúc không?”, tiên nữ gật đầu, cùng thảm hoa trắng muốt bay về phía ánh sáng và hương thơm. Tiên nữ nhìn xuống chân núi, dáng hình một “con quỷ cái” đang nằm ngủ, gối đầu lên tảng đá bị phủ một lớp máu tươi.
Đắk Lắk 7.2016
Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018
Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018
CHỜ Ở THIÊN HÀ - Truyện ngắn của PHƯƠNG UY - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Bắt đầu khi nhìn thấy những gì thời gian để lại trên hình hài, Tỵ đã có thấy những ngày của mình còn lại quá ít. Rằng thời khắc ấy sẽ đến, nay mai. Tỵ chưa hề tưởng tượng ra mình sẽ trải qua những buổi chiều của tuổi xế chiều như thế nào. Babe thường cười những ý nghĩ điên rồ đó của Tỵ. Nhiều khi Tỵ nói điên quá, Babe nạt ngang. Con người ta, cố hết sức để tồn tại, mà sao Tỵ lại không chịu quý trọng. Tỵ không cãi, bởi Babe nói đúng. Babe bảo : “Tỵ cứ vô mấy bệnh viện mà coi đi, để thấy người ta phải giành giật từng ngày sống như thế nào”. Nhưng Babe còn trẻ, Babe chưa cảm nhận được những ánh thê lương của buổi chiều ra sao. Babe không biết được, có những ngày Tỵ lén quan sát Măng trong viện dưỡng lão, bắt gặp đôi mắt hoang vu những ánh nhìn của Măng, bắt gặp đôi mắt không còn chút ánh lửa nào. Tỵ vô thức thấy lạnh. Lạnh buốt từ trong xương sống lạnh ra. Mà Tỵ cũng đâu còn nhiều. Những ngày ấy cũng sắp đến, bên bờ bấp bênh của Tỵ. Có nhiều đêm, Tỵ ngồi sững sờ nhìn bức tượng pha lê trên bàn. Sững sờ nhìn vẻ mặt đẹp vĩnh viễn không hề nhạt nhòa trên đó. Những nét gân guốc sắc cạnh. Đôi mắt lạnh lùng không bao giờ nhắm. Làn da mượt mà mát lạnh không hề có nếp nhăn. Đôi mắt ấy luôn nhìn Tỵ mỗi đêm, nhìn Tỵ khi Tỵ ngồi viết bài, nhìn Tỵ lúc Tỵ tập đàn, nhìn Tỵ khi Tỵ uống rượu vào buổi khuya khoắt. Lúc Xích mang nó về cho Tỵ, Xích cười, khi nghe Tỵ bảo sẽ gọi nó là Azoth. Xích nói, gì cũng được, miễn Tỵ thích. Đương nhiên Tỵ thích, Tỵ hay nhìn ngắm mấy nam thần đẹp trai trên mạng. Nét mạnh mẽ không phai tàn ấy luôn thu hút sự chú ý của Tỵ. Làm thế nào để bảo lưu nó lại vĩnh viễn? Tỵ thường hay tự chất vấn như thế, mà thường là không tìm ra lời đáp. Babe cười, Xích cũng cười. Babe bảo Tỵ hoang đường, Xích nói, không có gì vĩnh viễn cả. Bảo Tỵ cứ tận hưởng hết sự vĩnh viễn được giới hạn trong mỗi ngày đi. Bởi thế, Tỵ ghét phải coi những trang báo nói về hiện tại của các diễn viên mà Tỵ hâm mộ lúc xưa. Tỵ sợ sự đau lòng khi nhìn những gì mình trân quý ấy phai tàn. Cũng như ngày Tỵ nổi điên vác dao chặt nát bụi phù dung của Măng trồng.
Ngày Xích đưa Măng vô viện, Tỵ đi vắng, mấy năm sau Tỵ về, Măng không còn là Măng phong diễm của Tỵ ngày xưa. Người Măng không còn thơm phức mùi hoa mỗi khi Tỵ úp mặt vào ngực Măng. Tỵ đứng từ xa nhìn Măng ngồi lặng lẽ trên xe lăn. Ánh mắt nguội ngắt, đục lờ, những ngón tay buông thõng, xám ngắt. Tỵ nhìn Măng thật lâu, Măng ngồi bất động thật lâu. Rồi Tỵ về. Tỵ còn chưa tới gần để gọi Măng. Tỵ sợ, Tỵ không tưởng được, vóc dáng mảnh mai ngày xưa, thướt tha với những mảnh lụa mềm mại thơm phức, con người thường chơi đùa với từng nốt hương hoa, bàn tay từng ngón dài nuột nà khi khêu chén trầm, nay lại giống như môt đống thạch cao xám xịt, cũ kỹ đấy.
Tỵ về lại trong phòng Măng, nhưng cũng không còn dấu tích của một Măng ngày xưa, những chai nước hoa không còn, lò trầm cũng không còn, cả tấm gương cổ viền nhũ vàng từng in soi bóng vóc dung nhan của Măng cũng không còn. Xích cho mang đi hết cả. Lần đó, Tỵ vác dao chặt trụi luôn bụi phù dung của Măng.
Ngày Xích đem Azoth về, Xích nói, giữ lấy nó, pha lê thì mãi sẽ không tàn, không xuống màu. Chỉ cần, cẩn thận đừng để rơi. Rơi rồi, thì không còn gì nữa cả. Tỵ đeo lên tay của Azoth chuỗi hạt tím Xích mua cho Tỵ dạo trước. Chuỗi hạt hợp một cách lạ lùng với màu mắt của Azoth, nó làm sự lạnh lẽo trong Azoth càng lạnh hơn. Nhiều lúc, Tỵ cũng muốn mình đông cứng mãi mãi, như Azoth.
Mấy hôm nay lạnh , những ngày không có nắng làm tinh thần Tỵ xuống thấp. Tỵ không muốn ra khỏi phòng. Ngồi ù lì miết trên giường và lơ đãng nhìn Azoth. Rượu mạnh cũng không làm người Tỵ ấm hơn. Tỵ thèm được ôm. Thèm được ủ ấm bởi một thân thể khác, chứ không phải bởi bàn tay lạnh ngắt của khối pha lê màu kia. Rồi Tỵ nhớ em. Tỵ nhớ những tưởng tượng ngày xưa của em và Tỵ, Tỵ thèm sự ấm áp ấy, dù thật ra, Tỵ chưa chạm đến em cả một lần. Nhưng những lúc ấy, Tỵ vẫn thấy ấm, thậm chí nóng rực. Tỵ ngồi lặng thinh nhớ khuôn mặt em và tiếng nói em. Nhiều lúc lòng cóng lạnh, Tỵ muốn nói với em, Tỵ cần em. Tỵ cần một người, kéo Tỵ về lại với cuộc sống ấm áp. Tỵ đã trôi quá lâu trong Thiên Hà. Qua ống nhòm của kính viễn vọng mỗi đêm em vẫn quan sát bầu trời, em có nhìn thấy Tỵ không? Tiếng thở dài mỗi đêm của Tỵ, em có nghe được không? Từ khoảng cách hơn năm ngàn ngày mặt trời, có vọng được tới tai em lời thì thầm của Tỵ? Mỗi ngày, mỗi đêm Tỵ lòng vòng ở F, co quắp ở tọa độ 858 của F. Giữa đám tinh vân buốt cóng và lấp lánh ấy. Tỵ nằm nhớ em. Tỵ nằm im lắng nghe những tin tức từ em, ngôn ngữ không thể diễn đạt được hết những tưởng tượng từ Tỵ, nhưng ngôn ngữ giúp Tỵ hình dung những tín hiệu từ em thành những hình ảnh. Những chấm nhị phân tuần hoàn vẽ lên nụ cười rạng rỡ của em bên người con gái khác, những kí tự lạnh trơ vẽ nên một ao ước của em về một tương lai khác, một nơi chốn khác, mà nơi đó, không có Tỵ. Từ F, Tỵ thấy em đính hôn với thanh xuân lộng lẫy, từ F, Tỵ đọc thấy khao khát của em về một phối ngẫu với những xanh non.
Mỗi ngày, giữa những cóng buốt, Tỵ nhìn những trận mưa sao băng tràn qua người mình, Tỵ nằm im quên trong những rác bụi của Thiên hà 858, để mặc những đám mây bụi sao chổi phủ dày trên lưng. Nhiều khi thấy lòng trống trải quá, Tỵ co cuộn người lại, đám tinh vân quánh đặc bám sát và bó gọn Tỵ vào một khối, chỉ để lại một đôi mắt, một ánh nhìn hướng về. Mà ở một nơi nào đó, em đã dùng những trần thế để ngăn chặn ánh mắt của Tỵ. Mấy hôm nay, Tỵ thấy mình muốn về lại cung điện ngày xưa, nơi những đền đài mà em đã cùng Tỵ dựng nên dạo trước. S mưa tầm tã, Tỵ tưởng tượng ra em trong cơn mưa, trong dòng nước lũ ngập đường.
Mấy hôm nay, nắng vàng mà lạnh. Tỵ ngồi nói nhiều quá, những thanh âm lộn xộn lạo xạo trong cuống họng Tỵ, em có nghe những lời Tỵ nói không? Nghe rồi em có hiểu không? Tỵ nói đến lúc mệt nhoài, gục xuống. F vẫn yên lặng không một tiếng then cửa mở. " Em nói gì đi". Sự im lặng quá lâu làm Tỵ giật mình mở mắt, đền đài không còn, cung điện không còn. Chỉ còn những trang sách trống trơn trước mắt. Hoàng Tử Trở Lại Và Hồi Phục. Tỵ phải hồi phục thì hoàng tử mới trở lại hay khi hoàng tử trở lại thì Tỵ mới phục hồi?
Nắng chiếu xiên qua khe cửa, lấp lánh tạo ra hào quang trên vầng trán của Azoth, vầng trán trắng sáng của em. Nắng lấp lánh trên những ngón tay của Azoth, những ngón tay dài thanh lạnh lướt trên dây đàn, là tiếng lục huyền cầm của bá tước hay tiếng đàn Thạch Sanh? Nhưng công chúa dưới hang vĩnh viễn không bao giờ là Tỵ. Những ngón tay mướt lạnh của Azoth lướt trên trán Tỵ.
" Tỵ có lạnh không?".
" Sao tới giờ Tỵ vẫn chưa hết sốt?".
" Tỵ muốn nghe em hát không?".
" Đêm nay, em là của Tỵ nhé?".
" Ừ, nhưng Tỵ coi em là gì? Em là gì của Tỵ?".
" Em không là gì của Tỵ cả, bởi vì, không ai gọi tên cho TẤT CẢ".
Đôi mắt pha lê lấp lánh ánh trăng trong suốt. Tỵ rùng mình, nụ hôn pha lê buốt lạnh trên da, nụ hôn của Azoth. Có những lời nguyền, ám lên đá như một lời thề, lại có những lời hẹn thề, mỏng đến nỗi một cơn gió nhẹ là thổi bay đi hết, như lớp bụi phủ lên mặt kính mờ.
Nhiều lúc, như lúc này, Tỵ để mình lang thang, không phải trên hoang mạc như những người Do Thái. Không phải lang thang trên tuyết trắng như người Eskimo, Tỵ lang thang giữa ngàn trùng, nơi những đường sóng đan xen nhau qua lại, những mối liên kết chằng chéo. Tỵ mong được gặp em trong những sóng âm chằng chịt kia. Nhiều lúc, ngỡ như Tỵ đã thấy được em, nhưng rồi, Tỵ thấy mình tưởng tượng. Azoth lấp lánh trong sợi nắng xiên, Azoth nhìn Tỵ cười, nụ cười nửa cảm thông, nửa chua xót. Nụ cười của em. Tỵ đứng lặng thinh nhìn ngó mọi người quanh Tỵ. Nhìn ngó những biểu tượng hạnh phúc của những người quanh Ty. Tỵ thấy nụ cười dịu dàng của Xích dành cho vợ mình khi đứa con thứ hai của họ chào đời, đứa bé như thiên thần nhỏ. Còn nàng thì rạng rỡ một vẻ mỏi mệt nũng nịu, ở nàng toát lên vẻ viên mãn như Gaia sau khi hạ sinh các titan. Tỵ thấy ánh yêu thương thấp thoáng trong trong mắt Babe khi Babe kể về H, về những đứa con nhanh nhẹn và tinh nghịch của hai người, sự đủ đầy dù được kín đáo giấu đi vẫn không che được nét ngời ngợi tự thân trong nó. Tỵ không ghen tị, nhưng vẫn có một chua xót ngấm ngầm len lỏi bên trong, tựa như sợi dây đen đủi trên cái lưng còng của con tôm. Vẫn có những ước muốn mơ hồ về một nơi chốn mà Tỵ nghĩ, có lẽ suốt cả chiều dài cuộc đời, Tỵ không hề đến được.
Tỵ cúi người, muốn vực dậy cái bóng của mình, cái bóng co cuộn lại rồi chuồi khỏi tay Tỵ, trơn tuột đi . Tựa như những ấm áp vẫn vụt xa mất vào phút cuối trong những giấc mơ hằng đêm.
Azoth dạo này thi hoặc mới về thăm Tỵ, có khi bằng chiếc bóng bán thân màu xám trên vách tường. Azoth chỉ nhìn Tỵ trầm mặc, không nói gì, có khi nói vài câu ngăn ngắn. Con mèo vẫn grù grù trên chân Tỵ. Azoth nghe Tỵ khóc bằng giọt nước mắt nghèn nghẹn. Nghe Tỵ loay hoay với mớ miên man trong đầu. Tỵ nhớ tới nụ hôn lạnh buốt của Azoth , lần Azoth hôn Tỵ lần đầu, ngực buốt đau. Như còn nguyên sự run rẩy trên tay Tỵ. Có bữa Azoth về trong góc vườn hoang trưa năm xưa, nơi đó ngọc lan vẫn còn ngan ngát, Azoth cầm những ngón tay Tỵ lẩm nhẩm tập đếm, đếm những ngày qua mòn mỏi của Tỵ. Những đêm mất ngủ là một sợi tóc trắng. Nơi góc vườn ấy, Tỵ nằm dài trên ghế băng, thả tóc rớt rơi theo gió. Mà gió mùa sắp tết thì hun hút thổi. Thổi rát qua mấy mươi mùa bấc, qua mấy ngàn đêm mất ngủ.
Có khi Azoth đến theo giọt trăng rơi qua kẽ lá trên tàn cây sứ sau chùa. Trên những chiếc ghế đá nối dài dọc con đường thâm u những đêm không ánh sao. Gió vẫn thổi ngút ngàn trên con dốc dài ngập ngụa. Azoth không còn hỏi Tỵ có buồn không? Buồn chuyện gì? Chỉ nhìn Tỵ bằng ánh nhìn ảm đạm đẫm trong tiếng tí tách của khúc While your lips are still red .
Chỉ còn tiếng nhạc âm ỉ chảy, lẫn trong tiếng hát gấp gáp hổn hển và ray rứt của em năm xưa. Bao giờ Tỵ còn được nghe em hát?
Buổi tối, Tỵ leo lên nằm trên mái nhà ngó trăng, ngó sao băng vẫn thường vụt qua bầu trời. Những ngôi sao đời đời mang kiếp cô độc, như Tỵ? Lầm lũi băng qua bầu trời, chợt lóe sáng rồi vĩnh viễn tắt đi. Tỵ rồi có tắt không? Sẽ tắt chứ? Như tình yêu của em với Tỵ? Như những cơn gió thổi qua tàn cây khô lá? Như mùa đông rồi cũng sẽ qua đời? Không ai nói Tỵ nghe, không ai trả lời Tỵ.
Tỵ nhớ những chiều mưa năm xưa, nơi căn nhà tồi tàn, một mình Tỵ hóng về hướng núi, Tỵ ngồi hóng Măng về. Tỵ ngồi hóng Xích trở lại.Tỵ hóng Babe sẽ đến bên Tỵ mà cười với Tỵ. nhưng rồi tất cả cũng mất hút như khói sau xe. Tất cả đều cũng bận bịu với những tư riêng của mình mỗi người đều có những tụ hội của riêng mình. Chỉ mỗi Tỵ chọn độc đạo một mình mình mà bước mà đi.
Buổi tối, Tỵ mang theo Azoth lên mái nhà ngóng gió. Sự im lặng của Azoth, sự im lặng của em làm Tỵ ngột ngạt. Đã từ lâu, em không còn chia sẻ bất cứ điều gì với Tỵ nữa. Như Vạn lý trường thành đóng cửa, chắn lại là hết giao thông. Tỵ mơ hồ thấy em sau đôi mắt lấp lánh của Azoth. Mắt em màu gì? Sao Tỵ biết được. Tỵ nhớ bàn tay em qua bàn tay đẹp đẽ của Azoth. Tay em có ấm không? Sao Tỵ biết được. Những cơn mê cứ lần lượt rũ mình rồi qua đời, rơi xuống trong tim Tỵ lạnh băng, nhức nhói, đắm trong quên lãng đã quá mệt mỏi một kiếp người.
Lâu rồi, Tỵ cũng không còn nghe em hát nữa, tiếng hát vọng qua loa điện thoại cũng hóa hoang vu. Nhưng Tỵ biết, Tỵ thèm nghe tiếng em cười với Tỵ, như một lần vào nửa đêm ở một buổi tối nào đó đã xa rất xa.
Măng ra đi vào một ngày bão tố, tin báo bão lẫn lộn trong những tin nhắn Xích báo về mỗi giờ. Lúc Măng đi, chưa một lời từ giã, không một lời từ giã, Tỵ còn chưa kịp đến viện gặp Măng. Xích kể: Măng đi nhẹ nhàng, không đau đớn gì. Lúc đi, Măng đẹp lắm, chỉ có đôi mắt không khép được, đôi mắt luôn nhìn về phía cửa phòng.
Ngày Măng đi, Tỵ còn lang thang chưa về. Tỵ đi tìm điều gì đó Tỵ chưa biết tới. Tỵ đi tìm điều gì đó Tỵ chưa nghĩ ra. Hay Tỵ đi tìm những điều xưa cũ mà Tỵ đã lãng quên. Tỵ một mình lóc cóc bước đi, không mang theo Azoth, bởi, suy cho cùng, chẳng có ai có thể sống dùm ai. Azoth hay em thì cũng đều có cuộc sống và kí ức của riêng mình. Em với Tỵ, đã may mắn có chung một đoạn kí ức ngắn ngủi. Tỵ biết mình sẽ tham lam nếu đòi hỏi thêm. Lúc nhận được cuộc gọi báo tin của Xích, Tỵ không nhớ gì đến Măng, trong đầu Tỵ chỉ nghĩ: Nếu em nhận được tin Tỵ ra đi, em có về nhìn mặt Tỵ một lần không?
Rồi Tỵ cũng phải quay trở lại nơi Tỵ đã ra đi. Rời bỏ Thiên hà 858 đầy những tinh vân cóng lạnh. Tỵ về lại chỗ cũ vào một ngày mưa, nhìn di ảnh của Măng đang cười và nhìn xuống Tỵ.
“Nhẹ nhàng mà sống đi Tỵ, không ai sống được hai lần cả đâu. Nên không ai đạp chân lên được miền quá khứ. Tỵ đừng tìm kiếm nữa. một ngày, rồi Tỵ sẽ như Măng”.
Tỵ thắp nhang cho Măng rồi về phòng. Azoth đón Tỵ bằng khuôn miệng cười bị vỡ làm đôi. Xích bảo con mèo vẫn thường ngủ chung đã nhảy lên bàn và đẩy Azoth xuống đất. Tỵ buồn, nhưng Tỵ đâu thể trách mắng một con mèo?
Măng không còn, Azoth không còn, em cũng không còn. Những hoài ảnh đẹp đẽ của một thời chỉ còn lại một khoảng trống lạnh băng bên cạnh Tỵ, một lỗ hổng ngút sâu trong tâm tư Tỵ, mãi mãi rách rời.
Buổi tối, Tỵ ngồi trên mái nhà một mình, không còn Azoth ngồi bên. Mùa đông đã sang trên những cơn gió khô buốt, mùa đông sang trên tay Tỵ chơ vơ, mùa đông sang trên môi Tỵ lạnh căm. Tỵ lẩm nhẩm hát một mình theo bài hát ngày xưa Tỵ hay nghe em hát.
Ừ, rồi một ngày , mùa đông cũng sẽ qua đời.
Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018
MÙA VỀ VỤN VỠ - Truyện ngắn của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Dạo này, những giấc mơ thường đến rồi đi, không để lại dấu vết. Buổi sáng thức dậy, chỉ còn nhớ mang máng hình như đêm qua có lang thang, hình như đêm qua có đánh đổi, đêm qua có vật vã đớn đau... nhưng không nhớ rõ ở đâu với ai và vì sao nữa. Mọi thứ bây giờ trở nên mù mờ nhạt nhẽo không hình không dáng không mùi vị không hương sắc, kể cả giấc mơ. Từng vệt chổi thời gian quét từ ngày sang đêm từ đêm sang ngày nối tiếp. Có khi cũng cố ngồi cố nhớ cố ghi khắc lại những mộng mị song trùng nhưng rồi không thể. Đành chặc lưỡi nhìn trời bằng mắt chim mắt bướm: Ờ, thì có mơ gì có thấy gì có đi đến đâu rồi cuối cùng cũng chỉ quay về chỗ mình ngồi với đàn kiến dập dìu trẩy hội dưới chân. Dạo này, những giấc mơ thường đến rồi đi, không hề để lại dấu vết.
Ngày nhỏ, có những buổi sáng, dậy muộn, cha mẹ đi ra đồng hết, ta vội vàng chạy ùa ra đầu ngõ nhìn ngược nhìn xuôi tìm kiếm. Chỉ có nắng rơi trên ngọn tre xào xạc, chỉ có gió múa trên ngọn cỏ xào xạc. Người thân đi vắng hết rồi! Miệng ta méo xệch gọi cha gọi mẹ... Bây giờ, khi đã đi gần hết chiều dọc chiều ngang của mênh mông kiếp người, ta lại nhiều khi tất tả ngó ngược ngó xuôi tìm kiếm một giấc mơ vừa ghé thăm nhưng không hề để lại dấu vết, như tìm kiếm người thân. Có lúc cồn cào ruột gan ta định rũ hết các đống gối chăn luộm thuộm ra hòng tìm cho bằng được, nhưng rồi lại thôi. Có gì đâu mà, những giấc mơ thì đêm nào chẳng có, mà giấc mơ đến rồi đi, đâu phải tại mình? Một làn gió đến rồi đi, mùa xuân đến rồi đi, tình yêu đến rồi đi, cũng có tại mình đâu?
Ta vẽ ra câu chuyện về núi Chư Mang rồi chìm vào trong đấy. Ta vẽ ra hoa lá mùa xuân rồi chìm vào trong đấy. Ta vẽ ra tình yêu rồi cũng chìm vào trong đấy. Rồi đến lúc ta quên mất rằng tất cả mọi thứ đều do tay mình vẽ ra thôi, mình vẽ ra mình ngắm rồi mình cười mình khóc mình tin đó là sự thật. Não ta bây giờ trùng trùng lớp lớp xếp lên nhau những dãy tế bào chứa đầy mộng ảo, chứa đầy những khúc xạ đớn đau. Nhưng biết làm sao bây giờ? Như đứa trẻ mồ côi mất mẹ, ta luôn vẽ ra hình ảnh thân thương rồi hét gọi ngàn lần biết đâu có ngày ứng nghiệm. Sáng nay có tiếng chim lảnh lót trên mái nhà, không biết thực hay mơ!
Những giấc mơ thì không để lại dấu vết, còn những hình ảnh thực thì cứ ngỡ là mơ. Ta giờ như chiếc lá trên dòng nước, càng ngày càng lọt thỏm vào giữa mênh mông của thế giới tưởng tượng. Nhiều khi ta lẩn thẩn gọi trong chiều, này, bé yêu ơi, cho ta mượn bàn tay một tí! Nhiều khi ta lẩn thẩn gọi trong đêm, này, Thượng đế, cho ta mượn vầng trăng một tí. Để làm gì ư? Thì con đò giữa mênh mông trời nước, cần một bãi cát để làm gì? Đáp lại lời ta, chỉ có gió ngàn xoay tít giữa trời cao, chỉ có những giấc mơ không hề để lại dấu vết và trùng trùng lớp lớp bức tranh hiện thực giống như mơ. Tiếng ai văng vẳng trong chiều muộn, cứ đi rồi sẽ đến, cứ gõ rồi cửa sẽ mở! Nếu thế thì ta sẽ gõ đến ngàn lần và đi suốt đêm dài ngày rộng, đi hết ngày nắng đêm mưa, gọi tên bốn mùa và liên hồi gõ cửa.
Nhưng rõ ràng giọng nói vừa cất lên lại chợt tan biến, không biết thực hay mơ!
Mùa xuân sắp sửa…
Ừ, mùa xuân đang đến, như một con rắn màu xanh, vừa bò vừa vỡ vụn ra hàng ngàn mảnh thủy tinh lấp lánh hẹn hò ngũ sắc. Ta ngồi ngắm mùa xuân bằng đôi mắt rạn vỡ nghe âm thanh mùa xuân bằng đôi tai rạn vỡ và hít thở khí trời mùa xuân bằng cánh mũi phập phồng rạn vỡ. Tại vì thế giới này chưa bao giờ là gắn kết, chưa bao giờ là một khối. Vậy nên ta mới mất công ngồi hàn gắn lại mọi vụn vỡ trên đời. Ta gắn môi hồng lại gần bếp lửa, gắn váy áo dập dìu gần với trời xanh, gắn sợi lông mi lại gần nắng ấm, gắn chòm mây trắng lại gần câu thơ… Xong rồi, ta sẽ ngồi chờ, như một gã đi săn, chờ con rắn màu xanh với hàng ngàn mảnh thủy tinh hẹn hò lấp lánh bò về.
Ta chờ mãi, vẫn chưa thấy tăm hơi rắn xanh với lại hoa vàng thủy tinh lấp lánh. Chỉ thấy những cơn gió điên cuồng đan kín hoang vu, chỉ thấy mây trời cuồn cuộn hành hương dọc bên trời lặng lẽ. Bên bếp lửa, môi hồng giờ ngủ quên. Bên trời xanh, váy áo dập dìu thanh minh vạn năm xưa cũ. Bên nắng ấm, sợi lông mi lóng lánh, hình như đang say. Bên mây trắng, câu thơ lưu lạc chưa về. Gã thợ săn ngồi nép mình lặng lẽ giữa thảo nguyên rồi ngủ quên lúc nào không biết. Bạn hỏi ta, viết cái gì mà mây trắng với rắn xanh luộm thuộm không có đầu đuôi vụn vỡ? Ta có biết đâu, ta vẽ cho mình một bức tranh mùa xuân vẹn tròn ấp áp, có môi hồng bên bếp lửa, có nắng ấm dưới trời xanh, có sợi lông mi ngọt ngào dưới bầu trời đầy mây trắng. Một bức tranh mùa xuân mà ta chưa bao giờ có được trong đời. Bởi ngay từ lúc mới sinh ra, thế giới này đã là trăm ngàn mảnh vụn. Ta ngồi viết, ta ngồi vẽ, ta tí mẩn công phu ngồi hàn gắn lại, lẩn thẩn, miệt mài, như là à mà thôi không so sánh nữa, những giấc mơ không để lại dấu vết, nói mãi rồi! Về điều này, chỉ có mình hiểu ta thôi!
Nhưng không lẽ cứ ngồi đợi mãi, lỡ mùa xuân lỡ hẹn không về, thì sao? Làm gì để cho nhanh qua những tháng ngày hun hút? Ta từng vung tay xé mấy trăm tờ lịch một lần, nhưng rồi thời gian cũng chẳng chạy nhanh hơn được. Nếu thời gian là một con ngựa kéo xe, ta sẽ vung roi vun vút, đằng này… Ta bèn ngồi hoán đổi mọi thứ cho nhau, cái nọ sang chỗ cái kia, như một gã trọc phú chơi ngông ngồi đảo qua đảo lại đống của cải khổng lồ cho nhanh hết thời gian.
Ta đổi môi hồng vào chỗ trời xanh, rồi đổi lông mi vào bên bếp lửa, đổi váy áo thênh thang vào chỗ núi đồi, đổi mây trắng vào vòm cây lá rụng, đổi con đò sang chỗ núi Chư Mang, đổi sông Năng về nơi mây trắng… Xong rồi, mệt rồi, giờ thì ngồi vá lại những tháng ngày mệt mỏi làm người. Xong rồi, mệt rồi, giờ thì ngồi vỗ tay hát giữa trời bé yêu ơi tháng ngày đi xa ngựa người ơi cái ngày nặng nhọc xanh rêu ơi cái ngày rỉ máu vì sao ơi cái ngày mệt lả bướm ong ơi cái ngày óc cong khô…
Hát mãi thôi, gọi mãi thôi, những giấc mơ vụn vỡ, mùa về.
Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018
TÁO - tác giả PHẠM THÚY QUỲNH - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Truyện ngắn
Gã cho thêm củi vào lò, chiếc lò sưởi được thiết kế theo phong cách Châu Âu vừa có thể làm vật trang trí vào mùa hè và tỏ ra đặc biệt hữu ích khi đông đến. Căn phòng nhanh chóng ấm lên, con mèo vàng lặng lẽ trườn từ trên chiếc ghế tựa đến gần, cuối cùng rúc vào lòng gã. Theo thói quen, gã luồn những ngón tay gầy guộc vào bên trong đám lông mềm nay đã rụng mất một nửa của người bạn già, trấn an nó cho tới khi nó thiếp đi.
Lửa dần nỏ, nhuộm đỏ một góc phòng. Gã - vẫn ngồi co ro, mình quàng một mảnh chăn dày - vươn tay với lấy chiếc hộp giấy đựng bưu phẩm và thư bên cạnh. Trong đó có một nửa là những bản thông báo về đề tài nghiên cứu, còn lại là hóa đơn yêu cầu thanh toán tiền trả góp cho căn nhà dưới quê. Vài năm trước, gã đã mua cho bố mẹ mình một căn nhà với mảnh vườn nho nhỏ, đủ để họ an dưỡng tuổi già. Điều này lại khiến cho gánh nặng trên vai gã trĩu xuống.
Suy cho cùng thì cuộc đời con người ta cũng cần có một căn nhà, gã nói, tôi không thể chịu được sự bấp bênh của cõi người. Và có lẽ điều này chính là một trong số những nguyên nhân làm con người ta đau khổ.
Gã nói xong và lắc lắc đầu, nở một nụ cười mỉa mai.
Trong hỗn độn thư báo, bưu phẩm, gã tìm thấy một chiếc phong bì với đường viền xanh, thư của cha gã.
Gã cảm thấy kỳ lạ, cha gã là người không được ăn học tử tế, chỉ học hết lớp hai, đọc được dăm ba chữ. Sau này, khi thành niên, ông nhập ngũ. Chiến đấu như một người lính và trở về như một người lính, vậy đấy, chẳng ai biết đến ông, cũng chẳng ai hỏi tới số huân huy chương mà ông mang về. Giờ đây, thảy những chiến tích đó đều nằm gọn trong chiếc rương nơi góc nhà, lãng quên thế giới.
Chúng ta không cần những lời ngợi ca chiến tranh nữa, gã tiếp lời, chiến tranh đã lùi xa rồi, hãy để cho nó qua đi.
Tất nhiên, những lời này của gã gặp phải muôn vàn sự chỉ trích, từ bạn bè, từ đồng nghiệp, từ bố của bạn gái gã khi gã đến nhà nàng. Gã biết rằng mình không thuộc về thế giới này, rốt cùng, gã chối bỏ thế giới.
Bên trong phong bì là một mảnh giấy đã ố, chắc hẳn cha của gã xé nó từ một trang vở nào đó, thêm vài dòng chữ nguệch ngoạc. Nội dung thư rất đơn giản, chỉ là cha gã nhắn rằng mẹ gã ốm rồi, ốm rất nặng, mong gã có thể về một chuyến. Dù sao cũng đã là cuối năm, ông muốn gã thuận đường về ăn Tết luôn.
Gã đọc xong thư, trong lòng ngổn ngang cảm xúc, chẳng rõ là buồn, là vui hay là giận.
Gã nhét lá thư trở lại phong bì, cứ vậy ngồi thần ra trước lò sưởi mặc cho lửa bùng lên táp rát da thịt, con mèo tỏ ra không thoải mái bèn trở mình.
Gã bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa táo, đó là một mùi hương nhè nhẹ thanh khiết. Gã - cậu bé chạy nhảy giữa những gốc táo, tiếng cười vang lên trong trẻo. Bấy giờ, gã nghe thấy một tiếng kêu nho nhỏ dưới lớp lá khô dày, tiếng kêu đó chỉ nhỏ như tiếng chuột mà thôi. Gã ngồi xổm xuống, thận trọng bới những chiếc lá. Nhúm lông nhỏ dần hiện ra, với đôi mắt tròn xoe, con cú non ngước đầu nhìn gã với vẻ lạ lẫm. Rồi nó kêu lên the thé.
Gã khi đó nửa mừng nửa lo khi tìm được vật lạ, chẳng truy nguyên vì lí do gì mà con cú non lại lạc vào vườn nhà mình, cứ vậy ôm nó lên và chạy vào nhà.
Cha gã đang mài dao trong bếp, nói:
- Cú là loài động vật thông minh, con có thể nuôi nó.
Gã nhìn con cú trong ngực mình, vô thức mỉm cười.
- Nhưng con đừng cho mẹ biết nhé - Ông lại tiếp lời - Mẹ con không thích các loài chim.
- Vì sao ạ?
- Vì chúng thường ăn mất táo chín trong vườn.
Gã nghiêng nghiêng đầu, theo đó, con cú non cũng nghiêng đầu theo, thảy hướng ánh mắt về phía người đàn ông đang quay lưng lại với mình. Hình ảnh khắc khổ và cam chịu đó, gã bảo, cả đời tôi cũng chẳng thể quên được.
Gã thêm củi vào lò, giơ tay về phía trước để sưởi ấm.
Những cây táo đỏ là cây thiêng của mẹ, với bà mà nói, chúng còn trân quý hơn cả con trai mình. Gã chỉ có thể đứng dưới gốc táo để ngắm nhìn những trái mọng tươm nắng - mà tưởng tượng một ngày nào đó mình có thể cắn ngập vào nó, thưởng vị chua chua ngọt dịu và cảm giác giòn giòn trong miệng.
Gã bọc con cú vào trong chiếc áo bông cũ của mình, dùng hơi ấm để nó hồi sức trở lại. Gã quyết định nuôi nó. Hằng ngày, khi đi học, gã để nó trong một chiếc hộp giấy dưới gầm giường. Trở về nhà, gã cố gắng tránh chạm mặt với mẹ, mà nói đúng hơn, gã cảm thấy bản thân đâu cần phải cố gắng, bởi ở đây, mẹ là người mà gã khó có thể gặp nhất.
Gã chỉ có thể xác định sự tồn tại của mẹ nhờ vào hương hoa táo.
Bà trải lại chăn nệm, dọn dẹp, giặt giũ, phơi phóng và chăm bón cho khu vườn. Bà đi chợ, nấu nướng và nghỉ ngơi. Tất thảy đều nhanh chóng, bà lướt đi như một cơn gió trong cuộc đời gã.
Tôi không biết rõ mặt của mẹ, gã nói.
Đó là một buổi sáng, gã thuật lại, con cú đã lớn, thường giương đôi mắt tròn ngắm nhìn thế giới, đó là đôi mắt trong sáng nhất trên đời, và vì thế nên gã đã đặt cho nó cái tên “Mắt To”. Gã yêu nó như yêu cha. Có lẽ gã cũng yêu mẹ như vậy, nhưng bà xa cách quá, gã không dám dành tình yêu đó cho bà. Gã ngồi trong góc vườn, giấu con cú vào trong áo và ngắm nhìn mẹ đi trẩy táo.
Ánh nắng ban sớm xỏ qua những kẽ lá, chiếu xiên xuống mặt đất, đẩy bật những phân tử đang phiêu tán trong không trung, đồng thời cũng đẩy bật mùi hương trái cây thơm ngọt. Gã nuốt nước miếng, con cú cố lách đầu ra khỏi cổ áo của chủ nhân, cũng quan sát các trái táo đỏ đầy thích thú như vậy.
Tôi đã quên mất nó, gã nói, Mắt To xổng ra từ lúc nào. Đến lúc tôi nhận ra tiếng thét phẫn nộ của mẹ thì đã muộn. Bà cầm con cú trong tay, nó cũng biết điều chẳng kêu lấy một tiếng. Tôi lại không dám mở lời, cứ vậy trân trân nom ánh mắt cầu cứu ấy. Đôi mắt đó trong sáng đến nhường nào. Tôi nhìn nó bị mẹ mình đánh chết. Mắt To của tôi.
Đôi mắt của nó không cứu được nó.
Sự trong sáng không cứu được thế giới ác độc này.
Gã khóc, mỗi lần nhắc tới câu chuyện này, gã lại chẳng cầm được nước mắt.
Táo - loại cây của tri thức nhưng cũng là loại cây của những điều cấm kị.
Gã dúi bức thư vào lò, lửa bén rồi lan dần. Mùi giấy cháy tỏa ra trong không gian tăm tối. Gã giật thót, ném bức thư xuống, nhanh tay dập lửa. Vài bụi tro bay thốc làm cho con mèo già chú ý đến, nó rời khỏi lòng chủ và nhảy lên đùa vờn.
Gã chăm chắm nhìn bức thư, thoáng chốc, hình ảnh bóng lưng cha lầm lũi lại hiện về. Ông biết sự sợ hãi và căm giận của gã, ông hiểu những gì mà gã phải chịu, bởi ông cũng là nạn nhân của mẹ.
Hương hoa táo chợt phảng phất.
Gã lại ngồi thừ quan sát chiếc phong bì xém góc, đứng dậy bước vào trong phòng và xách chiếc va - li ra ngoài phòng khách.
Đêm đó, gã ngủ cạnh lò sưởi. Trong giấc mơ, gã thấy mình đang ở vườn táo, mẹ gã nằm dưới gốc cây đầy an yên. Gã trở về là cậu bé con chín tuổi, rón rén bước tới gần mẹ. Sương tan hết, các sợi nắng đan kết lại với nhau phủ lên cơ thể người phụ nữ một quầng sáng trong suốt. Gã cố vươn cổ mà quan sát dung nhan ấy, nhưng khi vừa thấy sống mũi thì tầm nhìn chuyển sang trắng xóa.
Gã dụi mắt, dưới đất kia chỉ còn lại những cánh hoa trắng muốt rắc đầy.
27.12.2017
Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018
TẾT XƯA… - tác giả ĐINH HỮU TRƯỜNG - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Hồi ức
Tết xưa - đúng như câu ông bà ta hay nói: “ Vui như Tết”.
Với lũ trẻ con trong làng thì Tết không những vui, mà còn đồng nghĩa với việc được
nghỉ học, không phải làm bài tập về nhà; và đặc biệt là được bố mẹ cho mặc quần
áo mới, được tiền mừng tuổi ( không nhiều, chỉ là đồng một xu, hai xu…). Nhưng điều
thú vị trên hết là chúng được tụ tập, hò hét thỏa thích mà không sợ bị người lớn
la rầy như ngày thường…
Trước Tết mấy ngày không khí nhộn nhịp đã bao trùm từ đầu
làng đến cuối thôn; từ xóm trên xuống giềng dưới, tấp nập, vui tươi, náo nức đến
khó tả. Đầu tiên là tiếng lợn kêu eng éc, tiếng người ồn ào vui vẻ dưới các bờ
ao. Sau đó thì hơi từ nồi nước luộc lòng lợn, thủ lợn bay lên thơm nhức mũi. Lũ
trẻ con thập thò ngó xem người lớn làm thịt lợn. Một thằng bạo dạn xin chiếc
bong bóng lợn rồi đem ra trộn với tro bếp, dùng chân dày, đảo cho mỏng, lấy ống
rạ thổi hơi vào thành quả bóng độc đáo. Sau đó cả lũ năm, bảy đứa vừa chạy đuổi
theo bóng vừa hò hét ỏm tỏi. Bên mảnh sân nhỏ cạnh giếng khơi, các bà các cô người
rửa lá dong, người ngâm gạo, vo đỗ để gói bánh chưng… chuyện cứ rì rầm như tính
cách phụ nữ từ xưa vốn vậy… Đặc biệt, trong nồi bánh luộc thể nào cũng có mấy
chiếc Bánh Rùa nho nhỏ xinh xinh cho bọn trẻ con xách toong teng, để dành chơi
Tết...
Ở đầu làng, trên chiếc bảng thông tin (là mảnh tường gạch
rộng cỡ chiếc bảng đen bây giờ; ngày xưa làng nào, thôn nào cũng có) đã xuất hiện
mấy câu khẩu hiệu, như: “Vui Xuân mới không quên nhiệm vụ”, “Đảng Lao động Việt
Nam muôn năm”, “Quyết tâm cấy xong trước tết” (cấy đây là cấy lúa vụ xuân)… Chữ
viết có chỗ thật đẹp; có chỗ nguệch ngoạc, nhưng đọc lên đều thấy khí thế hừng
hực. Dọc các ngả đường làng là những cây nêu bằng thân tre, đầu trên bện búp rơm
hình mũi giáo, vàng ươm dưới mưa phùn nhè nhẹ. Các bà các cô đi chợ về, đầu đòn
gánh uốn cong, mềm mại nhịp theo nhịp bước. Trong hai chiếc thúng được đậy bằng
hai cái buồm cói, ngoài mấy chồng bánh đa, chục bó miến để ăn Tết… thể nào cũng
có mấy đẵn mía hoặc chiếc bánh tráng nướng, dăm chiếc bánh Khoái (có nơi còn gọi
là bánh Xèo); và đặc biệt có một thứ không thể thiếu là những con tò he nhuộm
phẩm xanh đỏ… cho bọn trẻ con. Bọn trẻ đợi mẹ về đúng như câu: “Ngóng như ngóng
mẹ về chợ”. Chỉ thoáng nghe tiếng đòn gánh kẽo kẹt đầu ngõ là chúng đã chạy ào
ra đón. Mẹ chúng đặt gánh xuống, chia quà, rồi phẩy nón vừa quạt cho mình, vừa
phẩy cho bọn trẻ đang vừa nhồm nhoàm nhai, vừa tíu tít kể những chuyện xảy ra từ
sáng đến giờ, lúc mẹ chúng vắng mặt…
Trong mỗi nhà, trên các bức tường, vách đất bỗng sáng bừng
bởi những cặp câu đối đỏ, bên trên là ảnh Cụ Hồ. Nhà nào sang hơn thì có tờ cuốn
thư trưng giữa hai câu đối. Nội dung câu đối cũng kiểu như các câu khẩu hiệu trên
chiếc bảng thông tin đầu làng, nhưng kéo cho dài hơn, có vần có điệu. Dưới bếp đã
lách cách tiếng dao thớt băm, chặt, tiếng giã giò lốp đốp. Hấp dẫn nhất là tiếng
mỡ rán kêu lụp bụp, miếng mỡ đang từ trắng trở thành quắt lại, vàng hươm. Tóp mỡ
ấy mà ăn với cơm nóng chan mắm thì tuyệt vời. Bọn trẻ hau háu ngồi nhìn bố mẹ
chúng làm, lòng tràn trề hy vọng sẽ được bố cho miếng gan lợn luộc đang thái,
hoặc mẹ cho thìa tóp mỡ còn nóng ấm… để rồi cắn dè từng miếng, như thể cố kéo dài
cái hương vị một năm chỉ được hưởng một lần vậy…
Tết xưa, ngoài bánh chưng, không thể thiếu tiếng pháo. Tiếng
pháo là đặc sản của Tết Việt; là một trong sáu mảnh hồn Tết: “Thịt mỡ, dưa hành,
câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. Trước Tết cả tuần đã nghe tiếng
pháo nổ đì đẹt của bọn trẻ đốt. Pháo đốt ngày xưa là loại “pháo tép”, nghĩa là
chiếc pháo chỉ lớn cỡ chiếc ruột bút bi, ngắn chừng 2 đốt ngón tay trẻ con; khi
đốt chỉ kêu một tiếng “đẹt”, ít nguy hiểm. Có lẽ vì vậy mà trong văn chương ngày
xưa khi tả tiếng pháo nổ thường dùng chữ “tiếng pháo đì đẹt” hoặc “tiếng pháo nổ
lẹt đẹt” khác hẳn với kiểu pháo sau này. Pháo chủ yếu do bọn trẻ đốt lẻ từng
chiếc, hiếm có nhà đốt cả phong. Chính vì vậy, suốt mấy ngày Tết, trong sân, đầu
ngõ, ngoài vườn… ở đâu có trẻ con là ở đấy luôn vang tiếng đì đẹt vui tai, làm
cho không khí tết luôn náo động…
Tết đến, một niềm vui nữa với bọn trẻ là được bám gấu áo ông
bà, cha mẹ đi chúc Tết họ hàng, đi chơi xuân trên sân đình hoặc xem trò đu quay
ngoài bãi sông. Ông, bà áo dài khăn đóng bước thơ thới trên đường quê; cháu diện
quần áo mới lũn cũn chạy đằng sau trong làn mưa bụi bay giăng giăng. Bốn bề là
mùa xuân tươi mới: trên ngọn tre làng, dưới mương nước lặng; trong dảnh lúa mềm,
ngoài ghềnh núi biếc; phô hồng trên má những cô gái đang yêu…
Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018
XUÂN VỀ, NHỚ THƠ VÀ THƯ CHÚC TẾT NĂM TUẤT CỦA BÁC HỒ - tác giả NGUYỄN VĂN THANH - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Giữa những ngày Xuân khắp nơi rộn ràng, háo hức
“cảo thơm lần giở trước đèn”, chợt hiện lên và chừng như cũng nghe văng vẳng thư
và lời thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho chiến sĩ và đồng bào cả nước.
Tết Bính
Tuất năm (1946)- Cái Tết độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà sau 80 năm
nô lệ. Vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số
gia đình lao động nghèo và một số nhân sĩ trí thức ở Hà Nội.
Sáng mồng 1 Tết Nguyên đán Bính Tuất (1946), Bác viết:
“Hôm nay là ngày mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa”…Và Bác viết mấy dòng chúc đồng bào cả nước, chúc các chiến sĩ
ngoài mặt trận, chúc các gia quyến và các chiến sĩ ở hậu phương năm mới, vui vẻ,
mạnh khỏe và thắng lợi. Trong bài có mấy câu thơ kiêm khẩu hiệu như:
“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tấn tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm”
(Thư chúc
mừng năm mới-Báo Cứu Quốc, số 155, ngày 05/02/1946)
Với niềm vui hân hoan cái Tết độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã viết thư chúc Tết nhiều
đối tượng công nông binh, như: Thơ chúc Tết đồng bào in trên Báo Cứu Quốc, Mừng
báo Quốc Gia, thơ chúc Tết Phụ nữ in trên báo Tiếng gọi Phụ nữ.
Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đưa hồn cốt của dân tộc và
thiên nhiên vào vần thơ chúc Tết:
“Tết này mới thật tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc Gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón xuân dân chủ
Cả nước vui chung nước cộng hòa.
Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,
Những người chiến sĩ ở phương
xa”.
(Mừng báo Quốc
Gia-Hồ Chí Minh-Báo Nhân
dân 9459, ngày 7/5/1980)
Để giữ mãi
cái Tết “thật tết dân ta”, Bác Hồ đã khuyên mọi người phải sống theo “Đời sống
mới” để trở nên những người công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Vì “Đời sống mới” như Người chỉ rõ trong thư gửi phụ nữ Việt Nam, ngày
2/2/1946 (tức ngày mồng một Tết Bính Tuất): “Năm mới Bính Tuất/Phụ nữ đồng bào/Phải gắng
làm sao/Gây “Đời sống mới”/Việc thành là bởi/Chúng ta siêng mần/Vậy nên chữ cần/Ta
thực hành trước/Lại phải kiệm ước/Bỏ thói xa hoa/Tiền của dư ra/Đem làm việc
nghĩa/Thấy của bất nghĩa/Ta chớ tham thàn/Thế tức là liêm/Đã liêm thì khiết/Giữ
mình làm việc/Quảng đại công bình/Vì nước quên mình;Thế tức là chính/Cần, kiệm,
liêm, chính/Giữ được vẹn mười/Tức là những người/Sống ‘đời sống mới”.(Thư gửi phụ nữ Việt Nam, nhân dịp
Xuân Bính Tuất-Báo Tiếng gọi Phụ nữ, số Xuân Bính Tuất, năm 1946).
Ngày 23/9/1945, được quân Anh yểm trợ, Pháp nổ súng tấn công
Sài Gòn và một số nơi ở Nam
bộ, chính thức xâm lược Việt Nam
lần thứ hai. Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa với sự mẫn cảm
chính trị đã truyền đến đồng bào và chiến sĩ cả nước niềm hy vọng, niềm tin thắng
lợi trong những vần thơ chúc Tết năm 1946:
“Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”.
(Thư chúc mừng năm mới - Báo Cứu
Quốc, số 155, ngày 05/02/1946)
“Chung rượu đào” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị ngay từ
ngày khởi đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở đầu cho một hành trình
suốt ba mươi năm, là nhất quán với quyết tâm “sum vầy”. Và sự thật đúng như những
tiên đoán thiên tài của Bác, với cuộc
Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Bắc - Nam “sum vầy” một nhà, đất nước trọn niềm vui. Chiến
tranh đã qua đi, cả nước chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, hơn 70 năm qua, vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế và trong khu vực chưa bao giờ cao như thế, được các nước trên thế giới
và trong khu vực đánh giá cao.
Đón
xuân Mậu Tuất (2018), đọc lại từng câu, từng chữ những lời thơ, bức thư chúc Tết
độc lập đầu tiên của Bác, ta thêm thấy lý tưởng của Bác, tình
cảm của Bác vẫn còn mãi với non sông, đất nước. Bác đã, đang và mãi mãi đồng hành
cùng dân tộc.
Với
mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo
đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của
Đảng, của dân tộc; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Người
không chỉ đấu tranh, mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân mà còn để
lại cho các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là tư tưởng
Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí
Minh.
Đón Tết Nguyên Đán năm nay, chúng ta không quyên lời nhắc
nhở của Bác Hồ Xuân Mậu Tuất (1958): “Trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, cần
khuyến khích đồng bào tổ chức ngày Tết vui vẻ, lành mạnh và tiết kiệm, tránh xa
xỉ, lãng phí” . Thực hiện Tết Nguyên đán văn minh, lành mạnh như lời
Bác dặn, nhất định sẽ giảm bớt tai nạn, bớt bệnh tật, không còn những lễ hội biến
tướng gây phản cảm, mất an toàn ở khu dân cư so với mọi năm.
Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018
CHIỀU CUỐI NĂM truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Số: 486-25/1/2018
Trang với tay lấy con dao bên vách
bếp bước ra cửa dặn hai con đang chơi ở sân:
-Hai
anh em ở nhà nhé!
-Dạ!
Đứa
con trai bảy tuổi trả lời, cô em lên năm vội ném mấy viên sỏi cầm trong tay chạy
lại túm áo Trang nũng nịu:
-Ba
cho con đi theo với.
-Ở
nhà với anh, ba má đi câu chứ đi chơi đâu mà đòi theo.
Nghe
giọng nói nghiêm khắc của má, cô bé vội buông áo ba, rơm rớm nước mắt. Trang cúi
xuống hôn nhẹ lên mái tóc con gái:
-Gái
ngoan ở nhà với anh, ba má đi câu cá sẽ về nhanh thôi. Tối nay cho con một con
cá to nhất tự nướng, được chưa.
-Ba
đi nhanh về nhé!
-Ừ!
Trang
đi trước, người vợ nhỏ nhắn đi sau, con ky vàng lon ton chạy vượt lên trước. Hai vợ chồng vòng ra sau nhà, băng qua
cánh rừng già độ một ki lô mét là đến bên hồ thủy điện mới ngăn nước.
Hai
vợ chồng giáo viên, vợ công tác ở Ban Giáo dục, phụ trách chuyên môn mãi hết
ngày hai tám tết mới được nghỉ. Trang hiệu trưởng một trường có tới ba cấp học,
hơn 100 giáo viên chưa kể cán bộ công nhân viên. Tuổi đời chưa đến ba mươi, lại
từ nơi khác chuyển về chưa tròn năm nên phải cố gương mẫu, làm xong buổi sáng,
chiều ba mươi tết mới nghỉ. Cũng may, trường đông cán bộ công nhân viên, nhưng
hình như mọi rất người nhiệt tình công tác để Ban giám hiệu hoàn thành tốt công
việc của mình. Trang biết, trong số họ nhiều người buổi sáng phải nhịn đói đi
làm, trưa về chỉ được vài lưng chén lương thực độn cơm, ngày hai buổi lên lớp.
Cả nước khan hiếm lương thực, giáo viên mỗi tháng mười ba ký lương thực, nhưng
chỉ có ba mươi phần trăm gạo, còn lại là bắp, khoai và có tháng độn bằng đậu
xanh. Khó khăn chung là vậy, nhưng tết đến các thầy cô giáo có nhà riêng ở địa
bàn Sư Ba đóng được biếu thêm ký thịt heo, ký đường… như vậy đã khấm khá so với các vùng khác trong huyện.
Theo
yêu cầu của đất nước, năm 1976, cán bộ chiến sỹ Sư Ba chuyển qua làm kinh tế,
nhận nhiệm vụ phá rừng trồng lương thực và cây công nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ
được giao, hàng ngàn cánh rừng già được đốn hạ để lấy đất canh tác. Hồ thủy điện
được những anh bộ đội Sư Ba chặn dòng suối đầu nguồn tạo nên một hồ nước lớn vừa
dùng chạy máy thủy điện ban đêm, vừa cấp nước tưới tiêu cho cả vùng đất mới
khai phá.
Hồ
nước thủy điện hình thành chưa lâu, không biết cá ở đâu về mà nhiều như nuôi.
Ngày chủ nhật, chỉ cần câu vài tiếng, mang về nướng, kho… ăn cả tuần không hết.
Cá ở hồ, con lớn nhất to hơn hai ngón tay một chút, nhưng thịt thơm và rất ngọt.
Hai vợ chồng Trang hàng ngày, sáng chở con đi học rồi lọc cọc đạp xe lên thị trấn
huyện cách nhà hợn mười ki lô mét đi làm, chiều tối mới về. Chỉ ngày chủ nhật
được nghỉ lại phải lo làm vườn, chợ búa, kiếm thức ăn. Cũng may, rừng già Tây
Nguyên mùa nào thức ấy, chịu khó vào tìm một chút là có đồ cải thiện bữa ăn.
*
**
Khu
rừng già sau nhà Trang ở chưa bị ủi, còn nhiều cây cổ thụ lắm, chắc rộng đến
vài trăm héc ta. Phía đông cánh rừng, cơ quan Sư Ba và khu dân cư, trường học
đóng. Phía bắc khu rừng, đường Quốc lộ 27 và khu dân cư chen nhau ở, tạo thành
vành đai án ngữ, các loài thú không thể đi qua. Hai phía tây và nam cánh rừng,
nước hồ thủy điện dâng cao, nhấn chìm một khu vực rộng lớn xuống mặt hồ tạo
thành bức tường nước. Có lẽ vì thế, một số loài thú chạy từ lòng hồ lên trú ngụ
trên cánh rừng biệt lập này giống như một cái chuồng trại tự nhiên. Ban đêm,
heo rừng còn ra vườn nhà Trang đào trộm khoai lang, cắn nhau kêu chí chóe. Khoảnh
vườn nhà Trang được Sư Ba ủi đất cấp theo tiêu chuẩn như một hộ công nhân; rộng
đúng một ngàn mét vuông dùng làm nhà, trồng rau, cây lương thực… cải thiện thêm
đời sống.
Hai
vợ chồng Trang vượt qua cánh rừng đến bên hồ nước thủy điện rộng mênh mông. Đứng
bên này, nhìn con người phía bên kia hồ chỉ như một chấm đen nho nhỏ. Trang đến
bên bụ le, dùng dao chặt hai cành le to bằng ngón tay cái, dài hơn sải tay; móc
hộp đựng cước, phao, lưỡi câu ra buộc vào đầu cần, rồi chọn chỗ ngồi câu. Phát
mấy cành le xung quanh cho quang, Trang leo lên đống mối sát mặt nước buông câu,
vợ lại ngồi bên cạnh cùng buông cần, thi xem ai câu được nhiều hơn.
Hình như lũ cá
dưới nước tập trung từ khi nào rồi, đang chờ sẵn; Trang vừa ném lưỡi câu xuống
nước, chúng đã lôi vút đi. Giật, gỡ cá ném vào xô nhựa để bên cứ như một cái
máy hoạt động hết công suất. Thỉnh thoảng giật mạnh quá, có con cá tuột luôn,
không mắc vào lưỡi câu, bay tuốt lên bờ; con ky ngồi trên bờ há mõm chờ sẵn, tóm
gọn con cá mang lại cho chủ. Hai vợ chồng đua nhau giật, tiếng cười nhiều lúc chợt
ré lên khi hai cần câu giật lên cùng lúc và dây cước quấn vào nhau, hai con cá
cắn câu đụng nhau, không thể phân biệt con nào to hơn con nào để xem ai giỏi
hơn ai.
Thấy
xô cá gần đầy, Trang cuốn cước, bỏ vào hộp bảo:
-Mấy ngày tết
ăn thế này đủ rồi.
-Tết sợ nhậu
nhiều thì thiếu, câu thêm ít nữa.
-Bạn bè thích
món cá này nướng quấn rau thơm, đặc sản vùng mà. Hết ra câu tiếp.
-Sợ có người
quá vui ba bữa ngày tết đi còn không nổi, nói gì đến đi câu.
-Làm gì có ai tệ
thế.
Tiếng cười rộn
rã lan tỏa khắp mặt hồ. Tiếng chim công ăn gần đâu đó chợt gõ vào không gian: Tố…
hộ, tố… hộ. Đàn chim bồ chao được dịp thể hiện tài năng cũng tranh nhau hót làm
bầu trời xanh như cao hơn lên.
*
**
Trang chặt cây le to gần bằng cổ tay dài hơn một
sải, luồn cây le qua quai xô cá. Vợ Trang hỏi:
-Em đi trước
hay anh đi trước?
-Giờ về lên dốc
em đi trước cho đỡ nặng.
-A, anh chê tôi
lùn hả?
-Đâu dám!
Hai người cùng
cười. Vợ đi trước, mái tóc đen, dài quá lưng, óng ánh dưới ánh nắng chiều. Chồng
đi sau, tay cầm giao, tay giữ quai xô cho không trượt về phía vợ. Họ leo dốc,
trở về nhà theo lối mòn quen thuộc. Hai bên đường đi cây cao chót vót; tiếng gà
rừng gáy, chim hót cứ như đang dự một buổi hòa tấu ở nhà hát lớn vậy.
Bỗng tiếng con
ky sủa ầm lên phía trước, ngước mắt nhìn lên cây đa ven đường, gốc to độ hai
người ôm chưa hết, cao vút. Trên cây, một bầy vọoc chắc phải gần trăm con đang
nhảy loạn xì ngầu. Con đu cây lao vun vút, con nhún nhẩy nơi đầu cành, có con
ngồi thu lu, cúi đầu nhìn xuống như lạ lắm. Bầy Vọoc hình dáng lạ lẫm: mặt,
râu, bụng, đùi và đuôi màu trắng; còn lưng màu bạch kim; con nào cũng to lớn chắc
phải trên hai chục ký, hai cái tay dài quá đầu gối. Người vợ nhắc cây le từ
trên vai xuống tay quay lại nói:
-Lạ nhỉ, ta đi
qua đây bao nhiêu lần sao hôm nay mới thấy con này?
-Chắc chúng mới
ở nơi khác đến đây định ngủ đêm đợi mai ăn tết đấy mà.
-Em nói thật
sao còn trêu?
-Anh nói không
đúng sao, chúng ở nơi khác đến đấy. Bộ đội ủi rừng lấy đất, bầy này không biết
đường lên núi cao nên chạy lạc về đây. Thôi để gọi ky về đừng làm phiền chúng nữa.
Trang lấy tay
làm loa cất tiếng: H… ú! Tiếng hú vừa vang lên, bầy vọoc như như có phép thần,
biến mất luôn sau tán lá, không còn một con nào nữa. Con ky vẫn không chịu đi,
cứ ôm gốc đa, ngửa cổ lên ngọn cây sủa mãi. Nhìn lên tán cây, Trang hỏi vợ:
-Em biết bầy vọoc
chạy đi đâu không?
-Em đang định hỏi
anh xem chúng biến đi đâu tài thế?
-Em nhìn những
túm lá đen đen trên ngọn cây đa kia kìa. Bên dưới túm lá ấy có thấy cái gì
không?
-Hình như có sợi
dây trắng.
-Đúng rồi, lũ vọoc
nhảy lên ngọn cây, kéo lá ngồi lên trên và yên chí con người ở dưới không thấy
chúng nữa; thế nhưng bọn chúng quên dấu cái đuôi dài màu trắng đang để thõng xuống
đấy.
-Hay nhỉ!
Con ky, hình
như cũng biết lũ vọoc trốn trên ngọn cây nên không chịu về cứ ôm cây sủa mãi.
Trang phải vào tận nơi, vỗ mấy cái nhè nhẹ vào đầu ky, khen:
-Mày giỏi lắm,
tao biết rồi. Về thôi!
Như hiểu được
tiếng người, con ky ngoan ngoãn quay ra theo đường mòn chạy trước, trở về nhà.
Cô vợ nói:
-Không ngờ con
ky nhà mình cũng biết đi săn.
-Nó cũng năm tuổi
rồi đó, hồi sinh con gái bác Hồng giám đốc Bệnh viện huyện tặng còn bảo: cho
thêm con nữa cho đủ đôi nuôi luôn thể, vì con gái mình tuổi tuất mà.
- Nhanh nhỉ!
-Ừ!
Trang trả lời vợ,
chợt nhớ đến những ngày còn ở thị trấn huyện, tết đến mấy anh em ở Phòng Lương
thực, Phòng Bưu điện huyện rủ nhau chung heo, bao giờ cũng mời gia đình mình qua
dự bữa cơm cuối năm và chia thịt cho mang về, dù khi ấy mình cũng chỉ là anh
giáo viên quèn, được học sư phạm cấp tốc mười lăm ngày ra đi dạy. Thấm thoắt gần
năm rồi, xa mọi người đi nhận công tác nơi khác, mang cả gia đình lên huyện mới
thành lập. Ở nơi công tác mới, đa số con em bộ đội, cuộc sống khó khăn hơn
nhưng chữ tình hình như nơi nào cũng có. Những người bộ đội nơi đây bước ra từ
trong khói lửa chiến tranh, qua cầm cây cuốc làm kinh tế; về quê mạng vợ con
vào xây dựng quê mới. Tuy cuộc sống còn bộn bề khó khăn, nhưng tấm lòng đôn hậu
và đặc biệt quý mến các thầy cô đến dạy chữ cho con em mình thì không giảm.
*
**
-Gâu, gâu, gâu!
Tiếng con ky lại
vang lên bên cạnh đường đi, vợ Trang không dừng lại, vừa đi vừa nói:
-Thôi kệ nó, sủa
chán rồi theo về sau. Trời sắp tối rồi, hai anh em nó chắc đang trông lắm đấy.
-Dừng lại để
anh vào xem nó thấy cái gì mà sủa dữ thế.
Từ từ đặt xô cá
xuống đất, Trang bước vội lại chỗ chó sủa. Con ky thúc cả mõm vào một cái lỗ
trong đống mối không lớn lắm, hình như còn gặm cái gì đó nghe sột sột. Trang ngồi
xuống bên cạnh, vỗ vỗ lưng con ky để lôi nó ra, nhìn vào trong hang rồi mừng rỡ
kêu lên:
-Em vào đây,
nhanh lên.
-Có chuyện gì
thế?
-Vào rồi biết!
Tuy bị Trang giữ,
nhưng con ky vẫn không chịu ngừng, cất tiếng sủa dữ dội như muốn giằng ra, lao
vào đống mối. Thấy vợ vào, Trang nói:
-Em ôm con ky giúp
anh.
-Sao lại phải
làm vậy?
Tuy miệng nói thế,
người vợ vẫn ngồi xuống, hai tay ôm lấy con ky. Trang dùng dao đục rộng ổ mối rồi thò tay vào bê lên một cục đen đen. Cô vợ thấy
vậy, buông con ky đứng bật dậy, reo lên:
-Ô, con tê tê
to quá, đưa em xem nào.
- Con ky giỏi
quá.
-Phải đến năm
ký anh ạ, bằng lương cả năm của vợ chồng mình rồi đấy.
-Ta về thôi em
không các con đợi!
Cô vợ tay ôm
con tê tê, tay vịn vào xô cá mồm thía lia với dự định khi “trúng số”. Sau tết, phải
đổi luôn cái xe đạp cọc cạch, mua cái mới đi cho đỡ khổ. Trang đi trước, hơi ngạc
nhiên nói với vợ:
-Sao hôm nay rừng
im lặng thế nhỉ, chim không hót mà gà cũng không gáy như mọi hôm?
-À chắc muộn
nên chúng đi ngủ rồi.
-Trời còn sớm
mà em.
-Hay chúng thấy
ta bắt được con tê tê cũng vui quá quên hót cũng nên.
Sau tán lá cây
trên đầu, mấy ngôi sao sớm đã xuất hiện trên bầu trời xanh thẳm. Mặt đất hơi sẫm
lại. Con ky thong thả chạy trước, cách hai người hơn chục mét, thỉnh thoảng lại
nghếch mũi lên không trung ngửi gió.
*
**
-H… ừm!
Tiếng con hổ
gào lên ngay trước mặt, con ky kêu lên một tiếng thảng thốt: “oẳng”, rồi ngã
lăn quay ngay trên lối đi. Con hổ to như một con bò lớn từ lùm cây bên lối mòn
lao vút ra, há mồm, thè lưỡi đỏ lòm; nhằm con ky lao tới. Trang theo phản xạ, cũng
gào lên: “H.. uầy”, ném luôn con dao đang cầm trong tay về phía con hổ. Con hổ
giật mình, vội tạt ngang qua bên đường tránh con dao rồi lủi luôn vào rừng. Con
ky lồm cồm bò dậy đứng không vững, lại ngã xuống. Trang quay nhìn phía sau thì…
cô vợ đã ngồi bệt xuống đất từ bao giờ, người run như lên cơn sốt. Quay lại đỡ
vợ đứng lên, Trang động viên:
-Đi rừng gặp
thú dữ là chuyện thường thôi mà. Có loại thú nào không sợ người.
-N …ó n… ó đ… i
ch… ưa?
-Nghe tiếng anh
nó chạy mất dép rồi.
Phía trước mặt,
mấy người hàng xóm tay cầm súng, tay cầm đèn pin, hớt hải chạy đến, mồm hú ầm
ĩ. Ông đồng hương chạy trước, thở hỗn hển hỏi:
-Có sao không?
-Dạ, không anh.
-Nghe tiếng hổ
gầm sát nhà sợ có người gặp nạn nên chạy vào. May quá, không sao là tốt rồi.
Chiều ba mươi tết rồi sao về muộn thế?
-Dạ, vợ chồng
em đi câu cá ạ. Ô, con tê tê đâu em?
-Bắt được tê tê
à?
-Dạ, nhưng chắc
khi nãy nghe hổ gầm nên cô ấy bỏ tay ra, nó chạy mất rồi.
-Thôi nhặt cá rồi
về kẻo các cháu ở nhà đợi. Không biết con hổ ở đâu mà lại mò về tận đây thế này
không biết.
-Nó có to
không?
Mấy người xúm
vào nhặt hộ cá, bỏ vào xô, miệng hỏi thía lia. Trang nói:
-Nó to như con
bò lớn ấy, núp ở chỗ bụi kia, bất ngờ lao ra vồ con ky, em cũng giật mình nên hét
lên một tiếng rồi liệng luôn con dao vào nó. Không biết vì sợ em hay sợ con dao
mà nó lũi luôn vào rừng.
-Chắc nó nhìn
thấy đầu cây tre trên vai chú mày, tưởng nòng súng cô vợ đứng phía sau chuẩn bị
bắn nên sợ quá bỏ chạy đấy mà.
Mọi người cười ầm
lên, Trang cũng cười theo nhưng, sống lưng cảm thấy lành lạnh. Trời sập tối, chỉ
còn hơn trăm mét là về đến vườn nhà, vậy mà vẫn gặp thú dữ. Vợ Trang lầm lũi đi
sau, không nói câu nào.
*
**
Bên bếp lửa hồng,
than củi gỗ cây kơ nia đỏ rực, Trang gác vỉ sắt lên trên than, xếp cá để nướng.
Cô con gái ngồi bên phụng phịu:
-Ba không cho
con nướng với à?
-Con thích con
nào thì lấy đi.
-Eo ơi, con tắm
rồi không cầm cá lại phải đi rửa tay, lạnh lắm.
-Con thích con
nào, ba lấy cho?
-Con này ạ.
-Sao con chọn
con nhỏ thế?
-Tại con nhỏ nhất
nhà mà.
Không biết khi
chiều câu thế nào mà con cá chỉ to bằng ngón tay, nhỏ xíu vậy cũng dính câu. Lấy
que tre xiên qua miệng cá, định đặt lên vỉ nướng, con gái giật tay:
-Để con tự làm
chứ.
-Ồ, ba xin lỗi,
đây con cầm lấy.
-Sao vậy? Lớn bằng
chừng này rồi mà không cẩn thận!
-Con xin lối
má.
Tiếng vợ quát,
con trai xin lỗi, hình như méo miệng thì phải. Một lúc sau con trai khệ nệ bưng
thêm một rổ cá vào. Trang hỏi:
-Con làm gì mà
để má quát vậy?
-Con đổ nước
văng vào chân má ạ. Ba ơi tết này nhà mình không có bánh chưng à?
-Có chứ, ba gửi
bên bác Tư rồi. Còn có hẳn hai cái bánh nhỏ cho hai anh em nữa đấy.
-Con cảm ơn ba!
Cậu con trai
nhìn ba, khuôn mặt hình như tươi hơn hẳn lúc nãy, cô em đứng bật dậy choàng tay
ôm cổ ba:
-Ba tuyệt nhất
nha!
-Ôi, con để cả
cá vào má ba kìa.
-Hi hi, con xin
lỗi ạ. Cá chín chưa ba?
-Con gái giỏi
quá, nướng cá chín rồi. Con ăn đi.
-Dạ!
Vừa thổi phù
phù, con gái vừa cắn đuôi con cá nhai nhè nhẹ như mấy ông già nhắm mồi khi uống
rượu, làm anh trai phì cười;
-Ba xem con gái
ăn cả đuôi cá kìa.
-Em nướng, em
phải ăn hết chứ. Ngon lắm.
-Hai anh em
thích con nào cứ ăn thoải mái nhé.
Nghe ba bảo, hai
anh em cùng cười. Xa xa tiếng pháo nhà ai đó vừa đốt nổ đì đoàng. Đêm ba mươi tết
đầm ấm cuối cùng của tổ uyên ương nhỏ bé cách đây đã tròn ba mươi năm. Do biến
đổi của cuộc sống, sau tết ấy mọi thứ chỉ còn nằm trong kỷ niệm. Thời gian, thời
gian cứ lẳng lặng trôi, những cánh rừng huyền bí Tây Nguyên giờ đây chỉ còn
trong ký ức giống như chiều ba mươi tết năm ấy - 1987.
Mùa đông năm 2017
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



