Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018
Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018
CHÚA TỂ RỪNG XANH truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN NGHỆ HẢI DƯƠNG số: 189 tháng 3 năm 2018
- Dậy đi con!
Tôi giật mình tỉnh giấc trước giọng nói êm ái của mẹ
tôi rồi ngó đầu ra ngoài. Cả khu rừng tối mò, nhìn không rõ mặt đất, cành cây.
Phía Đông, núi Mẹ Bồng Con đừng sừng sững ngăn cách hai tỉnh, in một nét vẽ kỳ
quặc lên nền trời xanh ngắt điểm một vài đám mây trắng phớt hồng. Cả bầu trời
dày đặc sao lúc đi ngủ, giờ đây chỉ còn mấy ngôi bé nhỏ nhấp nháy, nhấp nháy
lúc sáng, lúc tắt như ngọn nến nhỏ trước gió. Thoảng trong làn gió nhẹ cùng
tiếng thì thào của cây rừng là giọng ca lảnh lót của mấy chú gà trống ghẹo
nhau. Bất chợt một tiếng hót ngân dài vọng qua vách núi lao vút lên không trung
tỏa chụp xuống cánh rừng.
- H…ú!
Lập tức nhiều tiếng “hú” hòa theo làm tan vỡ cảnh bình
yên của buổi bình minh. Họ hàng nhà vượn rủ nhau đi kiếm ăn, vui vẻ lao vút từ
cành này qua cành khác mồm không ngớt ca hát vang trời – hú! Các loài chim thú
khác cũng tỉnh hẳn giấc ngủ, ồn ã giục nhau thức dậy.
Tôi bước lại bên cạnh ba má. Ba nghiêm khắc nhìn tôi:
- Con trai lại dậy muộn để ba má phải đợi như thế là
không tốt, phải thức dậy sớm hơn nhé.
- Dạ.
Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt tròn, to như hòn bi ve của
ba tôi thẳng thắn trả lời. Ông nhìn tôi về hài lòng gật gật đầu. Má tôi âu yếm
nhìn hai cha con tôi, cất tiếng giục:
- Ta đi thôi!
Ba tôi xòe đôi cánh vĩ đại dài hơn một sải tay của
mình, đập đập, đầu chúi về phía trước, chiếc mỏ cong cong như vành trăng khuyết
màu vàng cà rốt, dài hơn gang tay nhọn hoắt. Đầu ba tôi đội một chiếc mũ bằng
sừng cùng màu với mỏ giống mũ bê rê của mấy ông nhà văn hay đội, kéo dài ra sau
gáy. Với cái mũ cứng như xương và cái mõ vĩ đại ấy, nói trộm ba tôi: Nếu ai vô
phúc bị ông gõ cho một cái không gãy xương cũng nát thịt. Toàn thân ông phủ một
bộ cánh màu đen điểm mỗi bên cánh hai cái lông trắng và chiếc đuôi dài xòe ra
như cái nơm úp cá cũng có bốn cái lông trắng mọc hai bên, tạo sự cân đối và
trang nhã. Má tôi hình dáng, quần áo ăn mặc y hệt ba tôi nhưng chỉ có một điểm
khác là chiếc mỏ của bà được viền một màu hồng trang nhã vòng quanh qua mép.
Chiếc mũ đội đầu cân đối cũng phơn phớt hồng như được ghép bằng những cánh hoa
mẫu đơn vẫn mọc ven suối và đôi mắt có vài chiếc lông màu xanh biếc nổi bật bộ
cánh màu đen – còn của ba tôi là màu vàng. Bình thường bao giờ ba má tôi cũng
sóng đôi cùng đi, ít khi rời nhau cho đến lúc có mặt của tôi.
Tôi ra đời trong một ngôi nhà vững chắc được ba má bỏ
công sức xây dựng hàng tháng trời trên một đỉnh núi cao lộng gió của dãy Trường
Sơn hùng vĩ. Theo truyền thống gia đình, tổ tiên truyền lại mỗi người được cai
quản một khu rừng rộng từ năm bảy trăm đến cả ngàn héc ta rừng. Nơi ngôi nhà
xây dựng phải là đỉnh núi cao có cây đại thụ đường kính nhỏ nhất cũng từ hai
vòng ôm người lớn trở lên. Với cái mỏ to lớn và rắn chắc, đôi uyên ương phải tự
đục cây làm nhà. Ngôi nhà có cửa hình tròn hướng về phía bình minh – nơi mặt
trời mọc và cửa phải thật nhỏ, đủ cho thân lọt vào là được. Bước qua cái cửa đó
là một căn nhà rộng rãi dành cho hai má con. Ba thì luôn luôn đứng bên ngoài
cửa thức trắng đêm canh chừng kẻ gian quấy phá, ban ngày đi hái các loại trái
cây nuôi má con tôi cho đến ngày tôi trưởng thành.
Dòng họ nhà tôi được mệnh danh là “đại bàng thầy tu”
vì có chiếc mũ màu vàng và ăn… chay. Các loại thịt cá không bao giờ đụng đến,
nhưng thân hình lại đồ sộ nhất trong tất cả các loài chim có mặt trong vương
quốc rộng lớn Nam Trường Sơn. Ngay cả chú chim công hoa được xem là lớn nhưng
đứng bên cạnh ba má tôi thì chỉ là chú bé con. Mỗi khi ba má đi làm tạo nên một
trận gió dữ dội, các cành cây phải nghiêng mình cúi chào - cho dù là cây đại
thụ và tiếng động ào ào, giống như một trận giông nhiều lúc làm giật mình cả
những con người vốn can đảm. Tiếng của ba má có nhỏ nhẹ cũng vọng hàng cây số
làm yên lòng những người dân lành trong vương quốc và cảnh báo bọn bất lương
nếu dám dở trò xấu xa, gây hại. Cùng dòng họ với gia đình tôi – những người
chuyên sống trên những ngọn núi cao, suối sâu – còn có các bác, chú, cô, dì,
cậu, mợ… sống ở các rừng bằng hay trảng cỏ gianh của Tây Nguyên. So với chúng
tôi, họ có ngoại hình giống y hệt nhưng tầm vóc nhỏ bé hơn, chỉ nặng khoảng
trên một kilôgram là cùng, sống theo bầy từ một chục đến vài chục đôi, thường
thường đi kiếm ăn ở cánh rừng bằng hoặc ven suối lớn. Họ đi đến đâu là ồn ào
như họp chợ đến đó trông thật buồn cười.
*
**
Mải nghĩ, tôi giật mình khi ba má dừng chân trên cành
cây đa khổng lồ, đầy quả chín mọng to như ngón tay cái. Tôi vội vã ngừng bay và
nhìn xuống. Chà cây đa mới to làm sao, có lẽ cái gốc của nó phải đến cả chục
con người ôm không hết. Chính giữa cây đa là cây bằng lăng to sù sụ có đường
kính đến hơn hai mét, chiếc áo màu nâu bạc phếch mặc trên người rách ra từng
mảng lớn. Tình bạn cây đa – cây bằng lăng thật keo sơn tuy hai mà một, một gốc
to đùng, nương tựa vào nhau tạo thể vững chãi.
- Hôm nay ta ăn sáng ở đây!
Ba bảo cả nhà và nhanh nhẹn dùng cái mỏ khổng lồ của
mình kéo cành cây đầy quả đặt trước mặt má con tôi.
Từng quả đa chín mọng, chứa đầy mật ngọt nhanh chóng
trôi vào bụng, làm người thêm sảng khoái. Khi căng bụng rồi tôi mới giật mình
nhìn ra mấy cây bên cạnh lố nhố những con dã nhân mặt đỏ như sơn, râu ria lờm
xờm bạc phếch, toàn thân khoác chiếc áo lông màu xám đen đang giương mắt đen
láy ra nhìn.
Những con dã nhân đực lớn có lẽ phải nặng gần ba chục
kilôgram có đôi tay rắn chắc ngồi thu lu đầu gối quá mang tai và cứ nối tiếp
nhau to ngồi trước, bé ngồi sau cho đến những chú loắt choắt bằng chiếc ấm trà,
tay chân ngứa ngáy, tự cào cấu quanh mình. Nhưng tất cả đều lặng im, không ai
nói điều gì.
- Má ơi, sao bọn kia nhìn ta dữ vậy?
Tôi ngạc nhiên và thắc mắc hỏi má, má bảo:
- À, họ chờ chúng ta ăn xong sẽ đến ăn sáng đấy.
- Sao họ không vào ăn cùng.
- Má cũng bảo nhiều lần, nhưng họ không nghe, đấy là
luật lệ của rừng xanh không ai dám vi phạm. Vùng này là lãnh địa của nhà ta.
- Thế sao họ hàng nhà dã nhân lại đến đây?
- Rừng mà con, con thấy không: Nếu cả cánh rừng bạt
ngàn này chỉ có gia đình ta thôi thì cây
cối sẽ úa tàn vì ai bắt sâu, ai cày xới, chăm sóc cho cây rừng? Ai gieo giống
cho mùa sau? Như vậy rừng sẽ chết. Vì thế rừng là nơi sinh sống của cả cộng
đồng các dân tộc, cho dù có cánh hay không có cánh, không chân hay nhiều chân
đều phải sống hài hòa với nhau. Con thấy không như chúng ta hay các loài khỉ,
vượn, dã nhân, chim chóc khác hái quả là để đảm bảo cho cây phát triển cân đối,
hài hòa, nếu có quá nhiều cây con thì sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống. Còn mấy
chú heo rừng chuyên đào bới dưới đất kia vừa làm tơi đất vừa hạn chế bớt các
dây leo, cây nhỏ mọc quá nhiều. Ngay cả bầy nai, min, sơn dương… gặm cỏ, chính
họ cũng đang làm cân đối môi sinh và bảo vệ kẻ yếu đúng quy luật của rừng.
- H…ó…c!
Bỗng ba tôi gào lên một tiếng chói tai làm tôi giật
bắn mình ngoái cổ lại nhìn. Đôi cánh rộng lớn của ba tôi đập dữ dội đưa chiếc
mỏ vĩ đại giống như một thanh đại đao bắn thẳng về phía bầy dã nhân. Bầy dã nhân
hoảng hốt kêu chí chóe chạy vọt ra phía sau má tôi làm cành cây gãy rào rào.
Thì ra có con vật to lớn có khuôn mặt tròn như mặt trời, dáng vẻ hung dữ mặc bộ
quần áo màu vàng điểm những đốm tròn màu đen lẻn đến tự lúc nào đang định vồ
chú dã nhân ngồi sau cùng, khuất phía dưới. Nghe tiếng hét và thoáng thấy bóng
ba tôi lao lại, hắn vội vã buông người, quẫy chiếc đuôi dài gần một sãi tay,
lao ngay xuống mặt đất chạy biến mất.
- Khiếp thật, con gì mà gớm ghiếc thế không biết?
- Con báo đấy, nó là kẻ hư đốn của rừng chuyên rình
bắt thú nhỏ ăn thịt. Con phải đề phòng nó.
- Dạ!
*
**
Núi rừng trở lại yên tĩnh. Ba vòng lại cùng má vỗ cánh
lao vút lên trời xanh, tôi vội vã lao theo. Dừng cánh trên cành cây cà te cao
chót vót mọc trên đỉnh núi Chư Pá có thể nhìn về phía Đông thấy đỉnh núi “Mẹ
Bồng Con” bồng bềnh trong sương mù. Nhìn về phía tây, rừng cà phê xanh bạt ngàn
có hàng triệu triệu con bươm bướm vàng bay rợp trời đuổi nhau theo hương hoa cà
phê mờ dần phía chân trời. Tôi bắt đầu một buổi học mới.
Ăn rồi học, học rồi đi ăn, công việc chẳng có gì hấp
dẫn, không dám nói là buồn chán. Nhưng vẫn phải học, vì không thuộc bài thì cứ
xem chừng cái mỏ của ba…
Cuối cùng buổi học cũng kết thúc, cho dù nó thật là
dài và tôi cũng hiểu được đôi điều cần thiết như phải thương yêu và giúp đỡ kẻ
yếu, trừng trị kẻ hống hách, hay bắt nạt người khác. Sau giờ học tôi được tự do
một tiếng để nghỉ ngơi nên lao vút lên bầu trời xanh vỗ cánh tung hoành cho đỡ
mỏi. Càng lên cao núi rừng càng như nhỏ lại, ngay cả dòng sông Krông Păc chảy
ngược từ phía Đông đổ nước ra phía Tây cũng bé tẹo như sợi chỉ loằn ngoằn như
con giun đất uốn éo qua các dãy núi mà ngược mãi về dòng Serepok. Núi rừng đầu
mùa mưa xanh ngắt như được quét một lớp chàm. Những quả đồi gianh bị lửa ăn
trong mấy tháng mùa khô nay cỏ đột ngột đội đất chui lên xòe những bàn tay nhỏ
xíu chen chúc nhau đùa giỡn theo gió tạo thành màu xanh mát rượi. Đủng đỉnh dạo
bước trên thảm cỏ non có một bầy voi trông xa be bé, lại gần thấy to đến phát
khiếp. Chúng quơ vòi vơ từng nắm cỏ bỏ vào mồm ngon lành. Có chú voi nho nhỏ
chỉ bằng con heo một là cùng, chú quơ nhầm lá định bỏ vào miệng liền bị cô giáo
“thưởng” ngay một vòi vào lưng – thật tội nghiệp. Chú ta chỉ còn biết nhè vội
ra, cái đuôi vẫy tít mù như xin lỗi.
Chà to như voi cũng phải học. Thế mới biết ai cũng
phải học cả.
Rời bầy voi vượt qua dãy đồi tiếp theo – nơi đây nghe
nói tổ tiên tôi có nhiều người bị bắn hạ để lột da mang về xứ sở xa xôi phía
bên kia địa cầu. Cái đồi “Mĩ” được bọc bằng mấy vòng dây kẽm gai, dây leo chằng
chịt. Ngay cả mấy cái nền xi măng ghẻ lở cũng bị họ hàng nhà chị “xấu hổ” giăng
kín. Có lẽ đây là nơi trước kia con người dám xây nhà – mang cái chết đóng giữa
núi rừng. Cả đồi gianh mênh mông chỉ nai và min ngự trị.
Dưới tán cây kơ nia cả nhà nai xám lim dim ngủ. Nai bố
đội trên đầu bộ sừng như cành cây nhọn hoắt rung rung, theo thói quen bỏm bẻm
nhai trầu trong mơ màng, hai tai ve vẩy nhè nhẹ. Chú nai con be bé so với bố mẹ
chứ so với tôi thì to hơn nhiều, rúc đầu vào bụng mẹ ngủ ngon lành. Không biết
họ hàng nhà nai ăn học lúc nào mà ngủ trưa đến vậy? Giờ này còn không chịu
thức. Chắc họ không thấy đói, phải gọi họ dậy mới được, ai lại đi ngủ giữa
đường thế này. Nhưng họ ngủ ngon lành thế kia sao nỡ đánh thức!
Đang phân vân không biết có nên gọi hay không, tôi
giật mình thoáng thấy bóng con gì đang khẽ lay động cỏ gianh tiến dần đến. Eo
ôi, một con vật to lớn mang trên mình bộ quần áo màu vàng sẫm điểm những nét vẽ
màu đen từ lưng xuống bụng. Mặt tròn có mấy vằn ngang trông phát khiếp. Nó lặng
lẽ bò dần về phía mấy con nai đang ngủ. Có lẽ ngược gió hay nó đi quá êm không
phát ra tiếng động nên cả nhà nai không hay biết gì. Chắc con này có hành động
mờ ám, phải gọi nai dậy mới được. Tôi lấy hết sức thét lên:
- H…ó…c!
Cả nhà nai giật mình chồm dậy ngơ ngác nhìn quanh. Con
vật màu vàng có lẽ cũng giật mình trước tiếng thét của tôi nên gầm theo.
- H…ừm!
Chao ôi, hắn kêu mới to làm sao, cả cánh rừng lay
động, chim chóc nhớn nhác cất cánh bay. Tội nghiệp mấy cha con nhà nai hoảng
hốt kêu “bép, bép…” rồi tung vó định chạy. Chú nai con cuống quýt lúng ta, lúng
túng cứ vướng cỏ tranh hoài. Nai bố ngẩng cao đầu giơ bộ sừng vĩ đại về phía
trước hối hả thúc vợ con chạy. Nai cái chạy trước, nai con lẽo đẽo theo sau, còn nai bố đi sau cùng. Chỉ một
thời gian ngắn con vật gớm ghiếc đã đuổi sát gia đình nai. Nai bố quay đầu lại
cúi xuống chìa bộ sừng ra phía trước, dáng hơi quỳ, sẵn sàng nghênh chiến.
Tiếng nai con gọi thất thanh:
- B…a!
- Chạy nhanh đi con!
Con vật màu vàng lao nhanh như gió cuốn đến gần nai bố,
dừng lại, hai chân sau chùn xuống, như định ngồi, dập cái đuôi dài vằn vện
xuống mặt đất gầm lên.
- H…ừm!
Cùng lúc với tiếng gầm nó nhảy vọt lên chồm về phía
bác nai. Bác nai lấy hết sức lao thẳng về phía trước định cắm bộ sừng vào người
con vật màu vàng nhưng không trúng. Con vật kia tinh khôn hơn lại có đôi tay
dài đầy vuốt đã kịp rạch lên mông nai ba đường dài làm máu chảy ròng ròng. Nai
xoay người lại vừa lúc con vật gớm ghiếc kia lại chồm lên bay qua đầu, rạch
tiếp vào mông sau bác thêm bốn đường nét cả da thịt.
Tội nghiệp bác nai có bộ sừng kềnh càng là vậy mà chậm
chạp không làm gì nổi con vật kia, chắc chắn thua mất thôi – tôi thầm kêu lên.
Và quả nhiên bác nai tung vó định chạy trốn. Nhưng
không kịp rồi, con vật kia lại gầm lên và bổ xuống lưng bác.
*
**
- H…ó…c!
Một tiếng thét vang vọng cả núi rừng, ba tôi từ đâu
như mũi tên đã kịp giáng cho con vật kia một nhát ngay giữa đầu, má tôi cũng
xuất hiện bồi thêm một nhát vào lưng làm nó hụt hẫng rơi xuống vạt cỏ tranh hét
lên hãi hùng.
- H…ừ…m!
- H…ó…c!
Tiếng ba tôi lại hét lên và lao vào con vật gớm ghiếc
kia. Nó đành bỏ nai nhảy dựng lên định cắn ba, nhưng ba đã kịp ngoặt người lao
lên để má giáng cho nó một búa vào lưng. Đến lúc này nó mới sợ, cụp đuôi lại
lao thẳng vào rừng xanh mất dạng.
Nai bố khập khễnh ngước mặt lên nhìn trời xanh như cảm
ơn ba má tôi đã cứu giúp thoát cảnh hiểm. Ba quay qua tôi nghiêm khắc hỏi:
- Tại sao con không giúp nai?
- Dạ… con…
Tôi không dám nhìn vào mắt ba và không dám nói thật
lòng là quá sợ con vật to lớn và dữ tợn ấy. Ngay như nai xám to như thế còn bị
nó cào xé huống chi tôi chỉ bằng...
- May có cậu nhà báo trước, vợ con tôi mới chạy thoát
chứ không…
Mấy giọt nước mắt cảm động trào ra long lanh, nai bố nghẹn
ngào không nói hết lời. Ba tôi đỡ lời:
- Thôi, vào rừng với gia đình đi, cẩn thận nhé!
Ba quay qua tôi nghiêm khắc bảo:
- Lẽ ra con dũng cảm hơn, thấy nó phải giáng một nhát vào lưng, hoặc chí ít
cũng phải giả vờ lao xuống đánh cho nó dừng lại đỡ đoàn, giúp bác nai có thời
gian chạy thoát thì bác đầu có bị thương như vậy?
Má tôi lựa lời:
- Con còn nhỏ, lại lần đầu gặp cảnh này nên lúng túng
cũng phải thôi.
Tôi ngập ngừng:
- Nhưng, nhưng…, con không biết nó là con gì mà dữ tợn
vậy.
- Hổ đấy.
- Nó là con hổ ạ! Học mãi nay mới biết, lần sau gặp
hắn con quyết không tha.
- Thôi ta về.
Ba nói rồi vẫy cánh lao vút vế phía trước. Gia đình
tôi bay lên cao, lên cao dần tiến đến đỉnh núi Krông Zin hùng vĩ chìm một nửa
trong sương mù trắng đục tiếp tục cuộc hành trình. Vừa sãi cánh bay theo ba má,
lòng tôi ân hận vô cùng vì đã thiếu can đảm, không kịp giúp nai tránh bị thương
khi con hổ độc ác tấn công. Nhưng nhất định có ngày gặp lại tôi sẽ dạy cho nó
một bài học. Độc ác phải bị trị chứ không thể dung tha. Ba nói đúng: Học giỏi
chưa đủ mà phải có lòng nhân ái thương yêu bạn bè, cứu giúp kẻ gặp khó khăn. Có
như vậy mới trở thành người tốt – xứng đáng “Chúa tể rừng xanh”.
Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018
GIẢI THƯỞNG VHNT ĐẮK LẮK NĂM 2017 CÓ GÌ MỚI? - bài viêt của PHAN VŨN - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Từ năm 2010 đến
nay, được UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí, Hội VHNT Đắk Lắk đã liên tục tổ chức “Giải
thưởng văn học nghệ thuật” vào dịp cuối năm. Giải đã góp phần động viên tinh thần
nỗ lực sáng tạo của văn nghệ sĩ trong tỉnh. Chất lượng tác phẩm được giải vì thế
cũng được nâng lên sau mỗi năm; được Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt
Nam
và các hội bạn đánh giá cao...
Với cách tổ chức chấm giải khoa học, khách quan từ
cơ sở: Các chuyên ngành văn học nghệ thuật (VHNT) đều thành lập Tiểu ban thẩm định
riêng của chuyên ngành. Mỗi tiểu ban gồm 3 người do các văn nghệ sĩ trong chuyên
ngành bầu chọn lên. Người được chọn vào Tiểu ban thẩm định là những văn nghệ sĩ
hội viên các chuyên ngành trung ương, hoặc chưa là hội viên chuyên ngành trung ương,
nhưng có trình độ chuyên môn cao, có uy tín trong anh em hội viên. Từng thành
viên của các Tiểu ban thẩm định bằng con mắt xanh của mình độc lập đọc, xem xét
đánh giá tác phẩm trên hai phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật rồi cho điểm,
theo thang điểm 10. Sau đó cộng điểm của 3 người lại, tác phẩm của ai có tổng số
điểm cao nhất sẽ được xếp giải A, các mức điểm kế cận sẽ được xếp giải B, C. Tiếp
theo các tiểu ban sẽ làm văn bản báo cáo kết quả thẩm định gửi lên Hội đồng Nghệ
thuật của Hội xem xét và trình Ban Chấp hành quyết định trao giải. Với cách làm
đó, có thể nói: Công tác chấm giải của Hội VHNT Đắk Lắk là chặt chẽ, khách quan
và các tác phẩm được trao giải là xứng đáng. Từ năm 2013 đến nay mỗi chuyên ngành
chỉ chọn trao 3 giải (trước đây từng trao tới 10 giải cho mỗi chuyên ngành, nên
một số tác phẩm mặc dù được trao giải nhưng chất lượng không cao, thiếu tính thuyết
phục).
Năm 2017 Hội VHNT Đăk Lắk đã nhận được 59 tác phẩm của 35 tác giả thuộc 7
chuyên ngành thơ, văn, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn nghệ dân gian, sân khấu
– điện ảnh tham dự giải. Các Tiểu ban thẩm định đã chọn và giới thiệu cho Hội đồng
Nghệ thuật của Hội 26 tác phẩm của 27 tác giả để trao giải. Hội đồng Nghệ thuật
của Hội gồm toàn thể Ban Thường vụ Hội và các trưởng Tiểu ban thẩm định của 7
chuyên ngành họp, xem xét, cân nhắc từng tác phẩm của từng chuyên ngành và so sánh
giữa các chuyên ngành với nhau để quyết định trao 4 giải A, 7 giải B, 9 giải C
cho 21 tác giả của 7 chuyên ngành.
Các phẩm dự giải năm nay đều có nội dung tư tưởng tốt,
trong sáng và nhân văn, ca ngợi tình người, tình đời, vẻ đẹp của mảnh đất và
con người Đắk Lắc, kêu gọi bảo vệ môi trường, phê phán các hiện tượng tiêu cực
trong xã hội... Một số chuyên ngành như âm nhạc, thơ, văn xuôi, nhiếp ảnh, mỹ
thuật... có chất lượng khá cao so với các năm trước. Ví dụ tuyển tập “40 năm
ca khúc Mạnh Trí”, tập hợp gần như toàn bộ ca khúc sáng tác trong suốt 40 năm
hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp của tác giả này, bao gồm nhiều thể loại; trong
số này có nhiều bài theo nhận xét của nhạc sĩ Linh Nga Niê Kđăm là có thể “sống mãi với thời gian”, như Ơn
Bác Hồ với người Tây Nguyên, Bài ca trên đồi…. Tác giả Quang Dũng với ca khúc
“Chiều cao nguyên” có giai điệu đẹp, khúc thức gọn gàng, lời giàu chất
thơ; tác phẩm đã đoạt giải B khu vực Nam miền Trung và Tây Nguyên. Chùm 3 ca khúc
của tác giả Nguyễn Văn Hạnh có sự tìm tòi vận dụng chất liệu Tây Nguyên, ý tứ,
khúc thức chặt chẽ. Tập truyện “Thà cứ một mình rồi quen” của Nguyễn Anh
Đào tiếp tục viết về thân phận người phụ nữ như các tập truyện trước đây của tác
giả này, nhưng có cách nhìn mới mẻ tươi sáng hơn, giọng văn nhẹ nhàng, nhưng khá
lôi cuốn người đọc, bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ và kỹ thuật dựng chuyện của
tác giả khá cao tay. Tập truyện “Tháng tư mùa bướm bay” của H’linh Niê đậm
chất Tây Nguyên, lối viết có cảm xúc, có một số nội dung đề cập đến đề tài chiến
tranh cách mạng, tạo được chú ý của người đọc. Tập thơ “Hồn cẩm hương” của
Đặng Bá Tiến là “tập hợp những cảm tác có
chọn lọc về đất nước, con người, nhân tình thế thái. Bài nào trong tập cũng ôm
chứa một ý nghĩa xã hội hoặc nhân sinh. Bao trùm tập thơ là đề tài Tây Nguyên được
khai thác với nhiều cung bậc cảm xúc, không trùng lặp với người khác. Tác giả đã
kết hợp hài hòa giữa ý thức công dân với tâm hồn nghệ sỹ trong nội dung tư tưởng,
kết hợp hài hòa giữa lối viết truyền thống với thủ pháp hiện đại góp phần làm
cho người đọc thuộc nhiều đối tượng dễ cảm nhận và yêu thích” (Phạm Doanh). Tập
thơ “Mây rủ nhau về như ngựa trắng” của Vũ Dy, có bút pháp khá mới mẻ,
hiện đại, thơ không câu nệ vần điệu, ý tưởng thường được gứi gắm bằng cách nói
kín đáo, nhưng gợi nhiều liên tưởng, thể hiện khá rõ cảm xúc của tác giả, cách
sử dụng ngôn từ rất tinh tế. Tác phẩm “Nghệ thuật múa dân gian các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên” của 2 tác giả Lý Sol và Linh Nga Niê Kdăm là công trình
chuyên khảo trên một địa bàn rộng, thể hiện sự dụng công của các tác giả; người
đọc có điều kiện so sánh giữa các tộc người để hiểu sâu thêm những nét riêng
trong nghệ thuật múa của từng dân tộc. Tác phẩm có giá trị thực tiễn cao, có thể
làm tài liệu tham khảo cho học sinh chuyên ngành múa. Tác phẩm tranh sơn mài “Tây
Nguyên vào hội” của Ngô Tiến Sĩ dù hình thức tạo hình không mới nhưng bố cục
và cách xử lý chất liệu sơn mài khá tốt, tạo được ấn tượng với người xem. Tác
phẩm ảnh “Cứu lấy màu xanh” của Trần Quang Khải có nội dung tốt, chuyển
tới người xem thông điệp bảo vệ môi trường; bố cục chặt chẽ, ánh sáng đẹp, gây được
ấn tượng thị giác. Bộ ảnh “Ươm cà phê bằng phương pháp nhân giống hữu tính” của
Trần Thị Mùi, nội dung thể hiện được quá trình sản xuất cây giống cà phê, loại
cây trồng chủ lực mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho nhân dân trong tỉnh. Đây
là bộ ảnh có bố cục chặt chẽ, ánh sáng đẹp...
Có thể nói hầu hết các tác phẩm vào giải năm nay, dù tác giả đã là hội viên
chuyên ngành trung ương, hay chưa hội viên chuyên ngành trung ương thì nghệ thuật
biểu đạt tác phẩm đã đạt tầm khu vực và quốc gia (bởi nhiều tác phẩm đã được chọn
triển lãm ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, hoặc triển lãm toàn quốc và giành được
giải thưởng cao của khu vực, quốc gia, quốc tế; nhiều tác phẩm đã đăng tải trên
các báo chí văn nghệ trung ương tạo được sự chú ý của giới phê bình và người đọc.
Đó là những thành công không thể phủ nhận của “Giải thưởng VHNT Đắk Lắk” năm
2017.
Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2018
CÂY TRE TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM của PHẠM TUẤN VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Là
một trong những loài cây mọc phổ biến ở nước ta, cây tre từ rất sớm đã thân thuộc
và gần gũi với cuộc sống của người Việt. Trong bài tùy bút Cây tre Việt Nam
nổi tiếng, nhà văn Thép Mới đã khẳng định điều này: “Tre gắn bó thân
thiết với con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ những vật dụng trong
gia đình, tre đã đi vào thơ ca như một hình tượng bất hủ, tre còn dùng làm thuốc
chữa bệnh cho người”. Có thể nói, cũng như cây đa, cây lúa, tre là hình ảnh
rất đỗi thân thuộc trong tâm thức người Việt, là loại cây đặc trưng trong truyền
thống văn hóa của dân tộc ta.
Từ
cuộc sống, tre đã đi vào văn chương người Việt, trở thành những hình tượng đẹp đẽ.
Ngay từ rất sớm, trong truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ,… tre đã được
người Việt thường xuyên nhắc đến. Dài theo hành trình văn chương Việt Nam, từ văn
học dân gian cho đến văn học đương đại, cây tre vẫn là hình ảnh quen thuộc. Ông
bà xưa đã nói về tre. Chúng ta ngày nay và mai sau vẫn sẽ còn nói về tre nữa. Đề
tài cây tre vẫn luôn là nguồn cảm hứng dồi dào cho nhiều thế hệ văn thi sĩ. Bởi
không chỉ là hình ảnh cuộc sống, hình bóng quê hương, cây tre còn là biểu tượng
của con người Việt Nam.
Trong
đời sống của người Việt, đặc biệt là trong nền kinh tế thuần nông như trước đây,
cây tre có một vị trí khá quan trọng. Cây tre có mặt trong hầu như mọi phương
diện của cuộc sống người Việt, từ vật chất đến tinh thần. Tre được trồng thành
lũy để làm ranh giới, để bảo vệ làng. Măng tre để làm thức ăn. Mo tre để làm quạt.
Ống tre làm ống thổi lửa, làm máng xối, làm đũa, làm tăm. Thân tre làm nhà, làm
rào, để đan đát, làm vũ khí đi săn, chống lại kẻ thù; lá tre, nước tre, tinh
tre dùng để chữa bệnh… “Tre đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết với
mỗi người dân Việt Nam” (Thép Mới). Cho nên, không phải ngẫu nhiên, trong văn
học, nhất là các sáng tác của dân gian, hình ảnh cây tre thường xuyên xuất hiện.
Dưới đây là những hình ảnh tiêu biểu.
Tre
để chẻ lạt lợp nhà: Em về cắt rạ đánh tranh/ Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà/
Sớm khuya hòa thuận đôi ta/ Hơn ai gác tía lầu hoa một mình.
Tre
để chẻ nan đan sàn, thúng, rổ: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ
lá đan sàng hay chưa/ Chàng hỏi thì em xin vâng/ Tre vừa đủ lá nên chăng bởi chàng?
Thân
tre được dùng để bắt cầu: Cầu tre ai bắc gập ghềnh/ Cô em đi khéo kẻo ngã lấm
mình ai thương, Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó
đi.
Măng
tre làm thức ăn. Điều này thường được nhắc đến trong thơ trung đại như là cách
thể hiện đời sống đạm bạc của người nho sĩ. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao (trong thơ trung đại, nhất là thơ chữ Hán, trúc
nhiều lúc được hiểu là tre. Bởi trong tiếng Hán, mọi loại thuộc họ tre trúc đều
có một tên chung là trúc. Để phân biệt, người ta thêm định tố vào trước,
thành công thức A + trúc; như cức trúc, khổ trúc, bạc
trúc, điền trúc, lục trúc, mao trúc, phương trúc).
Trong
cuộc sống thường nhật, tre là hàng xóm, là bạn làm ăn. Khi cộng đồng có biến cố,
tre thành bạn chiến đấu. Tre làm chông tên, gậy gộc. Tre làm thành lũy cản bước
quân thù. Trong truyền thuyết Thánh Gióng, tre được Phù Đổng thiên vương
nhổ làm roi quất ngã giặc Ân xâm lược. Trong văn học hiện đại, hình tượng “cây
tre chống giặc” được Thép Mới xây dựng một cách đẹp đẽ, oai hùng trong tác phẩm
Cây tre Việt Nam được viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ: “Gậy tre,
chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác.
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo
vệ con người. Tre anh hùng trong lao động! Tre anh hùng trong chiến đấu!”.
Còn Nguyễn Khoa Điềm viết giản dị mà mà sâu sắc: Đất nước lớn lên khi dân mình
biết trồng tre đánh giặc (trường ca Mặt đường và khát vọng).
Không
chỉ trong phương diện vật chất, trong đời sống tinh thần của người Việt, cây
tre cũng một vị trí quan trọng. Tre gần gũi, có ích, mang nhiều đặc điểm riêng,
được người Việt ta mượn để đúc kết kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm sống, nói
thay những đạo lí, nhân sinh ở đời. Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt, có
hàng trăm câu mượn hình ảnh cây tre: Tre già măng mọc, Tre non dễ uốn,
Tre già khó uốn, Có tre mới cho vay hom tranh, Tre già nhiều
người chuộng/ người già ai chuộng làm chi, Củi tre dễ nấu/ chồng xấu dễ
xài, …
Trong
truyện cổ tích, hình ảnh cây tre cũng được tác giả dân gian sử dụng để nêu lên
những vấn đề đạo lí. Chẳng hạn, cây tre trăm đốt trong truyện cổ tích cùng tên
là hình ảnh của công lí, của khát vọng khuyến thiện trừng ác.
Trong
nhiều bài ca dao, nhiều câu thơ thành văn, cây tre còn có mặt với đời sống tình
cảm của người Việt, nhất là trong tình yêu lứa đôi. Có lẽ bởi cây tre gần gũi với
tính cách và tâm hồn người Việt. Chẳng hạn như trong những vần thơ sau: Một
cành tre, năm bảy cành tre/ Đẹp duyên thì lấy, chớ nghe họ hàng (ca dao), Bây
giờ mùa hoa doi/ Trắng một vùng Quảng Bá/ Sóng ven hồ cứ vỗ/ Anh một vùng cây
tre (Mùa hoa doi, Xuân Quỳnh), Anh nhớ xót xa, dưới tre là ngà/ Gợn
buồn nhìn anh, em nói mến anh (Nắng chiều, Lê Trọng Nguyễn).
Từ
loài cây gần gũi, có ích trong đời sống của người Việt, tre trở thành hình ảnh
của làng quê Việt. Không gian làng quê Việt nổi bật lên màu xanh của những lũy
tre. Rặng tre xanh tỏa bóng xuống những ngôi làng Việt từ bao đời. Trong truyền
thống văn hóa Việt, tre là một trong những biểu tượng của làng quê. Khi nói đến
cây tre, người ta nghĩ đến làng xóm. Khi nói đến làng quê Việt, người ta thường
nhắc đến hình ảnh cây tre. “Hình ảnh cây đa, bến nước cùng những khóm tre xào
xạc là những hình ảnh quá đỗi thân thuộc với người dân ở mọi miền quê Việt Nam”
(Thép Mới).
Trong
văn học nước ta, cây tre thường được nhắc đến với tư cách là biểu tượng truyền
thống của không gian thôn quê, là hình ảnh mến thương, thân thuộc của làng xóm,
quê hương. Hình tượng cây tre vì thế cũng được thể hiện bằng phần lớn là giọng điệu
tâm tình, tha thiết, lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc. Và do đó, hình tượng cây
tre trong văn chương Việt thường hiện lên rất đẹp.
Trong
ca dao, hình ảnh lũy tre xanh, rặng tre ngà,… thường xuyên được tác giả dân
gian nhắc đến. Hơn cả dấu hiệu nhận biết không gian làng quê, cây tre còn là hình
bóng thân thương, là linh hồn của làng xóm, là nơi gởi gắm niềm yêu quý, tự hào,
nỗi nhớ thương về quê hương, làng mạc. Cây tre trong nhiều bài ca dao thường không
được miêu tả chi tiết (thậm chí chỉ xuất hiện với một cách chung chung) nhưng lại
gắn với cụm từ “làng tôi có” theo công thức làng tôi có + lũy tre + A, B (A,
B cũng như lũy tre, là những đặc trưng của làng). Qua đó, ta hiểu được tấm lòng,
tình cảm của nhân dân lao động đối với quê hương được gửi gắm qua những điều bình
dị, thân thuộc mà rặng tre là hình ảnh đặc biệt. Chẳng hạn như bài ca dao: Làng
tôi có lũy tre xanh/ Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng/ Bên bờ, vải, nhãn hai
hàng/ Dưới sông cá lội hàng đàn tung tăng.
Trong
văn học viết, cây tre cũng được nhiều nhà văn khai thác ở phương diện là hình ảnh
đặc trưng, tiêu biểu của không gian làng quê Việt. Cây tre có khi là hình tượng
trung tâm, có lúc chỉ là chi tiết nhỏ nhưng nhìn chung, hầu hết những đoạn văn,
câu thơ viết về cây tre đều được các tác giả gửi gắm những tình cảm tốt đẹp cùng
nhiều thông điệp nhân văn sâu sắc. Ví như những trường hợp tiêu biểu dưới đây.
Hồ
Dzếnh, tác giả của tập thơ Quê ngoại, một giọng thơ nhẹ nhàng phảng phất
hương vị cổ điển của nền thơ Việt Nam hiện đại, đã có những dòng thơ dịu dàng,
tha thiết, lắng sâu viết về quê hương mà ở đó, cây tre, hình ảnh của quê ngoại,
quê mẹ thường được nhắc đến: Làng tôi thắt đáy lưng tre/ Sông dài cỏ mượt đường
đê tứ mùa/ Nhịp đời định sẵn từ xưa/ Ươm tơ tháng Sáu lên chùa tháng Giêng
(Lũy tre xanh).
Trong
thơ Đoàn Văn Cừ, nhà thơ đồng quê có “ngòi bút dồi dào và rực rỡ” (Hoài Thanh, Thi
nhân Việt Nam), hình ảnh cây tre là một phần không thể thiếu trong “bức
tranh quê” (Anh Thơ) “đầy dẫy sự sống và rộn rịp những màu sắc tươi vui” (Hoài
Thanh): Làng tôi mươi chục mái nhà tranh/ Một ngọn chùa cao, một mái đình/ Một
rặng tre già vươn chót vót/ Một giòng sông trắng chảy vòng quanh (Làng).
Trong
tiểu thuyết Hòn Đất, nhà văn Anh Đức đã dành những dòng văn đằm thắm,
thiết tha cho hình tượng cây tre, một trong những hình ảnh thân thuộc của quê hương
chị Sứ nói riêng, miền Nam thân yêu nói chung: Xa quá khỏi Hòn một đỗi là bãi
Tre. Thấp thoáng những cây tre đằng ngà cao vút, vàng óng, những cây tre lâu
nay vẫn đứng đấy, bình yên và thanh thản, mặc cho bao năm tháng đã đi qua, mặc
cho bao nhiêu gió mưa đã thổi tới. Sau rặng tre ấy, biển cả còn lâu đời hơn, vẫn
đang giỡn sóng, mang một màu xanh lục...
Không
chỉ là hình ảnh của cảnh quê, cây tre còn gắn với tình quê. Ở đó tình yêu quê hương,
tình làng nghĩa xóm, tình cảm gia đình được thể hiện một cách chân thành, sâu lắng
của những “hình bóng quê nhà”, trong đó có lũy tre xanh. Ví như: Mẹ nhìn lên
cao trong vắt trăng sao/ Đầu làng tre xanh vui đón xôn xao/ Mẹ nhìn tay con không
súng không dao/ Nụ cười trên môi/ Ôi trái tim người... (Giấc mơ của mẹ,
Phạm Thế Mỹ)
Và
đặc biệt, không chỉ là hình ảnh của làng quê cụ thể, cây tre trong nhiều tác phẩm
còn được nâng lên thành biểu tượng của làng quê Việt chung, là hình ảnh của đất
nước Việt, như “hàng tre bát ngát” trong thơ của Viễn Phương: Con ở miền Nam
ra thăm lăng Bác/ Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát/ Ôi! Hàng tre xanh xanh
Việt Nam/ Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng (Viếng lăng Bác).
Từ
vị trí quan trọng trong không gian và truyền thống văn hóa dân tộc, cây tre
trong văn học được nâng lên trở thành hình ảnh, biểu tượng của con người Việt.
Có được điều này bởi tre mang trong mình nhiều đặc tính gần gũi, tương hợp với
tính cách, tâm hồn dân tộc ta. Đó là tre mọc thẳng, sống thành quần thể, có sức
sống bền bỉ, dễ thích nghi với nhiều loại thổ nhưỡng,…
Nhiều
tác phẩm văn học khi viết về cây tre đều chú ý khai thác phương diện này. Qua
những phẩm chất tốt đẹp của loài tre, các tác giả khái quát lên thành nhiều nét
tính cách đặc trưng của người Việt. Tre trở thành hình ảnh ẩn dụ của con người
Việt trong văn chương, đúng như nhận định của Thép Mới: “Tre đã trở thành biểu
tượng để nói về con người Việt Nam” (Cây tre Việt Nam).
Tiêu
biểu nhất trong số những tác phẩm viết về tre để nói về người Việt có lẽ là thi
phẩm Tre Việt Nam của Nguyễn Duy. Bài thơ được viết trong thời gian các
năm 1970-1972, in năm 1973 trong tập Cát trắng, là một trong những tác
phẩm xuất sắc về đề tài cây tre. Bài thơ được đưa vào giảng dạy ở chương trình
Ngữ văn phổ thông, được các thế hệ người dạy và học yêu quý, thuộc lòng.
Trong
tác phẩm này, cây tre là hình tượng trung tâm, là đề tài xuyên suốt. Viết về cây
tre, Nguyễn Duy đã thành công trong việc sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, ngôn
ngữ tiếng Việt tinh tế, vận dụng nhuần nhị ca dao thành ngữ, sử dụng đắc địa
nhiều so sánh, nhân hóa, liên tưởng… Đặc biệt, bài thơ đậm đà tính dân tộc
trong việc viết về dân tộc qua hình ảnh ẩn dụ cây tre. Cây tre do đó là một hình
tượng đặc biệt thành công trong thi phẩm này nói riêng, trong các tác phẩm viết
về cây tre của văn học nước ta nói chung.
Trong
Tre Việt Nam, qua hình ảnh cây tre, ta có thể khái quát được những nét tính
cách, tâm hồn đặc trưng của người Việt. Đó là những phẩm chất tốt đẹp có truyền
thống từ ngàn đời: Dễ thích nghi với môi trường, hoàn cảnh sống (Ở đâu tre cũng
xanh tươi/ Cho dù đá sỏi, đất vôi bạc màu); siêng năng, cần cù, chăm chỉ
trong lao động sản xuất (Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy
nhiêu cần cù); lạc quan, yêu đời dù cuộc sống có thể còn vất vả (Vươn mình
trong gió tre đu/ Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành); yêu chuộng tự do, cái đẹp
(Yêu nhiều nắng nỏ, trời xanh); kiên cường, bất khuất, giàu lòng tự trọng
(Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm); ngay thẳng, không chịu luồn cúi
(Loài tre đâu chịu mọc cong/ Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường); đoàn
kết, gắn bó, biết yêu thương, san sẻ (Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm tay
níu tre gần nhau thêm/ Thương nhau tre không ở riêng/ Lũy thành từ đó mà nên hỡi
người); giàu truyền thống (Chẳng may thân gãy cành rơi/ Vẫn nguyên cái gốc
truyền đời cho con); giàu đức hi sinh (Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có
manh áo cộc tre nhường cho con); giàu sức sống (Năm qua đi, tháng qua đi/
Tre già măng mọc có gì lạ đâu)…
Có
thể nói, cây tre mang những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Với Tre
Việt Nam của Nguyễn Duy và nhiều tác phẩm khác, tre đã trở thành biểu tượng
cho con người Việt một cách đầy đủ và đẹp đẽ nhất.
Tóm
lại, trong suốt hành trình văn chương Việt, tre là hình ảnh quen thuộc, phổ biến.
Từ văn học dân gian đến văn học đương đại, cây tre vẫn luôn là đề tài được nhiều
tác giả yêu thích. Từ một loài cây bình dị, tre đã đi vào văn chương người Việt
một cách đẹp đẽ nhất, trở thành hình ảnh thân quen, biểu tượng truyền thống của
quê hương Việt và con người Việt. Có hàng trăm loài cây trong văn chương nước
ta nhưng trở thành hình tượng đẹp đẽ, có vị trí trang trọng như tre thì không
phải loài cây nào cũng có được.
Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018
NHỮNG CON SÓI NHÀ CERNOGRATZ của Saki - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
“Có truyền thuyết cổ xưa nào gắn liền với lâu đài không?”
Conrad hỏi chị gái mình. Conrad là một thương nhân thành đạt đến từ Hamburg, nhưng
ông lại là một thành viên có khuynh hướng của nhà thơ của một gia đình rất thực
tế.
Bà nam tước Gruebel nhún đôi vai đầy đặn của mình.
“Lúc nào cũng có những truyền thuyết lơ lửng đâu đó quanh
những nơi cổ xưa như thế này. Bịa ra chúng chẳng khó gì và cũng không tốn kém gì
hết. Trong trường hợp này thì có một câu chuyện, đó là khi bất kì ai chết trong
lâu đài thì toàn bộ chó trong làng và những con thú hoang trong rừng đều tru lên
suốt cả đêm. Nghe thứ đó thì chẳng vui thú gì đâu nhỉ?”
“Điều đó sẽ khác thường và lãng mạn,” người thương nhân
Hamburg nói.
“Dù sao thì chuyện đó cũng không có thật,” bà nam tước nói
vẻ thích chí, “từ hồi bọn chị mua nơi này thì đã được kiểm chứng là không có
chuyện gì kiểu đó xảy ra hết. Hồi mẹ chồng chị mất mùa xuân năm ngoái tất cả bọn
chị đều lắng tai nghe, nhưng không có tiếng tru. Đó chỉ là một câu chuyện giúp
cho nơi này thêm phần danh giá mà không tốn gì hết.”
“Câu chuyện không phải như bà kể đâu,” bà giáo già Amalie
nói. Ai cũng quay sang nhìn bà vẻ kinh ngạc. Bà ấy có thói quen ngồi im lặng, làm
ra vẻ nghiêm nghị rồi biến mất, không bao giờ nói trừ khi có ai đó nói chuyện với
bà, và chẳng có mấy người bắt chuyện với bà để rước việc vào mình. Hôm nay bà đột
nhiên lại trở nên nói nhiều; bà tiếp tục nói nhanh vẻ bồn chồn, mắt nhìn thẳng về
phía trước và dường như không đặc biệt nói với ai hết.
“Không phải khi bất kì ai chết trong lâu đài thì cũng
nghe thấy tiếng chó tru hết. Chỉ khi một người nhà Cernogratz chết ở đây thì lũ
sói xa gần mới đến tru ở bìa rừng ngay trước lúc người đó chết thôi. Chỉ có vài
cặp sói có hang ở phần này của khu rừng thôi, nhưng mỗi lần như vậy những người
coi rừng lại nói có đến hai chục con lướt đi trong bóng tối và đồng thanh tru lên,
lũ chó trong lâu đài, trong làng và tất cả các trang trại xung quanh đều sẽ sủa
và tru lên trong sợ hãi và tức giận trước bản đồng ca của sói, rồi khi linh hồn
của người chết rời khỏi thể xác, một cái cây trong rừng sẽ đổ rầm xuống. Đó là
chuyện đã xảy ra khi một người nhà Cernogratz chết trong lâu đài nhà mình. Nhưng
với một người lạ chết ở đây thì tất nhiên sẽ không con sói nào tru và không có
cây đổ. Ồ không đâu.”
Giọng bà mang vẻ thách thức, gần như là coi thường lúc nói
những từ cuối cùng. Bà nam tước phì nộn, ăn mặc quá cầu kì giận dữ nhìn chằm chằm
vào bà lão ăn mặc không đúng mốt người vừa tiến lên rời khỏi vị trí nhún nhường
thích đáng thường ngày của mình mà nói năng vô lễ đến vậy.
“Bà có vẻ biết nhiều về các truyền thuyết của nhà von
Cernogratz nhỉ Fraulein Schmidt,” bà ta nói gay gắt, “tôi đã không biết là lịch
sử của gia đình đó lại nằm trong những đề tài mà người ta cho là bà hiểu rõ đấy.”
Câu trả lời cho lời chế nhạo của bà ta thậm chí còn bất
ngờ và sửng sốt hơn cả lời nói bộc phát khơi nên cuộc nói chuyện này.
“Tôi chính là một người nhà von Cernogratz,” bà lão nói,
“vì vậy nên tôi biết lịch sử gia đình mình.”
“Bà là người nhà von Cernogratz sao?” tất cả mọi người cùng
đồng thanh vẻ hoài nghi.
“Khi chúng tôi đã quá nghèo,” bà giải thích, “và tôi phải
ra ngoài dạy học thì tôi lấy một cái tên khác. Tôi nghĩ thế sẽ phù hợp hơn. Nhưng
ông nội tôi dành phần lớn thời gian hồi còn nhỏ trong lâu đài này, còn cha tôi
từng kể tôi nghe nhiều chuyện về nó và tất nhiên, tôi biết toàn bộ truyền thuyết
và chuyện kể về dòng họ. Khi người ta không còn gì để lại cho người khác ngoài
kí ức thì họ canh giữ và phủ bụi lên nó với sự quan tâm đặc biệt. Hồi nhận dạy
cho nhà quý vị, tôi chẳng mấy nghĩ rằng sẽ có ngày tôi đi cùng các vị tới nhà cũ
của dòng họ mình. Tôi đã ước giá như đó là nơi nào khác.”
Mọi người đều im lặng khi bà nói xong, và rồi bà nam tước
hướng cuộc nói chuyện sang một chủ đề ít làm lúng túng hơn lịch sử dòng họ. Nhưng
sau đó, khi bà giáo già đã lặng lẽ lẩn đi làm nhiệm vụ của mình thì lại có tiếng
ồn ào chế nhạo và hoài nghi.
“Thật là xấc xược,” ông nam tước nói giọng cáu bẳn, đôi mắt
lồi của ông ta tỏ ra bị xúc phạm. “Cứ nghĩ tới chuyện người đàn bà đó nói như
thế ở bàn chúng ta mà xem! Bà ta gần như bảo chúng ta không là ai hết, và tôi
không tin lời nào trong số đó hết. Bà ta chỉ mang họ Schmidt không hơn không kém.
Bà ta đã nói chuyện với vài tên nông dân về dòng họ Cernogratz cổ xưa rồi nhắc
lại lịch sử và chuyện nhà họ thôi.”
“Bà ta muốn làm cho mình có địa vị cao đó mà,” bà nam tước
nói. “Bà ta biết mình sớm sẽ thành sản phẩm của thời đã qua và muốn kêu gọi sự
thông cảm của chúng ta. Ái chà, ông nội bà ta kia đấy!”
Bà nam tước có cả mớ ông như thường lệ nhưng bà ta không
bao giờ khoe khoang về họ hết.
“Tôi dám nói ông nội bà ta từng là một thằng nhỏ chạy việc
trong bếp hay thứ gì đại loại như thế trong lâu đài này,” ông nam tước cười khẩy,
“phần đó của câu chuyện có khi lại thật đấy.”
Thương nhân từ Hamburg không nói gì hết; ông đã nhìn thấy
mắt bà lão ngấn nước khi bà nói về việc canh giữ kí ức của mình, hoặc do là một
người có khuynh hướng giàu trí tưởng tượng nên ông nghĩ là mình đã thấy thế cũng
nên.
“Ngay khi cuộc ăn mừng năm mới kết thúc tôi sẽ ra thông báo
cho bà ta đi ngay,” bà nam tước nói, “tới lúc đó chắc tôi sẽ quá bận rộn xoay xở
mà không có bà ta.”
Nhưng dù sao bà ta cũng phải xoay xở mà không có bà giáo
bởi trong cái thời tiết lạnh cắt da cắt thịt sau Giáng sinh, bà giáo già ngã bệnh
và ở luôn trong phòng.
“Thật là chọc tức người ta quá mà,” bà nam tước nói lúc
khách khứa ngồi quanh lò sưởi vào một trong những buổi tối cuối năm. “Suốt thời
gian bà ta ở với chúng tôi, tôi không nhớ nổi có lần nào bà ta bị bệnh nặng đâu,
ý tôi là bệnh quá không làm việc được. Và giờ thì khi tôi có cả một nhà đầy người
và bà ta có thể có ích theo rất nhiều cách thì bà ta lại ngã bệnh. Tất nhiên là
người ta lấy làm buồn cho bà ta, trông bà ta thật khô héo và quắt queo, nhưng dù
sao đi nữa thì cũng bực mình quá thể.”
“Bực mình thật,” vợ ông chủ ngân hàng đồng ý vẻ thông cảm.
“Mong chính là do cái lạnh khắc nghiệt làm mấy người già yếu đi. Năm nay trời lạnh
đến bất thường.”
“Sương giá trong tháng 12 này là thứ khắc nghiệt nhất mà
người biết được suốt nhiều năm qua,” ông nam tước nói.
“Và tất nhiên là bà ta khá già rồi,” bà nam tước nói. “Ước
gì tôi đã đưa ra thông báo cho bà ta mấy tuần trước, có vậy thì hẳn giờ bà ta đã
đi trước khi chuyện này xảy ra với mình. Gì thế Wappi, có chuyện gì với mày vậy?”
Chú chó nhỏ lông xoăn tít đã bất thình lình nhảy xuống khỏi
tấm đệm của mình và run rẩy trườn xuống dưới trường kỉ. Cùng lúc đó một tràng
tiếng chó sủa nổ ra trong sân lâu đài và tiếng những con chó khác kêu ăng ẳng
xa xa.
“Thứ gì đang quấy
rầy lũ động vật vậy nhỉ?” ông nam tước hỏi.
Rồi người ta chăm chú lắng nghe và nghe ra được cái âm
thanh đã kích động lũ chó bộc lộ nỗi sợ và cơn thịnh nộ của mình, nghe thấy một
tiếng tru rên rỉ kéo dài, lên bổng xuống trầm, có lúc như cùng nhau đi xa dần,
có lúc lại quét qua lớp tuyết tới khi nghe như nó đến từ chân tường lâu đài. Toàn
bộ nỗi khổ sở lạnh lẽo, đói ăn của một thế giới băng giá, toàn bộ cơn thịnh nộ
chết chóc của thế giới hoang dã cùng hòa vào những giai điệu đau khổ, buồn thăm
thẳm kia thứ mà người ta không thể nào gọi tên, tất cả dường như đều tập trung
vào tiếng kêu than van đó.
“Sói!” ông nam tước nói.
Thứ âm nhạc của chúng tuôn ra trong một cơn bùng nổ dữ dội
dường như vang đến từ mọi phía.
“Hàng trăm con sói,” thương nhân Hamburg nói, ông là người
có trí tưởng tượng phong phú.
Cảm động bởi một thôi thúc nào đó mà mình không thể giải
thích, bà nam tước bỏ lại khách của mình và đi tới căn phòng nhỏ hẹp, ảm đạm nơi
bà giáo già nằm dõi theo từng giờ từng phút của cái năm sắp hết trôi qua. Mặc
cho cái lạnh buốt giá của đêm mùa đông, cửa sổ vẫn để mở. Bà nam tước la lớn vẻ
khó chịu và tức tốc lao tới đóng nó lại.
“Cứ để nó mở,” bà lão nói với giọng yếu không ra hơi nhưng
vẫn mang vẻ quyền uy mà bà nam tước chưa bao giờ nghe thấy từ bà.
“Nhưng bà sẽ chết vì lạnh mất!” bà ta phê bình.
“Dù sao tôi cũng sắp chết rồi,” bà lão nói, “và tôi muốn
nghe bản nhạc của chúng. Chúng đã đi một quãng đường xa tới để hát bản nhạc tử
thần của dòng họ tôi. Thật tuyệt vì chúng đã tới – tôi là người cuối cùng của
nhà von Cernogratz sẽ chết trong lâu đài cổ của mình và chúng đã tới để hát cho
tôi nghe. Nghe đi, chúng gọi thật là to đấy!”
Tiếng của lũ sói bay lên trong không gian mùa đông tĩnh lặng
và lơ lửng quanh những bức tường của tòa lâu đài trong những tiếng rền rĩ nhức
nhối kéo dài. Bà lão ngả lưng xuống trường kỉ với vẻ mặt hạnh phúc đã bị trì hoãn
từ lâu.
“Đi đi,” bà nói với bà nam tước, “tôi không còn cô đơn nữa.
Tôi là thành viên của một dòng họ cổ xưa vĩ đại…”
“Tôi nghĩ bà ta sắp chết rồi,” bà nam tước nói khi đã trở
lại với khách của mình. “Tôi nghĩ chúng ta phải cho gọi bác sĩ thôi. Mà chúng
tru ghê quá! Tôi mà có được cái bản nhạc tử thần kiểu đó thì chẳng tốn bao tiền
đâu.”
“Giá nào cũng không mua được bản nhạc đó đâu,” Conrad nói.
“Nghe nào! Có tiếng gì khác đấy?” ông nam tước hỏi lúc
nghe thấy một âm thanh như thứ gì đó nứt ra và đổ sầm xuống.
Đó là một cái cây đổ trong rừng.
Thoáng chút yên lặng gượng gạo và rồi vợ ông chủ ngân hàng
cất tiếng.
“Chính cái lạnh buốt giá làm cây nứt đấy. Cũng
do lạnh khiến cho lũ sói ra ngoài với số lượng lớn đến vậy. Nhiều năm rồi chúng
ta mới lại có một mùa đông lạnh đến thế này.”
Bà nam tước hăng hái đồng tình rằng cái lạnh chịu trách
nhiệm cho những chuyện này. Cũng chính do cái lạnh của khung cửa sổ để mở đã gây
ra cơn suy tim khiến cho sự chăm sóc của bác sĩ đối với bà lão Fraulein là không
cần thiết. Nhưng cái thông báo trên báo trông hay lắm:
“Vào ngày
29 tháng 12, ở lâu đài Cernogratz, Amalie von Cernogratz, người đã nhiều năm là
người bạn yêu quý của ông và bà nam tước Gruebel, đã qua đời”.
TRƯƠNG THỊ MAI
HƯƠNG dịch
Nguồn: americanliterature.com.
Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018
NHÌN LẠI MỘT NĂM TRUYỆN NGẮN TRÊN CHƯ YANG SIN - BẢN NHẠC MÙA XUÂN của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Khi gió bất ngờ đổi hướng, thổi
tung dọc cánh rừng, lật tung từng đám cỏ ngoài thảo nguyên, ấy là lúc, mùa xuân
sắp sửa quay về. Bộn bề hay thong thả thì cũng chừng đó tháng ngày chữ nghĩa,
chừng đó khát khao vây bủa. Ngoái nhìn lại một năm truyện ngắn trên Tạp chí Chư
Yang Sin, cũng là lúc nhìn lại từng gương mặt văn xuôi vốn đã trở nên quen thuộc
với bạn đọc của Tạp chí.
Một năm qua, không có một giọng nói
mới nào xuất hiện. Vẫn là những giọng điệu đã trở nên quen thuộc, nghe nhiều,
thành ra lắng đọng tâm tình, nghe nhiều, mới thấy được nỗ lực tìm tòi đổi thay
không ngừng nghỉ.
Giải thưởng hàng năm, giải A năm
nay được trao cho Nguyễn Anh Đào, một cây bút sung sức đang ngày càng khẳng định
được phong cách của mình. Câu chuyện ban đầu từ thị xã Buôn Hồ nhỏ bé cứ
“loang” ra mãi, không chỉ ở bức tranh hiện thực được mở rộng ra, mà còn ở khả năng
chinh phục bạn đọc khắp mọi miền trên cả nước. Từ những bi kịch nhỏ, đã thấy được
ý đồ khái quát hiện thực, câu chuyện của Đào bây giờ đã có thêm những chiều kích
mới. Về mặt kỹ thuật viết, hình ảnh, chi tiết, nhân vật cũng đã linh hoạt, biến
ảo, hấp dẫn hơn so với trước kia. Tập truyện mới nhất của Nguyễn Anh Đào Thà
cứ một mình rồi quen cho thấy một bút lực dồi dào và nỗ lực không ngừng
của người viết văn nghiêm túc.
Giữa bộn bề lo toan của đời thường,
càng thấy trân quý và cảm phục những nhà văn thủy chung với trang viết. Một năm
qua, bạn đọc vẫn dõi theo những câu chuyện có khi cảm động, có khi thú vị, có
khi trầm buồn của các nhà văn đứng tuổi tại địa phương. Các nhà văn Nguyễn Hoàng
Thu, H’Linh Niê, Trúc Hoài, Khôi Nguyên, Niê Thanh Mai… vẫn đều đặn xuất hiện,
khi là truyện ngắn, khi là bút ký, có khi là trích đoạn của một tiểu thuyết. Tác
giả Hồng Chiến vẫn miệt mài theo đuổi những trang viết cho lứa tuổi thiếu niên
nhi đồng, bằng những chuyện kể chân chất, mộc mạc về đời sống sinh hoạt của trẻ
thơ đồng bào Tây nguyên nhiều bí ẩn, lắm thi vị. Tác giả Nguyên Hương bộn bề với
các dự án dài hơi tại các hãng phim truyện, các nhà xuất bản, vẫn không quên đều
đặn góp giọng nói duyên dáng, hóm hỉnh của mình làm phong phú thêm cho Tạp chí
Chư Yang Sin.
Một năm qua, cũng có những giọng
nói đột nhiên im lặng, như một khoảng lặng mênh mang giữa bản nhạc thiết tha của
núi rừng. H’Siêu Bỹa, H’Xíu Hmốk, H’Phila Niê đã từng làm người đọc thảng thốt
bởi những câu chuyện đầy ám ảnh, bây giờ, vẫn đang lặng lẽ kiếm tìm, lặng lẽ tích
lũy kiến thức, như ong thợ mất hút giữa đại ngàn hoa thắm. Có hôm nào đó khi mùa
xuân bừng dậy, họ lại trở về với bạn đọc đang mong đợi, cất lên những lời run rẩy,
kể lại câu chuyện thảo nguyên, như thuở ban đầu. Mong lắm thay! Văn chương vốn
là thứ không thể vội vàng, càng không phải thứ muốn là được. Chúng ta đều đã biết
vậy rồi. Vậy nên trong khi chờ đợi mùa quả mới từ những bạn viết trẻ nói trên,
bạn đọc lại dõi theo trò chơi chữ nghĩa cô độc của Lâm Hạ, Trần Hương Giang –
những bút danh đã trở nên quen thuộc, thân thương trên Tạp chí.
Trần Hương Giang bây giờ đã lập
nghiệp ở một nơi rất xa, xa núi, xa rừng, nhưng hồn cây, hồn cỏ thì vẫn vương
mang. Hãy nghe Giang kể về nỗi hoang
mang của người sinh ra ở núi, giờ làm người xa xứ: “Tôi vẫn đang tìm
kiếm những nơi có thể cho tôi được quyền trốn nấp. Vì, ít ra, vào lúc này tôi sẽ
bớt được những cơn hãi hùng sợ sệt mơ hồ vô lí, khiến đôi chân tôi thi thoảng
run lên bần bật. Thế giới bỗng trở nên khó hiểu và bất an hơn những gì tôi biết
từ khi mới mở mắt chào đời. Thế giới như những mắt lưới chằng chịt. Xung quanh
tôi, sự ích kỉ ngập tràn trong từng con mắt liếc dọc liếc ngang. Họ ngấm nguýt
nhau. Họ nheo mắt nhìn nhau một cách cà khịa, ghét bỏ. Họ gầm gừ, đe dọa lẫn
nhau mỗi ngày trôi qua đến phát chán trước mặt tôi. Những lần tôi hờ hững lạnh
lùng, với nỗi buồn ngập sâu và dậy sóng một cách hồn nhiên trong lòng mình là
khi mọi cảm giác đều lặng lẽ chuồi khỏi tâm hồn tôi và lần lượt tắt ngóm, chết
dần chết mòn đến thê thảm”. (Truyện ngắn Mắt lưới, Chư Yang
Sin số tháng 6.2017).
Lâm Hạ, người vừa từ đâu đó, trong
nỗi cô độc của mình, cất lên bài ca bi hoan quen thuộc của núi Chư H’Lâm hoang
dại: “Vì tôi gặp T. quá
trễ, trễ lắm rồi. Sự muộn màng kéo dài chiếc bóng tôi trôi cùng cơn mưa vàng,
thành một khoảng không đen sâu hun hút. Nơi đó, tôi thấy mình trần truồng nằm bất
động, không một mảnh vải che thân. Máu cứ ri rỉ chảy tràn ra từ khe hở, từ lỗ mũi,
khóe mắt, làn môi, lỗ tai. Máu cứ chảy mãi thành một cơn mưa đỏ, và tôi cười giòn
như nắng thủy tinh. Máu quyện thành dòng chữ, thành câu thơ của T. mơn man
quanh thân thể tôi. Tôi gọi T. mãi mà T. vẫn chạy, tà váy cô dâu của người con
gái nào đó tung bay, T. reo vui như một ngọn gió. Tôi nằm chết giữa ngày dài”. (Truyện ngắn Dưới cột đèn, Chư
Yang Sin số tháng 12.2017).
Người biên tập, như thường lệ, hết sức trân quý các nhà văn, các bạn viết của
Tạp chí, nâng niu từng con chữ, từng dấu câu, từng ý tưởng của mỗi tác giả, với
mong muốn khu vườn văn chương của chúng ta luôn luôn rạng rỡ sắc màu và rộn rã âm
thanh. Xin chúc tất cả các bạn viết một
mùa xuân mới ấm áp, thăng hoa ý tưởng và cảm xúc, xứng đáng với tình cảm mong đợi,
kỳ vọng của bạn đọc!
Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018
LỄ CÚNG LÚA GIỐNG ÊĐÊ - NCLLPB của LINH NGA NIÊ KDAM - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018
Văn hóa Việt Nam tồn tại song song hai nền
văn minh lúa nước của cư dân đồng bằng và nương rẫy của nhóm các tộc người thiểu
số sinh sống trên các vùng miền núi. Cả hai nền văn minh ấy đều vô cùng rực rỡ
và độc đáo, góp phần làm nên những đặc trưng riêng biệt của một chủ thể văn hóa
Việt Nam đa dạng mà đồng nhất.
Căn cứ theo tôn giáo thực hành đa thần sản
sinh từ văn minh nương rẫy mà một năm của người Tây Nguyên có nhiều lễ tiết. Đầu
tiên là những lễ thức theo chu kỳ của nông lịch canh tác nương rẫy, tiếp tới là
theo vòng đời sinh trưởng và chết đi của một con người, cuối cùng là những lễ
thức phải có để phục vụ cho những mối quan hệ xã hội, vô cùng cần thiết đối với
mọi cộng đồng. Quan trọng nhất trong hệ thống các lễ thức này, chính là những lễ
nghi liên quan tới mối quan hệ sản xuất, canh tác nương rẫy. Các lễ nghi chính
là thái độ ứng xử đầy tôn trọng của cư dân miền núi đối với các vị thần linh
thiêng. Và mùa xuân chính là mùa tập trung dày đặc nhiều lễ hội nhất của Tây
Nguyên.
Chuyện kể rằng đưm hrưm - ngày xưa hạt
lúa rất to. Khi lúa chín vàng, chắc hạt, bông cong vòng trĩu xuống, con người
phải bắc sợi giây dài từ rẫy, lúa tự theo đó về nhà. Chỉ bỏ vài hạt nấu là có nồi
cơm ngon. Nhưng tại cô gái ấy mải chơi không coi bếp lửa, để gạo nở bùng, vỡ ra,
chảy hết xuống bếp làm tắt cả lửa. Yang giận quá nên cho hạt lúa cứ nhỏ lại thế.
Bắt con người phải tự suốt lúa, tự gùi mang về.
Cổ tích là thế. Nhưng tộc người Tây Nguyên
nào cũng rất coi trọng hạt lúa. Có hai cách gìn giữ lúa giống: một cách là bó thành
từng bó nguyên bông lúa, treo trên gác bếp. Cách thứ hai suốt lấy những hạt chắc
mẩy nhất, bỏ trong những chiếc vỏ bầu khô, đặt trên gác bếp. Đến mùa trồng tỉa,
người phụ nữ chủ nhà phải đích thân gieo những khóm lúa dùng để cúng Yang ở đám
đất giữa rẫy. Lúa chín tự mình cắt về, tự tay nấu chén cơm cúng đầu tiên. Trong
hệ thống các lễ nghi theo nông lịch, những lễ cúng lúa được coi là quan trọng
nhất, thế nên bà con mới thường gọi là Mẹ Lúa. Để cúng lúa thông thường có 2 lễ:
khi gieo hạt và khi suốt những hạt lúa chín đầu tiên vô gùi. Thu được 100 gùi lúa
là nhất định phải có ăn trâu để tạ ơn các thần linh, (để đón được hạt lúa về nhà,
người Rmam phải cúng tới 5 lần, người Mnông cũng phải cúng 2 lần).
Trong hệ thống các lễ nghi theo nông lịch của
người Tây Nguyên nói chung, người Êđê nói riêng, lễ cúng giống lúa là lần cúng
thứ nhất, nhưng cũng là giai đoạn thứ 2 trong vòng đời cây lúa, sau lần đầu tiên
cúng rẫy để chuẩn bị đất đai cho vụ mùa mới. Đây là nghi lễ được tiến hành khi
việc phát hoang khu đất mới, hoặc đốt rẫy, dọn đất mảnh rẫy cũ đã xong. Trong lễ
này, không chỉ mời gọi, cúng thần lúa (yang hri) mà còn cúng các vị thần
đất (yang êlăn), thần mưa (yang h’yan), thần gió (yang angin)…
cầu cho mưa thuận gió hòa, giúp cho mùa màng bội thu. Bởi những vị thần này được
tin rằng luôn hiện diện xung quanh cuộc sống của cộng đồng- kể cả linh hồn của
những người đã khuất - phù hộ hay trừng phạt tùy vào thái độ ứng xử của con người.
Con chim tre vet chưa cất tiếng gọi, người
phụ nữ chủ gia đình đã xếp gọn ghẽ tấm mền
thổ cẩm, vấn lại mái tóc dài, lui cui nhen bếp lửa, chuẩn bị các lễ vật sẽ phải
có trong lễ cúng. Bởi theo tập quán, người Êđê thường gieo lẫn các loại hạt giống
bầu bí, cà cùng với giống lúa, nên lễ vật sẽ bao gồm hai con gà trống, một ché
rượu, một chén cơm, một thúng hạt lúa giống, các loại giống cây trồng, một ống đựng
hạt bằng nứa, 2 cây gậy chọc tỉa, cuốc (wăng wit) đều đặt trong một chiếc
mẹt và một ghè rượu. Việc của bà chủ là soạn ra đó cho đầy đủ. Ông chồng cũng
ra khỏi phòng ngủ, vặt cổ một con gà đốt trên bếp lửa cho cháy hết lông và làm
sạch, bỏ vô nồi luộc. Sau đó dựng cây cột gâng và buộc các ché rượu ngay chính
giữa nhà. Vòng lá chuối khô ngăn trấu không nổi lên mặt ché đã gài chặt. Cần uống
rượu đã khai thông. Chiếc nồi đồng đựng nước châm rượu cũng đã được dọn ra, đặt
gần đấy và đổ đầy nước sạch. Con gà trống còn sống buộc chân để cạnh đó.
Mặt trời lên chưa tới ngọn cây, mới ngang hông
nhà, mọi việc chuẩn bị đã xong. Con gà luộc đã chín với đầy đủ bộ lòng, đặt trên
mẹt bên cạnh các hiện vật khác. Lễ cúng được tiến hành long trọng 2 lần. Lần đầu
tại gian khách của nhà dài. Nghi thức đầu tiên, thầy cúng hút rượu trong ché ra, cắt tiết gà cho huyết chảy
vô chén rượu để hiến tế và nghiêm trang khấn thần lúa cùng các vị thần mưa, thần
sông, thần gió, các linh hồn những người thân trong gia đình đã về cõi xa -
Yang atâo… về chứng giám lòng thành của gia chủ. Sau khi khấn xong tại ché, chủ
lễ tiến hành khấn lần 2 tại mâm cúng. Mâm cúng bao gồm một bát tiết gà hòa rượu,
một con gà luộc chín, thúng giống lúa và các giống cây trồng khác. Cũng không
thể thiếu trầu cau (Mẹ Lúa mà).
Nội dung lời khấn cầu thần lúa, các thần mưa,
gió… phù hộ cho mưa thuận gió hòa, hạt lúa bắp, mùa màng gieo xuống đất mọc lên
tươi tốt. Chủ lễ ngồi bên mâm hạt giống các loại, tay cầm bát đựng rượu hòa với
huyết gà miệng khẩn cầu các thần: “Ơ Yang phía tây, Yang phía đông, Yang sông,
Yang núi, Yang mưa, Yang mây, Yang hri, Yang atâo. . Chúng tôi dâng lên các vị
thần linh thiêng con gà và ghè rượu. Xin các Yang cho chúng tôi mùa vụ này mưa đều,
gió nhẹ. Cho giống hạt lúa, hạt bắp, hạt bí bầu
gieo xuống đất nhanh nảy mầm chui lên. Không bị con chim con thú phá phách
ăn hết. Yang cho lúa bắp đầy hạt. Bầu bí nhiều hoa trái. Chúng tôi sẽ lại cúng
các Yang nhiều hơn nữa. Ơ Yang….” Khấn xong ông rảy rượu lên các cây gậy chọc
lỗ, ống đựng lúa giống và các loại hạt giống. Hành động ấy có nghĩa là các hạt
giống và vật dụng này đều đã được các vị thần linh thiêng ban phước, phù trợ
cho một vụ mùa mới an lành và bội thu.
Sau khi đã khấn xong, mọi người cùng uống rượu
cần m’năm mrinh – chuyền tay, bắt đầu từ gia chủ, từ già đến trẻ, phụ nữ
được uống trước rồi đến các thành viên trong gia đình. Những người tham dự cũng
được mời uống để sẻ chia sự khẩn cầu và niềm vui vào mùa vụ gieo trồng cùng gia
đình.
Người ta cũng có thể làm lễ cúng lần thứ 2
này ngay ngoài rẫy. Khi ấy ông chủ gia đình sẽ làm một chiếc dàn cúng đơn sơ đặt
ngay đầu rẫy, hoặc trước cửa căn chòi canh rẫy, trên bày đủ các lễ vật như đã nói
ở trên. Cũng tuần tự như thế mà cúng.
Lễ xong là lúc lên rẫy, bắt tay vào gieo trỉa.
Nếu là lễ cúng ở nhà, không thể thiếu tiếng
nói của ching chêng. Bởi đó là lời mời gọi, là sự sẻ chia của con người đối với
các vị thần linh và cộng đồng. Tiếng ching kết nối trái tim, tâm hồn đối với các
linh hồn Yang atâo đã bay về chốn thiêng, với con người buôn gần, làng xa.
Với niềm tin hồn nhiên và đơn sơ vào sự chân
thành của con người, sự hiển linh của các vị thần, người Êđê tin rằng sau lễ cúng
lúa, các yang đã nhận lời khẩn cầu và sẽ phù trợ cho hạt giống gieo xuống nảy mầm,
mùa màng năm nay tươi tốt, nhà nhà no đủ. Được vậy, đến vụ thu hoạch gia chủ sẽ
sửa soạn một lễ cúng lớn hơn, con vật hiến sinh to hơn để tạ ơn.
Mùa
màng cứ vậy trôi đi hết mùa nắng tới mùa mưa trên cao nguyên đất đỏ màu mỡ. Cầu
Mẹ Lúa ban cho bội thu, để nụ cười nở trên môi con người và tiếng ching knah
chảy dài theo gió, theo nắng. Và rồi đến ngày thu hoạch, căn cứ vào số gùi
lúa được đem về, người ta lại tổ chức các lễ cúng lúa mới tạ ơn cho Mẹ Lúa.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)








