Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019
Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019
THẾ GIỚI TUỔI THƠ QUA “KHÚC ĐỒNG CA MÙA HẠ” CỦA ĐỖ TOÀN DIỆN lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Đỗ Toàn Diện làm thơ nhiều, xuất
bản cả chục tập thơ tính từ thi tập đầu tiên ra mắt độc giả: Hoa trong cỏ
(1992). Không kể các tập thơ trào phúng, về thơ trữ tình anh có Lời yêu (1994),
Lời ru Cao Nguyên (1998), Thời yêu dấu (2005), Ước mơ nhà rông (2010), Dấu
chân thời gian (2016)… Vẫn phong cách mộc mạc đậm chất truyền thống, thơ
anh giàu có ở sự nồng nàn của cảm xúc, lời thơ tự nhiên như hơi thở, không mang
dáng vẻ câu chữ cầu kỳ, vỉa tầng ẩn ý. Tất cả cứ ngân vang bằng lời, bằng giọng
thơ chân chất, thiết tha từ trái tim thi nhân yêu lắm cuộc đời này.
Mà đúng vậy, có yêu thương cuộc
đời thật nhiều, cháy lòng muốn bộc bạch với tha nhân những suy tư về thế giới
xung quanh mãnh liệt, Đỗ Toàn Diện mới dễ dàng tìm đến thế giới trẻ thơ qua
Khúc đồng ca mùa hạ. Tập thơ phác họa bức tranh đa thanh, đa sắc về thế giới
tuổi thơ hồn nhiên, mơ ước từ cái nhìn yêu thương, hồn hậu của tác giả. Điều
đặc biệt, ở tập thơ này, người đọc sẽ bắt gặp một Đỗ Toàn Diện rất nhạy cảm với
thế giới loài vật để từ đó khơi gợi cho các em những bài học làm người, những
tình cảm nhân văn nhẹ nhàng, thiết tha mà vô cùng sâu lắng.
Đọc Khúc đồng ca mùa hạ, ta thấy
giới loài vật trong tập thơ hiện lên thật phong phú và sinh động. Trong tổng số
31 bài thơ của thi tập, có đến 11 bài tác giả viết về các con vật. Đó là các
tác phẩm Tiếng ve, Bức tranh đồng quê, Kiến giết voi, Chim sâu xử kiện, Ruồi
nhặng – ong mật, Bé và các loài chim, Ếch nhái ngủ đông, Con cua, Con tôm, Dã
tràng, Cào cào. Một thế giới loài vật, qua cái nhìn của thi nhân, dường như
tất cả đã tụ đàn về đây để dệt nên bức tranh thơ rộn rã âm thanh và màu sắc.
Loài voi to khỏe, vừa đi vừa “ngẫm nghĩ” khiến cho các loài khác đều khiếp sợ;
Hổ, Báo, Kiến, Cua, Nhái, Cào Cào, Cụ Cóc, Ong Bướm…, mỗi loài đều có nét
riêng, tất cả hiện lên xôn xao qua từng trang viết; có cả Chim Sâu xử kiện để
truy sát loài sâu bọ; Ruồi nhặng – Ong mật với một cuộc đối thoại, tranh biện
đầy thú vị…
Trong bài thơ Bức tranh đồng quê,
từ những đặc tính sinh hoạt của mỗi loài, qua sự sự quan sát tỉ mỉ và đầy chất
thơ, tác giả giúp cho các em vừa thích thú và yêu mến cảnh vật làng quê, vừa có
được bài học bổ ích từ cuộc sống mang lại. Thể thơ lục bát biến thể viết theo
lối vắt dòng nên nhìn khá mới mẻ, hình tượng thơ giàu sắc thái biểu cảm, nghệ
thuật nhân hóa đặc sắc, giọng thơ giàu nhạc tính, Bức tranh đồng quê đã dựng
lên một thế giới loài vật sống động hòa cùng vẻ đẹp thiên nhiên để làm nên
bức tranh đồng quê tuyệt đẹp, mở ra một không gian hữu tình trong mắt trẻ thơ:
“Bức tranh quê đẹp tuyệt vời/ Bàn tay tạo hóa dâng người mà nên”. Ở Bé và
các loài chim, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã rất có duyên khi kể lại hai tính
cách trái ngược nhau giữa em bé và các loài chim “xấu tính, xấu nết”. Sự thú vị
của bài thơ chính là cách khen của tác giả thông qua cái nhìn đầy tin yêu và
quý mến trẻ thơ. Với trẻ em, khen cũng cần đúng lúc, đúng chỗ, không các em dễ
gì tin được ngay. Sử dụng nghệ thuật đòn bẫy qua hình ảnh các loài chim Chèo
Bẻo “mách lẻo trên cành”; Sáo Sậu “lanh cha lanh chanh”; Quạ Khoang lười học,
lười làm; từ đó nhà thơ dẫn dụ và so sánh đến các em có nhiều việc làm tốt ở
trường, ở lớp. Cách khen bằng nghệ thuật so sánh ấy là cách giáo dục tự nhiên,
phù hợp tâm lý tuổi thơ, động viên các em không nên học theo những loài chim
hư, đồng thời cổ vũ những đức tính tốt: “Còn như các bé/ Ở trường mầm non/
Miệng nở hoa sen/ Hát hay học giỏi/… Đi học về nhà/ Bé chào khắp lượt”. Chim
Sâu xử kiện lại có sức cuốn hút nhờ sự quan sát tinh tế kết hợp với nghệ
thuật tưởng tượng tài hoa của nhà thơ. Bài thơ kể lại một phiên tòa “hình sự” xử
kiện loài sâu bọ tàn phá môi trường thiên nhiên. Chính yếu tố thơ trong truyện
và truyện trong thơ đã làm cho thi phẩm hấp dẫn thông qua kịch tính khi Chim
Sâu xử kiện rất thuyết phục trước loài sâu bọ chối quanh. Có lẽ điều đó làm cho
tuổi thơ thích thú, đồng thời cũng nhận thức được cái xấu, cái ác xung quanh mình:
“Mở phiên tòa chái hiên/ Thăng đường, chim xét hỏi/ Sâu ranh càng chối tội/
“Tôi chữa bệnh cho cây/ Tỉa bớt nhánh hoa gầy/ Bớt lá cho quang hợp”/ Miệng
lưỡi sâu ngọt xớt/ Cố ra vẻ hùng hồn/ Uy nghiêm chim hỏi dồn:/ Sao cây vàng rồi
chết?/ Lá tả tơi rụng hết…/ Ngươi còn dám thêu dệt?”. Ếch nhái ngủ đông là khúc
ca đồng quê rộn ràng, vui tươi và sống động. Con Cua dựng lên hai hình tượng
đối lập trong thế giới động vật: Cua ngang tàng nên cuối cùng nhận lấy hậu quả
thật đáng thương: “Gặp ai cũng dọa nạt/ Giương mắt múa may càng/ Bạn bè đành
xa lánh/ Đành thui thủi trong hang”. Bài thơ Con Tôm thú vị ở nghệ thuật miêu
tả rất đúng và tinh tế hình dáng bên ngoài: “Đầu hai ba lưỡi mác/ Râu dài mã
thật sang/ Càng cứng áo giáp sắt/ Dáng oai vệ nghênh ngang”. Tóm lại, ở mảng
thơ viết về thế giới động vật, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những phát hiện độc đáo
riêng, miêu tả sống động bằng sự quan sát tinh tế và tình yêu sâu sắc nên thực
sự có những hình tượng thơ hấp dẫn, lôi cuốn, đồng thời là những bài học nhận
thức đúng đắn, phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Cùng với thế giới động vật, Đỗ
Toàn Diện cũng dành khá nhiều bài thơ viết về cây trái, đồ vật. Có lẽ, chính
cái nhìn tràn đầy yêu thương và một tấm lòng hồn hậu với thế giới tuổi thơ nên
anh đã dành tình cảm đặc biệt ở mảng đề tài này qua khá nhiều tác phẩm: Đào lộn
hột, Tâm sự bàn ghế, Tâm sự của rễ, Sóc Bông, Sầu riêng, Cái ô, Cây xấu hổ.
Ở những bài thơ viết về đồ vật, cây trái, nhà thơ Đỗ Toàn Diện cũng có
nhiều phát hiện tinh tế, thú vị. Qua đó, tác giả giúp cho các em có cái nhìn
sâu sắc và thấu hiểu hơn về thiên nhiên và mọi vật ở xung quanh mình. Quả đào
lộn hột “biết làm ảo thuật” để chui từ hạt ra ngoài, lắng nghe cuộc đời vui
tươi ca hát: “Nghe gió hát êm tai/ Và chim rừng ca hót/ Uống sương mai dịu
ngọt/ Tắm nắng trời ban ngày” (Đào lộn hột). Bài thơ Tâm sự bàn ghế thể
hiện cái nhìn tác giả về mối quan hệ cũng như cách ứng xử của tuổi học trò với mọi
vật chung quanh thông qua thủ pháp nhân hóa. Bài học về sự trân trọng và biết
nâng niu mọi sự vật quanh mình cũng như mọi điều trong cuộc sống cũng hình
thành từ đây: “Bàn nói với ghế sáng nay/ Tôi tơi tả bởi bàn tay học trò/ Ghế
rằng tôi cũng lo lo/ Gồng mình cho lũ học trò ngồi lên” (Tâm sự bàn ghế)
Ngoài cảm quan về loài vật mà
phần lớn được nhìn qua con mắt trẻ thơ, điểm nhìn trữ tình của chính tác giả về
một thế giới hồn nhiên, mơ ước còn được thể hiện qua nhiều tác phẩm khác nữa:
Tiếng ve, Tìm về, Cô bé răng khểnh, Tuổi thần tiên, Bố ở Trường Sa, Ơn thầy,
Tiếng pháo xuân, Bé được cắm cờ… Cảm xúc từ tiếng ve thơ dại và màu hoa
phượng đỏ như hai biểu tượng của một thời áo trắng thơm hương, bài thơ Tiếng ve
được tác giả Đỗ Toàn Diện viết theo thể lục bát nhờ đó dễ lắng sâu vào tâm hồn
các bạn nhỏ tuổi với niềm xuyến xao, bịn rịn buổi hè về: “Ve kêu lúc nhặt lúc
thưa/ Trống trường đã điểm gọi mùa thi sang/ Ve kêu thắm rực khăn quàng/
Bóng bàng thao thức, ve mang hè về” (Tiếng ve). Đó là hình ảnh cô bé có
chiếc răng khểnh thật đáng yêu, không chỉ duyên dáng ở hình thức bên ngoài, cô
bé răng khểnh còn làm nhiều việc tốt. Đọc bài thơ, hẳn các em cũng yêu mến và
noi gương người bạn nhỏ dễ thương này: “Cô bé răng khểnh/ Nhí nhảnh hồn
nhiên/ Làm nhiều việc tốt/ Nụ cười thật duyên” (Cô bé răng khểnh). Thế giới
tuổi thơ hồn nhiên, vô tư còn thể hiện qua niềm tiếc nuối, bâng khuâng từ tâm
hồn tác giả về tháng ngày xưa bé bỏng: “Tuổi thơ ngày bé/ Nô nhau tồng
ngồng/ Giã từ thơ dại/ Trôi vào tháng năm” (Tìm về). Đó là tâm sự của một bạn
nhỏ về người bố mình ở Trường Sa: “Bố luôn chắc tay súng/ Giữ biển trời quê hương/
Em tự hào về bố/ Một người lính kiên cường” (Bố ở Trường Sa). Đó còn là
lòng biết ơn về người thầy đã dạy dỗ tuổi thơ trưởng thành và khôn lớn nên người:
“Công thầy sánh tựa non cao/ Tình thầy đâu có biển nào sâu hơn/ Thầy như một
chiếc thuyền con/ Chở bao thế hệ sóng cồn vững tay” (Ơn thầy). Đó còn là
niềm vui mừng xuân của các bạn nhỏ khi nghe tiếng pháo rộn ràng một thời thơ
dại: “Trẻ em khoác xuân tươi/ Sắc màu thêm sặc sỡ/ Én chao mình bỡ ngỡ/ Xôn
xao cả đất trời” (Tiếng pháo xuân)
Tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ thành
công trên một số phương diện nghệ thuật đáng được trân trọng. Thi pháp thơ viết
cho thiếu nhi cần phải giàu hình ảnh, vần điệu, ngắn gọn và dễ đi vào tâm tưởng
các em. Thấu hiểu được những điều cần thiết ấy, nhà thơ Đỗ Toàn Diện, trong 31
bài thơ của thi tập, đã dành đến 14 bài cho thể lục bát (trong đó có một bài
lục bát biến thể). Ngoài ra thể thơ 5 chữ chiếm 12 bài; thơ 4 chữ có 3 bài. Đây
là hai thể thơ gần với âm hưởng đồng dao dân gian nên dễ thuộc, dễ nhớ. Thơ lục
bát và lục bát biến thể thích nhất là Bức tranh đồng quê, Ếch nhái ngủ đông,
Tâm sự bàn ghế… Thơ 4 chữ, 5 chữ ngắn gọn, phù hợp với tuổi thơ các em, nhờ
đó dễ đi vào tâm hồn thơ trẻ. Thơ 4 chữ có bài Bé và các loài chim giàu chất
giọng đồng dao. Bài thơ hay bởi không những có được bài học bổ ích dành cho
trẻ mà nhịp điệu, giọng thơ cũng rất phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Đặc điểm quan trọng của thơ viết
cho thiếu nhi là mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ. Đó là sự hồn nhiên ngây thơ
từ trong cảm xúc, ý nghĩ thật tự nhiên, không gò ép, bó buộc và làm dáng. Chính
tính hồn nhiên, ngây thơ và giàu hình ảnh, vần điệu của thơ viết cho thiếu nhi
trong tập Khúc đồng ca mùa hạ đã làm cho nhiều bài thơ giàu sắc thái tu từ nghệ
thuật. Ở thủ pháp so sánh, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những câu thơ thật hay,
dễ đi vào tâm hồn tuổi thơ trong sáng. Đọc thi phẩm Bức tranh đồng quê, ta
bắt gặp những câu thơ miêu tả vẻ đẹp của chị Cào Cào rất ấn tượng: “Cào
Cào, Cào Cào… giã gạo rất siêng/ Áo xanh áo đỏ như tiên giáng trần”. Bài thơ
Sóc Bông lại có nét đẹp riêng dễ làm các em yêu mến, say lòng: “Con Sóc
Bông của ba/ Mắt sáng tựa sao sa/ Miệng như hoa chúm chím/ Tóc tòng teng
đuôi gà”. So sánh thường làm cho đối tượng miêu tả thêm thi vị và giàu hình
tượng thơ hơn. So sánh trong thơ viết cho thiếu nhi lại cần lắm cái nhìn đồng
cảm của tác giả, nhờ đó giúp các em càng thêm thích thú. Ngoài nghệ thuật so
sánh tu từ, nhiều bài thơ trong thi tập Khúc đồng dao mùa hạ có hình tượng thơ
bay bổng một cách tự nhiên thông qua nghệ thuật nhân hóa: “Gió đồng gió đồng…
gọi lúa song ca/ Sáo diều từng giọt ngân nga lưng trời”; hoặc: “Cùng nhau ca
hát rộn ràng/ Ếch, Nhái, Chẫu Chàng rôm rả đồng quê/ Xếp hàng đón gió ven đê/
Vẳng nghe khúc nhạc hàng tre ru diều” (Ếch nhái ngủ đông). Phép điệp từ ngữ,
cấu trúc thể hiện qua nhiều thi phẩm, nhưng đậm đặc nhất là ở Bức tranh đồng
quê. Đó không chỉ là phép điệp từ ngữ thông thường mà còn là tiếng nhạc lòng
của thi nhân ngân lên, từ đó bồi đắp tâm hồn các em qua vẻ đẹp của muôn loài nơi
đồng quê xinh tươi, yên ả.
Thơ Đỗ Toàn Diện không quá sắc
cạnh về cấu tứ và ngôn từ, nhưng bù lại, sự lôi cuốn, hấp dẫn ở thơ anh chính
là tấm lòng tràn đầy cảm xúc thành tâm của một người yêu đời tha thiết. Phản
ánh thế giới tuổi thơ hồn nhiên và mơ ước, với 31 bài thơ trong thi tập Khúc
đồng ca mùa hạ, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có vị trí đáng kể về mảng thơ viết cho
thiếu nhi của văn học tỉnh nhà. Những bài học nhân văn nhẹ nhàng, sâu lắng được
chắt ra từ thế giới loài vật, cây trái vừa đậm chất trữ tình, vừa có chút kịch
tính đã góp phần bồi đắp ước mơ, khát vọng cho các em khôn lớn và trưởng thành.
Nói như nhà văn Richard L.Evans: “Trẻ nhỏ sẽ không nhớ bạn vì vật chất bạn cho
chúng, mà vì tình cảm bạn dành cho”; thì qua Khúc đồng dao mùa hạ, món quà
tinh thần mà nhà thơ Đỗ Toàn Diện dành cho trẻ thơ là vô giá, nó sẽ bền lưu
trong tâm thức và sẽ khiến các em suốt đời nhớ mãi. Trân trọng giới thiệu tập
thơ Khúc đồng ca mùa hạ đến với bạn đọc gần xa.
Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019
VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ MỘ của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Nhật
kí trong tù - Hồ Chí Minh)
Đây là một bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù”
của Bác Hồ. Tập nhật kí bằng thơ được Bác viết từ mùa thu 1942 đến mùa thu năm
1943 lúc Người sang Trung Hoa công tác bị quân Tưởng Giới Thạch bắt cầm tù khắp
18 nhà giam qua 13 huyện của tỉnh Quảng Tây. Tập “Nhật kí trong tù” được Bác viết
hoàn toàn bằng chữ Hán gồm 133 bài thơ.
Đọc cặp câu khai thừa (Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ/ Cô vân mạn mạn
độ thiên không) ta chợt nghĩ đến bài thơ của Liễu Tông Nguyên đời Đường:
“Thiên sơn điểu phi tuyệt/ Vạn kính nhân tông diệt/ Cô thuyền xuy lập ông/ Độc
điếu hàn giang tuyết” và của cả Lý Bạch - đời Đường: “Chúng điểu cao phi tận/
Cô vân độc khứ nhàn”. Thơ Bác có cánh chim, có đám mây bay nhưng khác ở hai nhà
thơ đời Đường kia ở chỗ: Cánh chim của họ đều phi tuyệt, phi tận nghĩa là đều
bay đến một chốn không cùng, vô tận, xa xăm gợi lên vẻ mông lung, còn của Bác
cánh chim về rừng tìm chốn ngủ. Một siêu hình, mờ ảo, một hiện thực, sống động.
Chứng tỏ tâm hồn của Bác giàu lòng yêu thương, mến quý sự sống. Bác đang trên
đường bị đọa đầy, tù tội (dù Bác không có tội) ấy vậy mà Bác quên sự đau đớn,
khổ sở của hoàn cảnh mình đang phải chịu đựng để hòa cảm cùng sự sống (cánh
chim bay, đám mây trôi). Chỉ riêng điều này chúng ta học tập Bác mãi không
cùng. Cũng là cô vân (đám mây một mình) nhưng của Bác khác xa với cô
vân trong thơ Lý Bạch – Thi tiên đời
Đường, ông viết Cô vân độc khứ nhàn. Với Lý Bạch cô vân biểu hiện sự cô độc,
phiêu diêu, thoát tục mang dáng dấp của ý niệm siêu hình, gợi lên sự mơ hồ khắc
khoải của con người trước hư không vũ trụ. Còn với Bác cô vân lại mạn mạn độ
thiên không, một sự nhẹ sáng thanh, cao, rộng đầy sống động tựa có hơi ấm của
con người. Bác đã tưới sự sống lên cảnh vật. Hoàn cảnh khổ ải ấy mà Bác ưu ái với
từng cánh chim, từng đám mây thật là hiếm có, hiếm thấy.
Nếu cảnh vật của hai câu đầu ở xa và cao thì ở hai câu tiếp theo lại
gần gũi thân thiết. Ta hãy đọc: Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc/ Bao túc ma hoàn lô
dĩ hồng – Cô em xóm núi xay ngô tối/ Xay hết lò than đã rực hồng. Một bước chuyển
thời gian kéo theo sự thay đổi không gian. Bao giờ cũng vậy thơ Bác luôn tràn đầy
sức sống. Cũng là cảnh chiều buông có sự hiện diện của con người mà trong thơ của
Bà huyện Thanh Quan lại khác: Gác mái ngư ông về viễn phố/ Gõ sừng mục tử lại
cô thôn. Câu thơ đẹp nhưng là vẻ đẹp của nỗi niềm mang mang, tiếc nuối. Hình
ảnh ngư ông gác mái về viễn phố, mục tử lại cô thôn với hình ảnh thiếu nữ xay ngô
tối hoàn toàn khác. Một là sự kết thúc, còn một là đang bắt đầu hứng khởi. Thiếu
nữ đang lao động (xay ngô) một cách say sưa như quên hết thời gian đang trôi,
dường như thiếu nữ đã khiến cho công việc nặng nhọc trở thành một niềm vui vì vậy
mà vòng quay của cối xay cứ quay, quay nhanh mãi (ma bao túc, bao túc ma).
Và khi ngô đã xay xong (công việc kết thúc) thì lại xuất hiện một hình ảnh
lạ thường (lô dĩ hồng – lò than đã rực hồng). Hình ảnh thiếu nữ đang say sưa
làm việc toát lên một vẻ đẹp khỏe khoắn, đáng yêu lại được hình ảnh bếp lửa rực
hồng soi tỏ, một cảnh thật đẹp, thật gợi. Hai hình ảnh điệp nhau bật lên, cảnh
tượng tỏa sáng đầy sự ấm áp, yêu thương nồng đượm.
Nếu tách bài thơ này ra khỏi hoàn cảnh thì khó có ai lại tưởng được rằng Bác sáng tác nó trong lúc tay
bị xích, chân bị cùm, thân bị khiêng, đang bị đọa đầy khổ đau chất chồng. Có lẽ
chỉ có Bác mới vượt lên khổ đau tột cùng của riêng bản thân để trìu mến, nặng
tình với cánh chim đám mây, với thân phận con người cần lao. Quả là Bác: Nâng
niu tất cả chỉ quên mình (Tố Hữu).
Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019
CHỤP ẢNH KHOẢNH KHẮC HAY DÀN DỰNG? tác giả HOÀI AN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Trao đổi về nhiếp ảnh
Bài 1:
Trong nhiếp ảnh nghệ thuật hiện
nay đang tồn tại hai quan điểm: Thứ nhất, đề cao ảnh chụp/ chộp khoảnh khắc
(SNAPSHOT); thứ hai, đề cao ảnh dàn dựng (SET UP). Quan điểm thứ nhất cho rằng:
Chỉ có chộp khoảnh khắc mới đúng với bản chất của nhiếp ảnh (phản ánh hiện thực
khách quan trực tiếp ngay tức thời khi sự việc
xảy ra. Khác với văn học, hội họa, phim truyện, sân khấu, người nghệ sỹ không
cần đến tận nơi, thấy tận mắt, chỉ cần nghe kể lại cũng có thể viết, vẽ, hay dựng
lại những cảnh, những sự việc đã xảy ra). Chộp khoảnh khắc mà bức ảnh đạt
trình độ nghệ thuật cao mới là bức ảnh “đáng tôn thờ”. Để có một bức ảnh chộp,
đạt trình độ nghệ thuật cao, đòi hỏi người nghệ sỹ phải dụng công tìm nhân vật,
địa điểm, phong cảnh, chọn/chờ khoảnh khắc (thời tiết, ánh sáng, hành động ưng
ý...) và cần cả sự may mắn. Còn ảnh dàn dựng là ảnh “nghệ thuật hạng hai”; người
chụp không tốn nhiều công phu, chỉ “bắt chước”, “làm theo” cái đã biết, đã thấy...
Ngược lại, những người chụp ảnh bằng phương pháp dàn dựng theo quan điểm thứ
hai lại cho rằng: Không biết dàn dựng để chụp là dại; cứ đi săn để chộp ảnh
khoảnh khắc là phí thời gian, công sức, là chơi trò rủi may; trong khi dàn dựng
tốt thì hễ “ra trận là thắng”, là sẽ có bức ảnh như ý về ánh sáng, góc độ, hành
động của nhân vật...
Những quan điểm trên về nhiếp ảnh
nghệ thuật đã tồn tại trong làng nhiếp ảnh Việt Nam và thế giới từ lâu, song
đến nay nó vẫn tiếp tục tồn tại và có lẽ còn tồn tại lâu dài. Vì sao vậy? Có lẽ
bởi chính các nhà lý luận về nhiếp ảnh trong và ngoài nước - những người đóng
vai trò dẫn dắt, định hướng sáng tác - đến nay vẫn không thuyết phục được lẫn
nhau và người ta đành phải “ hòa hợp” với nhau bằng cách chấp nhận cả hai. Cũng
vì thế trong các cuộc thi ảnh nghệ thuật hiện nay, người ta vẫn đón nhận tất cả
những bức ảnh được chụp bởi các tay máy là đệ tử trung thành của hai quan điểm
nhiếp ảnh nêu trên. Có cuộc thi, ảnh chụp theo quan điểm thứ nhất đoạt giải
cao; lại có cuộc thi, ảnh chụp theo quan điểm thứ hai chiếm ngôi vương.
Có lẽ chấp nhận cả hai quan điểm
nhiếp ảnh nêu trên cũng là điều “phù hợp” trong tình hình thực tế của phong
trào nhiếp ảnh nghệ thuật hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả ở phạm vi toàn
cầu.
Nhưng ảnh dàn dựng như thế nào để
bảo đảm tính chân thật như cuộc sống vốn có (trừ thể loại ảnh sáng tạo) lại là
một điều đáng bàn, đáng lên tiếng bởi hiện nay có nhiều tác phẩm dàn dựng phi
thực tế vẫn được chọn triển lãm, thậm chí được trao giải. Quan sát tác phẩm ảnh
tham dự các cuộc thi khu vực, toàn quốc và quốc tế hiện nay ta thấy rõ: Nhiều
tác giả đã quá lạm dụng việc dàn dựng theo ý đồ cá nhân, cốt sao chụp được bức
ảnh lạ mắt, có thể hấp dẫn được một số người,thậm chí cả một số vị trong ban
giám khảo thiếu hiểu biết, mặc dù trong thực tế không có như vậy. Ví dụ: Gần
đây một số nghệ sỹ nhiếp ảnh được cử đi sáng tác ảnh nghệ thuật về các công
trình điện và các hoạt động của ngành điện tại Đắk Lắk đã khẩn khoản đề nghị
một số cán bộ Điện lực Đắk Lắk (làm công tác phục vụ cho các nghệ sỹ nhiếp ảnh)
phải làm sao thuê bằng được một số con voi của đồng bào, rồi bố trí cho voi
nâng, kéo, chuyên chở công nhân và một số thiết bị của ngành điện để chụp. Chụp
xong một số nghệ sỹ tỏ ra hoan hỉ với những bức ảnh mình đã chụp. Thế nhưng một
số cán bộ, công nhân ngành điện thì tỏ ra lạ lùng về cách “sáng tạo” đó của các
nghệ sỹ nhiếp ảnh. Bởi trong thực tế hiện nay phương tiện chuyên chở, nâng, kéo
của ngành điện đã rất hiện đại, đâu còn phải dùng voi thay máy móc. Cũng vì thế
có cán bộ ngành điện nói: “Họ dàn dựng và chụp những cảnh như vậy mà đăng lên báo,
hoặc triển lãm là bôi bác ngành điện chúng tôi lạc hậu, trình độ hiện đại hóa,
công nghiệp hóa kém, không theo kịp tốc độ phát triển của thời đại” (!). Một số
nghệ sỹ nhiếp ảnh khi chụp ảnh về hái cà phê thường yêu cầu các cô gái (mặc dù
là người Kinh) bận trang phục của đồng bào thiểu số, mang gùi sau lưng, đứng
hái từng quả cà phê cho vào gùi, miệng cứ phải cười thật tươi để các nghệ sỹ
“sáng tác”. Có công nhân nói nửa đùa nửa thật: “Hái cà phê như thế thì chỉ có
ăn cám”... Bởi trong thực tế không ai hái cà phê như vậy, mà người ta phải trải
bạt xung quanh gốc cà phê, tuốt dọc chuỗi quả, cà phê rụng xuống bạt rào rào
như mưa, sau đó cuốn bạt đổ cà phê vào bao, như thế mới bảo đảm năng suất cao,
thu hoạch mới kịp thời vụ... Phi lý hơn, có nghệ sỹ nhiếp ảnh còn cho chặt cả
cành cà phê chín đỏ buộc trên miệng gùi để mấy cô gái mang trên lưng, bấm máy.
Sau đó bức ảnh được chú thích là “Thu hoạch cà phê”. Vì thế có người xem ảnh
nói: “Đấy là phá hoại cà phê, chứ không phải thu hoạch”... Vậy nhưng những bức ảnh
như thế vẫn lừa được cả ban giám khảo, vẫn được chọn triển lãm, thậm chí còn
được trao giải.
Ngoài sự dàn dựng phi lý như vậy,
một số nghệ sỹ còn có lối dàn dựng “bắt chước”. Thấy người ta có bức ảnh chụp
các cô gái Chăm đội om đi trên cát đoạt giải trong một cuộc thi nào đó, vậy là
rủ nhau đến Ninh Thuận, thuê người mẫu, dựng cảnh chụp y xì như người trước đã
chụp. Thấy người ta chụp ảnh Ama Kông đứng thồi tù và trước đầu voi được giải
trong một cuộc thi ảnh, thì “ta” cũng vào Bản Đôn, cũng “lôi” bằng được Ama
Kông ra, rồi dàn dựng chụp một bức ảnh như thế và gửi dự thi khắp nơi... Nhiều
người nói thẳng: Dàn dựng theo kiểu này thực chất là đạo ảnh. Đáng tiếc là
những bức ảnh như thế vẫn lọt qua “mắt xanh” của các ban giám khảo, không chỉ
được chọn triển lãm mà có tác phẩm còn được trao giải.
Theo chúng
tôi, những kiểu dàn dựng như thế cần phải phê phán; và không chỉ phê phán mà
cần phải loại bỏ ra khỏi hoạt động nhiếp ảnh. Các nhà lý luận nhiếp ảnh không
nên im lặng trước cách dàn dựng chụp ảnh như thế. Các ban giám khảo các cuộc
thi cần nhận thức sâu sắc vấn đề này và nâng cao trình độ hiểu biết về thực tế đời
sống về kiến thức tổng hợp; có như vậy ảnh được chọn triển lãm và trao giải trong
các cuộc thi mới có tính thuyết phục cao, mới có giá trị phản ánh cuộc sống và
phục vụ cho cuộc sống.
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2019
CHÍNH NGHĨA VÀ NHÂN VĂN tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Sổ tay thơ:
THĂM ĐỒI A1
Nơi
anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai
Lúa
cấy dưới đồng bao quanh sắc biếc
Xe
tăng gục, máy bay chở thương vong địch
Còn bóng chữ thập hồng - đồi lau đỏ tháng ba.
ANH
THƠ
LỜI BÌNH:
CHÍNH
NGHĨA VÀ NHÂN VĂN
Nhà thơ Anh Thơ viết bài thơ Thăm đồi A1 vào tháng 3 năm 1999, nhân kỷ niệm
45 năm ngày chiến thắng trận Điện Biên Phủ "chấn động
địa cầu". Bài thơ chỉ gồm bốn dòng thơ nhưng đã khái quát được bức tranh
hiện thực khốc liệt và vẻ đẹp nhân văn ngời sáng sau bao nhiêu mất mát, hi
sinh. Chính thời gian đã công bằng trả lại cho một dân tộc
chính nghĩa màu hoa đỏ tháng ba bất diệt, điểm tô trên đỉnh
đồi A1 - nơi mở màn cho trận quyết chiến của quân và dân ta đánh đuổi kẻ thù.
Câu
thơ mở đầu gợi người đọc nhắc nhớ về anh hùng dân tộc Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai để mở đường cho quân ta tiến lên như vũ bão. Sự
hi sinh cao đẹp ấy đã trở thành biểu tượng cho lòng dũng cảm và quyết tâm, trở thành
nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật khắc họa. Nhà thơ Anh
Thơ, khi bước lên đồi A1 thăm lại chiến trường xưa một thời trận mạc, cũng đã
không kìm được cảm xúc để rồi bật thốt lên câu thơ giản dị nhưng hết sức chân
thành, thể hiện niềm ngưỡng vọng thiêng liêng trước tấm gương vì nước quên thân
cao cả:
Nơi
anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai
Lúa
cấy dưới đồng bao quanh sắc biếc
Hai
câu thơ như một mệnh đề nhân - quả mang tầm khái quát về một vẻ đẹp mang tính
thời đại. Công cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ được Bác Hồ xác định đã đi
đến giai đoạn phản công để giành lại độc lập. Trận đánh mở màn vì thế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đã mang lại chiến thắng vinh quang làm nức
lòng nhân dân và chiến sĩ cả nước. Sau bốn mươi năm về thăm lại chiến địa xưa,
nhà thơ nhận ra vẻ đẹp biếc xanh của cánh đồng bao quanh
chân đồi lịch sử. Hình tượng thơ đối lập giữa
quá khứ và hiện tại, giữa sự hi sinh và sức sống mỡ màu của
cây lá đã khiến chúng ta xúc động.
Giản
dị và tự nhiên, tiếp tục mạch cảm xúc trên, Anh Thơ đã mở rộng biên độ của cảm
xúc thơ trên một bình diện khác. Vẫn là sự mất mát, đau thương, hình ảnh xác xe tăng kẻ thù đổ gục, đồng thời là hàng ngàn tướng sĩ Pháp đang thương vong
trong trận chiến với quân ta làm cho không gian đẫm màu tang tóc. Quá khứ và hiện
tại song hành, đồng hiện như những thước phim đầy sống động mà nhà thơ quay cận
cảnh bằng nghệ thuật ngôn từ thật tài tình:
Xe tăng gục,
máy bay chở thương vong địch
Còn
bóng chữ thập hồng - đồi lau đỏ tháng ba
Quá
khứ khép lại, nhưng đồi lau đỏ tháng ba vẫn ám ảnh tâm hồn người đọc như một nỗi
đau không lấy gì che chắn của kẻ thù. Hoa lau khi mới nở thường có màu đỏ hồng
gợi liên tưởng đến màu máu của xác thù khi thất bại. Ở đây, tứ thơ mà Anh Thơ
phát triển thật có dụng ý nghệ thuật. Nếu anh Phan Đình Giót ngã xuống hi sinh đã hình thành nên cánh đồng xanh bất tận; thì khi quân thù bỏ mạng
chỉ gợi lên màu đỏ của tang tóc giống như màu lau đỏ tháng ba thấp thoáng bóng
chữ thập hồng. Sự hi sinh cho chính nghĩa bao giờ cũng đẹp đẽ, thanh cao, gợi
lên niềm tin sáng trong, cao đẹp. Ngược lại, sự bỏ mạng của quân gian tà, xâm
lược chỉ đem lại nỗi thê thiết, sầu bi.
Bài
thơ thành công trên nền của hình tượng thơ giàu cảm xúc và nghệ thuật đối lập khá
hoàn hảo. Bốn câu thơ tứ tuyệt nhưng đã dựng được một hiện thực lớn lao về một
thời đấu tranh gian khổ của đất nước để giành độc lập. Song, cái cao quý hiện lên làm ấm lòng người đọc chính là tư tưởng đề cao chính nghĩa, ca ngợi
vẻ đẹp nhân văn lấp lánh chất người.
Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019
THƯ GỬI CƠN MƯA truyện ngắn của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Có những cơn mưa đổ ngang đời, tình cờ như
số phận, khiến ta không thể nào quên. Khi cơn mưa đã đi xa, xa lắc xa
lơ rồi, có hôm nào nó khi nắng về tinh khôi chợt nhớ,
mới biết rằng mình không bao giờ gặp lại. Trong đời bạn, đã bao giờ có những cơn mưa như thế chưa? Bạn làm gì khi quay quắt nhớ thương
về những nắng mưa mình
từng trải? Bạn có bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ viết một lá thư gửi về cho cơn mưa quá khứ, tại
sao không nhỉ? Khi không còn cách nào bắt quá khứ quay về, thì ta bắt mình ngược về quá khứ, để làm gì ư? Ai mà biết
chắc! Sáng nay,
mối bay lên rợp trời đón nắng thảo nguyên, ta ngồi viết thư gửi cho cơn mưa cũ, cơn mưa tình cờ như số
phận giăng ngang đón đợi đường về, vào một ngày của xa xưa, xa lắm...
“Bạn đã đến, đúng vào thời điểm đó, không sớm, không muộn,
để vừa vặn bắt gặp ta trần
trụi, cô đơn, như một gã tù vượt ngục bị lạc giữa thảo nguyên. Bạn vô tư, sôi nổi,
hào hứng kể cho tôi nghe câu chuyện thiên thu từ chín tầng trời xa lạ. Ta nằm nghe mê mải, biết rằng,
đó là câu chuyện lạ lùng nhất, trung thực nhất mà mình được nghe trong chốn trần gian đầy bất trắc lọc
lừa. Câu chuyện nào của thế nhân cũng mang một màu
sắc chủ quan đáng nghi ngại. Riêng những lời bạn kể, ta tin, cho đến mãi sau này, vẫn còn tin. Cuộc
đời của bạn, rong chơi giữa bảy sắc cầu vồng, bỏ hết mọi vướng bận và lo toan. Thú thực, đó là
thứ đời sống trong
mơ, ta chưa bao giờ được nếm trải, dù ít ỏi. Những giọt mưa đến rồi đi, luân hồi
trong niềm vui rạng rỡ. Trong mắt bạn, cuộc đời xanh mướt, đẹp đẽ vô cùng, không khác gì sân
trường xanh mướt trong buổi sáng mùa xuân trong mắt cô học trò mới lớn, lần đầu bắt gặp tình
yêu...”
“Khi ta ngồi viết những dòng này thì bạn đã
rời xa ta, xa thảo nguyên, rong chơi tít tắp cuối chân trời thăm thẳm. Chư
Mang hôm nay nắng gắt, mây xếp chồng lên nắng, nắng xếp chồng lên mây, vô tận. Có những người
khi họ đi xa rồi, ta mới thấy giá trị hiện hữu của họ, với ta, bạn là một cơn mưa lạ lùng, đến rồi
đi, nhưng lấy của ta
nhiều lần mong nhớ. Bạn mang đến thảo nguyên những câu chuyện lạ lùng và đánh thức cỏ cây bằng ước
vọng xa xôi của bầu trời, của đại dương mênh mông. Bạn thầm thì bên tai ta về những điều ta
chưa hề biết, chưa hề nghĩ đến. Bạn nói, ở xứ sở xa
xôi, có những con người có sở thích kỳ quái, họ sống cũng muông thú, lâu dần, họ quên mất tiếng người... Ta lập tức liên
tưởng, so sánh với cuộc
sống của chính mình. Bọn ta, con người sống với nhau, nhưng cũng từ lâu, ngôn ngữ giao tiếp là
tiếng gào thét của loài thú hoang, ngày càng mất đi tính người, mất đi thiên lương trong trẻo
ban đầu...”.
“Bạn nói với tôi về những miền đất xa xôi con người được
tự do, được sống để thỏa mãn
niềm khát khao chinh phục tự nhiên. Bạn nháy mắt tinh nghịch rồi vội vã đặt một nụ hôn lạnh giá lên
tóc, rồi tiếp tục rong chơi! Lâu lắm rồi, thảo nguyên không
còn nhắc đến những hẹn hò tuổi nhỏ, vậy mà buổi sáng nay, tinh mơ như tuổi sông hồ dài rộng, ta lang
thang cùng với một đám mây mắt màu xanh con gái. Đám mây líu lo kể đủ chuyện, bằng âm thanh trong
trẻo, như chưa từng biết đến lo toan, chưa biết đến dối lừa. Đi chơi cùng với một đám mây thì có
vui không? Ta chưa biết trả lời
thế nào thì bạn - cơn mưa – lại ngang trời kéo đến, ngay giữa
con đèo quen thuộc. Câu chuyện còn dài lắm, buổi sáng còn dài lắm, sẽ còn nhiều điều để kể, nhưng bạn đã vô tình cắt ngang. Khi đám mây tình cờ trở thành nhân vật chính, khi
bạn luôn luôn có mặt một cách tình cờ như nhân chứng không
thể thiếu, núi Chư Mang chỉ còn biết đứng nhìn theo, có một nụ cười...”
“Ta rủ rê, thôi, hay ở lại đây cho hết những
ngày dài? Dĩ nhiên là đám mây trắng kiêu kỳ lắc đầu nheo nheo mắt! Ta biết
rồi, tuổi trẻ mà, còn phải rong chơi, còn phải kiếm tìm, mà ta thì từ lâu chỉ còn một trái tim đau buốt,
không phải vô cảm, nhưng cũng không hi vọng gì nhiều. Câu chuyện kể của bạn
luôn gợi trí tò mò. Ta hỏi: Bạn lãng du
trong vô tận, thế đã bao giờ rong chơi với một đám mây con gái có đôi mắt
màu xanh chưa? Lúc đó, bạn ào ạt chạy qua, làm như bận bịu lắm, để né một câu trả lời...”
Trong khi cơn mưa chập chờn đến rồi đi, ta
lại trở về với vai diễn ban đầu - người kể chuyện
ở núi Chư Mang. Ta đã đi qua bao nhiêu mưa nắng thảo nguyên, khi cuồng nhiệt mê say lúc ảo
não u buồn, không có ngày nào giống ngày nào, không có đêm nào giống đêm nào. Chiều nay, ta đuổi theo dấu vết
yêu thương với đám
mây mắt biếc đậu trên vai và tiếng cười lảnh lót dẫn đường. Ta đi qua buổi
chiều mà dường như không để lại dấu chân, hoặc là đang lướt trên mặt cỏ với tiếng cười vỡ ra long
lanh như nắng ấm. Ta nhè nhẹ bược chân, tim không dám đập mạnh, sợ đám mây giật mình tỉnh giấc, bay
đi. Khi bóng đêm vời vợi kéo về, ta vẫn loay
hoay giữa bốn bề cây cỏ, với ánh mắt nụ cười ấm áp giữ chặt trong tay...
Và rồi, khi giấc ngủ kéo về, trong mơ, cũng
có một cơn mưa!
Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019
Nhà văn NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019
Nhà
văn NGUYỄN VĂN THIỆN
Sinh: 1975
Quê quán: Anh Sơn – Nghệ An
Giáo viên trường THPT Nguyễn Trãi, CưM’gar
Biên tập viên Tạp chí Chư Yang Sin
Đã
xuất bản:
Nắng trước cửa thiên đường (Tập truyện ngắn, Nxb
Hội Nhà Văn, 2011)
Nước mắt màu xanh thẫm (Tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà
Văn, 2015)
Chơi trò đồng xanh (Tập truyện ngắn, Nxb Hội Nhà Văn,
2016).
NGỰA HOANG
Truyện ngắn
Tôi vẽ một con ngựa và thả cho nó lên núi
chơi. Trước khi đi, ngựa quay lại dặn tôi: Khi
nào nghe tiếng hí từ trên ngọn núi phía tây thì bạn…! Tôi quất roi vào mông, ngựa ta lồng
lên, phi thẳng. Trên núi có một chiếc thang, trên chiếc thang có một vầng trăng. Vầng trăng
như chiếc gương bằng vàng. Tôi nhìn vào gương, thấy bạn mình đang thong thả gặm cỏ. Mắt ngựa rất buồn vì trên ấy không có bạn. Chắc chắn thế rồi.
Tôi muốn vẽ thêm một nàng ngựa trắng để cho nó lên núi chơi nhưng rồi lại nghĩ: Biết đâu, cô đơn lại là trạng thái tốt nhất đối với
loài ngựa. Tôi bình thản ngủ một giấc thật dài cho đến cuối mùa đông. Thức giấc,
tôi vẫn thấy vầng trăng bằng vàng trên chiếc thang bằng bạc, nhưng
bạn tôi đã không còn trên ấy nữa. Trong chiếc gương, chỉ còn lại một con mắt buồn
chưa khép lại. Bây giờ thì ngày nào tôi cũng lắng tai để nghe
một tiếng hí dài, lắng tai nghe mãi…
Khi thảo nguyên trở mình cựa quậy, trời đất sắp sửa sang xuân, ruột gan như
có ai đốt lửa. Hoàn toàn mất trọng lượng, tôi trở thành một quả
bóng bay màu đỏ lặng lẽ
lên đường đi tìm bạn. Tôi gọi giữa mênh mông dã quỳ, mênh mông lau lách: Bạn ơi, bạn
đang ở đâu!
Có những buổi trưa lau lách bạc đầu níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai, hình dáng thế nào để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một con mắt buồn không khép và nói: Bạn tôi lạc giữa thảo nguyên từ lâu lắm... Lau lách lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Suối hát một bài hát vui vẻ động viên, mây lượn một vũ điệu vui vẻ động viên, và tôi lại lên đường...
Có những đêm rừng cổ thụ ngàn năm níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một vầng trăng bằng vàng trên một chiếc thang bằng bạc và nói... Cổ thụ cười lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Tôi lại lên đường, thảo nguyên mênh mông...
Có những buổi trưa lau lách bạc đầu níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai, hình dáng thế nào để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một con mắt buồn không khép và nói: Bạn tôi lạc giữa thảo nguyên từ lâu lắm... Lau lách lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Suối hát một bài hát vui vẻ động viên, mây lượn một vũ điệu vui vẻ động viên, và tôi lại lên đường...
Có những đêm rừng cổ thụ ngàn năm níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một vầng trăng bằng vàng trên một chiếc thang bằng bạc và nói... Cổ thụ cười lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Tôi lại lên đường, thảo nguyên mênh mông...
Cho đến một hôm, tôi dừng chân bên suối. Dòng suối ấy tên
gì không biết nhưng nước rất
trong và rất nhiều đá cuội, trắng phau. Tôi ngồi bên một tảng đá và chờ đợi. Suối
mơ màng như một thiếu nữ dạo chơi giữa bạt ngàn hoa dại. Tôi hỏi đùa: Thiếu nữ
có thấy một chàng trai…? Thiếu nữ mỉm cười thẹn thùng. Đúng lúc đó, tôi thấy
trong tay cô gái, à không, dưới lòng suối, trên lớp đá cuội trắng phau một con mắt còn lại của
tôi, à không, của bạn tôi: Ngựa hoang. Đôi mắt ấy, không thể lẫn vào đâu được,
đang mải mê nhìn thảo nguyên, chưa bao giờ khép lại. Tôi xòe bàn tay ra, con mắt giữa lòng bàn tay nhấp nháy vui mừng. Hai con mắt xích lại gần
nhau, và bạn tôi hiện ra, tung vó… Suối cất lên một tràng cười lanh lảnh đầy giễu cợt và chảy đi xa hút giữa mênh mông.
Tôi đuổi theo, khản giọng gọi. Tiếng gọi bị gió thổi bạt
đi, chìm giữa mông lung đại ngàn. Tôi đã tìm được con mắt còn lại, đã ở rất gần,
thế mà! Tim như có ai bóp chặt,
tôi lồng lên, chạy đuổi theo. Tay tôi mọc cánh, chân co rút lại, tôi bay lên. Đồng
tử thu nhỏ lại, long lanh như mắt chim ưng, tôi lượn vòng trên bầu trời hoang vu, tìm bạn. Mỏi
mệt trong điên loạn gió ngàn, tôi hạ cánh nghỉ ngơi trên chiếc thang bằng bạc. Và cơn mưa đổ xuống rất nhanh, xóa hết mọi dấu vết. Lạnh,
và mỏi mệt. Tôi không còn đủ sức cất tiếng gọi
nữa. Con chim ưng đậu trên thang, đầu cúi xuống, buồn bã. Tiếng cồng chiêng không
biết từ buôn làng xa xôi nào đã cất lên thao thiết. Biết đến bao giờ… bạn của
tôi?
Đột nhiên, trong gió núi mưa ngàn, tôi nghe thấy một tiếng
hí dài. Rồi mưa tạnh, gió ngừng.
Vầng trăng từ từ nhô lên sau dãy núi lô xô, chiếu những luồng sáng sắc lạnh. Thảo
nguyên trông rõ như ban ngày. Dòng suối ban sáng nhí nhảnh reo vui bây giờ lặng
lẽ đi như một dòng ánh sáng vô hồn. Từ trên chiếc thang nhìn xuống, tôi nhận ra
vô vàn con mắt đang trôi. Những chiếc mắt như lá, như sao, như cỏ dại bồng bềnh, lờ lững,
thong thả đi trong dòng ánh sáng dưới chân. Tôi sấp ngửa chạy theo, thò hẳn bàn tay xuống vớt lên từng ánh mắt. Đâu là con
mắt buồn
không
khép của ngựa hoang? Đâu là ánh nhìn chim ưng rút ruột rút gan của tôi? Đâu nữa chiếc mắt lá mùa thu một mí mà tôi từng gặp trên đường đi tìm bạn?
Tôi chạy dọc dòng ánh sáng vớt lên rồi thả xuống rồi lại vớt, nhưng
không hề nhận ra đâu là con mắt của mình, đâu là mắt
của bạn, ngựa hoang ơi…
Thất vọng tràn trề, tôi buông mình xuống suối.
Nước lạnh như dao, như ánh sáng cuốn tôi
đi. Tôi vừa đi vừa trôi, lúc chìm lúc nổi, qua không biết bao nhiêu là núi non, bao nhiêu
là cỏ dại. Những con mắt trôi bên cạnh tôi, chúng nói với nhau những câu chuyện không
đầu không cuối. Có những câu thơ vỡ vụn trên môi người đọc, một chiếc mắt thì thầm. Những thân cây xù xì nhưng bên trong chứa trầm thơm
ngát, mắt trôi bên cạnh tiếp lời. Một mắt khác nổi hẳn trên mặt nước, khóe rạn nếp chân chim, thâm trầm: Còn có bao nhiêu người đi lạc, chưa tìm thấy
lối về trong dịp mùa xuân! Một mắt khác màu xanh ngọc bích nheo cười:
Cuối cùng chúng ta cùng đi về một hướng… Cứ thế, câu
chuyện nối tiếp nhau, bất tận. Trên trời cao, trăng vẫn sáng, thứ ánh sáng chói
lóa, mù lòa. Tôi quẫy mạnh ngoi lên mặt nước. Dọc
hai bên bờ suối, có tiếng bước chân người. Họ cũng đang đi, lúc khoan thai, khi vội vàng, khi dò dẫm. Thỉnh thoảng lại có người quờ tay
xuống suối tìm đôi mắt của mình.
Trong đoàn người vô tận ấy, tôi thoáng thấy tôi, và cả bạn
tôi, ngựa hoang, và những người
thân của tôi nữa, không có mắt trên trán, vẫn bước đi theo một hàng dài, đi về
bên kia núi. Hai bên đường, dã quỳ tỏa hương ngan ngát.
Mùa
xuân.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)












