Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả TRƯƠNG BI





VOI NHÀ ĐẮK LẮK
TRONG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG



Voi là động vật quý hiếm, là tài sản quý giá của các dân tộc bản địa Đắk Lắk nói riêng và đất nước ta nói chung. Từ xa xưa, tại vùng đất Ea Suốp, Bản Đôn thuộc cao nguyên Đắk Lắk đã trở thành xứ sở nổi tiếng của nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng. Voi đã trở thành người bạn thân thiết, thành biểu tượng văn hóa, sự giàu sang, uy quyền và bản sắc độc đáo của các dân tộc bản địa ở vùng đất này.
Theo các già làng Bản Đôn kể lại: Khoảng đầu thế kỷ XIX, cha của ông Y Thu Knul từ đất nước Triệu Voi (Vương quốc Lào), đi  buôn bán bằng thuyền theo sông Mê Kông rồi rẽ vào sông Srêpôk và dừng lại trao đổi hàng hóa với một số buôn làng dọc bờ sông này. Qua nhiều lần buôn bán, trao đổi hàng hóa, ông thấy vùng đất nơi đây sông núi hùng vĩ, dân làng đầy lòng yêu người mến khách. Đặc biệt, ông phải lòng với một cô gái M’nông và cưới  làm vợ. Từ đó ông xin chủ buôn lập một làng mới bên sông Srêpôk và gọi là Bản Đon. Theo tiếng Lào: Bản là làng, Đon là đảo; Bản Đon nghĩa là làng đảo. Sau này người dân trong vùng gọi là Bản Đôn.
Từ ngày đó, cha của ông Y Thu Knul  đã truyền nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng cho người dân Bản Đôn và Ea Súp. Sau khi ông mất, người con trai là Y Thu Knul tiếp tục nghề săn voi và thuần dưỡng voi rừng. Ông Y Thu Knul cùng với người dân nơi đây phát triển nghề này thành một nghề truyền thống nổi tiếng của Đắk Lắk, Tây Nguyên. Voi rừng do người dân nơi đây săn được, sau khi thuần dưỡng, đều mang bán cho các buôn làng trên vùng đất Tây Nguyên và các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma…Đặc biệt, ông Y Thu Knul trong nhiều chuyến đi  săn, đã bắt được hai con voi trắng. Một con ông dâng hiến cho vua Thái Lan và ông vinh dự được vua Thái Lan phong tặng danh hiệu: KhunJuNôp (Vua Voi). Còn một con ông dâng hiến cho vua Bảo Đại và được Vua Bảo Đại tặng nhiều vải vóc lụa là. Từ đó tiếng tăm của ông và nghề săn voi, thuần dưỡng voi rừng của người dân Bản Đôn, Ea Súp vang khắp mọi nơi. Cũng từ đó, các nghi lễ gắn với nghề săn voi được hình thành, như: Lễ cúng sức khỏe cho voi; lễ cúng voi trước khi đi săn; lễ cúng sau khi săn được voi; lễ cúng voi nhập buôn; lễ cúng khi cắt ngà voi; lễ cúng khi voi ốm; lễ cưới voi; lễ cúng trước khi bán voi, lễ cúng khi voi già chết… Các nghi lễ này đã góp phần làm giàu bản sắc văn hóa của cao nguyên Đắk Lắk. Có thể kể đến những nghệ nhân săn voi nổi tiếng của Bản Đôn trước đây là: Y Thu Knul đã săn được 420 voi (trong đó có hai bạch tượng); Nay Hoang đã săn được 350 voi; Y Pui Knul đã săn được 320 voi; Y Them Knul đã săn được 113 voi; Ama Kông đã săn được 298 voi. Nghề săn voi ở đây không phải dùng vũ khí để bắn voi rừng mà dùng sức mạnh của đàn voi nhà áp đảo voi rừng làm cho voi cha mẹ hốt hoảng bỏ chạy để lại voi con rớt lại đằng sau. Lúc này những người đi săn dùng đàn voi nhà vây bắt voi con đưa về thuần dưỡng và nuôi thành voi nhà. Những chú voi ở đây sau khi được thuần dưỡng, chủ voi coi như một thành viên trong gia đình và đều được đặt tên cụ thể (thí dụ: voi cái thì có tên là H’ Găm; voi đực có tên là Y Khăm…)
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đàn voi nhà của Đắk Lắk đã tích cự tham gia phục vụ kháng chiến, như vận chuyển lương thực ra chiến trường, tham gia cứu thương, bảo vệ cán bộ, bộ đội ta trong khi làm nhiệm vụ. Trong số hàng trăm voi nhà tham gia phục vụ kháng chiến, chúng ta có thể kể đến đội voi của huyện Ea Suốp, như voi đực Pak Kú, Y Đo, voi cái H’Tao… đã chở vũ khí, lương thực từ biên giới đến Quảng Phú, huyện Cư M’gar, phục vụ chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột (10-3-1975), góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày giải phóng miền Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đàn voi nhà Đắk Lắk đã tham gia vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, như kéo gỗ, vận chuyển hàng hóa, cày ruộng phát triển sản xuất thực hiện xóa đói, giảm nghèo… Đặc biệt, đàn voi nhà của huyện Ea Suốp, Buôn Đôn, Lắk đã tham gia vào các hoạt động lễ hội lớn của tỉnh, như lễ kỷ niệm ngày Giải phóng Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê, lễ hội văn hóa du lịch, lễ hội văn hóa cồng chiêng Đắk Lắk, Tây Nguyên cùng một số lễ hội trong khu vực và các tỉnh thành trong toàn quốc; đồng thời tham gia vào các hoạt động động du lịch sinh thái, đã để lại những ấn tượng tốt đẹp đối với khách tham quan, du lịch trong nước và quốc tế. Chính vì vậy mà trong những năm qua, voi nhà Đắk Lắk đã trở thành sản phẩm văn hóa du lịch độc đáo của Tây Nguyên và cả nước. Nhớ lại tháng 4.1994, Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã chọn Đắk Lắk tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng toàn quốc lần thứ nhất. Để chào mừng sự kiện văn hóa trọng đại này, tỉnh ta đã huy động 100 voi nhà của 17 huyện trong tỉnh từ Đắk Nông đến M’Drăk tham gia lễ hội đường phố cùng với 70 đoàn cồng chiêng và hơn 1000 nghệ nhân thuộc 54 dân tộc anh em trong toàn quốc, đã để lại ấn tượng sâu sắc cho quan khách, các đoàn về dự liên hoan và khách tham quan du lịch. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 20 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk (10.3.1975 – 10.3.1995) Sở Văn Hóa - Thông Tin đã đã huy động 70 voi từ các huyện trong tỉnh về Buôn Ma Thuột thực hiện chương trình nghệ thuật tái diễn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm ông cha ta từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Quang Trung bằng những chú voi hùng dũng làm nên chiến thắng lẫy lừng từ 4000 năm lịch sử, đã làm nức lòng bà con các dân tộc trong tỉnh và khách tham quan du lịch trong nước và nước ngoài. Bây giờ muốn thực hiện những hoạt động văn hóa có đoàn voi nhà hùng dũng như trên đây, chúng ta không thể nào làm được.
Trong những năm gần đây, đàn voi nhà Đắk Lắk đang có nguy cơ giảm sút nghiêm trọng. Theo số liệu điều tra của Sở Văn- Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch): năm 1977, đàn voi nhà Đắk Lắk có 503 con; năm 1999 có 166 con; đến nay chỉ còn gần 50 con (huyện Buôn Đôn có 23 con, huyện Lak có 25 con). Nguyên nhân đàn voi nhà Đắk Lắk giảm nhanh như vậy là do rừng bị tàn phá một cách nghiêm trọng làm mất đi nguồn sống của đàn voi rừng; voi nhà thả trong rừng bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà; chủ voi không đủ khả năng nuôi dưỡng voi nhà nên đã bán voi của mình cho các địa phương khác. Theo phong tục của đồng bào Êđê, M’nông, từ bao đời nay đã cấm voi nhà sinh sản. Nếu voi nhà nào vi phạm việc sinh sản, thì chủ voi bị phạt rất nặng. Vì voi nhà sinh sản sẽ xảy ra những chuyện không hay đối với gia chủ và cộng đồng, nên voi nhà sinh sản là điều cấm kỵ. Từ khi nhà nước ta ban hành Luật Bảo vệ rừng, việc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của người dân Buôn Đôn, Ea Suốp bị dừng lại, do đó đàn voi nhà Đắk Lắk không được bổ sung như trước đây nữa. Một điều nhức nhối mới xảy ra trong năm 2011, con voi cái của Công ty du lịch Bản Đôn - Thanh Hà, đang có chửa đã bị bọn lâm tặc giết chết để lấy bộ da. Một con voi đực của Công ty này đã phục vụ khách du lịch hơn mười năm qua, đến đầu năm 2012 đã bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà. Vài năm gần đây, ở Ea Suốp, Buôn Đôn, bọn lâm tặc luôn rình rập săn voi rừng vì mục đích lấy ngà và một số voi rừng bị chết oan uổng dưới họng súng của những kẻ bất lương này. Một số chủ voi ở Buôn Đôn, Ea Suốp thả voi nhà vào rừng để voi tự kiếm ăn, cũng bị bọn lâm tặc bắn chết để lấy ngà. Đó là những minh chứng về nguyên nhân làm giảm dần đàn voi nhà ở Đắk Lắk.
Trước thực trạng đàn voi nhà Đắk Lắk đang có nguy cơ giảm dần, người viết bài này xin nêu ra một số đề xuất như sau: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần có chính sách cụ thể về việc gìn giữ, phát triển đàn voi nhà. Cụ thể cho phép đồng bào huyện Buôn Đôn, Ea Suốp tiếp tục nghề săn voi, thuần dưỡng voi rừng; giành một khu rừng nguyên sinh để thả voi nhà, tạo điều kiện cho voi nhà sinh sản tự nhiên. Các công ty du lịch ở huyện Buôn Đôn, huyện Lắk và một số huyện khác trong tỉnh cần phối hợp với các gia đình chủ voi chăm sóc, phát triển đàn voi nhà để phục vụ khách tham quan, du lịch ngày càng hiệu quả hơn. Hai năm một lần nên tổ chức hội voi toàn tỉnh. Thông qua hội voi nhằm thu hút khách tham quan, du lịch đến với Đắk Lắk, đồng thời động viên các chủ voi nêu cao trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ đàn voi nhà. Các cơ quan chuyên môn của tỉnh cần nghiên cứu học tập cách nhân giống voi của Thái Lan theo phương pháp hiện đại để nhân giống, phát triển đàn voi nhà ở Đắk Lắk. Nếu làm được như vậy, chắc chắn đàn voi nhà của tỉnh ta sẽ được bảo tồn, phát triển, phục vụ có hiệu quả các lễ hội lớn của tỉnh và trở thành sản phẩm văn hóa độc đáo để thu hút khách tham quan - du lịch đến với Đắk Lắk.



Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả

LÊ THÀNH VĂN

BÂY GIỜ Ở HUẾ – MỘT BÀI THƠ HAY


Trong các nhà thơ đương đại, Trần Văn Hội thuộc lớp đàn anh có mặt ngay từ những ngày đầu tiên thành lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Thủ thỉ, nhẹ nhàng bằng những bài thơ vừa thuần tính dân tộc đan xen nhiều thi phẩm cách tân khá táo bạo, thơ anh có được dung mạo riêng chững chạc, không trộn lẫn. Chỉ với Cái lùng tung - tập thơ được ấn hành vào năm 2007 -  đã góp một tiếng nói khá mới mẻ cho văn học nghệ thuật nước nhà. Bây giờ ở Huế là thi phẩm được in trong tập thơ trên đã đánh động trái tim tôi từ khi nó chưa in thành sách mà đôi lần được tác giả đọc qua nhưng đã rưng rưng một niềm thương cảm, thương cảm cho cuộc tha hương của người con xứ Huế trên đất Cao nguyên nhưng tâm hồn luôn hoài vọng về xứ sở. Một cố quận, một cố tri hay đó là tấm lòng giao kết không rời được của bất kỳ ai ở cõi thế gian này.
Bây giờ ở Huế mùa thu
Cũng đành lá rụng sương mù chưa em
Nhặt dùm anh sợi tơ mềm
Chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa
Trăm năm như thể trò đùa
Với em thơ dại đeo bùa trăng non
Nhớ thăm cỏ rối dốc mòn
Gió từ thuở ấy gió còn mênh mông
Một mình đừng bước qua sông
Lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay
Em về gió lạnh bàn tay
Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên.
                                                           
Bài thơ là tâm sự của một người tha phương gởi về người em xứ Huế với tất cả nỗi niềm nhớ thương da diết. Nỗi niềm ấy tuy không kể lể dàn trải, nhưng đã kết đọng bằng những lời dặn dò chân thành mộc mạc mà đằm thắm biết bao. Cái mối quan hệ giữa hai người cũng không rõ nét lắm: là người yêu hay thuần túy bạn bè; là cùng giới hay khác giới với nhau? Vì thế các nhân vật trữ tình tình ở đây khá mơ hồ, có tính phiếm chỉ, ta chỉ thấy xuất hiện nhân vật xưng "em" lắng lòng nghe hết lời khuyên bảo nhẹ nhàng, thủ thỉ của "anh". Điệu tâm tình ấy đã khiến nhà thơ Trần Văn Hội chọn thể lục bát chăng, hay đó chỉ là sự ngẫu nhiên bậc thốt khi cảm xúc dâng trào mãnh liệt.
Câu thơ mở đầu là lời khẳng định, khẳng định một mùa thu đang về trên đất thần kinh: "Bây giờ ở Huế mùa thu". Lâu nay chúng ta thấy mùa thu đẹp dịu dàng với nét đặc trưng của Hà Nội: "gió heo may đã về/ chiều tím loang vỉa hè" (Nhìn những mùa thu đi - Trịnh Công Sơn). Thảng hoặc trong thơ ngày đất nước bắt đầu bước vào cuộc tranh đấu, người chiến sĩ ra đi không ngoảnh lại vẫn thấy sau lưng mình "nắng lá rơi đầy" qua Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Giờ chạm hồn vào ngõ thu của Huế với "lá rụng sương mù" lãng đãng nghe cũng chơi vơi một niềm nhớ nhung lan tỏa. Câu thơ thứ hai ngân lên như một câu hỏi nhưng được tác giả bỏ lửng, chủ yếu để biểu đạt tâm sự "cũng đành" buông ra như tiếng thở dài não ruột của khách tha hương nhớ về cố quận: "Cũng đành lá rụng sương mù chưa em". Nhờ vậy, cảm xúc của hai câu thơ đầu tựa hồ một thoáng bâng khuâng khi nhà thơ lắng vọng thu về trên đất Huế. Từ cái cớ viền một chút "cảm thu", nhà thơ Trần Văn Hội đã bộc bạch nỗi lòng mong mỏi:
Nhặt dùm anh sợi tơ mềm
Chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa
Nhặt sợi tơ mềm, chút hương hồ cạn còn sót lại của mùa hạ đã qua để tưởng tiếc về quá vãng vào thời điểm giao mùa "sen tàn cúc lại nở hoa" nghe sao mà lưu luyến quá! "Nhặt dùm" là sự nhờ cậy, ở đây pha chút van lơn, hàm ơn trong giọng thơ nghe tưởng chừng tiếc nuối pha chút bâng khuâng. Hai câu thơ, nếu người đọc chịu khó liên tưởng, ta sẽ bắt gặp tâm tình đồng cảm của nhà thơ với nỗi sầu khổ của Thúy Kiều khi nhớ về Kim Trọng: "Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng" (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Đồng cảm để rồi bày tỏ chính nỗi niềm đau khổ của mình, dù xa xôi cách trở nhưng tình yêu vẫn không nỡ chia lìa như sợi tơ mềm của sen kia, đứt mà vẫn không lìa, cứ vấn vương day dứt mãi. Sợi tơ mềm ấy cũng là sợi tơ lòng của khách tha phương nhớ về chốn cũ, nơi có người em gái thơ ngây thuở nào chưa thể nhạt phai:
Trăm năm như thể trò đùa
Với em thơ dại đeo bùa trăng non
Với nhà thơ Trần Văn Hội, cuộc trăm năm quả là một trò đùa dâu bể. Bao sinh li tử biệt trong một kiếp người làm tan nát biết bao trái tim thi sĩ. Tử biệt đã đành, còn sống với nhau mà đã phân li, điều ấy càng đau đớn biết chừng nào. Ngẫm thân mình lưu lạc nơi đất khách, nhân vật trữ tình xưng anh vẫn luôn hoài niệm về bóng dáng người con gái đất thần kinh: "với em thơ dại đeo bùa trăng non". Câu thơ ảo diệu đến không ngờ, cứ thấp thoáng xa gần, tưởng chừng không làm sao với được. Hình ảnh người em thơ dại đeo bùa trăng non cứ hiện lên day dứt như một giấc mơ, một ám ảnh không nguôi trong tâm hồn tác giả. Tại sao tạo hóa trong cuộc trăm năm này lại cợt đùa đến vậy, khiến cho em đó ta đây mà cách biệt ngàn trùng? Câu thơ càng đọc càng thấy nhói buốt, xót xa cho kỷ niệm bẽ bàng khi người thi sĩ năm nào giờ biệt trùng nơi đất khách, người em gái thơ dại thuở "đeo bùa trăng non" cũng mong manh trước ngọn gió đời mênh mông và dòng sông vô tận đầy cạm bẫy của thế sự trò đùa:
Một mình đừng bước qua sông
Lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay
Em về gió lạnh bàn tay
Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên.
Đây là bốn câu thơ gói gút nhất nỗi lòng thi sĩ. Em là ai mà sao nhà thơ thương yêu và quan tâm đến thế. Từ cái thuở "thơ dại đeo bùa trăng non" đến giờ, khoảng cách thời gian chừng đó vẫn không xóa nhòa được chút nào sao? Lời dặn dò đầy ân tình thương mến, cứ tưởng như lòng mẹ cha lo lắng cho con: "Sông sâu chớ lội, đò đầy đừng đi". "Bóng ngã giữa dòng" là một cảm giác lo nghĩ sâu xa, hàm chứa một tình yêu tha thiết, một dự cảm nặng tình cho người con gái chốn quê. Quả thật, phải yêu thương đến nát dạ nát lòng tác giả mới có một tâm tình yêu thương cảm động nhường ấy để rồi hi vọng về một ngày mai sáng tươi tràn đầy ánh nắng quanh đời em: "Em về gió lạnh bàn tay/ Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên".
Tôi nghĩ, Bây giờ ở Huế là một bài thơ giàu tâm sự, một tâm sự rất riêng tư và sâu kín. Chỉ khai thác trên bề mặt của lớp ngữ nghĩa ngôn từ nghệ thuật, bài thơ mới chỉ dừng lại ở hình tượng như nhiều ý tứ xưa nay các thi sĩ gởi gắm hồn mình vào thơ. Nếu biết cụ thể hoàn cảnh sáng tác, chắc rằng sẽ còn bao tầng vỉa nội dung khuất chìm trong đó - ấy là cảm xúc và cảm giác của tôi khi đọc thi phẩm này. Trên cái nền của hình thức thơ lục bát dân tộc, bằng bút pháp trữ tình khá nhuần nhuyễn, Trần Văn Hội đã bày tỏ tiếng lòng hướng về cảnh cũ người xưa khi hoài tưởng đến mảnh đất quê hương nghĩa tình sâu nặng. Sâu xa hơn, tiếng lòng ấy là bài hát chở che, một niềm yêu dấu cố nhân thơ dại đã đeo đẳng nhà thơ trong cuộc mưu sinh dâu bể trò đùa này, để rồi cất lên tiếng nói tri âm bi thiết nhưng tràn đầy hi vọng sẻ chia: "Em về gió lạnh bàn tay/Giấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên".











Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả

Sổ tay thơ 


THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng?
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả

Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.
Xuân Quỳnh

LỜI BÌNH:
Xuân Quỳnh là nữ thi sĩ có trực cảm mạnh. Nhất là mảng thơ tình chị viết trong giai đoạn gần cuối đời mình. Một sự mơ hồ cách biệt, đơn chiếc mong manh như chợt đến, chợt đi khi nhịp tim một thời rạo rực yêu đương của chị nay có lúc lỡ nhịp hụt  hẫng trong một lo  âu vô hình nào đó. Nhưng sức sống tình yêu trong con người thi sĩ trổi dậy để khẳng định, tự tin dù biết rằng: cuộc đời không đơn giản thế. Chị chọn thời giao mùa là lúc kết thúc một mùa và đón nhận một mùa mới. Khi ấy các bước chân vội vã, gấp gáp của thời gian luôn vang động, ngân vọng, níu kéo hơn bao giờ hết trong lòng người. Gieo vào đó một tiếc nuối cay đắng, một hồi hộp đợi chờ. Cảm nhận đổi thay thiên nhiên để nhận thức thay đổi bản thân. Thơ tình cuối mùa thu được đặt trong khung cảnh thiên nhiên của mình vào dòng thời gian như một  một ám ảnh không nguôi vì: sự chảy trôi không ngừng của cuộc sống, vì sự  hữu hạn, ngắn ngủi của hạnh phúc đời người. Chị chọn mùa thu là mùa đẹp nhất và có cảm giác ngắn nhất trong năm.   Chị viết rất tự nhiên, tuôn chảy  dòng nhạc điệu, cái nhạc điệu ngân vọng trong lòng như nhà phê bình tài hoa Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét rất có lý: “Thơ Xuân Quỳnh tự nhiên như đã gọi là phụ nữ thì phải sinh con đẻ  cái vậy”.
Mở đầu bài thơ là cảm giác không gian man mác thiếu vắng diệu vợi, buồn buồn: “Cuối trời mây trắng bay – Lá vàng thưa thớt quá – Phải chăng lá về rừng”. “Cuối trời”“thưa thớt” đã chạm vào cõi lòng trắc ẩn, nữ tính, nhạy cảm của nhà thơ. Và một câu hỏi đặt ra  ngỡ như vu vơ  phiếm chỉ nhưng hàm chứa trong đó sự tin cậy ấm áp về phía rừng, phía thảm xanh dày ngăn ngắt và ẩn chứa nhiều bí mật. Có lẽ bấy giờ cảm giac của Xuân Quỳnh muốn tìm một chỗ tựa, điểm tựa nào đó tin yêu của cuộc đời. Và chính khoảng giao mùa cuối thu đã gieo vào chị, đồng hành với chị để đi tìm cái đích của hạnh phúc trong sự thảng thốt, mong manh có thể chợt đến. Mùa thu ra biển cùng lá như một khát vọng  mênh mang. Và khép lại khổ thơ đầu với hình ảnh mùa thu – hoa cúc “như nỗi nhớ dây dưa” trong thơ Tế Hanh  khi “chỉ còn anh và em”. Một sự tiếc nuối quá khứ “của mùa thu cũ”  bỗng thức dậy từ xao động ngọn gió heo may. Và tiếp đó là “lối đi quen bỗng lạ - cỏ lật theo chiều mây”. Cặp đôi quen – lạ như là một nhận thức thường trực, thường thấy  nhưng đến cỏ lật – chiều mây đã nới rộng cái khoảng không gian ngợp trong nghịch cảnh cỏ thì dày xanh tin cậy chắc chắn mà mây thì mỏng trắng, xa vời, dễ biến đổi. “Đêm về sương ướt má – Hơi lạnh qua bàn tay”. Sương ướt má – Sương hay giọt nước mắt của trời. Cái bàn tay thường biểu hiện tình cảm, giao cảm thân thiện của một ứng xử giao tiếp giờ đã lạnh hơi sương, hơi thu. Nhưng với một bản lĩnh như Xuân Quỳnh biết chấp nhận vì  chị biết đó là quy luật, dù chỉ là mơ hồ thoáng qua của một con người hay cả nghĩ. Nghĩ nhiều về dự cảm thiếu hụt mất mát chị tự biết để nhận ra: “Tình ta như hàng cây – Đã qua mùa bão gió – Tình  ta như dòng sông – Đã yên ngày thác lũ”. Không hiểu sao thiên nhiên cứ chực ùa vào  vây bọc lấy Xuân Quỳnh  mỗi khi chị trắc trở như một người bạn ân tình từ thuở “Thuyền và biển”. Chị luôn ở trạng thái   sinh động tươi tắn hồn  nhiên trong cuộc sống đời thường bao nhiêu thì biến động dữ dội trong những khung cảnh thiên nhiên khi gặp trắc trở “như bão gió”, “như thác lũ” trong thơ bấy nhiêu. Chị đã định vị được cái tâm thế, sức sống của tình yêu trong những hoàn cảnh ngặt nghèo để rồi đi qua, để rổi yên ổn. Bởi chị biết: “Mùa đi cùng tháng năm – Tuổi theo mùa đi mãi”. Tiếp sau ý thức và sự mất mát là sự khẳng định, tin tưởng với những điều không mất, trong sự tuôn chảy của thời gian nghiệt ngã: “chỉ còn anh và em – cùng tinh yêu ở lại”. Chị  ráo riết cố định một niềm tin trước  thử thách thời gian như có lần chị ví “biết yêu anh cả khi chết đi rồi”. Khát vọng tình yêu đó đồng hành với thế  hệ trẻ, trẻ mãi: “Kìa bao người yêu mến/  Đi  qua cùng heo may”.
“Thơ tình cuối mùa thu” nhưng không có chặng cuối của tình yêu. Bởi tình yêu luôn mới mẻ với bao cung bậc cảm xúc. “Thơ tình cuối mùa thu” đã được âm nhạc  chắp cánh có da diết, có tiếc nuối nhưng bừng  sáng lên hy vọng và khát vọng bởi cao hơn hết đó là thông điệp bất diệt của tình yêu, của sự sống muôn đời.


NGUYỄN NGỌC PHÚ

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả TRƯƠNG HỒNG PHÚC



KHÔNG GIAN VĂN HÓA “RỪNG”
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC


Đến với rừng trong văn chương, chúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ nhưng kỳ vĩ, trầm hùng mà thắm thiết; bên trong đó có những thác nước ngày đêm réo gọi, những ngọn gió dữ dội mải miết thổi suốt bốn mùa… nhưng không kém phần diễm lệ, nên thơ. Điểm lại trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều tác giả viết về rừng: Tô Hoài chọn cho mình vùng núi rừng Tây Bắc để hòa mình vào với đời sống của những người Mán, người Mèo…; Sơn Nam lại đưa người đọc bước vào thế giới của vùng sông nước Nam Bộ thông qua những rừng đước, rừng tràm… ngập sâu trong dòng nước phèn mặn; còn đối với Nguyên Ngọc – người được mệnh danh là nhà văn viết nhiều nhất và hay nhất về Tây Nguyên thì khác, ông không chọn cho mình riêng một vùng rừng nào cả mà ông đi lần lượt từ những cánh rừng Tây Bắc – Mèo Vạc, Đông Bắc – Hạ Long, cho đến vùng rừng của đất Quảng anh hùng rồi lượn vòng lên Tây Nguyên hùng vĩ để chiêm nghiệm những cánh rừng cà phê, cao su… bạt ngàn trên đất đỏ cao nguyên, không dừng lại ở đó ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình đưa mình đến với rừng ngập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, thậm chí còn vượt mình ra khỏi đất liền để tìm đến “ăn rừng” ở Phú Quốc, ở những quần đảo trên biển Đông với hình ảnh của những hàng phi lao nhiều đến thành rừng…
Vậy văn hóa rừng trong sáng tác của Nguyên Ngọc được biểu hiện như thế nào? Câu hỏi này đã được Nguyên Ngọc trả lời trong rất nhiều tác phẩm, đặc biệt trong tạp văn Rừng trong văn hóa Tây Nguyên thì vấn đề về rừng là không gian văn hóa gần như được giải quyết triệt để. Ông khẳng định rừng là ngọn nguồn văn hóa, là đặc trưng số một của đất và người Tây Nguyên. Bắt buộc tất cả những ai đến với Tây Nguyên, muốn hiểu về Tây Nguyên thì phải hiểu rừng. Nếu như văn hóa Tây Nguyên xem làng là đơn vị tổ chức hành chính cơ bản, thì làng ấy phải gắn với rừng, và làng cũng chỉ là một phần được cắt từ rừng mà ra. Ông giải thích:
“Đấy là một khoảnh đất con người đã cắt ra được cái bao trùm tất cả là rừng hoang dã. Là cái phần nhỏ của tự nhiên hoang dã mà con người đã thuần hóa được cho mình, cái khoảnh tự nhiên đã được con người biến thành văn hóa. Mối quan hệ cơ bản của sự tồn tại ở đây là vậy, bên này là tự nhiên: rừng, bên kia là văn hóa: làng. Ở giữa là con người.”
Khi con người không còn ở làng nữa thì mảnh đất tự nhiên đã trở thành văn hóa ấy lại trở thành khoảng không gian của tự nhiên: rừng. Và người Tây Nguyên lại tìm đến một khu rừng mới, khai hóa nó, và tạo cho tự nhiên vốn có một làng văn hóa, rồi lại cứ thế họ đi mãi hết cánh rừng này đến cánh rừng khác để biết rừng, hiểu rừng. Đời sống của người Tây Nguyên là thế, không bao giờ có thể tách khỏi rừng, cho dù sống ở làng thì vẫn phải có rừng.
Đối với không gian văn hóa làng của người Tây Nguyên phải tồn tại đủ 4 yếu tố: thứ nhất là rừng (đầu nguồn, canh tác, rừng nguyên sinh – rừng thiêng), thứ hai là bến nước, thứ ba là khu mộ địa và cuối cùng đó mới chính là làng – nơi họ sinh sống trên những ngôi nhà sàn, nhà trệt, nơi đêm tối họ quây quần với nhau nghe hát kể sử thi để rồi vọng vào rừng sâu thứ âm thanh giao tiếp với Giàng. Giàng có mặt ở khắp nơi, nhưng chỉ trong khu rừng thiêng kia thì mới là nơi quần tụ đầy đủ tất cả các Giàng, cho nên khi đến với một làng Tây Nguyên, người lạ không được chạm chân đến những không gian thiêng ấy, làm như thế nghĩa là xúc phạm thần linh, khiến cho thần linh thức giấc, có khi là tức giận, khi đó Giàng sẽ trừng phạt con người. Vì thế cho nên khi đến với vùng đất bazan ấy, lúc nào chúng ta cũng có cảm giác mát rượi, thoang thoảng hương rừng phả vào da vào thịt những người đi đường…
Chính vì vậy rừng là không gian rộng nhất, lớn nhất trong mọi không gian của người Tây Nguyên. Rừng bao trùm tất cả, rừng ôm trọn cả làng, cả bến nước, cả mộ địa… “Ở Tây Nguyên, rừng là tất cả, bao trùm, ám ảnh, mê hoặc, nhấn chìm. Con người vừa bị hòa tan trong rừng, là bộ phận nhỏ không thể tách rời của rừng, vừa cố phân biệt mình với rừng”.
Thật quá sâu sắc khi Nguyên Ngọc đã thâu tóm toàn bộ mọi nét văn hóa, bản sắc dân tộc của con người Tây Nguyên để rồi phác họa nó lên, đi từ khái quát đến chi tiết. Cũng giống như khi ông viết: “Đối với họ, rừng là Mẹ, người Mẹ Tự nhiên bao dung và vĩ đại; Mẹ Rừng cho ta cái ăn, sự sống, tạo nên xương thịt, máu huyết, toàn bộ con người của ta. Ta là một phần nhỏ được sinh ra từ Mẹ Rừng bao la, bất tận, vĩnh hằng”.
Có nghĩa là Nguyên Ngọc đã nhìn nhận xuyên suốt nền văn hóa huyền bí ấy, từ tự nhiên đến con người rồi tạo nên văn hóa. Nó không hề mâu thuẫn với nhau mà luôn luôn gắn bó khăng khít với nhau, nhưng cho dù là con người hay văn hóa thì cũng đều bắt nguồn từ tự nhiên và không thể tách rời khỏi tự nhiên; cho nên tự nhiên – rừng luôn là gốc, là rễ của con người, của văn hóa Tây Nguyên, bất cứ ai làm gì, ở đâu thì cũng đều phải nhớ đến rừng, nhớ đến “năm làng chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”. Ở đây, ông sử dụng một từ rất lạ “ăn rừng”, ai có thể ăn được rừng? Trong khi rừng đã trở thành Giàng, thành linh hồn của người Tây Nguyên. Cái đặc biệt trong nghệ thuật sử dụng ngữ nghĩa ngôn từ của Nguyên Ngọc chính là ở đây. “Ăn rừng” không phải là một hoạt động của tiêu hóa mà ăn rừng ở đây là: “Ấy là cái năm làng làm rẫy ở khu rừng có tên như vậy”. Qua đó, chúng tôi hiểu được rằng, “ăn rừng” nghĩa là, họ - người Tây Nguyên làm rẫy ở khu rừng đó. Thế nhưng, Nguyên Ngọc còn cho chúng ta hiểu ở nhiều tầng nghĩa khác nhau, ông lí giải:
1 – ở đây người ta “ăn rừng” (tức là người ta làm rẫy, lấy cái ăn ra từ rừng), rừng đi vào trong máu thịt con người, cũng hoàn toàn giống như ta nói ta bú sữa mẹ, mẹ cho ta cái ăn, cho ta máu thịt. Ta là một phần không thể tách rời của mẹ rừng. Ta từ mẹ rừng mà ra.
2 – Rừng không chỉ là không gian, rừng còn là thời gian. Người ta lấy không gian để đo thời gian (…) lịch pháp của mối quan hệ sinh học giữa con người với rừng. Cuộc đời con người ấy được tính bằng chu kỳ mẹ rừng cho họ máu thịt qua từng mùa rẫy.
3 – “Thế giới” hay “vũ trụ” của con người ấy là làng, làng trong mối quan hệ sinh tồn với rừng. Mỗi làng không chỉ có không gian riêng mà còn có thời gian riêng của mình, một thứ không – thời gian lấy rừng làm hệ tọa độ…
Phải khẳng định rằng, Nguyên Ngọc đã trở thành một người con của Tây Nguyên. Nếu như ta chỉ dựa theo từ điển ngôn ngữ hay tự nhiên thì rừng chỉ được hiểu là một khoảng đất rộng có rất nhiều các loài sinh vật tồn tại trên địa hình đồi núi hoặc thung lũng mà thôi. Còn khi đọc văn Nguyên Ngọc, ta mới thấy được nghĩa của rừng không chỉ đơn thuần như thế, nhưng chỉ với người Tây Nguyên rừng mới được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như vậy. Điều quan trọng, là Nguyên Ngọc đã chuyển từ từ một nghĩa cụ thể rồi sắc thái hóa nghĩa của từ đó để trở thành nghĩa trừu tượng. Trước giờ, chưa ai nói rừng là mẹ, là không gian, là thời gian, là một hệ tọa độ, chỉ đến với ngòi bút của ông thì người ta mới nhận ra điều đó.
Hơn thế nữa, vòng đời của con người Tây Nguyên không lấy thời gian cụ thể là giờ nào phút nào làm thước đo, mà họ lấy rừng làm thời gian của mình: “đối với cái chết, người Tây Nguyên cũng có một thái độ đặc biệt liên quan đến rừng (…) giao cho rừng, trả con người ấy về lại cho rừng, để rừng chiếm lấy cái phần tự nhiên hoang dại đã trở thành người, thành văn hóa ấy”. Ông khẳng định: “Nghĩa là một lần nữa ta lại thấy, ở một tầng sâu hơn, rừng không chỉ là không gian mà còn là thời gian. Rừng là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng, là sự không thủy không chung, nơi hun hút con người lại biến mất vào đó, biệt vô tăm tích. Rừng là bản nguyên, là cội nguồn ở đầu bên này, nhưng cũng là cõi mịt mùng thăm thẳm ở đầu bên kia”.
Thời gian ở đây, chính là sự sinh ra con người và cũng đưa con người vào cõi bất tử. Rừng là mẹ, là Yang (Thần linh), rừng không từ bỏ bất cứ điều gì, tất cả đều sinh ra từ rừng và mất đi cũng trong rừng. Văn hóa Tây Nguyên là thế, cuộc đời con người không đếm bằng tuổi, mà đếm bằng mùa rẫy, bằng năm “ăn rừng”; chết là được quay về với thần linh, được thần linh phía rừng thiêng bí ẩn chào đón rồi đầu thai họ vào kiếp người khác sau khi đã làm lễ bỏ mả. Dễ hiểu vì sao mà Nguyên Ngọc nói rằng: “rừng là tâm linh. Vì vậy nó là cội nguồn của văn hóa ở đây. Đố ai có thể tìm ra được một biểu hiện văn hóa nào ở đây mà không liên quan đến rừng, hay đúng hơn, không có mối quan hệ sâu xa thăm thẳm của con người với rừng làm cơ sở”.
Đồng thời, ở đó ta cũng tìm được những món ăn, thức uống đặc trưng cho hương vị núi rừng để tạo nên nét văn hóa cụ thể: đó là thứ rượu cần ngọt nồng mà say đắm: “Rừng tự nó thôi, chỉ mới nguyên là rừng thôi, chưa chế biến gì hết, đã có nghĩa là say, là mê, là quên, là dại khờ (…) Tức là rừng mới tự nó thôi, chưa chế biến gì hết đã là rượu rồi. Huống nữa rượu cần lại tinh chất tập trung nhất chắt ra từ rừng”.
Không dừng lại ở món uống cụ thể, không gian văn hóa của rừng còn được vang lên bởi tiếng ngân của cồng chiêng: trong Cồng chiêng, từ đá đến đồng, Nguyên Ngọc viết:
“Dạy tiếng cho chiêng khi mới mua về, dạy cho nó biết nói tiếng của con người, của núi rừng, của thần linh ở Tây Nguyên.”
Nói như vậy có nghĩa: cồng chiêng là biểu hiện của văn hóa, và chỉ có trong rừng sâu, thứ âm thanh đại ngàn ấy được vút lên nhờ những chàng trai, cô gái được xem là nghệ nhân của “bộ gõ Tây Nguyên”. Đấy là văn hóa. Người mẹ rừng thấu hiểu con của mình, cho nó sự sống thì phải cho nó nguồn sống, nguồn sống của nó bắt nguồn từ những đồi bắp, đồi sắn, của những hạt gạo trắng ngần được cấy lên từ đất; cho đến khi đời sống nó no đủ thì nó cần phải tìm nguồn vui, mà nguồn vui ấy bắt nguồn từ chính thiên nhiên của mẹ rừng. Đó là âm thanh tự nhiên của dàn nhạc nước, rồi âm điệu của dàn nhạc đá cho đến khi bàn tay con người tìm được âm hưởng của cồng chiêng. Bất kì ở nơi đâu, ở vùng đất nào đi nữa thì đối với người con của núi rừng cồng chiêng vẫn là thứ thiêng liêng nhất, bởi nó tạo nên âm thanh để giao lưu, trò chuyện với thần linh, với những người đã quá cố.
Đến đây, ta nhớ về những lễ hội của người Tây Nguyên, bao giờ cũng vậy, cứ lễ hội là người ta tìm về thiên nhiên bao la, xứ sở của mẹ rừng: cúng bến nước, cầu mưa, bỏ mả, cầu mùa, mừng lúa mới, cúng sức khỏe… và ở đây, con người được giao hòa cùng thần linh, được gọi Giàng, được sống với không gian của núi rừng thực sự. Khi đó người ta tấu lên khúc nhạc của cồng của chiêng, của những lời khấn cúng. Nguyên Ngọc viết:
“Bởi, qua không gian rừng mênh mông, từ ngàn đời nay đêm đêm các làng Tây Nguyên vẫn đọc tiếng chiêng của nhau như vậy đấy, làm nên cuộc trò chuyện vĩnh cửu của con người trên vùng đất mênh mang và mãi mãi còn bí ẩn này.”
Nét đặc trưng của con người nơi đây là sự gắn bó mật thiết với không  gian núi rừng: từ việc lên nương làm rẫy cho đến việc săn bắt, chuyện tình yêu trai gái hẹn hò tình tứ, thậm chí cả những lễ hội… đều gắn bó mật thiết với rừng. Với người Tây Nguyên, rừng là một phần máu thịt của họ, rừng là tâm linh, là bản nguyên, là cội nguồn văn hóa, là nơi tạo thành tính cách con người. Con người nơi đây đã trân trọng gọi rừng là: “Mẹ rừng.”
Vì thế, rừng, và rộng hơn, thiên nhiên ở đây có quan hệ mật thiết gắn bó với con người. Nguyên Ngọc và cũng như những con người nơi đây quan niệm, rừng là khởi nguyên để từ đó họ ra đi và rừng cũng là nơi họ sẽ trở về sau một chuyến rong chơi dài ngày ở giữa cuộc đời trần thế. Cho nên có thể nói rằng văn minh Tây Nguyên là nền “Văn minh thảo mộc”. Trong Người về Krông Chro, Nguyên Ngọc đã phát hiện ra vai trò của rừng trong đời sống văn hóa con người Tây Nguyên: “rừng là bắt đầu và tận cùng của mọi thứ trên đời này. Như không gian, thời gian, vô tận. Người Tây Nguyên từ trong máu mình hiểu rất rõ, rất sâu điều cốt yếu đó, họ biết họ cũng chỉ là một phần nhỏ của cái bao quát lớn là rừng, như mọi vật hữu sinh và vô sinh, thú rừng cả sâu bọ cây cỏ, đất đá, sông, núi, và mọi vật dụng nữa, không hơn không kém”
Từ trong cái vô tận của rừng núi, con người bước ra, họ đi ra từ núi rừng như đứa con thoát thai bước ra từ lòng mẹ, nhưng như vậy cũng không có nghĩa là họ lìa xa tình mẫu tử, mà ngược lại vẫn bị trói buộc khăng khít trong tình mẫu tử thâm sâu: đó là văn hóa. Cũng như tình mẹ con, người Tây Nguyên gọi rừng là Mẹ: mẹ dạy cho họ biết làm nương rẫy, biết bắt con cá, biết săn con thú trong rừng, và đặc biệt mẹ rừng dạy họ biết văn hóa nguồn cội của mình là núi rừng, cho nên họ biết tiếng nói để giao tiếp với thần linh, biết cách cúng lễ, biết treo cây nêu, đánh cái chiêng cái trống trong mùa lễ hội, đồng thời họ cũng tạo nên cho mình một nét văn hóa rất riêng, khác biệt với những tộc người khác, ở những vùng cư trú khác.
Chính vì thế khi trưởng thành, họ thành tâm xin của mẹ rừng một khoảnh đất nhỏ, nhọc nhằn thuần hóa nó để cái khoảnh đất nhỏ ấy trở thành buôn làng, trở thành không gian sống của nhiều thế hệ người. Nhưng như thế cũng không đồng nghĩa với việc là họ đã tách ra khỏi rừng, họ dứt ra mà vẫn gắn bó, liên hệ, nối kết mật thiết với rừng, người Tây Nguyên tâm niệm: cùng sống với rừng và đương nhiên cùng chết với rừng. Quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vừa mang tính tự giác, bắt buộc từ trong sâu thẳm của tâm linh, vừa trở thành luật tục trong cộng đồng đời sống… đó là văn hóa.
Vì vậy, với người Tây Nguyên, rừng là một phần máu thịt của họ, rừng là nơi từ đó con người ra đi để tìm lấy sự sống:
“Và rừng ta đi về lấy cây suốt cá
Rừng ta đẹp chim bay về làm tổ
Nước ta trong bờ suối nở hoa rừng”
Và tất cả tựu chung lại thành văn hóa: văn hóa ăn, ở, mặc, văn hóa với núi rừng, với thần linh, đó còn là cách đối nhân, xử thế, giao tiếp với nhau trong những khu rừng bao la, rộng lớn. Nếu bạn hỏi một ngôi làng đang có lễ hội, thì làng bên sẽ như thế nào? Câu trả lời rất tự nhiên, đó là họ sẽ đưa tai lắng nghe âm thanh vang vọng của tiếng cồng, chiêng, tiếng hát vang ân tình bên vòng lửa ấm áp. Có nghĩa là tất cả những người con của núi rừng đều sẽ sống với những gì mà mẹ rừng dạy họ, họ sẽ tiếp nối, sẽ lưu truyền và dạy lại cho thế hệ sau những gì mà họ đang xem là văn hóa.
Nguyên Ngọc nhấn mạnh về không gian văn hóa của rừng, ông cho rằng, muốn hiểu về đất và người ở những khu rừng núi thì điều đầu tiên họ phải hiểu được rừng:
“Rừng. Rừng trong đời sống xã hội và con người, rừng trong văn hóa Tây Nguyên mà không hiểu rừng, ý nghĩa và vai trò của nó trong đời sống con người ở đây thì rất khó, hoặc hầu như không thể hiểu gì về Tây Nguyên, con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.”
Và cứ như thế không gian văn hóa ấy cứ trải rộng ra cho đến khi con người không còn nữa. Chỉ khi nào không còn sự xuất hiện của con người thì người mẹ rừng sẽ thu lại không gian văn hóa ấy và tạo ra thứ không gian văn hóa mới, chuyển từ con người về lại với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá, loài vật…
Như vậy, quá trình khắc họa, xây dựng hình tượng rừng trong sáng tác của mình, Nguyên Ngọc đã hoàn toàn để cho rừng thoát thai, đi từ môi trường sống đến không gian văn hóa và dần dần sẽ biến mảnh đất ấy thành một không gian thiêng liêng hơn, bí ẩn hơn – không gian của tâm linh.


Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016, tác giả NGUYỄN VĂN RÈN





VỀ NHÂN VẬT “ NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỘC ÁC”
TRONG TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA



Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm khá tiêu biểu cho sự đổi  mới về cách nhìn và khám phá về con người của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sáng tác sau năm 1975, thể hiện rõ nét sự chuyển biến từ cảm hứng sử thi lãng mạn thời chiến tranh sang cảm hứng thế sự, đời tư, đời thường thời hậu chiến. Khi giảng dạy tác phẩm này ở chương trình Ngữ văn 12 - THPT, phần lớn các giáo viên đều tập trung phân tích tình huống truyện độc đáo, phân tích nhân vật “ người đàn bà hàng chài” và nhân vật nghệ sĩ Phùng mà thường bỏ qua các nhân vật phụ như nhân vật “người đàn ông độc ác”. Điều đó không sai vì tình huống truyện và các nhân vật chính là những hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa, thể hiện tập trung chủ đề tác phẩm và thông điệp của nhà văn. Tuy nhiên, trong tác phẩm này, nhân vật “người đàn ông độc ác”, tuy là một nhân vật phụ nhưng lại là một hình tượng có sức ám ảnh và giàu ý nghĩa, thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn, cần phải được tìm hiểu.
Từ hình ảnh chiếc thuyền ngư phủ trên biển sớm mờ sương đẹp như trong mơ, người đàn ông này xuất hiện như là hiện thân của cái xấu và cái ác với “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ” và lời nói cụïc cằn “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Nói rồi, lão đưa vợ lão ( người đàn bà hàng chài) đi lên bãi cát, đến bên chiếc xe rà phá bom mìn của công binh Mĩ thời chiến tranh còn sót lại. “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rền rỉ đau đớn “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
Nhân vật người đàn ông độc ác, đánh vợ một cách tàn nhẫn và vũ phu, nhưng điều đáng nói ở đây là cách đánh vợ của lão cũng rất khác thường. Người ta chỉ bạo hành khi nóng giận và bất lực, nhưng người đàn ông này còn đánh vợ theo chu kỳ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Thậm chí, lão ta còn theo yêu cầu của vợ: không đánh trước mặt các con, dẫn vợ lên chỗ khuất rồi mới đánh. Nhiều người thắc mắc về sự phi lý này, nhưng điển hình hóa nghệ thuật cho phép vận dụng các tình tiết ly kỳ, bề ngoài có thể phi lý nhưng nêu bật được bản chất của sự vật.
Hình tượng “người đàn ông độc ác” đã thể hiện tinh thần nhân đạo mới mẻ của ngòi bút Nguyễn Minh Châu: Lên án nạn bạo hành gia đình, cảm thương cho thân phận nghèo đói, đau khổ của người phụ nữ, lo lắng cho nhân cách của em trước tệ nạn ấy. Đây là một trong những giá trị của tác phẩm cần được quan tâm khai thác.
Với nhân vật này, Nguyễn Minh Châu đã đến gần với Phân tâm học của Freud và nghệ thuật hậu hiện đại. Phân tâm học nhấn mạnh yếu tố vô thức và tính dục, đi vào không gian nội tâm con người, từ đó thấy được bản tính con người trước những xung năng tính dục không được giải phóng. Khi những xung năng đó không được giải phóng, nó thường dẫn con người đến những hành vi lệch lạc, bản năng, thậm chí có những hành động méo mó, rồ dại. Nhân vật người đàn ông đánh vợ là một kiểu rối loạn tâm lý này, khi ông ta tìm cách giải phóng cho những xung năng nguyên thủy của bản năng gào rú trong con người. Hành động này mang tính vô thức nhưng được diễn ra trong một quá trình tâm lý qua sáng tạo của nhà văn. Người đàn ông này trước đây là một “người con trai cục tính nhưng hiền lắm…cũng nghèo khó, túng quẫn vì trốn lính” và không biết uống rượu. Sự cam chịu nghèo đói kéo dài cùng với sự cục tính vốn có đã trở thành nỗi uất ức không thể chịu đựng được nên đã tìm lối thoát bằng cách đánh vợ. Như vậy, không chỉ người đàn bà hàng chài mà cả người đàn ông kia cũng là nạn nhân của sự nghèo đói. Qua nhân vật này, nhà văn đã đưa đến người đọc một thông điệp: phải làm gì để nâng cao phần thiện, phần người trong những kẻ thô bạo ấy.(Mọi người đều ngầm hiểu rằng: muốn giải quyết vấn đề này thì phải phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân). Vấn đề này được nhà văn đặt ra từ những năm đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, khi đất nước còn chìm trong khủng hoảng và chưa bước vào thời kỳ đổi mới. Như thế, chúng ta mới thấy được sự nhạy cảm đặc biệt trước những vấn đề của đời sống và cả sự “dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn) của Nguyễn Minh Châu trong quá trình khám phá và sáng tạo.




Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016


Chùm văn xuôi của các em dự Trại sáng tác Thơ – Văn Hương Rừng 2016

tác giả HỨA THỊ THÙY NGUYÊN

Dân tộc: Nùng
Lớp: 9A6
Trường: THCS Ea Lê – Ea Suop


CÔ BÉ QUÀNG KHĂN ĐỎ - PHIÊN BẢN LỖI


Cô nhóc cùng tuổi với cô bé quàng khăn đỏ, nhìn thấy khăn đỏ nhỏ nhắn, xinh xắn, nước da trắng ngần, cô nhóc mê lắm. Cô thường dùng trộm mĩ phẩm của mẹ trang điểm cho mình. Cô cứ quét lên mặt mình, rồi cứ như thế cho đến khi phấn đánh lệch, son bị nhem, cặp lông mày nhẵn bóng. Xong cô không thèm soi gương lấy một cái mà chạy thẳng ra ngoài khoe thành quả của mình. Mọi người nhìn thấy cô nhóc với khuôn mặt xấu xí liền la hét ing ang rồi thi nhau xô đổ chạy tới chạy lui kêu cứu ráo riết, có một số người thì cười chê cô nhóc. Cô nhóc chẳng hiểu gì hết nhưng cũng tung tăng chạy ra đường hái hoa bắt bướm, cho đến lúc cô nhìn vào hồ nước thì:
- Aaaa...! Nữ quái. Cứu tôi với.
Cô cứ hét lên như thế nhưng thực chất cô vẫn biết đó là mình. Về nhà, cô rửa mặt. Nhưng vẫn chưa dừng lại ở đó, cô tập cách trang điểm cho mình thật khéo léo để cho mặt xinh đẹp và trắng hồng hơn cô bé quàng khăn đỏ. Từ đó cô luôn dùng trộm mĩ phẩm của mẹ hoặc vòi tiền của mẹ để mua trang bị cho mình. Mặc dù mẹ của cô nhóc đã nhiều lần nhẳc nhở hoặc kể ra tác hại của việc dùng mĩ phẩm không đúng cách, nhưng cô không chịu nghe lời khiến mẹ cô cũng phải lắc đầu bó tay.
Rồi một hôm, cô nhóc đang cùng với cô bé quàng khăn đỏ đi đưa bánh cho bà ngoại thì một anh thanh niên khoảng chừng 20 tuổi đứng chặn đường hai cô. Thấy hai cô bé dừng lại, anh thanh niên kia hớn hở chào và giới thiệu về mình.
- Chào hai cô gái xinh đẹp, anh là một cậu chủ nhỏ của một cửa hàng thương hiệu mĩ phẩm. Hiện anh có một sản phẩm làm trắng da cực nhanh sau một lần sử dụng. Mua đi hai cô gái.
Cô nhóc nghe thấy việc làm trắng da thì sáng mắt lên liền nhanh nhảu hỏi:
- Có thật là sẽ làm trắng da sau một lần sử dụng không anh.
- Ờ thì... Đúng vậy đó em. Anh thanh niên ậm ừ trả lời.
- Giá bao nhiêu vậy?
- Ba trăm bốn mươi lăm ngàn đồng một hộp nhé em, rẻ mà, mua cho anh đi, anh đảm bảo với em sau khi sử dụng sản phẩm này em sẽ trắng đẹp tự nhiên, xinh như cô tiên luôn. Đây, sản phẩm với hộp ô vuông tông nền màu đen thể hiện dáng điệu uy nghiêm, huyền bí. Tông nền màu đỏ tỏ ra sức sống cao trào, tăng thêm phần vào vui chơi thỏa thích, không sợ bụi bẩn làm dơ làn da của mình. Tông nền màu vàng thể hiện sự dịu dàng, yểu điệu, pha nhẹ một chút sức sống bình minh. Đó, em thấy chưa? Chỉ mới nhìn thấy cái hộp của nó thôi là đã biết nó quý giá thế nào rồi.
Cô nhóc nghe xong thì thích thú lắm, chỉ muốn mua cả 3 hộp về thử ngay thôi. 
- Vậy anh lấy cho em hộp màu đen đi. À không, màu vàng cơ. Không, màu đỏ nhé anh. Không, lấy màu...
Anh thanh niên thấy cô nhóc bối rối liền bật cười nói:
- Em à! Em nên lấy cả 3 hộp đi, vì anh thấy nó rất hợp với em. Với lại sản phẩm này ra mắt khách hàng trên thị trường đã bán hết rồi, còn lại 3 hộp cuối thôi em ạ!
Cô nhóc nghe thấy anh nói thì gật gật đầu, muốn lấy hộp này nhưng lại thấy tiếc cho 2 hộp còn lại nên cô quyết định lấy cả 3 hộp. Đang chuẩn bị lấy ví ra trả tiền cho anh thanh niên bỗng cô bé quàng khăn đỏ giật giật tay áo cô nhóc rồi thì thầm vào tai cô.
- Nè cậu! Lỡ họ lừa mình thì sao, tớ thấy trên hộp không có ghi rõ nơi sản xuất, không có hưỡng dẫn và hạn sử dụng, giá cả lại đắt nữa. Cậu không nên mua đâu.
- Kệ nó, miễn trắng da là được rồi – Cô nhóc thản nhiên nói, tay vẫn lục tìm cái ví trong túi xách.
- Tớ khuyên cậu đừng nên mua, mẹ mình nói đẹp hay xấu đều ở tấm lòng, có tấm lòng thì người xấu cũng thành đẹp thôi. Tớ vẫn thấy đẹp tự nhiên mới gọi là đẹp, chứ dùng mĩ phẩm sau này còn hư mặt rồi nổi mụn nữa đó. Cô bé quàng khăn đỏ nhẹ nhàng nói.
Nghe cô bé nói xong, cô nhóc tự nhiên thấy tức trong lòng mà quát cô bé.
- Cậu thì cái gì mà chả đẹp, đẹp tự nhiên nữa, hơn tớ rồi còn gì. Bây giờ lại còn rủa tớ bị hư mặt rồi nổi mụn nữa chứ. Cậu có phải bạn của tớ không vậy, cậu xấu lắm.
- Tớ khuyên tốt cho cậu mà cậu còn lên giọng quát tớ, đã vậy sau này có bị sao thì đừng trách tớ không nhắc trước nhé!
Nói xong cô bé tự xách giỏ bánh đi về nhà bà ngoại của cô.
Cô nhóc bực giọng hét lên theo tiếng gót chân cô bé:
- Kệ tớ, không liên quan tới cậu, rồi một ngày nào đó tớ sẽ xinh hơn cậu.
Cô bé nghe thấy nhưng vẫn bước tiếp, cô không muốn tình bạn của hai đứa vì một chuyện nhỏ mà mất đi. Cô rất hiểu bạn của cô, luôn làm bất cứ điều gì mà mình thích mặc cho những lời khuyên răn của mẹ và cô bé. Cô đủ thông minh để nhận ra điều đó nên cô đành im lặng mà bước đi.
"Cậu ấy đi rồi, không cần mình nữa, đã vậy mình cũng không cần cậu ấy nữa". Cô nhóc tự nghĩ thầm rồi thở dài cầm chiếc ví ra trả tiền.
Về phía anh thanh niên thì mừng thầm vì vừa chia rẽ tình cảm của hai người, vừa lừa bán được 3 hộp sản phẩm giả do mình tự chế với số tiền rất cao nên lặng lẽ đi về với sự may mắn đó.
Cô nhóc vừa về nhà thì dùng thử ngay 3 hộp sản phẩm làm trắng da của mình nhân lúc mẹ cô đi vắng. Rửa xong, cô tự tin nhảy lên bàn trang điểm để ngắm mình trong gương.
- Ôi! Làn da trằng mịn màng làm sao. Mình là người xinh đẹp nhất thế giới này. Hur...yeah...
Cô reo lên thích thú rồi lại tiếp tục khoe thành quả của mình. Mọi người nhìn thấy cô thì không ai còn cười chê cô, không còn la hét nữa mà thay vào đó là những lời nịnh hót, những lời khen ong bướm thật ngọt ngào. Điều đó càng làm tăng thêm phần thích thú cho cô nhóc rồi càng ngày cô càng kiêu ngạo hơn xưa.
Thời gian sau, vào một buổi sáng sớm của ngày cuối tuần mùa đông. Ánh nắng nhè nhẹ xen kẽ qua từng chiếc lá còn đọng chút sương mù. Cô nhóc đang cuộn tròn mình trong chiếc chăn ấm kèm theo một giấc mơ rất thơ mộng, đó là được làm tiên nữ ngao du khắp trần gian. Cô đang bay đến một hòn núi cao cạnh ngôi làng của dân chúng tỏa ra ánh hào quang trông mà lóa mắt. Trong lúc cô đang được nghe những lời "trăng hoa mây ngọt" của dân làng thì:
- Nhóc! Dậy mau, hôm nay con phải cùng cô bé quàng khăn đỏ đi đưa bánh cho bà ngoại cô bé mà.
Tiếng gọi trìu mến của mẹ mà cô nhóc lại cho rằng là tiếng "sư tử gầm" phá tan giấc mộng tuyệt đẹp của mình. Cô nhóc đạp tung chăn và bay lên bàn trang điểm của mình thì: 1 cái, 2 cái, 3 cái, 4, 5, 6, 7... Trời ơi! Mụn. Chẳng hiểu sao khi nhìn vào trong gương, cô nhóc thấy mặt mình có rất nhiều mụn, da mặt đen sầm, tàn nhang ở khắp hai bên má, các nốt đỏ xuất hiện làm cô nhóc thấy ngứa, cô cảm thấy sợ hãi rồi hét lên om sòm.
- Trời ơi! Tại sao? Tại sao mặt tôi lại thành ra thế này? Hu hu... Ngứa quá đi. Khuôn mặt xinh đẹp, trắng mịn màng như tiên nữ của tôi đâu mất rồi? Không được, mình phải đi thôi, mẹ mà phát hiện ra mình mua mĩ phẩm chưa xin phép làm hư da mặt mà đánh chửi mình thì đau lắm.
Cô chạy ra túi đồ của mình lấy chiếc khăn đỏ quàng lên đầu rồi xách giỏ bánh qua nhà cô bé quàng khăn đỏ. Cô cứ chạy theo dòng suy nghĩ lẩn tránh mẹ của mình mà không biết rằng chính mẹ cô nhóc đã nhìn thấy từ lúc nào. Cô lén lút ra khỏi nhà và chạy thật nhanh đi đến con suối nhỏ thì gặp một con sói già.
- A! Thì ra là cô bé quàng khăn đỏ, thịt cô bé rất ngon, cho ta cắn miếng nhé!
Con sói vừa nói vừa chảy nước bọt, hai tay giật phắt cái khăn xuống. Nhìn thấy trước mặt mình không phải cô bé quàng khăn đỏ mà là một cô nhóc với khuôn mặt xấu xí, đỏ ngầu. Sói liền cong đuôi bỏ chạy để lại cô nhóc một câu nói chất chứa niềm sợ hãi của sói:
- A! Cô bé quàng khăn đỏ phiên bản lỗi rồi. Thịt không ngon, ta sợ nuốt không trôi.
Cô bé quàng khăn đỏ phiên bản lỗi xuất phát từ đó. Cô nhóc vừa tức vừa xấu hổ, phải chi mình nghe lời của mẹ và bạn thì đã không ra nông nỗi này rồi. Cô đi tới trước cửa nhà cô bé quàng khăn đỏ thì thấy cô đang phơi thuốc nhưng không biết là thuốc gì. Vô đến cổng cô nhóc rụt rè gọi:
- Khăn đỏ ơi! 
- Ơi! Nhóc à? Vô đây chơi nè, mình có cái này hữu ích cho bạn đấy – Khăn đỏ trả lời và gọi cô nhóc.
- Cái gì vậy khăn đỏ?
- Thì cứ vô đây đi rồi biết.
- Ừ! Mình vô.
- Nè! Bạn bôi nó lên mặt đi – Khăn đỏ vừa nói vừa đưa cho cô nhóc một hộp thuốc được làm từ cây cỏ do chính tay cô pha chế.
- Bôi lên làm gì?
- Đương nhiên là để trị mụn và làm giảm vết thâm trên mặt rồi.
Hai chữ hối hận xuất hiện ngay trong trí óc cô nhóc. Cô nhóc cảm thấy có lỗi với cô bé rất nhiều.
- Mình xin lỗi bạn nhé, khăn đỏ. Tất cả là tại lỗi của mình, lẽ ra mình nên nghe lời bạn, nghe lời của mẹ không dùng mĩ phẩm bừa bãi. Không nên nghĩ xấu về bạn mà làm ảnh hưởng đến tình bạn của chúng mình.
- Ừ! Không sao đâu, bạn biết lỗi là tốt rồi. Người ta thường nói "gieo nhân nào thì gặt quả đó " nhưng nếu có thể chia sẻ được thì mình sẽ cố gắng giúp bạn. Cô bé quàng khăn đỏ phiên bản lỗi ạ – Cô bé hiền hòa nói.
- Ừ! Cảm ơn bạn nhiều lắm, khăn đỏ.
- Thế còn dám không nghe lời mẹ nữa không?
Đang hưởng thụ giây phút tình bạn nồng thắm bỗng mẹ cô nhóc từ đằng sau nhà nói vọng ra làm cô nhóc giật mình.
- Dạ, con biết lỗi rồi, mẹ tha lỗi cho con nha!
- Ừ, biết lỗi là tốt. Thôi giờ ta cùng nhau sang nhà bà ngoại cô bé quàng khăn đỏ nhé –  Mẹ cô nhóc vui vẻ nói.
- Vâng ạ! Cả hai cô gái đồng thanh đáp lại. 
Và thế là cả 3 người cùng nhau vui vẻ trên con đường đến nhà bà ngoại. Ngày chủ nhật hôm đó đã tan cả không khí ảm đạm, lạnh lẽo của khu rừng. Đúng là một ngày đặc biệt làm cô nhóc phải ghi nhớ mãi trong tâm trí. Muốn quên cũng không thể quên được.
Còn về phía anh thanh niên, do đi lừa đảo quá nhiều nên đã bị người dân bắt giữ, từ đó khu rừng nơi hai cô ở rất thân thiện, vui vẻ, hòa bình khi không còn một con sói già, không còn một cuộc lừa đảo nào ở đây nữa.



Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 291 THÁNG 11 NĂM 2016,

Chùm văn xuôi của các em dự Trại sáng tác Thơ – Văn Hương Rừng 2016
TRIỆU THỊ CHUYÊN
Dân tộc: Tày
Lớp: 11A1
Trường: THPT DTNT Nơ Trang Lơng


TUỔI TRẺ MÀ,
CỨ LÀM NHỮNG ĐIỀU MÌNH THÍCH

Nó tên là An Nhiên, sinh ra trong một gia đình rất bình thường. Nói tóm lại là An Nhiên cảm thấy cuộc sống của nó còn quá tẻ nhạt.
Rồi một ngày nọ, nó được bạn rủ đi xem “Music Bank in Ha Noi”. Đó là một chương trình biểu diễn vòng quanh thế giới của các nghệ sĩ Hàn Quốc. Lúc đầu nó chẳng thấy vui gì hết vì vừa đông đúc vừa ồn ào. Nó còn không thể hiểu nổi tại sao người ta có thể reo hò thích thú như thế. Các nghệ sĩ có chuẩn bị một số tiết mục đặc biệt hát bằng tiếng Việt. Đến bài hát “Người ấy” do các chàng trai của nhóm nhạc EXO thể hiện, An Nhiên thực sự đã bị hớp hồn bởi giọng hát lẫn ngoại hình của họ. Từ đó, nó trở thành một “fan cuồng” của nhóm nhạc Hàn Quốc đình đám EXO. Gọi là cuồng nhưng nó không bao giờ để mình có những hành động “điên rồ” như những vụ của phan cuồng được đăng trên báo hay trên TV đâu. Nó cuồng nên nó càng lấy EXO làm động lực để học tập, nhất là nó còn học thêm tiếng Hàn và tiếng Trung. Nó chỉ cần nhìn thấy hình ảnh của EXO thì dù tâm trạng có đang buồn bực cũng sẽ trở nên vui mừng.
Tuy nhiên, mẹ và  chị gái, còn có cả một số bạn bè luôn cho rằng việc nó hâm mộ EXO là nhảm nhí, chẳng được tích sự gì mà còn ảnh hưởng đến việc học. Mặc dù điều đó không làm ảnh hưởng gì đến tình cảm của nó dành cho EXO nhưng nó cảm thấy hơi khó chịu.
Vâng, công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ không gì sánh được. Bố mẹ sinh ra ta tức là tạo ra cho ta một con đường đó chính là “đường đời”. Với An Nhiên, EXO chính là những bông hoa ngát hương trên con đường của nó, làm cho con đường của nó tràn ngập sắc màu và hương thơm, làm cho con đường của nó không tẻ nhạt. Có đôi lúc, chỉ đôi lúc thôi, nó hơi chìm đắm trong những mơ mộng về thần tượng mà xao nhãng việc học. Giống như hồi bé, ta chơi nặn đất rất bẩn, có thể làm ta bị nhiễm giun, sán  hay trèo cây mà ngã gãy tay, chơi đuổi bắt mà ngã trầy xước hết đầu gối… Nhưng ta không bao giờ hối hận vì đó là tuổi “trẻ trâu” mà, chỉ biết đùa nghịch thôi. Nếu có quay lại thì vẫn chơi đùa như thế. An Nhiên cũng sẽ không bao giờ hối hận về việc đã yêu mến EXO vì nó đang ở tuổi mới lớn mà, thần tượng mấy chàng đẹp  trai thì cũng là chuyện thường tình thôi mà.
Cuối cùng thì nó thật may mắn khi giành được một suất học bổng toàn phần đi du học sang Hàn Quốc mà nó hằng mơ ước. Quả là những bông hoa trên con đường của nó không chỉ để ngắm suông thôi đâu, đúng không?!