Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

BÊN HỒ EA SÚP THƯỢNG búy ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 295 - THÁNG 3 NĂM 2017




Xe đưa đoàn văn nghệ sỹ Đắk Lắk đến bên bờ hồ Ea Súp Thượng khi trời còn mờ mờ tối. Mặt hồ đen sẫm, tiếng sóng vỗ vào thân đập nghe ràn rạt... Rồi vài phút sau, phương đông, mấy đám mây hồng bừng lên trên nền trời, soi bóng xuống mặt hồ vẽ thành bức tranh thiên nhiên huyền ảo.
Ngày cuối cùng ở lại huyện Ea Súp dự Trại sáng tác văn học nghệ thuật; mười ngày, quãng thời gian ấy sao trôi đi nhanh quá, khi nhiều dự định sáng tác còn chưa kịp hoàn thành. Huyện Ea Súp – huyện biên giới phía tây của tỉnh Đắk Lắk, đất rộng người thưa, khí hậu khắc nghiệt, mới đầu tháng mười hai không khí đã khô hanh, báo hiệu một mùa nắng nóng. Mùa khô đồng nghĩa với gần một nửa huyện phải đối diện với việc thiếu nước sinh hoạt hàng ngày nói gì đến chuyện nuôi trồng, canh tác nông nghiệp. Với tầm nhìn chiến lược, từ những ngày đầu thành lập huyện, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã khảo sát, thiết kế và đầu tư xây dựng hồ Ea Súp Thượng có diện tích mặt hồ: 1.500 ha, dung lượng nước chứa: 146 triệu mét khối, hoàn thành năm 2004. Nhìn mặt hồ, tôi chợt nhớ lại…
Ngày đầu tiên ở Trại, chúng tôi đi thăm đồn biên phòng Ea H’Leo và được “thưởng thức” con đường ra biên giới trên địa bàn huyện nó như thế nào! Rời thị trấn Ea Súp chưa được 3 km, nữ nhà văn Nguyễn Anh Đào đã vội mở bịch ni lông làm cái việc không mong muốn khi bị say xe, nhà văn Thu Hương ngồi bên cạnh phải xoa hai bên thái dương cho bạn. Xe chỉ chạy tốc độ chừng 20 km giờ vậy mà chúng tôi có người đầu còn va vào thành xe đau điếng. Xe lúc chúi xuống ổ… voi, lúc lại chổng ngược như leo dốc, mặc dù đây là đoạn đường đi qua vùng đất tương đối bằng phẳng. Sau gần 3 giờ vật lộn với chặng đường, đoàn cũng lên đến Đồn, ai cũng bơ phờ, quần áo, đầu tóc nhuộm màu đất vì phải mở cửa sổ cho mấy nhà văn nữ bớt say. Trước cổng Đồn, một chiến sỹ biên phòng ôm súng đứng gác giơ tay chào theo điều lệnh rồi hướng dẫn xe đi vào. Xe dừng, Chỉ huy Đồn ra tận cửa xe bắt tay từng người, và trên khuôn mặt vui tươi phấn khởi được đón các văn nghệ sỹ đến thăm, ánh mắt không thể giấu vẻ ái ngại khi thấy một số thành viên trong đoàn mặt mũi bơ phờ vì say xe. Vừa hướng dẫn anh em trong đoàn rửa mặt mũi, tay chân, đồng chí Đại úy Hoàng Ngọc Ân – Đồn phó vừa xuýt xoa vì con đường xuống cấp do mùa mưa vừa rồi xe ô tô, máy kéo đi lại nhiều nên nó vậy.
Chỉ huy, sỹ quan, và chiến sỹ của Đồn chu đáo với đoàn giống như anh em đi xa lâu ngày gặp lại, tay bắt mặt mừng, chuyện trò, tâm sự tưởng như không bao giờ có thể ngừng lại. Đầu giờ chiều, đoàn được đưa xuống thăm một số mô hình điểm trên địa bàn đồn quản lý thuộc xã Ia Lốp như: “Phong trào nâng bước em đến trường” thực hiện từ tháng tư năm 2016 đến nay; nội dung của phong trào này là chọn những em học sinh từ lớp 3 trở lên có hoàn cảnh khó khăn, học giỏi sẽ được đồn hoặc cán bộ chỉ huy Bộ tư lệnh Biên phòng tỉnh Đắk Lắk nhận nuôi dưỡng, trợ cấp thường xuyên năm trăm ngàn đồng một tháng cho đến khi học xong trung học phổ thông; trên địa bàn Đồn Ea H’Leo phụ trách đã có 8 cháu được nhận trợ cấp. Một việc làm rất nhân văn, thể hiện tình quân dân thắm thiết của truyền thống Anh bộ đội Cụ Hồ.
Mô hình làm kinh tế giỏi: nuôi bò, dê, vịt trời, trồng thanh long ruột đỏ… với số vốn không nhiều, nhưng những hộ nông dân từ xứ Mường Thanh Hóa, vựa lúa Thái Bình hay tận vùng Bến Tre thuộc miền sông nước miền Tây Nam bộ đến đây lập nghiệp có một điểm chung: vốn ít, đầu tư nhỏ… nhưng với sự giúp đỡ của các anh bộ đội biên phòng đã vượt khó, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu, bám trụ được trên mảnh đất biên cương khắc nghiệt này.
Trao đổi với chúng tôi, Thượng úy Trần Công Anh – Đội công tác của Đồn trên địa bàn xã Ia Lốp cho biết. Địa bàn Đồn quản lý, chủ yếu là dân đi kinh tế mới và dân di cư tự do, cuộc sống bước đầu vô cùng khó khăn vì khí hậu khắc nghiệt, đường sá đi lại khó khăn và đặc biệt là vấn đề nước. Mùa khô có khi nắng tới bảy tháng không một hạt mưa, nước khoan lên không uống được vì can xi quá nhiều, nước người uống còn chưa đủ thì lấy đâu nước cho sản xuất nông nghiệp. Anh em bộ đội biên phòng xuống hỗ trợ làm nhà, làm đất và vận động các đơn vị kinh tế đầu tư khoan giếng lấy nước phục vụ sinh hoạt, tạm thời ổn định đời sống cho nhân dân. Nếu đưa được nước ở hồ Ea Súp Thượng về hay lấy nước ở sông Ea H’Leo lên phục vụ sản xuất nông nghiệp, chắc chắn nơi đây sẽ thành vựa lúa mới của cả vùng, nhân dân mới bớt khó khăn.
Qua báo cáo, chúng tôi biết: điện đã đến với từng hộ, trường đủ chỗ cho các cháu đến độ tuổi theo học, còn đường giao thông thì xuống cấp nghiêm trọng, nhưng gian nan hơn cả là nước, không có nước sẽ không ổn định được lòng dân: An cư để lạc nghiệp – người xưa đã dạy thế. Nước ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang là vấn đề quyết định đến đời sống kinh tế và văn hóa của cả cộng đồng chứ không chỉ riêng một xã vùng biên giới, biện pháp nào để giải quyết vấn đề này là một bài toán khó đang được Đảng và chính quyền nơi đây từng bước tháo gỡ.
Về thăm và làm việc với xã Ea Lê, ông Nguyễn Văn Hoa – Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân xã cho chúng tôi biết: diện tích của xã: 13.672 ha, dân số: 1.076 hộ với 10.999 nhân khẩu sinh sống ở 19 thôn và một tiểu khu; gọi là “tiểu khu” vì chưa đủ điều kiện thành lập thôn. Toàn xã có 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc ít người là 4.850 người. Xã thuộc diện điểm của huyện về thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Dân sống chủ yếu bằng nghề trồng cây nông nghiệp với 4.830 ha lúa hai vụ, 1.300 ha một vụ, năng suất trung bình từ 6,5 đến 7 tấn/ha; ngoài ra còn phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại; trâu: 1.750 con, bò: 920 con, heo: 6.500 con... Vị lãnh đạo chủ chốt của xã chưa đến năm mươi tuổi, người to đậm, khỏe mạnh đảm nhiệm chức vụ hai khóa liên tục hồ hởi cho anh em văn nghệ sỹ biết: giá như có kinh phí để đầu tư làm thủy lợi đưa nước từ hồ Ea Súp Thượng đến vùng làm lúa một vụ phụ thuộc vào trời, nâng lên thành hai vụ thì… Anh nói bỏ câu nửa chừng, ánh mắt đượm vẻ buồn.
Xã Ea Lê, người dân biết vươn lên làm giàu nhờ Đảng bộ và chính quyền cơ sở luôn đi sâu đi sát nhân dân, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong chính sách, cơ chế đến phong tục, tập quán… một cách dân chủ nên giữ được mối đoàn kết từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, giữa các dân tộc để cùng nhau làm giàu – đây là bài học hết sức quý giá mà không phải địa phương nào cũng làm được. Bên cạnh đó một ưu thế đặc biệt mà không phải xã nào ở Ea Súp cũng có, đó là nguồn nước. Nhờ chủ động nguồn nước tưới tiêu lấy từ hồ Ea Súp Thượng, đã biến cả vùng đất nghèo hoang vu ngày xưa thành vùng quê trù phú, một vựa lúa lớn trên Cao nguyên. Với Đắk Lắk, ở đâu có nước ở đó có sự sống và người dân nơi đó có thể làm giàu! Nước quý lắm, một cao nguyên khát đang rất cần những giọt nước mát như những dòng sữa mẹ làm hồi sinh những vùng đất khô cằn.
- Anh nhìn kìa, đám rừng màu xanh sẫm bên kia, là hòn đảo nổi giữa hồ đấy – anh Nguyễn Mạnh Cương, Phó trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện đi cùng đoàn chỉ cho tôi rồi nói thêm: ngày trước, cách đây hơn chục năm phía thượng nguồn của hồ là rừng già mênh mông chạy xa tít tắp qua tận phía huyện Ea H’Leo và huyện Cư M’gar luôn.
Anh cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin huyện người dân tộc thiểu số phía bắc, quê gốc tỉnh Cao Bằng, vào Đắk Lắk dạy học, do yêu cầu công tác của Đảng qua nhận nhiệm vụ “trái tuyến”, nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ và lòng đam mê vùng đất Ea Súp đang cố hết sức để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Anh tâm sự: Người dân tộc bản địa Tây Nguyên có phong tục, tập quán và cả nét văn hóa đặc trưng cũng gắn liền với nước. Mỗi buôn có một bến nước, nét văn hóa được thể hiện ở chính bến nước này, nay rừng bị cạn kiệt sẽ không còn nước thì tìm đâu ra bến nước, mất bến nước là mất đi một nét văn hóa tiêu biểu... Trăn trở của người lãnh đạo trẻ ngành văn hóa cấp huyện tuổi đời chưa đến bốn mươi làm người nghe thấy thổn thức...
Phương đông xuất hiện nhiều đám mây hồng, báo hiệu mặt trời sắp lên, anh em văn nghệ sỹ, người chuẩn bị máy ảnh, người chuẩn bị máy quay chĩa ống kính ra phía mặt hồ hơi chếch một chút lên cao đón mặt trời lên như cảnh bộ đội chuẩn bị một cuộc tổng tấn công vào một cứ điểm. Trên bầu trời xanh, đôi đại bàng màu đen sẫm sải cánh chao lượn; dưới mặt hồ, từng lớp sóng nô đùa đuổi nhau lao vào bờ đập được gia cố bằng xi măng, tung lên những hạt nước li ti. Xa xa, xuất hiện thêm những chiếc thuyền độc mộc một người chèo thuyền bằng chân, tay thu lưới tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp.
Nhìn hồ, nhìn các bạn đồng nghiệp tác nghiệp, tôi nhớ đến hôm khai mạc trại, đồng chí Nguyễn Hoàng Vũ – Phó bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện trao đổi: Khó khăn của huyện nhiều lắm, vì đây là huyện vùng biên, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, rừng nghèo chiếm một diện tích lớn, đường sá xuống cấp nghiêm trọng, giao thương khó khăn… nhưng nói như thế không phải không có thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đặc biệt xây dựng các trang trại, khu du lịch… nếu như có vốn đầu tư, khai thác được tiềm năng sẵn có của huyện… quả là đúng thật. Xoài huyện Ea Súp ngon nổi tiếng, cây rất nhiều quả, nhưng có năm nhiều quá bán không ai mua; dưa hấu Ea Súp ruột đỏ thắm, cắn một miếng vị ngọt thấm tan vào tận chân răng, thương lái lùng mua để xuất khẩu qua Trung Quốc, nhưng do giao thông trắc trở nên giá bị dìm xuống, lời lãi cho người trồng không nhiều; sắp tới huyện đang tạo điều kiện để các doanh nghiệp xây dựng vùng chuyên canh cây ăn quả, xây dựng nhà máy chế biến trái cây đóng hộp góp phần đưa kinh tế vùng phát triển bền vững.
Dù rất bận công tác cuối năm, nhưng ông Bun Thó Lào – Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện vẫn giành một buổi tối mời toàn thể văn nghệ sỹ dự Trại về thăm nhà riêng. Quanh ché rượu cần, ông Phó chủ tịch huyện, tuổi chắc chỉ hơn bốn chục, có khuôn mặt cương nghị, nước da như đồng hun, rắn chắc của người dân bản địa đã thẳng thắn trao đổi với mọi người về tình hình địa phương và trăn trở của mình trước công việc trên địa bàn huyện nhà. Trong không khí vui vẻ, ông cho biết: Lượng nước của hồ Ea Súp Thượng theo công suất thiết kế đủ nước tưới cho trên 8.000 ha lúa hai vụ, nhưng đến nay chỉ mới sử dụng hơn một nửa vì thiếu kinh phí làm kênh dẫn nước tới vùng xa. Nếu tận dụng hết lượng nước của hồ thì… Hiện nay đã có nhà đầu tư khảo sát cho dự án sử dụng mặt nước hồ Ea Súp Thượng để xây dựng nhà máy điện năng lượng mặt trời, hy vọng sau khi hoàn thành, nơi đây sẽ thành khu du lịch thu hút khách tham quan và kết nối thành cụm du lịch: tháp Yang Proong – hồ Ea Súp Thượng…
Mặt hồ nước Ea Súp Thượng mênh mông có thể khai thác tua du lịch bằng thuyền kết hợp tổ chức các môn thể thao, trò chơi dưới nước; xây dựng khu nghỉ dưỡng trên hòn đảo nổi giữa hồ, nơi còn giữ được thảm rừng nguyên sinh quý giá sẽ hấp dẫn vô cùng. Một viễn cảnh tươi đẹp của vùng đất cách xa thành phố Buôn Ma Thuột hơn tám chục ki lô mét về hướng tây, nắng nhiều mưa ít và đầy gió, chắc chắn sẽ mang lại đam mê cho nhiều người đến khám phá, lưu lại trong những ngày nghỉ cuối tuần hay lễ tết.
Mặt trời nhô lên sau ngọn núi mờ mờ, tiếng ai đó reo: Mặt trời lên! Mọi người hối hả bấm máy ghi lại thời phút thiêng liêng của một ngày mới bắt đầu. Ánh nắng vàng soi xuống mặt hồ, bóng con thuyền nhỏ nhoi như chiếc lá trên mặt hồ rộng mênh mông xuyên qua bóng mặt trời như được phủ vàng lung linh huyền ảo… tiếng bấm máy kêu lách tách làm háo hức người nhìn. Nghệ sỹ nhiếp ảnh Văn Lộc tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, người gầy gò, lại cao lêu khêu vác chiếc máy ảnh cồng kềnh có cả chân chạy đuổi theo con thuyền đang rẽ sóng vàng thu lưới. Những con cá lớn vướng vào lưới khi bị nhấc lên khỏi mặt nước với chiếc đuôi óng ánh vàng quẫy mạnh làm bắn ra những hạt nước như những hạt ngọc… và mái tóc người chèo thuyền được nàng gió ban mai ve vuốt, ánh nắng ban mai chải chuốt tạo nên bức tranh phong cảnh thật kỳ lạ… Ai cũng hối hả ghi lại khoảnh khắc hiếm hoi được chứng kiến điều kì diệu trên mặt hồ.
Mặt trời lên cao, anh em trong đoàn gọi nhau lên xe trở về thị trấn huyện để chuẩn bị làm lễ bế mạc Trại, người lên xe rồi mà mắt cứ ngoái nhìn hình như không muốn dứt ra được. Xe chạy, nhà văn, nhạc sỹ Linh Nga Niê Kdam nói: Tiếc quá, thời gian không cho phép chứ không phải ở lại thêm một lúc nữa. Hồ đẹp quá! Các văn nghệ sỹ tiếc cũng phải thôi, một chiếc hồ đẹp long lanh trên vùng đất đang khát nước giống như viên ngọc xanh mang vẻ đẹp tinh khiết làm đắm say lòng người. Nhưng với người dân nơi đây, hồ này còn là nguồn sống, là nơi mạng lại ấm no, hạnh phúc cho gần nửa huyện bởi những giọt nước ngọt ngào. Những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay trên vùng bình nguyên Ea Súp thuộc thị trấn Ea Súp và các xã: Ea Lê, Cư M’Lan, Ea Bung, Ea Drông, Ea Rốc, Ea Lốp, Ea Tmốt… đều do nước của hồ Ea Súp Thượng mang đến và hy vọng trong tương lai gần, khi có kinh phí của trên cấp cũng như sự tham gia của các doanh nghiệp với chủ trương xã hội hóa công tác thủy nông, nước sẽ còn vươn xa hơn, đến được nhiều cánh đồng hơn để cây lúa có thể mọc hai vụ, năng suất cao; các doanh nghiệp đủ nước để có thể mở thêm các trang trại chăn nuôi, trồng trọt làm cho vùng đất khô cằn trở thành trù phú và người dân trong vùng thoát cảnh đói nước hàng năm. Tôi tin, với một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện cũng như các cấp cơ sở, có năng lực, được đào tạo chính quy, đa số tuổi đời còn trẻ chắc chắn sẽ tạo nên sức bật mới cho sự phát triển kinh tế xã hội huyện Ea Súp trong tương lai gần.
Mùa xuân 2017


Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả TRƯƠNG BI





CON GÀ TRONG NGHI LỄ CỔ TRUYỀN
CỦA ĐỒNG BÀO Ê ĐÊ, M'NÔNG
                                 


Đồng bào Êđê, M'nông ở Đắk Lắk có hai hệ thống nghi lễ - lễ hội cơ bản. Đó là: Nghi lễ - lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa (còn gọi là nghi lễ nông nghiệp). Trong hai hệ thống nghi lễ - lễ hội này dù được tổ chức lớn (mang tính hội, có sự tham gia của cả cộng đồng) hay tổ chức nhỏ (chỉ mang tính lễ, thu hẹp trong phạm vi gia đình) thì lễ vật chủ yếu dùng để cúng thần linh, tổ tiên, ông bà là con gà, ché rượu.
- Trong nghi lễ vòng đời người: Khi người vợ trở dạ chuẩn bị sinh con, người chồng làm lễ cúng thần linh, tổ tiên, ông bà bằng một ché rượu nhỏ, một con gà trống choai để cầu cho người vợ sinh đẻ được thuận lợi "mẹ tròn, con vuông". Sau khi đứa bé sinh ra được bảy ngày, người chồng mời ông trưởng họ, hoặc ông cậu (dăm dei) đến làm lễ đặt tên, thổi tai cho đứa bé. Lễ vật là ba ché rượu nhỏ, ba con gà trống choai. Khi đứa bé được ba tháng tuổi, cha của đứa bé làm lễ cúng sức khỏe cho hai mẹ con và cúng trả ơn cho bà đỡ, với lễ vật gồm hai con gà trống choai và ba ché rượu nhỏ. Khi đứa bé tròn một mùa rẫy (một tuổi), cha mẹ đứa bé làm lễ cúng sức khỏe cho con bằng một con gà trống choai, một con heo nhỏ, ba ché rượu, để cầu mong đứa bé khỏe mạnh, không bị thần ác quấy rầy, ăn khỏe, chóng lớn dễ nuôi. Khi đứa bé tròn bảy mùa rẫy (bảy tuổi), cha mẹ làm lễ cúng sức khỏe cho đứa bé. Lễ vật là một con heo nhỏ để cúng thần linh, và tổ tiên ông bà, một con gà trống choai dùng cúng thần bảo hộ cho đứa bé. Trong lễ này (nếu là con trai) người cha dạy cho con biết gia phả của dòng họ và biết dùng cái dao, cái nỏ; còn đứa bé là con gái thì người mẹ dạy cho con biết dệt vải, nấu ăn. Khi đứa bé tròn 17 mùa rẫy (17 tuổi), thì gia đình làm lễ trưởng thành cho con trai mình (theo phong tục của đồng bào Êđê, M'nông, lễ này chỉ giành riêng cho con trai, còn con gái lớn lên kế tục truyền thống mẫu hệ, nên không có lễ này). Lễ này được làm trong ba ngày liền với quy mô lớn, mang đậm tính hội. Riêng gia chủ phải chuẩn bị trước ba năm. Cụ thể, gia chủ phải nuôi một con heo thiến dài 7 gang tay người lớn (tính từ cổ cho đến cuối mông heo), gạo tẻ 100 gùi, gạo nếp 30 gùi, ủ 50 ché rượu lớn, ngoài ra phải có bảy con heo nhỏ, và 7 con gà trống thiến để cúng thần linh và tổ tiên ông bà. Trong lễ hỏi, lễ cưới và lễ rước rể, các nghi thức cúng thần linh đều có một con gà trống thiến, một ché rượu nhỏ. Trong lễ bỏ mả cho người quá cố, bên cạnh dùng lễ vật heo bò cúng thần thần linh, gia chủ còn cúng cho người quá cố một con gà trống (còn sống) và buộc một gà mái nhỏ (còn sống) ngay tại nhà mồ (với ý nghĩa cho người quá cố mang về thế giới bên kia nuôi). Đặc biệt, hàng năm đồng bào Êđê, M'nông thường làm lễ cúng sức khỏe cho người nhà và khách quý, lễ vật vẫn là con gà, ché rượu.
Nghi lễ - lễ hội nông nghiệp: Trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nương rẫy của đồng bào Êđê, M'nông thường diễn ra hàng năm, có thể kể đến các nghi lễ: Đi tìm đất, phát rẫy, đốt rẫy, cầu mưa, trỉa hạt, làm cỏ, vun gốc, cầu cây lúa ra nhiều bông, nhiều hạt, đến khi thu hoạch đưa lúa về kho, ăn cơm mới... Mọi gia đình đều thực hiện đầy đủ các nghi lễ theo phong tục của cộng đồng. Lễ vật duy nhất vẫn là con gà ché rượu. Thí dụ, trong lễ cúng nồi cơm và bầu đựng gạo, thầy cúng khấn: "Ơ Yang bên Đông! Ơ Yang bên Tây! Yang rẫy, Yang lúa! Nay gia chủ cúng cho các Yang ba con gà, ba ché rượu, mời các yang về hưởng! Cầu mong các Yang phù hộ cho gia chủ gạo trong bầu không bao giờ lưng, cơm trong nồi không bao giờ cạn. Người trong nhà ăn không bao giờ vơi, dân làng vay mượn không giờ hết. Ơ Yang".
Bên cạnh các nghi lễ trên, còn có lễ cúng bến nước, lễ cúng vào nhà mới, lễ cúng cổng buôn, lễ cúng hòn đá bếp, lễ kết nghĩa anh em, lễ đón khách v.v... lễ vật chủ yếu vẫn là con gà, ché rượu.
Nhìn chung, lễ vật chủ yếu để dâng cúng thần linh, tổ tiên ông bà của đồng bào Êđê, M'nông trong các nghi lễ - lễ hội là con gà, ché rượu. Lễ vật ấy chính là thành quả lao động sản xuất nương rẫy trong một năm. Nó là lễ vật không thể thiếu được để con người giao tiếp với các vị thần linh trong trời đất, hòa mình với núi rừng thiên nhiên, với khát vọng vươn tới một cuộc sống bình yên, no đủ. Đêm ba mươi Tết, giờ giao thừa đã điểm, nghe con gà trống gáy vang, mừng năm mới đến, chúng ta cầu mong cho các gia đình đồng bào Êđê, M'nông và các dân tộc Việt Nam: Gà đầy sân, heo đầy chuồng, trâu bò đầy bãi, bắp lúa đầy kho, mọi nhà no đủ, hạnh phúc...


















Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

ĐI TÌM NGUYÊN MẪU SÁNG TÁC THEO CHỦ ĐỀ “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH” tác giả HỒNG CHIẾN




Sáng tác theo chủ đề, hay ta thường gọi nôm na “theo đơn đặt hàng” là vấn đề rất khó đối với văn nghệ sĩ khi mà trong đa số họ thường lấy cảm xúc làm nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Nhưng trong cuộc sống nhiều lúc, nhiều khi và nhiều nơi các tác phẩm Văn nghệ bắt buộc phải gắn liền với thực tế cuộc sống và phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ cuộc sống; phục vụ mục tiêu cao cả của con người nhằm vươn tới mục tiêu cần đạt đến của các tác phẩm nghệ thuật: định hướng CHÂN - THIỆN - MỸ; góp phần quan trọng định hướng cách nhìn nhận, đánh giá cái đẹp, về chuẩn mực đạo đức đối với xã hội; góp phần quyết định đến sự hưng vong của cả một dân tộc. Tác phẩm Văn nghệ có giá trị bởi nó đi vào lòng người và có sức thuyết phục con người hơn bất cứ một loại công cụ tuyên truyền nào khác, không gì có thể thay thế được. Chúng ta khẳng định điều đó để thấy được vai trò, trách nhiệm của văn nghệ sĩ đối với xã hội và công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo.
Trong công cuộc xây dựng đất nước từ sau đại thắng Mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước và đặc biệt từ sau công cuộc đổi mới mà Đảng ta đề xướng, lãnh đạo; đất nước ta đã gặt hái được những thành công rực rỡ về kinh tế và nâng tầm ảnh hưởng lên khu vực cũng như khẳng định vị thế của mình trên thế giới. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu về kinh tế, đối ngoại thì ngay trong lòng xã hội cũng nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực đáng báo động như: con đánh cha, vợ giết chồng, tội phạm kinh tế và hình sự tăng cao; con người ứng xử với con người hình như đã mất đi nét văn hoá dân tộc vẫn trường tồn theo thời gian hàng ngàn năm qua. Tại sao vậy? Phải chăng chúng ta đã xem nhẹ việc bảo tồn giá trị Văn hoá dân tộc, quan tâm chưa đúng mức đến VĂN HOÁ VĂN NGHỆ, dẫn đến văn hoá ngoại lai bành trướng, lấn át thuần phong mỹ tục Việt Nam. Một bộ phận không nhỏ thanh  niên và cả những người nhiều tuổi cũng chạy theo ham muốn làm giàu bằng mọi cách nhanh nhất có thể để thoả mãn tham vọng của mình, bất chấp tất cả; đó chính là nguyên nhân dẫn đến những suy thoái về đạo đức, lối sống mà chúng ta - những người văn nghệ sĩ cũng có một phần trách nhiệm trước các hiện tượng tiêu cực này vì chúng ta chưa dũng cảm đối đầu với tiêu cực, đã phá cái xấu, thứ văn hoá nọc độc của chủ nghĩa cá nhân phương Tây; để qua đó khẳng định cái đẹp, cái tốt của bản chất con người Việt Nam. Văn nghệ sĩ chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật, và tìm biện pháp khắc phục thông qua các tác phẩm của mình, góp sức cùng Đảng và Nhà nước làm trong sạch xã hội; vận động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện được di chúc của Bác: Xây dựng nước nhà đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!
Trách nhiệm của chúng ta, và đó cũng là nghĩa vụ của những người văn nghệ sĩ đứng trước yêu cầu cấp bách của xã hội đang đặt ra cũng như hành động thiết thực hưởng ứng việc thực hiện Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương đảng khoá XI; nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, mang lại niềm tin yêu cho đại đa số nhân dân nước nhà cũng như bạn bè quốc tế, bằng chính các tác phẩm của mình. Phát hiện những nhân tố mới, tích cực nhằm tuyên dương, động viên, khuyến khích cho nhiều người làm theo, đó là cách chúng ta góp phần đẩy lùi tiêu cực, làm xã hội ta trong sáng hơn, và cũng là góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước.
Đa số cán bộ, đảng viên nhìn chung là tốt, và chắc chắn trong số đó có rất nhiều tấm gương điển hình về đạo đức, lối sống, tài năng... có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Chính những người con ưu tú ấy của đảng và nhân dân thường lại có cuộc sống rất bình lặng, không ồn ào, khoa trương nhưng dấu ấn để lại cho một phong trào, một vùng đất... có tầm ảnh hưởng rất lớn mà nhiều người chưa được biết đến; bản thân những con người đó chỉ xem việc làm của mình là bình thường, là đương nhiên của những người đảm đương trách nhiệm trên cương vị trí ấy; đây chính là mảnh đất trù phú để anh chị em văn nghệ sĩ - những người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng, tìm hiểu khai phá và gặt hái những tác phẩm xứng tầm với thời đại.
Có thể xem đợt phát động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lần này là một thử thách tay ngề đối với anh chị em văn nghệ sĩ khi đi sâu xâm nhập cuộc sống xã hội, bằng trực quan cũng như giác quan nhạy bén của mình, phát hiện cho được những tấm gương điển hình tiến tiến thông qua từng công việc cụ thể, những thành tích mà một người cụ thể, hoặc cả tập thể đã đạt được và con người ấy, tập thể ấy bằng công việc đã làm, có tầm ảnh hưởng lớn đến một phong trào, một vùng miền, hay trực tiếp đến công việc cụ thể, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước ta trong tình hình hiện nay, cần phải được mọi người biết đến và nhân rộng ra, được thẩm định qua lăng kính “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. 
Trong một lần đi thực tế sáng tác tại Công ty Cơ giới 4, nay đổi tên  CÔNG TY CƠ GIỚI ĐỒNG TÂM, tôi và nhà thơ Văn Thảnh được ban lãnh đạo mời đi thực tế tại một số công trình Công ty đã và đang thi công, chúng tôi gặp gỡ, trao đổi với công nhân, cán bộ trong công ty và cả nhân dân những nơi công ty đã thi công; sau hơn chục ngày lăn lộn khắp nơi, ghi chép, ghi âm đầy sổ sách nhưng vẫn chưa xác định được mình sẽ viết cái gì; khi trở về công ty, tôi đề nghị lãnh đạo thu xếp cho gặp vị Giám đốc đầu tiên của Công ty cơ giới 4, người mà trong chuyến đi công tác của tôi, cán bộ, công nhân viên cả công ty khi nhắc đến với một thái độ hết sức kính trọng. Thời gian dự tính sẽ chỉ gặp, trao đổi chừng một tiếng, nhưng không ngờ câu chuyện của vị cựu Giám đốc kéo dài hết cả buổi sáng đến tận quá trưa. Khi ra xe, tôi nói ngay với nhà thơ Văn Thảnh: Tôi có đề tài rồi! Buổi chiều tôi tìm gặp những người từng công tác với cựu Giám đốc và khẳng định các tài liệu ông cung cấp cũng như các sự kiện nghe là chính xác, tôi ngồi viết ngay trong vòng một đêm xong tác phẩm “CHUYỆN CỦA MỘT GIÁM ĐỐC VỀ HƯU”.
Xin nói thật, khi tìm được nhân vật mình ưng ý, khâm phục thì viết SƯỚNG LẮM! Ngôn từ ùn ùn đổ ra trên trang giấy và khi đọc lại cũng phải thấy giật mình: Sao mình viết nhanh đến thế.
Hay một lần dẫn anh em đi thực tế biên giới huyện Ea Suop, gần chục ngày tôi mới tìm đựoc “tứ” cho bài viết của mình về tập thể cán bộ đồn Biên phòng Ya Tmốt với phong trào vận động quần chúng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, phát triển kinh tế gắn liền với công tác bảo vệ phòng tuyến biên giới. Đi cùng các cán bộ chiến sĩ, quan sát họ làm, lắng nghe họ nói và ghi nhận cả những ánh mắt, lời nói, thái độ của từng người dân khi giao tiếp với các chiến sĩ Biên phòng để đưa ra những nhận xét, đúc kết trước khi thẩm định lại bằng cách trao đổi với lãnh đạo xã và bài bút ký dần dần định hình trong trái tim người viết. Khi mọi chi tiết, sự kiện đã đầy đủ, tôi ngồi và viết trong một đêm là xong bài “CHUYỆN GHI Ở MỘT VÙNG BIÊN”.
 Theo tôi cái quan trọng của người Nghệ sĩ là phải biết quan sát, nghe, trao đổi, ghi chép và ngẫm nghĩ để tìm ra câu trả lời cho những vần đề mình vừa quan sát, ghi nhận được; từ đó tác giả phải cân nhắc, đánh giá, nhận xét tất cả các chi tiết, sự kiện ấy với tiêu chí cuộc vận động xem đã đạt chưa! Khi thấy đã đạt rồi thì bắt tay vào sáng tác và niềm say mê sẽ cuốn ta đi theo tình tiết diễn ra chứ không phải ta sáng tạo ra nó nữa.
Một vài kinh nghiệm sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của bản thân chắc chắn là không được sinh động lắm, nhưng cho phép tôi được trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp để chúng ta cùng nhau rút kinh nghiệm để có những tác phẩm mới suất sắc hưởng ứng cuộc vận động sáng tác lần này.


Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

PHẠM DOANH – MỘT DẤU CHÂN SÂU ĐẬM TRÊN SƯỜN ĐỒI VĂN HỌC ĐẮK LẮK tác giả PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017,


 Nhà thơ PHẠM DOANH




Trên đời, có người gặp hàng ngày mà vẫn quên, có người chỉ gặp một thoáng chốc mà lại nhớ lâu khó quên. Ấy là trường hợp đối với nhà thơ Phạm Doanh. Khi gặp bao giờ cũng vậy, câu cửa miệng của ông là: Xin chào người, người có khỏe không… Không biết với người khác thế nào, chứ với riêng tôi, ông vồn vã, ân cần khiến tôi nhiều lúc phân vân, khó nghĩ. Vì ông là nhà thơ lớp trước, gặt hái được nhiều thành công trong công việc sáng tạo, là người có thơ in trên báo VĂN NGHỆ từ thủa xa lắm, đâu những năm 70 của thế kỷ trước thì phải. Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam từng đạt giải thưởng Văn học về đề tài công nhân (1972-1975) do Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức với tập thơ: Xứ đầu tiên; giải thưởng Văn nghệ Hạ Long năm 1983; giải thưởng VHNT của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các  hội VHNT Việt Nam năm 1997 với tập thơ: Ấy là tôi
Thi thoảng có gặp, vẫn thấy ông đầu tóc xanh đen mượt loáng, áo quần phẳng phiu là ủi cẩn thận, giầy đen bóng đàng hoàng lắm. Đôi mắt sâu đen lấp sau cặp lông mày đậm với khuôn mặt đầy đặn. Chưa thấy ông đeo kính bao giờ, chứng tỏ đôi mắt của ông còn tinh lắm, nhìn đời, nhìn người còn nhanh nhạy, vi tế lắm. Nhưng không hiểu sao, tôi nhìn ông vẫn toát lên cái vẻ khỉnh khỉnh thế nào ấy, dù ông rất hoạt ngôn khi nói chuyện. Điều này mong ông bỏ qua cho. Chính cái vẻ khỉnh khỉnh ấy mà tôi không quên ông được. Và rồi, tôi biết ông sinh ngày 19.12.1942, tại làng Hoàng Pha ở ngoại ô thành phố cảng Hải Phòng. Thật không ngờ ông lên 7 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tuổi thơ ông thật bất hạnh, nhưng được cái may mắn sống với ông nội là người giỏi chữ nho, nên ông được thừa hưởng không ít những kiến văn do ông nội truyền dạy và bảo ban. Thời gian ở với ông nội là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong nghiệp văn sau này của ông. Đời lấy mất dòng sữa ngọt ngào, sự âu yếm dịu dàng của mẹ, và những lời ru nồng nàn bên cánh võng của bà cùng sự cứng cỏi của cha nhưng lại đắp bù cho ông những trải nghiệm cuộc đời từ rất sớm. Chính sự quăng quật của đời đã góp tạo một nhà thơ Phạm Doanh sau này. Tuổi thơ ông thật khốn khổ, buồn đau, chắc chưa khi nào ông có một đêm trăng rằm đúng nghĩa, lên 10 tuổi phải ở một mình, tự kiếm sống bằng nghề đánh giậm. Cái khốn đốn của người này nhiều khi lại là cái may mắn của người kia. Sự khắc nghiệt của số phận nhiều khi là cơ may để vươn lên, để tỏa sáng. Nếu từ năm 16 tuổi mà ông không ra mỏ than Hòn Gai làm thuê thì chắc chắn rằng không được nhà thơ Chế Lan Viên hạ một câu danh giá cho cả đời thơ của ông: Đây đích thực là lục bát công nghiệp. Giữa thực tế đời sống và sáng tác có một sợi dây xâu chuỗi mật thiết với nhau. Đọc các sáng tác ta dễ dàng nhận ra cái quan điểm nghệ thuật của người sinh ra nó. Nhiều khi điều đó hiện diện trong từng hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu một cách vô cùng hồn nhiên, cứ như từ đâu đó mách bảo ta làm như thế này chứ không phải làm thế kia. Ấy là giá trị của thực tiễn đã được tác giả thể hiện trong sáng tác của mình. Điều này cắt nghĩa sự thành công ngay từ đầu của Phạm Doanh trong bài thơ: Đi trong lò giếng mà nhà thơ Chế Lan Viên đánh giá rất cao.
Thời gian đắm mình vào các công trường than, giếng mỏ, xây dựng nhà máy, cầu đường… đã đem lại cho ông nhiều gặt hái thành công trong sáng tác. Hầu hết các bài thơ trong thời kỳ này, ngót nghét cũng gần ba chục năm (1959-1987), đều có hơi thơ, giọng thơ khỏe khoắn, yêu đời, say sưa đến lạ lùng, do đó các bài thơ của ông đều mở đầu vô cùng tự nhiên, thoải mái, không gợn chút gì là gượng ép. Người đọc có cảm giác đặt bút xuống là ông viết ra được ngay, không đắn đo, nghĩ suy gì cả. Ngôn ngữ, hình ảnh cứ ngồn ngộn, tươi rói như vừa bứng từ đời sống vào. Trong bài: Đi trong lò giếng ông viết: Trong lò giếng chúng tôi đi/ Đất và đá –chẳng có gì khác đâu/ Mây không bay ở trên đầu/ Cỏ không êm dịu sắc màu dưới chân/ Một chiều gió thổi quanh năm/ Đèn lò tỏa nắng, chẳng phân đêm ngày. Rõ ràng ông chỉ kể thôi, kể vật, kể việc, xen miêu tả với đôi chút nhận xét, thế mà thành thơ. Nếu người khác cũng bắt chước cách này, tôi tin chắc một trăm phần trăm sẽ không tạo ra được không khí thơ tự nhiên như ông đã viết. Và trong bài thơ: Khói nhà máy của tôi cũng vậy: Thở ấm cả vòm trời/ hơi thở của những người lao động:/ khói nhà máy của tôi. Nhiều khi có người nhận xét rằng: làm thơ như thế thì dễ quá có gì đâu? Vâng, có gì đâu? Có gì đâu là với Phạm Doanh chứ với người khác thì đâu có gì đáng nói. Lấp ló ở đằng sau cái tự nhiên ấy là cả một quá trình trộn lẫn với đất đá của đời ông. Ông mà không có đoạn: Rời tuổi thơ trên lưng mẹ cõi còm/ Ấy là tôi rụng xuống nơi bùn đất/ Lẫn với tàu rau, con cua, hạt bắp/ Câu chửi thề ngầu đục xóm ca dao thì làm sao có được một chiều gió thổi quanh năm mãi mãi xôn xao trong lòng người đọc, làm sao có được hơi thở ấm cả vòm trời đầy  ấn tượng như thế. Thực sự ông đã vút lên từ bùn đất, từ nơi ngầu đục. Từ thực tế ngổn ngang sự việc, thô ráp để đưa vào thơ cả một quãng dài của sự suy ngẫm kết hợp nhuần nhuyễn với độ rung của cảm xúc. Cái tài, cái nhạy cảm của nhà thơ là ở chỗ: giữa bộn bề, ắp đầy, ngồn ngộn của cuộc sống phải chọn cho được một hình ảnh, một chi tiết tiêu biểu, đắc địa sao cho câu thơ được viết lên bắt nó phải lấp lánh sáng, che hết u ám của đời chỉ còn đọng lại cái phập phồng tươi rói của nhịp đập sự sống mà thôi. Với Phạm Doanh, ông đã phần nào làm được điều đó. Ông nhìn sự vật, sự việc với cái nhìn háo hức của trẻ thơ nên câu thơ đọc lên lúc nào cũng thấy mới mẻ: Sáng nay trên công trường vang động/ mặt bằng thi công rung lên như mặt trống rồi Cần trục tháp quay tròn dấu hỏi/…in dấu hỏi lên nền trời vắng khói. (Một dấu hỏi). Mỗi câu thơ ông viết đều âm thầm mang cái rạo rực, cái đắm say của tình yêu cuộc sống, của tấm lòng khát khao đem đến cho đời những điều tốt đẹp hơn. Đó là tấm lòng của những người công nhân, những người kỹ sư thâu đêm nghĩ suy về một câu hỏi rất đơn giản mà khó vô cùng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi về thăm cảng Hải Phòng: Có cách gì nhanh hơn nữa không? Hoàn cảnh đất nước ta thời ấy là thế, mọi người như một, chỉ biết một hướng về Nam mà thôi, chỉ biết một lý tưởng, một ý nguyện duy nhất là thống nhất đất nước. Hình ảnh: Anh kỹ sư thâu đêm trằn trọc/ Sáng dậy nhìn vào đôi mắt đen (Một dấu hỏi) đến bây giờ đọc lại còn nguyên sự dâng trào của cảm động. Những bài thơ ông viết trong thời gian này đã đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu của cuộc sống. Trong thơ đã xuất hiện nguyên xi những khái niệm, danh từ của ngành nghề ông đang làm việc như: lò giếng, bê tông phần chìm, vữa, xe ben, động cơ, phay, túi nước, công trình… chính điều này đem lại trong thơ ông sự sinh động, đầy sức sống. Đặc biệt, khiếu quan sát của ông rất tinh: Mây không bay ở trên đầu; đèn lò tỏa nắng… và có những liên tưởng đầy thú vị: Một chiều gió thổi quanh năm; Những tầng trầm tích ngưng đầy thời gian… Có điều, ở nhiều bài thơ ông bẻ quặt, gò nó vào lấy được để kết bài với một câu khẩu hiệu theo công thức khô cứng, khiến bài thơ bỗng nhẹ tênh đi nhiều lắm, ví như trong bài Khi xe ủi trở về thành phố ông viết: Cho đất nước vào mùa xây dựng lớn/ Sóng biển đã cuốn đi tên xâm lược cuối cùng! Hay trong bài: Tuổi thọ công trình có câu: và anh sẽ hiểu hơn khi chúng tôi cầm súng/ vì phẩm chất của người xây dựng!... Âu cũng là đương nhiên. Cái cảm quan nghệ thuật của người nghệ sỹ nhiều khi không thể nào vượt thoát được hoàn cảnh. Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể có nhiều ràng buộc, nhiều khi chủ thể cứ thế mà tuân theo. Nói vậy không phải không có những trường hợp ngoại lệ.    
Con đường thơ của Phạm Doanh trong gian đoạn từ năm 1959 đến năm 1987 nói chung đều đi theo một hướng: lấy cuộc sống làm chuẩn, VHNT tuyệt đối phục vụ chính trị, phản ánh chân thật, hùng hồn do đó mà các bài thơ của ông khi ra đời đều có nhiều đối tượng người đọc. Chính vì thế, ngay từ tập thơ đầu tiên của ông: Xứ đầu tiên đã gặt hái được thành công mỹ mãn đó là Giải thưởng văn học về đề tài công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Những tưởng ông đằm sâu vào con người và đất cảng Hải Phòng hơn nữa; tưởng ông hì  hụi với xe ben, cần cẩu, cặm cụi với lò giếng, đổ bê tông đắm đuối với vị mặn của nước biển quê nhà mãi mãi. Nào ngờ, năm 1987, ông bị vị cay nồng của quả tiêu chín đầu mùa cuốn hút, bị vị đắng của cà phê đất đỏ mê dụ. Thế là, Đắk Lắk trở thành quê thứ thiệt của ông. Một vùng không gian rộng lớn đầy bí hiểm và kỳ vĩ đang đợi chờ ông. Những vùng đất, con người chưa kịp khai phá ấy đã kịp thời in dấu vào thơ ông: Ban mai ngàn xanh mênh mang/ Tiếng chim Protok bay về buôn sang/ Em gái Êđê đèo gùi lên rẫy (Nhớ lắm Đắk Lắk ơi). Rõ ràng, không khí thơ, giọng thơ đã mang sự rộng thoáng, hơi hướng của một vùng đất hứa hẹn nhiều điều lạ lẫm, mới mẻ. Ông diễn tả nét đẹp mơ hồ, vấn vít, với cái nhìn tinh mà đắm say: Hoàng hôn vào đêm mông lung/ Tiếng chiêng mời khách ngân dài không trung/ Men say rượu cần ngọt vào khói thuốc/ Muốn lên sàn quá mà chân ngập ngừng. Nếu chọn những câu thơ hay nhất về đất và người Tây Nguyên hẳn không thể thiếu những câu thơ đã dẫn ở trên. Người đọc cứ tưởng chỉ người bản địa mới thấu cảm được như thế. Thì ra, để chớp được nét đẹp văn hóa, tập tục của bất cứ một vùng đất nào, trước hết trong hơi thở, trong dòng máu đang chảy của người nghệ sỹ phải ít ra gội được sương, tắm được gió, bén được mùi thung thổ ở đó thật sâu, thật đậm thì nó mới chuyển hóa nhanh chóng không khiên cưỡng trong cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm. Có thể nói, Phạm Doanh hòa vào cảnh vật, con người Tây Nguyên thật khéo léo:…về phía mặt trời/có dãy Chư Yang Sin hùng vĩ/ có dòng Krông Ana biếc xanh/ có những bông quỳ nở vàng hoang dại/ có con bé gái địu em buôn nghèo (Một ngày của nhạc sỹ Văn Tấn). Chỉ bằng vài nét của nghệ thuật chấm phá trong hội họa mà ông đã dựng được bức tranh đủ sắc màu, có kích cỡ của một lát cắt ở miền đất Tây Nguyên. Nếu trong đoạn thơ trên ông đừng vội vàng đặt từ con  trong câu cuối thì có phải quá hay không? Câu thơ sẽ vừa đạt được tính tư tưởng sâu sắc vừa đạt được tính mỹ cảm cao. Thật đáng tiếc. Và đây, một buổi sáng rất tinh khôi: Sáng nay lá đỏ vùng trời/ Chim gõ kiến báo ngày trong trẻo lắm (Một ngày không chiến tranh). Người đọc cứ ám ảnh hoài mãi với tiếng chim gõ kiến và sắc đỏ của màu lá rừng. Âm thanh của tiếng chim gõ kiến chồng lên màu sắc đỏ của lá rừng gợi chút gì đấy vừa bâng khuâng vừa lưu luyến vừa bồn chồn cứ vương, cứ vương theo mãi trong không gian. Chỉ những ai sống ở Tây Nguyên mới nhận cảm hết được sự khắc nghiệt của mùa khô và mức độ khát khao về nước của đất và người ở đây: Mùa khô gió héo mặt vườn/ Vẫn một mình em quay từng gầu nước tưới (Nhớ em mùa hoa nở). Câu thơ chưa có sự phát hiện mới lạ nhưng đọng lại trong lòng người là hình ảnh em gái nhẫn lại chống lại sự ghê gớm của thiên nhiên.
Thời gian trôi cứ trôi. Lòng người ngổn ngang bao nỗi suy tư. Cuộc sống xô bồ, bụi bặm, sáng trong, tinh khiết, ôm đồm, tất cả cứ trộn lẫn vào nhau. Phạm  Doanh dù là nhà thơ cũng cứ tuân theo quy luật cuộc sống. Tham, sân, si dù muốn hay không cũng cứ hiện diện trong ông. Tháng năm càng chất chồng càng nghĩ suy. Sự ồn ào,vồ vập, háo hức dần thế chỗ cho suy ngẫm sự đời. Ông ngồi mà nhớ về thời xa xôi: Cái thời ấy sao mà kỳ lạ thế/ chẳng ai lo thất nghiệp/ chẳng ai thích làm giầu/ chỉ lo phải xa rời tập thể/ chỉ thích nhường cơm sẻ áo cho nhau (Nói với con). Có lẽ, đây là những câu thơ hay nhất để khái quát về cuộc sống, con người  thời mà đất nước chưa hiện diện khuôn mặt của nền kinh tế thị trường. Ta cảm thông cho nỗi đau quặn thắt mà ông đã trải qua:…các con sẽ về đâu?/ Cha cứ ngẩn ngơ ngóng rừng dõi biển/ Chẳng có bạc tiền cho các con vốn liếng/ Thủ đoạn làm giầu, nghệ thuật sống cũng không. Ông đau đớn nhận ra: Gia sản chắt chiu mấy chục năm ròng/ Chỉ có đức hy sinh và lòng nhân ái/ Các con biết làm gì ở thời hiện đại/ Với trái tim đa cảm của cha mình. Cái tâm trạng ấy, cái ngẩn ngơ ấy không chỉ riêng trong ông mới có mà nó hiện diện hầu hết ở cả thế hệ thời ấy. Ông là người đại diện nói lên bằng ngôn ngữ nghệ thuật mà thôi. Phải cám ơn ông nhiều lắm. Nhưng càng sống càng thấy cái gia sản của lòng nhân ái và đức hy sinh có lẽ là cái gia sản đích thực nhất và hiếm quý nhất, chắc chắn giá trị thực của nó bền sâu nhất. Thơ ông càng về sau chất suy tư càng đậm. Ông nhìn cái gì cũng đượm màu nghĩ suy: Tiếng hoẵng khàn đêm mưa gọi mẹ/ lặng ngắm bên sông dưới lùm hoa dẻ/ em ngồi soi bóng nước triều lên (Nhớ về  một dòng sông). Âm thanh của tiếng hoẵng đêm không ngừng gọi mẹ trong đêm mưa thưa vắng ấy, khua động tận từng tế bào kí ức của ông và của cả người đọc nữa.
Nay, ông đã dời gót chân tới tuối 75. Cái tuổi chỉ để ngồi uống trà và ngẫm nghĩ sự đời. Cái tuổi ngồi đánh cờ mà xem thế sự. Nhưng có lẽ trái tim ông không thể ngủ yên, bởi ông vẫn còn: Ơ này, ngọn gió hồi xuân/ cứ mơn man cứ xoay vần thịt da/ thì đây cái gốc me già/ cũng xin nứt vỏ biếc ra nụ chồi (Hạ cảm). Vâng, cái gốc me già Phạm Doanh lại nứt ra một Ấy là tôi nữa thì sao? Thời gian hãy chờ xem.



Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả HOÀI AN




ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ ĐẮK LẮK NĂM 2016


Năm 2016 đã trôi qua. Đời sống có bao việc thăng, trầm. Thế cuộc cũng lắm chuyện buồn, vui. Còn thơ Đắk Lắk chúng ta thì thăng, giáng, vui, buồn ra sao?   Chúng tôi xin điểm xuyết một vài điều (chủ yếu về cách thức thể hiện của các cây bút Hội viên) như là một sự gợi mở vấn đề để các bạn làm thơ, yêu thơ Đắk Lắk cùng suy ngẫm,trao đổi.
Nhìn lại năm 2016, bên cạnh các tập thơ được công bố như Tổ quốc là con đường bố con mình đang đi (Nguyễn Duy Xuân), Sang mùa (Hồ Hồng Lĩnh), Dấu chân thời gian (Đỗ Toàn Diện), Gửi nắng qua sông (Bích Xoan)… có thể nói: Tạp chí Chư Yang Sin là “thi đàn” tập hợp được đông đảo nhất các cây bút thơ trong tỉnh. Năm qua Tạp chí đã in gần 300 bài thơ, trong đó khoảng 50% của các tác giả trong tỉnh (gồm hội viên và chưa hội viên của Hội VHNT Đắk Lắk). Và vì vậy nhìn vào trang thơ của Tạp chí Chư Yang Sin ta có thể thấy được diện mạo thơ  tỉnh nhà. Điều dễ nhận: Chiếm đa số trên “thi đàn” Chư Yang Sin vẫn là những gương mặt cũ, đã xuất hiện từ nhiều năm trước, có người đã xuất hiện vài ba chục năm trước và đã khẳng định được tên tuổi của mình trên “thi đàn” tỉnh nhà, trong khu vực và phần nào đó là thi đàn cả nước, như Lê Vĩnh Tài, Đặng Bá Tiến, Vũ Dy, Lê Thành Văn, Bùi Minh Vũ, Tiến Thảo, Đỗ Toàn Diện… Những tác giả này ngoài sự xuất hiện đều đặn trên Tạp chí Chư Yang Sin còn có thơ đăng trên các tờ báo văn học lớn của cả nước như Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn), báo Văn nghệ (Hội Nhà văn), Tạp chí Văn nghệ quân đội, Sông Hương, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ Thái Nguyên, Non Nước, Sông Hàn… Một số tác giả khác như Nguyễn Duy Xuân, Hồ Hồng Lĩnh, Nguyễn Đức Khẩn, Lệ Hải, Đàm Lan, Bích Xoan… xuất hiện trên Tạp chí Chư Yang Sin và các báo, tạp chí văn nghệ khác ít hơn. Nhưng tất cả họ đã cùng góp phần “kẻ ít người nhiều” làm nên gương mặt thơ Đắk Lắk năm qua.
Điểm danh là vậy. Điều quan trọng là mỗi tác giả trên đã để lại được gì cho người đọc thơ, người yêu thơ về “thế thái nhân tình” , về những điều sâu thẳm của tâm hồn; về một lối viết mới, với những câu thơ, những bài thơ có ý tứ lạ, cách dùng từ, cách nói sáng tạo; hay chỉ là những bài thơ, những câu thơ tả cảnh tả cành, yêu đương tưởng tượng, cảm xúc nhạt nhòa, lối viết như người ta đã viết cách đây từ hơn nửa thế kỷ…?
Soi chiếu với những điều kể trên, ta thấy Lê Vĩnh Tài vẫn là người tiên phong trong đổi mới cách viết. Thơ Lê Vĩnh Tài tuôn chảy dào dạt theo mạch nghĩ, ngôn ngữ rất đời thường, cách ngắt câu, ngắt từ không theo một khuôn khổ nào, khó đọc và khó hiểu với những ai luôn luôn lấy thơ truyền thống làm chuẩn mực.Ngỡ như Lê Vĩnh Tài nói những chuyện xa vời. Nhưng ai hiểu được thơ anh sẽ thấy tràn ngập chuyện thế sự, chuyện đời,thấy anh luận giải, triết lý về những vụ việc rất cụ thể mới xảy ra trong cuộc sống. Anh gợi ra thật nhiều chuyện trong thơ, khiến ta phải suy ngẫm để khám phá và đồng hành cùng anh. Ví dụ trong một bài thơ gần đây về lịch sử anh viết:
lịch sử
khi về già hay kêu trong gió
trong tiếng hú có mùi tai vểnh, mũi ngửi, mắt mở to
cả tiếng chuông leng keng
của anh chàng bán cà-rem
cảnh báo sự tự mãn dẻo dai và lì lợm
nhưng số phận nó đã vắng mặt trong trái tim
của mọi người
Ở một khía cạnh nào đó ta có thể hiểu: Đấy chính là một sự cảnh báo, cảnh báo  về một sự “lão hóa” dẫn tới những “ngớ ngẩn”, cảnh báo với những ai cố ôm lấy địa vị một cách lì lợm, dù  trước mắt vẫn giữ được cái ghế, những thực ra đã không còn chỗ trong trái tim mọi người…
Vũ Dy, Bùi Minh Vũ, Hồ Hồng Lĩnh, Lệ Hải, Nguyễn Đức Khẩn là những tác giả đang tìm đến sự hiện đại trong cách viết để tránh lặp lại mình và lặp lại người. Cũng là thơ không vần, nhưng Vũ Dy khá mềm mại, từ ngữ chuẩn mực. Đây là một đoạn thơ của Vũ Dy trong bài Thơ nháp dưới chân tường rêu mốc:
ta còn gì trên thành phố này
ngày mưa và bè bạn
bầu trời khuya ủ nước
mưa đêm tưới phố
trên gót giày bao lần ngang qua
mái hiên cà phê mưa hắt
sắc nâu mắt em có lửa
nồng nàn như mắt bài thơ mất ngủ…
Những suy tư về bạn bè, về những kỷ niệm, cảm xúc, tâm trạng của người viết hiện lên rất rõ; đồng thời cũng thật gợi bởi “sắc nâu mắt em có lửa” và “nồng nàn như mắt bài thơ mất ngủ” .
Bùi Minh Vũ dùng từ bạo liệt hơn, lạ lùng hơn, tạo được chú ý, nhưng “khó đọc” hơn Vũ Dy và đôi lúc khiến người ta phải ngẫm nghĩ mãi mà không lần ra thông điệp của đoạn thơ, bài thơ là gì. Ví dụ trong bài Vũ điệu:
Thấy tôi
Một nàng gió
Lõa lồ
Một nàng trăng
Lõa thể
Một em đêm khỏa thân
Cắn nội tạng
Le chiếc lưỡi nồng hương
 ……….
Âm thanh bị đóng đinh trên vách đá
Với tôi, đọc Bùi Minh Vũ là để tìm cái lãng đãng, chập chờn, ngồ ngộ, kiểu như “ngóng tiếng à ơi của gió/ như âm điệu câu thơ ngắt dòng/ sóng gãy khúc/ và bước chân tôi đi theo con đường cong”.
Hồ Hồng Lĩnh, Nguyễn Đức Khẩn và Lệ Hải (gần đây) thì vẫn đang “tìm mình”. Thỉnh thoảng ta thấy trong thơ của ba tác giả này có những ý thơ là lạ, cách nói mới, khiến ta chú ý; nhưng phần còn lại, ở nhiều bài lại chưa thành công, hình như việc cố tìm cái mới, cái lạ của họ đã vượt ra ngoài nội lực vốn có của bản thân, nên bài thơ rơi vào lan man, không rõ tứ thơ, có những từ, những cách nói tối nghĩa.
Thơ Lê Thành Văn khá nhuần nhị trong cảm xúc. Anh vẫn trung thành với lối viết truyền thống, thơ có ý, tứ rõ ràng, diễn đạt có nghề, ít “sạn”. Ví dụ: Có phải em về trong giấc mơ anh đêm qua/ cho sáng nay mùa thu thành sự thật/ không gian thơm lên phấn hương da thịt/ mắt môi hồ nghi chưa dám tin mình (Thức giấc với mùa thu). Có lẽ Lê Thành Văn hiểu tạng thơ của mình là vậy, nên anh đã  không cố đi tìm những cái khác mình. Dù sao thì bạn đọc vẫn đang chờ Lê Thành Văn đột phá hơn, chữ nghĩa tung tẩy hơn, say đắm hơn, bởi anh là một cây bút có nội lực.
Tiến Thảo, Đỗ Toàn Diện, Nguyễn Duy Xuân, Đàm Lan, Bích Xoan cũng là những cây bút sáng tác chủ yếu bằng các thể thơ truyền thống, dễ đọc, dễ hiểu. Nhưng đọc thơ của các cây bút này có cảm giác như gặp người láng giềng quen thuộc đã bao năm tháng, nên mỗi khi gặp chỉ gật đầu cũng đã hiểu nhau. Trong số các tác giả trên, thơ Nguyễn Duy Xuân giàu tính thế sự hơn, thể hiện rõ trách nhiệm công dân, cách viết mộc mạc, ý tứ phần nhiều nổi trên bề mặt câu chữ; đấy là ưu điểm, nhưng đồng thời cũng là nhược điểm. Giá như anh say hơn trong cảm xúc, sâu lắng hơn trong chiêm nghiệm và sương khói hơn trong sử dụng từ ngữ thì người đọc thơ anh hẳn sẽ thích thú hơn.
Đặng Bá Tiến sau thành công của trường ca Rừng cổ tích (2012) đến nay vẫn là cây bút chủ lực trên thi đàn tỉnh nhà và có nhiều thơ in trên Tạp chí Thơ, Văn nghệ, Sông Hương… Thơ anh đề cập tới nhiều vấn đề của phận người, của đời sống xã hội, từ việc phá rừng ở Tây Nguyên đến việc ô nhiễm biển ở miền Trung, từ tình yêu đến những mối quan hệ khác trong cuộc sống. Vẫn dựa trên lối viết truyền thống nhưng anh biết làm mới cho thơ mình bằng cách nói, cách dùng từ sáng tạo hơn. Ví dụ: Ta lau trắng bây giờ ngồi nhẩm tuổi/ lần hạt thời gian bỏ mốc bao ngày (Viết cho mình) hoặc: Héo cả tiếng chim chiều chạng vạng/ khô cả mầm trăng đầu tháng/ Chỉ riêng nụ cười người lính là tươi! (Bo Heng).
Đáng tiếc là trong năm qua nhiều cây bút đã thành danh, hoặc trước đây đã được nhiều bạn đọc nhớ tên như Phạm Doanh, Văn Thảnh, Đinh Hữu Trường, Trần Văn Hội… vì những lý do khác nhau đã không xuất hiện hoặc ít xuất hiện trên Chư Yang Sin. Nếu có thêm các cây bút này thơ Chư Yang Sin hẳn sẽ thêm nhiều tiếng hót vui và lạ hơn.

Nhìn lại mùa thơ năm 2016 của Hội viên chúng ta trên Tạp chí Chư Yang Sin có thể nói: Dù chưa có những chùm quả lạ với màu sắc hương vị thực sự nổi bật để làm người thưởng thức phải xuýt xoa, nhưng nhìn chung chúng ta đã có một mùa quả thơm, lành, đủ để làm chúng ta vui và cho ta hy vọng vào mùa quả mới.

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN




NHÌN LẠI MỘT NĂM TRUYỆN NGẮN TRÊN TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN
NHỮNG DÒNG CHẢY MIỆT MÀI


Mỗi tháng một số, đều đặn, Chư Yang Sin đã đi qua một năm nhiều trăn trở. Bức tranh xã hội đã đổ bóng lên trang viết của Tạp chí, làm nên sắc diện độc đáo cho một tờ báo văn nghệ của cao nguyên. Nhìn ở tất cả các thể loại, Chư Yang Sin đã là nơi tập hợp tiếng nói của mọi chuyên ngành, tạo nên một bản hoà tấu khó lẫn vào giữa “rừng” báo, tạp chí hiện nay. Một người bạn ở xa nói với tôi: “Chư Yang Sin là một trong số ít ỏi các tạp chí văn nghệ dám đăng những sáng tác đột phá, thậm chí những sáng tác mang tính tìm tòi, thể nghiệm. Trong đó, thơ và truyện ngắn là hai mảng nội dung hấp dẫn nhất!”.
Riêng thể loại truyện ngắn, một năm qua, đã tạo được một dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc, để giờ đây, sau một năm nhìn lại, người biên tập thấy cần nói thêm một lời tri ân đối với người viết, với các tác giả đã miệt mài câu chữ trong một năm qua.
6 truyện ngắn cho một số báo, một năm chừng hơn 60 truyện đều đặn xuất hiện trên Chư Yang Sin, trong đó đa phần đều có “xuất xứ” trong tỉnh, nếu không nhờ một lực lượng cầm bút trẻ khoẻ, dồi dào, thì khó mà hoàn thành được. Với tôn chỉ ưu tiên cho người viết tại địa phương, năm qua, hầu như ít có tác giả ngoại tỉnh nào trừ một vài tên tuổi đã trở nên quen thuộc: Trọng Hùng (Nghệ An), Phạm Thuý Quỳnh (Hoà Bình). Một già một trẻ, đã góp phần làm cho Tạp chí trở nên đa thanh đa giọng.
Như một cánh rừng đi qua thăng trầm của thời gian, những cổ thụ mệt mỏi nghỉ ngơi trong tĩnh lặng suy tư, thì những chồi non vươn lên hít lấy khí trời, và khẳng định vị trí của mình. Năm qua, những “cây cổ thụ” văn xuôi trong tỉnh hầu như im bóng, không xuất hiện ở thể loại truyện ngắn. Có lẽ, họ đang ấp ủ thai nghén cho những tác phẩm đồ sộ, dài hơi chăng? Hi vọng thế. Văn chương, vốn có những dòng chảy âm thầm.
Xuất hiện đều đặn ở lứa tuổi đàn anh, đàn chị vẫn là những tên tuổi đã trở nên quen thuộc cho thể loại truyện thiếu nhi, truyện cho lứa tuổi mới lớn, Hồng Chiến, Nguyên Hương. Nếu tác giả Nguyên Hương vẫn rất duyên dáng và khéo léo lấy trọn tình cảm độc giả qua nghệ thuật dẫn dắt truyện và tạo tình huống độc đáo thì Hồng Chiến vẫn trung thành với đề tài dân tộc thiểu số. Đọc truyện của anh, thấy thương hơn những bé trai, bé gái, những ama, amí, amai chất phác, mộc mạc trong những khu rừng xưa như cổ tích…
Như đã tìm được đích đến trong hành trình sáng tạo, trong năm qua, Nguyễn Anh Đào, Lâm Hạ, Trần Băng Khuê, H’Siêu Byă … đều đặn mang đến cho bạn đọc những “món ăn” lạ miệng, độc đáo, bứt phá, nhưng vẫn mang hương vị của đại ngàn nắng gió thảo nguyên. Nguyễn Anh Đào, trong nỗ lực làm mới mình, đã thổi vào những câu chuyện vốn đã quen tai về người phụ nữ, về cuộc sống gia đình ở phố huyện u buồn ấy một thứ hương vị liêu trai, ma mị cho tác phẩm của mình. Hạt gạo xoay tròn, Hồng nhung không còn gai nhọn là những truyện ngắn hay, đánh dấu một bước tiến mới của cây bút này…
Lâm Hạ một mình một cõi với những câu chuyện u u minh minh nửa hư nửa thực như được chép ra trong một giấc mơ nào đó, đôi khi đọc lên thấy rợn người. “Một đêm rất lạ, tôi mơ mình dang cánh bay giữa thiên hà, đùa nghịch với muôn vì sao. Tôi muốn giữ giấc mơ lấp lánh đó cho riêng mình, nhưng gã không tha cho tôi. Gã kêu réo, nói có một khách hàng đang cần mua một giấc mơ để giới thiệu tác phẩm mới ra, một cuốn sách hai nghìn trang”. (Tên đồ tể giấc mơ, Chư Yang Sin số tháng 12, 2016). Là người viết, khó nhất là tạo ra một “không gian” độc đáo cho riêng mình, chỉ mình mới có. Không gian của Lâm Hạ là một vùng trời chồng chất những giấc mơ, có mê đắm ngọt ngào xen lẫn đắng cay đau đớn. Người viết kể về nó, như một cách chữa lành vết thương, cho chính mình.
Trần Băng Khuê vẫn miệt mài thể nghiệm về cả nội dung lẫn giọng kể cho câu chuyện của mình. Ngắn gọn, sắc lạnh, dồn nén, ít trần tình, đó là cách Trần Băng Khuê “vẽ” bức tranh lạ lùng khó đoán, đôi khi thách thức độc giả. Càng viết, chị càng đi sâu hơn, chiếm lĩnh, lí giải thế giới nội tâm sâu thẳm của con người. Cốt truyện bên ngoài, nhiều khi chỉ là cái cớ. “Chàng nhìn xuống phía dưới lòng cầu, hình như sóng rất mạnh, những đợt sóng dâng lên rồi lặn xuống, không sủi bọt. Ngọn sóng như máu nở hoa. Máu sẽ nở hoa. Trên sóng. Chàng tiếp tục tiến bước đến giữa cầu, trước mặt chàng, hàng đàn cá đang dặt dẹo trườn đi, trườn đi bằng chính những chiếc vây trầy xước. Chúng trườn như rắn. Chúng vừa trườn vừa ngáp, vừa hắt ra từng hơi thở nặng nhọc. Chàng đến gần đàn cá, ngồi xuống và nhắm mắt lại, lắng nghe. Chàng phải nghe, mới biết được chuyện gì đang diễn ra trên chiếc cầu này”. (Từ trên đỉnh sương mù, Chư Yang Sin số tháng 6, 2016).
H’Siêu Byă, một chất giọng độc đáo màu thổ cẩm, năm qua cũng nhỏ nhẹ góp tiếng nói của mình cho Chư Yang Sin vẫn là Chư Yang Sin đúng nghĩa, nghĩa là mỗi khi bạn đọc gần xa đọc lên, là nghe tiếng cây lay, núi thở, tiếng bếp lửa cháy bên hiên nhà sàn, tiếng đàn chim gọi nhau về tổ, tiếng thác chảy cuồng nộ.  “Một trăm con chim sẻ, một nghìn con chim ri ra rả báo tin cho tôi Vũ rục rịch cưới vợ. Tôi sềnh sệch kéo bạt nhốt lúa, nhốt ớt, nhốt hạt bầu, hạt bí vào nhà kho. Tôi kéo chày, kéo cối đổ lá mì ưỡn ngực, ưỡn bụng thình thịch, thình thịch. Lá mì tung tóe, trải một lớp mịn màng xanh sẫm khắp hiên. Sàn nhà rung, tim tôi rung mạnh hơn. Drang Phôk mưa to, không bằng mưa lớn trên mặt. Trong suy nghĩ tối thui và đen dại, tôi muốn dùng ma lai làm Vũ chết, ma lai của chính người Drang Phôk nuôi. Sét đến trước, sấm đến sau thả những tia sáng chóe lửa đùng đoàng chặn lối người qua đường”. (Rừng khộp trút lá, Chư Yang Sin số tháng 4, 2016).
Xin làm phiền bạn đọc một chút này. Tôi, người viết bài này, với bút danh Nguyễn Văn Thiện, trong năm qua, cũng đã bằng nỗ lực không ngừng nghỉ, góp cho đại ngàn một tiếng nói, như thực, như mơ. Xin được lấy một đoạn trong truyện ngắn Hành trình bất tận ngay trong số báo này thay cho lời kết. “Mỗi câu chuyện là một bài ca, u buồn, ẩn ức, reo vui, thắc thỏm. Ta kể chuyện và hát ca, về cuộc đời này, cuộc đời của những người sống giữa thảo nguyên mênh mông”.