Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

THỦ LĨNH SĂM BRĂM ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ sáng tác của TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ 323 THÁNG 7 NĂM 2019






Săm Brăm tên thật là Mang Lo, cha ông là người Chăm, mẹ ông là người Êđê. Ông sinh ra tại buôn Mang Chăm, thuộc vùng giáp ranh Phú Yên – Đắk Lắk. Ông lớn lên theo nghiệp cha làm thầy thuốc. Sống bằng nghề bốc thuốc chữa bệnh cho mọi người nên ông đi nhiều, đến nhiều địa phương khác nhau. Nhờ vậy mà ông hiểu được nỗi thống khổ của người dân mất nước. Trong những chuyến đi này, ông may mắn gặp được những người Cộng sản, nhờ vậy mà ông đã giác ngộ và nuôi chí đứng lên cứu nước.
Rồi ông dấy binh khởi nghĩa. Trong những ngày đầu khởi nghĩa, thủ lĩnh Săm Brăm gặp rất nhiều khó khăn. Đa số thanh niên trai tráng sợ giặc Pháp, theo gia đình chạy vào rừng lánh nạn, nên công việc tuyên truyền vận động dân chúng tham gia nghĩa quân vô cùng gian nan. Thế là ông học kinh nghiệm chiêu mộ nghĩa quân của thủ lĩnh N’Trang Lơng. Ông mời các nghệ nhân biết kể sử thi đến các buôn làng của người Êđê, M’Nông, Jarai, Bana, Xê Đăng, K’Ho… để kể sử thi. Theo tập tục của người Tây Nguyên, chỉ có kể sử thi thì mới tập hợp được đông đảo dân chúng. Nhờ vậy mà Săm Brăm đã biến việc nghe kể sử thi thành cuộc tuyên truyền vận động thanh niên tham gia nghĩa quân. Với cách làm này, nghĩa quân của thủ lĩnh Săm Brăm lúc đầu mới có 50 người, chỉ sau một mùa rẫy đã lên đến 50.000 quân. Ông đặt tên cho cuộc khởi nghĩa này là Phong trào “Nước xu” (yêu nước). Căn cứ nghĩa quân của ông không chỉ ở địa bàn rừng núi Đắk Lắk, Phú Yên, JaLai, mà còn lan rộng sang địa bàn Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương và sang các bộ tộc Lào, Khơ Me. Ở những địa bàn này đều có các tù trưởng tài giỏi lãnh đạo và có tiềm lực kinh tế để nuôi quân đánh giặc. Do vậy mà nhiều đồn bốt của giặc Pháp ở Tây Nguyên bị nghĩa quân của Săm Brăm lần lượt tiêu diệt, làm cho binh lính Pháp hoang mang giao động và Khâm sứ Trung kỳ ngày đêm lo lắng, mất ăn, mất ngủ, liền tổ chức nhiều cuộc đánh lớn hòng tiêu diệt nghĩa quân của thủ lĩnh Săm Brăm.
Một hôm, Công sứ tỉnh Đồng Nai là Luysiêng Ăngê mở một trận càn lớn và bắt được một chỉ huy thuộc nghĩa quân của Săm Brăm ở Lâm Đồng. Sau khi khai thác vị chỉ huy này, Công sứ Đồng Nai đã viết báo cáo gửi Khâm sứ Trung kỳ: “Săm Brăm là nhân vật có chòm râu dài. Ông ta là gốc người Êđê, biết nói tiếng Kinh, tiếng Chăm, tiếng Lào, tiếng Khơ Me và cả tiếng Pháp. Đôi khi ông ta biến thành con rắn và sống dưới biển, đôi khi ông ta trở lại thành người và sống trong rừng. Sự di chuyển của ông ta như gió, như mưa dông…” (Mật báo số 71 c,77c của mật thám Pháp).
Sự đồn đại ấy đã làm tăng thêm uy tính của thủ lĩnh Săm Brăm và nghĩa quân của ông. Từ đó nghĩa quân của Săm Brăm phát triển khắp nơi, làm cho quân Pháp vô cùng lo sợ.
Năm 1938, Công sứ Pháp tại Đắk Lắk đã cử Đồn trưởng Buôcgơri tổ chức một cuộc càn quét lớn vào các căn cứ nghĩa quân bằng máy bay, xe bọc thép và đại bác cùng hàng nghìn quân. Biết được tin này, thủ lĩnh Săm Brăm liền cho nghĩa quân cải trang thành dân thường vào ở với dân trong các buôn làng Tây Nguyên. Khi quân Pháp càn đến các khu căn cứ, chúng thấy nhà không, rừng vắng, nên càng tức giận.
Trong những ngày này, thủ lĩnh Săm Brăm đã đóng giả thầy thuốc đi chữa bệnh cho dân ở khắp các buôn làng Tây Nguyên, nhằm nắm tình hình, trấn an tinh thần nghĩa quân và dân chúng. Buổi tối, ông mời các nghệ nhân kể sử thi cho mọi người nghe để động viên tinh thần chiến đấu của nghĩa quân.
Một hôm, thủ lĩnh Săm Brăm đang tổ chức kể khan Êđê ở một ngôi nhà dài tại buôn Êa Khanh, thuộc địa bàn Cheo Reo, thì có tin quân Pháp đang tiến vào buôn. Nhờ có mật thám chỉ điểm, nên chúng bắt được ông. Giặc Pháp đưa ông về giam tại nhà đày Buôn Ma Thuột.
Một tháng sau, Tòa án phong tục Đắk Lắk xử ông 10 năm tù và phạt 500 đồng bạc Đông Dương. Sau đó ông Săm Brăm gửi đơn kiến nghị lên Khâm sứ Trung kỳ. Vì lúc ông bị bắt là đang chữa bệnh cho dân, chứ không có hành động chống lại quân đội Pháp ở Tây Nguyên, nên tòa án phong tục Đắk Lắk xử lại vụ này, ông được ân xá chỉ phạt 5 năm tù và chỉ nộp phạt 250 đồng bạc Đông Dương.
Cách mạng Tháng Tám-1945 thành công, ông Săm Brăm được các chiến sĩ của ta cứu ra khỏi nhà đày Buôn Ma Thuột. Ông trở về gặp lại nghĩa quân của phong trào “Nước xu” tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân, chống lại bọn phản động, bảo vệ thành quả của cách mạng.
Tháng 5-1946, thủ lĩnh Săm Brăm được Bác Hồ mời ra Hà Nội dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc. Trong những ngày dự Đại hội, ông Săm Brăm được Bác mời cùng ăn cơm. Bác ân cần thăm hỏi sức khỏe và đời sống của đồng bào Tây Nguyên và gia đình ông. Bác khen ngợi phong trào “Nước xu” do ông lãnh đạo. Trước khi chia tay, Bác Hồ tặng ông thanh bảo kiếm (do bộ đội ta tước được của một tướng Nhật). Bác căn dặn: Cụ hãy dùng thanh bảo kiếm này tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân phong trào “Nước xu” đánh thắng mọi kẻ thù khi chúng đặt chân lên núi rừng Tây Nguyên, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng nước nhà.
Thủ lĩnh Săm Brăm nhận thanh bảo kiếm từ tay Bác Hồ, xúc động rơi nước mắt, rồi nói: “Cảm ơn Bác! Tôi xin hứa sẽ làm thật tốt lời của Người căn dặn.”
Trở về Tây Nguyên, thủ lĩnh Săm Brăm kể lại cho nghĩa quân và đồng bào các buôn làng cùng nghe về những ngày dự Đại hội thi đua yêu nước và vinh dự được gặp Bác Hồ. Mọi người nghe kể đều xúc động và thầm hứa với Người: Đồng bào Tây Nguyên một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, cùng đồng lòng, đồng tâm ủng hộ nhiều sức người, sức của cho cách mạng, góp phần giải phóng quê hương để đón Bác vào thăm Tây Nguyên cho thỏa lòng mong ước.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

THẾ GIỚI TUỔI THƠ QUA “KHÚC ĐỒNG CA MÙA HẠ” CỦA ĐỖ TOÀN DIỆN lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019









Đỗ Toàn Diện làm thơ nhiều, xuất bản cả chục tập thơ tính từ thi tập đầu tiên ra mắt độc giả: Hoa trong cỏ (1992). Không kể các tập thơ trào phúng, về thơ trữ tình anh có Lời yêu (1994), Lời ru Cao Nguyên (1998), Thời yêu dấu (2005), Ước mơ nhà rông (2010), Dấu chân thời gian (2016)… Vẫn phong cách mộc mạc đậm chất truyền thống, thơ anh giàu có ở sự nồng nàn của cảm xúc, lời thơ tự nhiên như hơi thở, không mang dáng vẻ câu chữ cầu kỳ, vỉa tầng ẩn ý. Tất cả cứ ngân vang bằng lời, bằng giọng thơ chân chất, thiết tha từ trái tim thi nhân yêu lắm cuộc đời này.
Mà đúng vậy, có yêu thương cuộc đời thật nhiều, cháy lòng muốn bộc bạch với tha nhân những suy tư về thế giới xung quanh mãnh liệt, Đỗ Toàn Diện mới dễ dàng tìm đến thế giới trẻ thơ qua Khúc đồng ca mùa hạ. Tập thơ phác họa bức tranh đa thanh, đa sắc về thế giới tuổi thơ hồn nhiên, mơ ước từ cái nhìn yêu thương, hồn hậu của tác giả. Điều đặc biệt, ở tập thơ này, người đọc sẽ bắt gặp một Đỗ Toàn Diện rất nhạy cảm với thế giới loài vật để từ đó khơi gợi cho các em những bài học làm người, những tình cảm nhân văn nhẹ nhàng, thiết tha mà vô cùng sâu lắng.
Đọc Khúc đồng ca mùa hạ, ta thấy giới loài vật trong tập thơ hiện lên thật phong phú và sinh động. Trong tổng số 31 bài thơ của thi tập, có đến 11 bài tác giả viết về các con vật. Đó là các tác phẩm Tiếng ve, Bức tranh đồng quê, Kiến giết voi, Chim sâu xử kiện, Ruồi nhặng – ong mật, Bé và các loài chim, Ếch nhái ngủ đông, Con cua, Con tôm, Dã tràng, Cào cào. Một thế giới loài vật, qua cái nhìn của thi nhân, dường như tất cả đã tụ đàn về đây để dệt nên bức tranh thơ rộn rã âm thanh và màu sắc. Loài voi to khỏe, vừa đi vừa “ngẫm nghĩ” khiến cho các loài khác đều khiếp sợ; Hổ, Báo, Kiến, Cua, Nhái, Cào Cào, Cụ Cóc, Ong Bướm…, mỗi loài đều có nét riêng, tất cả hiện lên xôn xao qua từng trang viết; có cả Chim Sâu xử kiện để truy sát loài sâu bọ; Ruồi nhặng – Ong mật với một cuộc đối thoại, tranh biện đầy thú vị…
Trong bài thơ Bức tranh đồng quê, từ những đặc tính sinh hoạt của mỗi loài, qua sự sự quan sát tỉ mỉ và đầy chất thơ, tác giả giúp cho các em vừa thích thú và yêu mến cảnh vật làng quê, vừa có được bài học bổ ích từ cuộc sống mang lại. Thể thơ lục bát biến thể viết theo lối vắt dòng nên nhìn khá mới mẻ, hình tượng thơ giàu sắc thái biểu cảm, nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, giọng thơ giàu nhạc tính, Bức tranh đồng quê đã dựng lên một thế giới loài vật sống động hòa cùng vẻ đẹp thiên nhiên để làm nên bức tranh đồng quê tuyệt đẹp, mở ra một không gian hữu tình trong mắt trẻ thơ: “Bức tranh quê đẹp tuyệt vời/ Bàn tay tạo hóa dâng người mà nên”. Ở Bé và các loài chim, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã rất có duyên khi kể lại hai tính cách trái ngược nhau giữa em bé và các loài chim “xấu tính, xấu nết”. Sự thú vị của bài thơ chính là cách khen của tác giả thông qua cái nhìn đầy tin yêu và quý mến trẻ thơ. Với trẻ em, khen cũng cần đúng lúc, đúng chỗ, không các em dễ gì tin được ngay. Sử dụng nghệ thuật đòn bẫy qua hình ảnh các loài chim Chèo Bẻo “mách lẻo trên cành”; Sáo Sậu “lanh cha lanh chanh”; Quạ Khoang lười học, lười làm; từ đó nhà thơ dẫn dụ và so sánh đến các em có nhiều việc làm tốt ở trường, ở lớp. Cách khen bằng nghệ thuật so sánh ấy là cách giáo dục tự nhiên, phù hợp tâm lý tuổi thơ, động viên các em không nên học theo những loài chim hư, đồng thời cổ vũ những đức tính tốt: “Còn như các bé/ Ở trường mầm non/ Miệng nở hoa sen/ Hát hay học giỏi/… Đi học về nhà/ Bé chào khắp lượt”. Chim Sâu xử kiện lại có sức cuốn hút nhờ sự quan sát tinh tế kết hợp với nghệ thuật tưởng tượng tài hoa của nhà thơ. Bài thơ kể lại một phiên tòa “hình sự” xử kiện loài sâu bọ tàn phá môi trường thiên nhiên. Chính yếu tố thơ trong truyện và truyện trong thơ đã làm cho thi phẩm hấp dẫn thông qua kịch tính khi Chim Sâu xử kiện rất thuyết phục trước loài sâu bọ chối quanh. Có lẽ điều đó làm cho tuổi thơ thích thú, đồng thời cũng nhận thức được cái xấu, cái ác xung quanh mình: “Mở phiên tòa chái hiên/ Thăng đường, chim xét hỏi/ Sâu ranh càng chối tội/ “Tôi chữa bệnh cho cây/ Tỉa bớt nhánh hoa gầy/ Bớt lá cho quang hợp”/ Miệng lưỡi sâu ngọt xớt/ Cố ra vẻ hùng hồn/ Uy nghiêm chim hỏi dồn:/ Sao cây vàng rồi chết?/ Lá tả tơi rụng hết…/ Ngươi còn dám thêu dệt?”. Ếch nhái ngủ đông là khúc ca đồng quê rộn ràng, vui tươi và sống động. Con Cua dựng lên hai hình tượng đối lập trong thế giới động vật: Cua ngang tàng nên cuối cùng nhận lấy hậu quả thật đáng thương: “Gặp ai cũng dọa nạt/ Giương mắt múa may càng/ Bạn bè đành xa lánh/ Đành thui thủi trong hang”. Bài thơ Con Tôm thú vị ở nghệ thuật miêu tả rất đúng và tinh tế hình dáng bên ngoài: “Đầu hai ba lưỡi mác/ Râu dài mã thật sang/ Càng cứng áo giáp sắt/ Dáng oai vệ nghênh ngang”. Tóm lại, ở mảng thơ viết về thế giới động vật, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những phát hiện độc đáo riêng, miêu tả sống động bằng sự quan sát tinh tế và tình yêu sâu sắc nên thực sự có những hình tượng thơ hấp dẫn, lôi cuốn, đồng thời là những bài học nhận thức đúng đắn, phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Cùng với thế giới động vật, Đỗ Toàn Diện cũng dành khá nhiều bài thơ viết về cây trái, đồ vật. Có lẽ, chính cái nhìn tràn đầy yêu thương và một tấm lòng hồn hậu với thế giới tuổi thơ nên anh đã dành tình cảm đặc biệt ở mảng đề tài này qua khá nhiều tác phẩm: Đào lộn hột, Tâm sự bàn ghế, Tâm sự của rễ, Sóc Bông, Sầu riêng, Cái ô, Cây xấu hổ. Ở những bài thơ viết về đồ vật, cây trái, nhà thơ Đỗ Toàn Diện cũng có nhiều phát hiện tinh tế, thú vị. Qua đó, tác giả giúp cho các em có cái nhìn sâu sắc và thấu hiểu hơn về thiên nhiên và mọi vật ở xung quanh mình. Quả đào lộn hột “biết làm ảo thuật” để chui từ hạt ra ngoài, lắng nghe cuộc đời vui tươi ca hát: “Nghe gió hát êm tai/ Và chim rừng ca hót/ Uống sương mai dịu ngọt/ Tắm nắng trời ban ngày” (Đào lộn hột). Bài thơ Tâm sự bàn ghế thể hiện cái nhìn tác giả về mối quan hệ cũng như cách ứng xử của tuổi học trò với mọi vật chung quanh thông qua thủ pháp nhân hóa. Bài học về sự trân trọng và biết nâng niu mọi sự vật quanh mình cũng như mọi điều trong cuộc sống cũng hình thành từ đây: “Bàn nói với ghế sáng nay/ Tôi tơi tả bởi bàn tay học trò/ Ghế rằng tôi cũng lo lo/ Gồng mình cho lũ học trò ngồi lên” (Tâm sự bàn ghế)
Ngoài cảm quan về loài vật mà phần lớn được nhìn qua con mắt trẻ thơ, điểm nhìn trữ tình của chính tác giả về một thế giới hồn nhiên, mơ ước còn được thể hiện qua nhiều tác phẩm khác nữa: Tiếng ve, Tìm về, Cô bé răng khểnh, Tuổi thần tiên, Bố ở Trường Sa, Ơn thầy, Tiếng pháo xuân, Bé được cắm cờ… Cảm xúc từ tiếng ve thơ dại và màu hoa phượng đỏ như hai biểu tượng của một thời áo trắng thơm hương, bài thơ Tiếng ve được tác giả Đỗ Toàn Diện viết theo thể lục bát nhờ đó dễ lắng sâu vào tâm hồn các bạn nhỏ tuổi với niềm xuyến xao, bịn rịn buổi hè về: “Ve kêu lúc nhặt lúc thưa/ Trống trường đã điểm gọi mùa thi sang/ Ve kêu thắm rực khăn quàng/ Bóng bàng thao thức, ve mang hè về” (Tiếng ve). Đó là hình ảnh cô bé có chiếc răng khểnh thật đáng yêu, không chỉ duyên dáng ở hình thức bên ngoài, cô bé răng khểnh còn làm nhiều việc tốt. Đọc bài thơ, hẳn các em cũng yêu mến và noi gương người bạn nhỏ dễ thương này: “Cô bé răng khểnh/ Nhí nhảnh hồn nhiên/ Làm nhiều việc tốt/ Nụ cười thật duyên” (Cô bé răng khểnh). Thế giới tuổi thơ hồn nhiên, vô tư còn thể hiện qua niềm tiếc nuối, bâng khuâng từ tâm hồn tác giả về tháng ngày xưa bé bỏng: “Tuổi thơ ngày bé/ Nô nhau tồng ngồng/ Giã từ thơ dại/ Trôi vào tháng năm” (Tìm về). Đó là tâm sự của một bạn nhỏ về người bố mình ở Trường Sa: “Bố luôn chắc tay súng/ Giữ biển trời quê hương/ Em tự hào về bố/ Một người lính kiên cường” (Bố ở Trường Sa). Đó còn là lòng biết ơn về người thầy đã dạy dỗ tuổi thơ trưởng thành và khôn lớn nên người: “Công thầy sánh tựa non cao/ Tình thầy đâu có biển nào sâu hơn/ Thầy như một chiếc thuyền con/ Chở bao thế hệ sóng cồn vững tay” (Ơn thầy). Đó còn là niềm vui mừng xuân của các bạn nhỏ khi nghe tiếng pháo rộn ràng một thời thơ dại: “Trẻ em khoác xuân tươi/ Sắc màu thêm sặc sỡ/ Én chao mình bỡ ngỡ/ Xôn xao cả đất trời” (Tiếng pháo xuân)
Tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ thành công trên một số phương diện nghệ thuật đáng được trân trọng. Thi pháp thơ viết cho thiếu nhi cần phải giàu hình ảnh, vần điệu, ngắn gọn và dễ đi vào tâm tưởng các em. Thấu hiểu được những điều cần thiết ấy, nhà thơ Đỗ Toàn Diện, trong 31 bài thơ của thi tập, đã dành đến 14 bài cho thể lục bát (trong đó có một bài lục bát biến thể). Ngoài ra thể thơ 5 chữ chiếm 12 bài; thơ 4 chữ có 3 bài. Đây là hai thể thơ gần với âm hưởng đồng dao dân gian nên dễ thuộc, dễ nhớ. Thơ lục bát và lục bát biến thể thích nhất là Bức tranh đồng quê, Ếch nhái ngủ đông, Tâm sự bàn ghế… Thơ 4 chữ, 5 chữ ngắn gọn, phù hợp với tuổi thơ các em, nhờ đó dễ đi vào tâm hồn thơ trẻ. Thơ 4 chữ có bài Bé và các loài chim giàu chất giọng đồng dao. Bài thơ hay bởi không những có được bài học bổ ích dành cho trẻ mà nhịp điệu, giọng thơ cũng rất phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Đặc điểm quan trọng của thơ viết cho thiếu nhi là mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ. Đó là sự hồn nhiên ngây thơ từ trong cảm xúc, ý nghĩ thật tự nhiên, không gò ép, bó buộc và làm dáng. Chính tính hồn nhiên, ngây thơ và giàu hình ảnh, vần điệu của thơ viết cho thiếu nhi trong tập Khúc đồng ca mùa hạ đã làm cho nhiều bài thơ giàu sắc thái tu từ nghệ thuật. Ở thủ pháp so sánh, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những câu thơ thật hay, dễ đi vào tâm hồn tuổi thơ trong sáng. Đọc thi phẩm Bức tranh đồng quê, ta bắt gặp những câu thơ miêu tả vẻ đẹp của chị Cào Cào rất ấn tượng: “Cào Cào, Cào Cào… giã gạo rất siêng/ Áo xanh áo đỏ như tiên giáng trần”. Bài thơ Sóc Bông lại có nét đẹp riêng dễ làm các em yêu mến, say lòng: “Con Sóc Bông của ba/ Mắt sáng tựa sao sa/ Miệng như hoa chúm chím/ Tóc tòng teng đuôi gà”. So sánh thường làm cho đối tượng miêu tả thêm thi vị và giàu hình tượng thơ hơn. So sánh trong thơ viết cho thiếu nhi lại cần lắm cái nhìn đồng cảm của tác giả, nhờ đó giúp các em càng thêm thích thú. Ngoài nghệ thuật so sánh tu từ, nhiều bài thơ trong thi tập Khúc đồng dao mùa hạ có hình tượng thơ bay bổng một cách tự nhiên thông qua nghệ thuật nhân hóa: “Gió đồng gió đồng… gọi lúa song ca/ Sáo diều từng giọt ngân nga lưng trời”; hoặc: “Cùng nhau ca hát rộn ràng/ Ếch, Nhái, Chẫu Chàng rôm rả đồng quê/ Xếp hàng đón gió ven đê/ Vẳng nghe khúc nhạc hàng tre ru diều” (Ếch nhái ngủ đông). Phép điệp từ ngữ, cấu trúc thể hiện qua nhiều thi phẩm, nhưng đậm đặc nhất là ở Bức tranh đồng quê. Đó không chỉ là phép điệp từ ngữ thông thường mà còn là tiếng nhạc lòng của thi nhân ngân lên, từ đó bồi đắp tâm hồn các em qua vẻ đẹp của muôn loài nơi đồng quê xinh tươi, yên ả.
Thơ Đỗ Toàn Diện không quá sắc cạnh về cấu tứ và ngôn từ, nhưng bù lại, sự lôi cuốn, hấp dẫn ở thơ anh chính là tấm lòng tràn đầy cảm xúc thành tâm của một người yêu đời tha thiết. Phản ánh thế giới tuổi thơ hồn nhiên và mơ ước, với 31 bài thơ trong thi tập Khúc đồng ca mùa hạ, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có vị trí đáng kể về mảng thơ viết cho thiếu nhi của văn học tỉnh nhà. Những bài học nhân văn nhẹ nhàng, sâu lắng được chắt ra từ thế giới loài vật, cây trái vừa đậm chất trữ tình, vừa có chút kịch tính đã góp phần bồi đắp ước mơ, khát vọng cho các em khôn lớn và trưởng thành. Nói như nhà văn Richard L.Evans: “Trẻ nhỏ sẽ không nhớ bạn vì vật chất bạn cho chúng, mà vì tình cảm bạn dành cho”; thì qua Khúc đồng dao mùa hạ, món quà tinh thần mà nhà thơ Đỗ Toàn Diện dành cho trẻ thơ là vô giá, nó sẽ bền lưu trong tâm thức và sẽ khiến các em suốt đời nhớ mãi. Trân trọng giới thiệu tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ đến với bạn đọc gần xa.





Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019

VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ MỘ của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019









Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
                        (Nhật kí trong tù - Hồ Chí Minh)

Đây là một bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù” của Bác Hồ. Tập nhật kí bằng thơ được Bác viết từ mùa thu 1942 đến mùa thu năm 1943 lúc Người sang Trung Hoa công tác bị quân Tưởng Giới Thạch bắt cầm tù khắp 18 nhà giam qua 13 huyện của tỉnh Quảng Tây. Tập “Nhật kí trong tù” được Bác viết hoàn toàn bằng chữ Hán gồm 133 bài thơ.
Đọc cặp câu khai thừa (Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ/ Cô vân mạn mạn độ thiên không) ta chợt nghĩ đến bài thơ của Liễu Tông Nguyên đời Đường: “Thiên sơn điểu phi tuyệt/ Vạn kính nhân tông diệt/ Cô thuyền xuy lập ông/ Độc điếu hàn giang tuyết” và của cả Lý Bạch - đời Đường: “Chúng điểu cao phi tận/ Cô vân độc khứ nhàn”. Thơ Bác có cánh chim, có đám mây bay nhưng khác ở hai nhà thơ đời Đường kia ở chỗ: Cánh chim của họ đều phi tuyệt, phi tận nghĩa là đều bay đến một chốn không cùng, vô tận, xa xăm gợi lên vẻ mông lung, còn của Bác cánh chim về rừng tìm chốn ngủ. Một siêu hình, mờ ảo, một hiện thực, sống động. Chứng tỏ tâm hồn của Bác giàu lòng yêu thương, mến quý sự sống. Bác đang trên đường bị đọa đầy, tù tội (dù Bác không có tội) ấy vậy mà Bác quên sự đau đớn, khổ sở của hoàn cảnh mình đang phải chịu đựng để hòa cảm cùng sự sống (cánh chim bay, đám mây trôi). Chỉ riêng điều này chúng ta học tập Bác mãi không cùng. Cũng là cô vân (đám mây một mình) nhưng của Bác khác xa với cô vân  trong thơ Lý Bạch – Thi tiên đời Đường, ông viết Cô vân độc khứ nhàn. Với Lý Bạch cô vân biểu hiện sự cô độc, phiêu diêu, thoát tục mang dáng dấp của ý niệm siêu hình, gợi lên sự mơ hồ khắc khoải của con người trước hư không vũ trụ. Còn với Bác cô vân lại mạn mạn độ thiên không, một sự nhẹ sáng thanh, cao, rộng đầy sống động tựa có hơi ấm của con người. Bác đã tưới sự sống lên cảnh vật. Hoàn cảnh khổ ải ấy mà Bác ưu ái với từng cánh chim, từng đám mây thật là hiếm có, hiếm thấy.
Nếu cảnh vật của hai câu đầu ở xa và cao thì ở hai câu tiếp theo lại gần gũi thân thiết. Ta hãy đọc: Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc/ Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng – Cô em xóm núi xay ngô tối/ Xay hết lò than đã rực hồng. Một bước chuyển thời gian kéo theo sự thay đổi không gian. Bao giờ cũng vậy thơ Bác luôn tràn đầy sức sống. Cũng là cảnh chiều buông có sự hiện diện của con người mà trong thơ của Bà huyện Thanh Quan lại khác: Gác mái ngư ông về viễn phố/ Gõ sừng mục tử lại cô thôn. Câu thơ đẹp nhưng là vẻ đẹp của nỗi niềm mang mang, tiếc nuối. Hình ảnh ngư ông gác mái về viễn phố, mục tử lại cô thôn với hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối hoàn toàn khác. Một là sự kết thúc, còn một là đang bắt đầu hứng khởi. Thiếu nữ đang lao động (xay ngô) một cách say sưa như quên hết thời gian đang trôi, dường như thiếu nữ đã khiến cho công việc nặng nhọc trở thành một niềm vui vì vậy mà vòng quay của cối xay cứ quay, quay nhanh mãi (ma bao túc, bao túc ma). Và khi ngô đã xay xong (công việc kết thúc) thì lại xuất hiện một hình ảnh lạ thường (lô dĩ hồng – lò than đã rực hồng). Hình ảnh thiếu nữ đang say sưa làm việc toát lên một vẻ đẹp khỏe khoắn, đáng yêu lại được hình ảnh bếp lửa rực hồng soi tỏ, một cảnh thật đẹp, thật gợi. Hai hình ảnh điệp nhau bật lên, cảnh tượng tỏa sáng đầy sự ấm áp, yêu thương nồng đượm.
Nếu tách bài thơ này ra khỏi hoàn cảnh thì khó có ai lại  tưởng được rằng Bác sáng tác nó trong lúc tay bị xích, chân bị cùm, thân bị khiêng, đang bị đọa đầy khổ đau chất chồng. Có lẽ chỉ có Bác mới vượt lên khổ đau tột cùng của riêng bản thân để trìu mến, nặng tình với cánh chim đám mây, với thân phận con người cần lao. Quả là Bác: Nâng niu tất cả chỉ quên mình (Tố Hữu).


Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

CHỤP ẢNH KHOẢNH KHẮC HAY DÀN DỰNG? tác giả HOÀI AN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019


Trao đổi về nhiếp ảnh
Bài 1:

                                       
                                    
Trong nhiếp ảnh nghệ thuật hiện nay đang tồn tại hai quan điểm: Thứ nhất, đề cao ảnh chụp/ chộp khoảnh khắc (SNAPSHOT); thứ hai, đề cao ảnh dàn dựng (SET UP). Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chỉ có chộp khoảnh khắc mới đúng với bản chất của nhiếp ảnh (phản ánh hiện thực khách quan trực tiếp ngay tức thời khi sự việc xảy ra. Khác với văn học, hội họa, phim truyện, sân khấu, người nghệ sỹ không cần đến tận nơi, thấy tận mắt, chỉ cần nghe kể lại cũng có thể viết, vẽ, hay dựng lại những cảnh, những sự việc đã xảy ra). Chộp khoảnh khắc mà bức ảnh đạt trình độ nghệ thuật cao mới là bức ảnh “đáng tôn thờ”. Để có một bức ảnh chộp, đạt trình độ nghệ thuật cao, đòi hỏi người nghệ sỹ phải dụng công tìm nhân vật, địa điểm, phong cảnh, chọn/chờ khoảnh khắc (thời tiết, ánh sáng, hành động ưng ý...) và cần cả sự may mắn. Còn ảnh dàn dựng là ảnh “nghệ thuật hạng hai”; người chụp không tốn nhiều công phu, chỉ “bắt chước”, “làm theo” cái đã biết, đã thấy... Ngược lại, những người chụp ảnh bằng phương pháp dàn dựng theo quan điểm thứ hai lại cho rằng: Không biết dàn dựng để chụp là dại; cứ đi săn để chộp ảnh khoảnh khắc là phí thời gian, công sức, là chơi trò rủi may; trong khi dàn dựng tốt thì hễ “ra trận là thắng”, là sẽ có bức ảnh như ý về ánh sáng, góc độ, hành động của nhân vật...   
Những quan điểm trên về nhiếp ảnh nghệ thuật đã tồn tại trong làng nhiếp ảnh Việt Nam và thế giới từ lâu, song đến nay nó vẫn tiếp tục tồn tại và có lẽ còn tồn tại lâu dài. Vì sao vậy? Có lẽ bởi chính các nhà lý luận về nhiếp ảnh trong và ngoài nước - những người đóng vai trò dẫn dắt, định hướng sáng tác - đến nay vẫn không thuyết phục được lẫn nhau và người ta đành phải “ hòa hợp” với nhau bằng cách chấp nhận cả hai. Cũng vì thế trong các cuộc thi ảnh nghệ thuật hiện nay, người ta vẫn đón nhận tất cả những bức ảnh được chụp bởi các tay máy là đệ tử trung thành của hai quan điểm nhiếp ảnh nêu trên. Có cuộc thi, ảnh chụp theo quan điểm thứ nhất đoạt giải cao; lại có cuộc thi, ảnh chụp theo quan điểm thứ hai chiếm ngôi vương.
Có lẽ chấp nhận cả hai quan điểm nhiếp ảnh nêu trên cũng là điều “phù hợp” trong tình hình thực tế của phong trào nhiếp ảnh nghệ thuật hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả ở phạm vi toàn cầu.
Nhưng ảnh dàn dựng như thế nào để bảo đảm tính chân thật như cuộc sống vốn có (trừ thể loại ảnh sáng tạo) lại là một điều đáng bàn, đáng lên tiếng bởi hiện nay có nhiều tác phẩm dàn dựng phi thực tế vẫn được chọn triển lãm, thậm chí được trao giải. Quan sát tác phẩm ảnh tham dự các cuộc thi khu vực, toàn quốc và quốc tế hiện nay ta thấy rõ: Nhiều tác giả đã quá lạm dụng việc dàn dựng theo ý đồ cá nhân, cốt sao chụp được bức ảnh lạ mắt, có thể hấp dẫn được một số người,thậm chí cả một số vị trong ban giám khảo thiếu hiểu biết, mặc dù trong thực tế không có như vậy. Ví dụ: Gần đây một số nghệ sỹ nhiếp ảnh được cử đi sáng tác ảnh nghệ thuật về các công trình điện và các hoạt động của ngành điện tại Đắk Lắk đã khẩn khoản đề nghị một số cán bộ Điện lực Đắk Lắk (làm công tác phục vụ cho các nghệ sỹ nhiếp ảnh) phải làm sao thuê bằng được một số con voi của đồng bào, rồi bố trí cho voi nâng, kéo, chuyên chở công nhân và một số thiết bị của ngành điện để chụp. Chụp xong một số nghệ sỹ tỏ ra hoan hỉ với những bức ảnh mình đã chụp. Thế nhưng một số cán bộ, công nhân ngành điện thì tỏ ra lạ lùng về cách “sáng tạo” đó của các nghệ sỹ nhiếp ảnh. Bởi trong thực tế hiện nay phương tiện chuyên chở, nâng, kéo của ngành điện đã rất hiện đại, đâu còn phải dùng voi thay máy móc. Cũng vì thế có cán bộ ngành điện nói: “Họ dàn dựng và chụp những cảnh như vậy mà đăng lên báo, hoặc triển lãm là bôi bác ngành điện chúng tôi lạc hậu, trình độ hiện đại hóa, công nghiệp hóa kém, không theo kịp tốc độ phát triển của thời đại” (!). Một số nghệ sỹ nhiếp ảnh khi chụp ảnh về hái cà phê thường yêu cầu các cô gái (mặc dù là người Kinh) bận trang phục của đồng bào thiểu số, mang gùi sau lưng, đứng hái từng quả cà phê cho vào gùi, miệng cứ phải cười thật tươi để các nghệ sỹ “sáng tác”. Có công nhân nói nửa đùa nửa thật: “Hái cà phê như thế thì chỉ có ăn cám”... Bởi trong thực tế không ai hái cà phê như vậy, mà người ta phải trải bạt xung quanh gốc cà phê, tuốt dọc chuỗi quả, cà phê rụng xuống bạt rào rào như mưa, sau đó cuốn bạt đổ cà phê vào bao, như thế mới bảo đảm năng suất cao, thu hoạch mới kịp thời vụ... Phi lý hơn, có nghệ sỹ nhiếp ảnh còn cho chặt cả cành cà phê chín đỏ buộc trên miệng gùi để mấy cô gái mang trên lưng, bấm máy. Sau đó bức ảnh được chú thích là “Thu hoạch cà phê”. Vì thế có người xem ảnh nói: “Đấy là phá hoại cà phê, chứ không phải thu hoạch”... Vậy nhưng những bức ảnh như thế vẫn lừa được cả ban giám khảo, vẫn được chọn triển lãm, thậm chí còn được trao giải.
Ngoài sự dàn dựng phi lý như vậy, một số nghệ sỹ còn có lối dàn dựng “bắt chước”. Thấy người ta có bức ảnh chụp các cô gái Chăm đội om đi trên cát đoạt giải trong một cuộc thi nào đó, vậy là rủ nhau đến Ninh Thuận, thuê người mẫu, dựng cảnh chụp y xì như người trước đã chụp. Thấy người ta chụp ảnh Ama Kông đứng thồi tù và trước đầu voi được giải trong một cuộc thi ảnh, thì “ta” cũng vào Bản Đôn, cũng “lôi” bằng được Ama Kông ra, rồi dàn dựng chụp một bức ảnh như thế và gửi dự thi khắp nơi... Nhiều người nói thẳng: Dàn dựng theo kiểu này thực chất là đạo ảnh. Đáng tiếc là những bức ảnh như thế vẫn lọt qua “mắt xanh” của các ban giám khảo, không chỉ được chọn triển lãm mà có tác phẩm còn được trao giải.
Theo chúng tôi, những kiểu dàn dựng như thế cần phải phê phán; và không chỉ phê phán mà cần phải loại bỏ ra khỏi hoạt động nhiếp ảnh. Các nhà lý luận nhiếp ảnh không nên im lặng trước cách dàn dựng chụp ảnh như thế. Các ban giám khảo các cuộc thi cần nhận thức sâu sắc vấn đề này và nâng cao trình độ hiểu biết về thực tế đời sống về kiến thức tổng hợp; có như vậy ảnh được chọn triển lãm và trao giải trong các cuộc thi mới có tính thuyết phục cao, mới có giá trị phản ánh cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2019

CHÍNH NGHĨA VÀ NHÂN VĂN tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019


Sổ tay thơ:




THĂM ĐỒI A1


Nơi anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai
Lúa cấy dưới đồng bao quanh sắc biếc
Xe tăng gục, máy bay chở thương vong địch
Còn bóng chữ thập hồng - đồi lau đỏ tháng ba.
                                                                                    ANH THƠ

LỜI BÌNH:
CHÍNH NGHĨA VÀ NHÂN VĂN
           
Nhà thơ Anh Thơ viết bài thơ Thăm đồi A1 vào tháng 3 năm 1999, nhân kỷ niệm 45 năm ngày chiến thắng trận Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu". Bài thơ chỉ gồm bốn dòng thơ nhưng đã khái quát được bức tranh hiện thực khốc liệt và vẻ đẹp nhân văn ngời sáng sau bao nhiêu mất mát, hi sinh. Chính thời gian đã công bằng trả lại cho một dân tộc chính nghĩa màu hoa đỏ tháng ba bất diệt, điểm tô trên đỉnh đồi A1 - nơi mở màn cho trận quyết chiến của quân và dân ta đánh đuổi kẻ thù.
Câu thơ mở đầu gợi người đọc nhắc nhớ về anh hùng dân tộc Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai để mở đường cho quân ta tiến lên như vũ bão. Sự hi sinh cao đẹp ấy đã trở thành biểu tượng cho lòng dũng cảm và quyết tâm, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật khắc họa. Nhà thơ Anh Thơ, khi bước lên đồi A1 thăm lại chiến trường xưa một thời trận mạc, cũng đã không kìm được cảm xúc để rồi bật thốt lên câu thơ giản dị nhưng hết sức chân thành, thể hiện niềm ngưỡng vọng thiêng liêng trước tấm gương vì nước quên thân cao cả:
Nơi anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai
Lúa cấy dưới đồng bao quanh sắc biếc
Hai câu thơ như một mệnh đề nhân - quả mang tầm khái quát về một vẻ đẹp mang tính thời đại. Công cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ được Bác Hồ xác định đã đi đến giai đoạn phản công để giành lại độc lập. Trận đánh mở màn vì thế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đã mang lại chiến thắng vinh quang làm nức lòng nhân dân và chiến sĩ cả nước. Sau bốn mươi năm về thăm lại chiến địa xưa, nhà thơ nhận ra vẻ đẹp biếc xanh của cánh đồng bao quanh chân đồi lịch sử. Hình tượng thơ đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự hi sinh và sức sống mỡ màu của cây lá đã khiến chúng ta xúc động.
Giản dị và tự nhiên, tiếp tục mạch cảm xúc trên, Anh Thơ đã mở rộng biên độ của cảm xúc thơ trên một bình diện khác. Vẫn là sự mất mát, đau thương, hình ảnh xác xe tăng kẻ thù đổ gục, đồng thời là hàng ngàn tướng sĩ Pháp đang thương vong trong trận chiến với quân ta làm cho không gian đẫm màu tang tóc. Quá khứ và hiện tại song hành, đồng hiện như những thước phim đầy sống động mà nhà thơ quay cận cảnh bằng nghệ thuật ngôn từ thật tài tình:
Xe tăng gục, máy bay chở thương vong địch
Còn bóng chữ thập hồng - đồi lau đỏ tháng ba
Quá khứ khép lại, nhưng đồi lau đỏ tháng ba vẫn ám ảnh tâm hồn người đọc như một nỗi đau không lấy gì che chắn của kẻ thù. Hoa lau khi mới nở thường có màu đỏ hồng gợi liên tưởng đến màu máu của xác thù khi thất bại. Ở đây, tứ thơ mà Anh Thơ phát triển thật có dụng ý nghệ thuật. Nếu anh Phan Đình Giót ngã xuống hi sinh đã hình thành nên cánh đồng xanh bất tận; thì khi quân thù bỏ mạng chỉ gợi lên màu đỏ của tang tóc giống như màu lau đỏ tháng ba thấp thoáng bóng chữ thập hồng. Sự hi sinh cho chính nghĩa bao giờ cũng đẹp đẽ, thanh cao, gợi lên niềm tin sáng trong, cao đẹp. Ngược lại, sự bỏ mạng của quân gian tà, xâm lược chỉ đem lại nỗi thê thiết, sầu bi.
Bài thơ thành công trên nền của hình tượng thơ giàu cảm xúc và nghệ thuật đối lập khá hoàn hảo. Bốn câu thơ tứ tuyệt nhưng đã dựng được một hiện thực lớn lao về một thời đấu tranh gian khổ của đất nước để giành độc lập. Song, cái cao quý hiện lên làm ấm lòng người đọc chính là tư tưởng đề cao chính nghĩa, ca ngợi vẻ đẹp nhân văn lấp lánh chất người.
                                                                                   

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

THƯ GỬI CƠN MƯA truyện ngắn của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ 322 THÁNG 6 NĂM 2019








Có những cơn mưa đổ ngang đời, tình cờ như số phận, khiến ta không thể nào quên. Khi cơn mưa đã đi xa, xa lắc xa lơ rồi, có hôm nào nó khi nắng về tinh khôi chợt nhớ, mới biết rằng mình không bao giờ gặp lại. Trong đời bạn, đã bao giờ có những cơn mưa như thế chưa? Bạn làm gì khi quay quắt nhớ thương về những nắng mưa mình từng trải? Bạn có bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ viết một lá thư gửi về cho cơn mưa quá khứ, tại sao không nhỉ? Khi không còn cách nào bắt quá khứ quay về, thì ta bắt mình ngược về quá khứ, để làm gì ư? Ai mà biết chắc! Sáng nay, mối bay lên rợp trời đón nắng thảo nguyên, ta ngồi viết thư gửi cho cơn mưa cũ, cơn mưa tình cờ như số phận giăng ngang đón đợi đường về, vào một ngày của xa xưa, xa lắm...
“Bạn đã đến, đúng vào thời điểm đó, không sớm, không muộn, để vừa vặn bắt gặp ta trần trụi, cô đơn, như một gã tù vượt ngục bị lạc giữa thảo nguyên. Bạn vô tư, sôi nổi, hào hứng kể cho tôi nghe câu chuyện thiên thu từ chín tầng trời xa lạ. Ta nằm nghe mê mải, biết rằng, đó là câu chuyện lạ lùng nhất, trung thực nhất mà mình được nghe trong chốn trần gian đầy bất trắc lọc lừa. Câu chuyện nào của thế nhân cũng mang một màu sắc chủ quan đáng nghi ngại. Riêng những lời bạn kể, ta tin, cho đến mãi sau này, vẫn còn tin. Cuộc đời của bạn, rong chơi giữa bảy sắc cầu vồng, bỏ hết mọi vướng bận và lo toan. Thú thực, đó là thứ đời sống trong mơ, ta chưa bao giờ được nếm trải, dù ít ỏi. Những giọt mưa đến rồi đi, luân hồi trong niềm vui rạng rỡ. Trong mắt bạn, cuộc đời xanh mướt, đẹp đẽ vô cùng, không khác gì sân trường xanh mướt trong buổi sáng mùa xuân trong mắt cô học trò mới lớn, lần đầu bắt gặp tình yêu...”
“Khi ta ngồi viết những dòng này thì bạn đã rời xa ta, xa thảo nguyên, rong chơi tít tắp cuối chân trời thăm thẳm. Chư Mang hôm nay nắng gắt, mây xếp chồng lên nắng, nắng xếp chồng lên mây, vô tận. Có những người khi họ đi xa rồi, ta mới thấy giá trị hiện hữu của họ, với ta, bạn là một cơn mưa lạ lùng, đến rồi đi, nhưng lấy của ta nhiều lần mong nhớ. Bạn mang đến thảo nguyên những câu chuyện lạ lùng và đánh thức cỏ cây bằng ước vọng xa xôi của bầu trời, của đại dương mênh mông. Bạn thầm thì bên tai ta về những điều ta chưa hề biết, chưa hề nghĩ đến. Bạn nói, ở xứ sở xa xôi, có những con người có sở thích kỳ quái, họ sống cũng muông thú, lâu dần, họ quên mất tiếng người... Ta lập tức liên tưởng, so sánh với cuộc sống của chính mình. Bọn ta, con người sống với nhau, nhưng cũng từ lâu, ngôn ngữ giao tiếp là tiếng gào thét của loài thú hoang, ngày càng mất đi tính người, mất đi thiên lương trong trẻo ban đầu...”.
“Bạn nói với tôi về những miền đất xa xôi con người được tự do, được sống để thỏa mãn niềm khát khao chinh phục tự nhiên. Bạn nháy mắt tinh nghịch rồi vội vã đặt một nụ hôn lạnh giá lên tóc, rồi tiếp tục rong chơi! Lâu lắm rồi, thảo nguyên không còn nhắc đến những hẹn hò tuổi nhỏ, vậy mà buổi sáng nay, tinh mơ như tuổi sông hồ dài rộng, ta lang thang cùng với một đám mây mắt màu xanh con gái. Đám mây líu lo kể đủ chuyện, bằng âm thanh trong trẻo, như chưa từng biết đến lo toan, chưa biết đến dối lừa. Đi chơi cùng với một đám mây thì có vui không? Ta chưa biết trả lời thế nào thì bạn - cơn mưa – lại ngang trời kéo đến, ngay giữa con đèo quen thuộc. Câu chuyện còn dài lắm, buổi sáng còn dài lắm, sẽ còn nhiều điều để kể, nhưng bạn đã vô tình cắt ngang.  Khi đám mây tình cờ trở thành nhân vật chính, khi bạn luôn luôn có mặt một cách tình cờ như nhân chứng không thể thiếu, núi Chư Mang chỉ còn biết đứng nhìn theo, có một nụ cười...”
“Ta rủ rê, thôi, hay ở lại đây cho hết những ngày dài? Dĩ nhiên là đám mây trắng kiêu kỳ lắc đầu nheo nheo mắt! Ta biết rồi, tuổi trẻ mà, còn phải rong chơi, còn phải kiếm tìm, mà ta thì từ lâu chỉ còn một trái tim đau buốt, không phải vô cảm, nhưng cũng không hi vọng gì nhiều. Câu chuyện kể của bạn luôn gợi trí tò mò. Ta hỏi: Bạn lãng du trong vô tận, thế đã bao giờ rong chơi với một đám mây con gái có đôi mắt màu xanh chưa? Lúc đó, bạn ào ạt chạy qua, làm như bận bịu lắm, để né một câu trả lời...”
Trong khi cơn mưa chập chờn đến rồi đi, ta lại trở về với vai diễn ban đầu - người kể chuyện ở núi Chư Mang. Ta đã đi qua bao nhiêu mưa nắng thảo nguyên, khi cuồng nhiệt mê say lúc ảo não u buồn, không có ngày nào giống ngày nào, không có đêm nào giống đêm nào. Chiều nay, ta đuổi theo dấu vết yêu thương với đám mây mắt biếc đậu trên vai và tiếng cười lảnh lót dẫn đường. Ta đi qua buổi chiều mà dường như không để lại dấu chân, hoặc là đang lướt trên mặt cỏ với tiếng cười vỡ ra long lanh như nắng ấm. Ta nhè nhẹ bược chân, tim không dám đập mạnh, sợ đám mây giật mình tỉnh giấc, bay đi. Khi bóng đêm vời vợi kéo về, ta vẫn loay hoay giữa bốn bề cây cỏ, với ánh mắt nụ cười ấm áp giữ chặt trong tay...
Và rồi, khi giấc ngủ kéo về, trong mơ, cũng có một cơn mưa!