Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

YANG PHẠT truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO DAK LAK SỐ XUÂN NĂM 2003





Buôn Um quê tôi chỉ có hơn hai chục nóc nhà sàn dựng ngay dưới chân dãy Chư Yang cao vút. Ban ngày tiếng chim hót, vượn hú và có cả tiếng chim công gọi nhau “Tố hộ, tố hộ!” vang vọng vào từng góc bếp. Mùa bắp, mọi người phải thay nhau gác rẫy suốt ngày đêm, đốt lửa gõ chiêng xua đuổi heo, nai, khỉ, két tìm về phá hoại. Chẳng biết chúng ở đâu mà kéo về nhiều đến thế, có bầy két mỗi lần bay qua rẫy làm tối cả góc trời, tiếng vỗ cánh như tiếng gió lốc. Người dân nơi đây chủ yếu trồng lúa nước, bắp, đâu theo mùa, nhờ Yàng nhà ai cũng đủ gạo ăn quanh năm. Những ngày lễ tết cũng vây quanh ché túc, ché ba rôm ra cả đêm.
Rừng sát nhà, toàn những cây hàng mấy trăm mùa rẫy đứng chen nhau bên những tảng đá khổng lồ. Đã bao đời nay khi đốn gỗ làm nhà những chàng trai lực lưỡng phải đi xa tìm cây ưng ý đốn, chẻ, kéo về chứ không phá rừng gần. Vì vậy buổi sáng sớm khi con gà rừng giật mình tỉnh giấc cất tiếng gọi bình minh cũng là lúc đôi chim “năm trâu sáu cột – bắt cô trói cột” tìm thấy nhau, không khắc khoải gọi nữa, nhường lời cho các chú dọc, vượn nhảy nhót, rung cây hú gọi vang trời đất. Đó cũng là lúc các amí, amai dậy nhóm lửa, thổi cơm chuẩn bị cho một ngày mới.
Chiều đến khi ông mặt trời nấp sau dãy núi, mọi người cơm nước xong  lại vây quanh bếp lửa lắng nghe già là kể chuyện. Chuyện già làng kể nhiều lắm song từ bé tôi đã nghe và nhớ mãi chuyện Yàng phạt người tham lam vì dám động đến rừng.
Không biết từ bao giờ trên dãy Chư Yang cao vút có một bầy sơn dương đông đúc. Chúng là loài vật hiền lành nhưng khéo léo vô cùng. Những tảng đá to như gian nhà chen lấn nhau từ chân núi kéo lên tận đỉnh trơn như đổ mỡ, vậy mà chúng lon ton chạy nhảy,  nô đùa trên đó cấm có trượt chân bao giờ. Những cây sung sum sê bên bờ suối người còn không trèo nổi, vậy mà chúng vẫn hái được những chùm quả ở lưng chừng cây. Lúc hái quả trên cao chúng khéo léo đứng bằng hai chân sau, hai chân trước bám vào cây hoặc kéo lá xuống để ăn. Điều đặc biệt của bầy sơn dương là không bao giờ phá phách hoa màu. Chúng chỉ nhởn nhơ trên triền núi đá, chiều chiều khi ông mặt trời sắp ngủ lại kéo nhau lên mỏm núi, nơi có những tảng đá cao vút, đứng nhìn xuống buôn. Những ngày đẹp trời ngồi trên nhà sàn có thể nhìn rõ con đầu đàn to như con bò, đen bóng đứng uy nghi nổi bật giữa bầu trời trong xanh. Từ xa xưa cho đến nay dân buôn Um không ai săn bắt sơn dương bởi đó là loài thú quá tinh khôn, không dễ gì bắn hạ. Hơn nữa chúng không làm hại gì ai mà chỉ tăng thêm vẻ đẹp cho quê hương. Mỗi buổi bình minh hay lúc chiều tà trên các mỏm núi vương vất những sợi nắng vàng chúng lại rủ nhau xếp hàng đứng nhìn xuống buôn như những vị thần được yàng sai xuống bảo vệ mùa màng cho con người.
***
Năm ấy bông có người lạ vào buôn lân la trò chuyện, rủ rê đám thanh niên đi săn. Con thú người lạ muốn mua chính là bầy sơn dương trên đỉnh núi Chư Yang. Người ấy cho biết con sơn dương quý lắm, bộ xương đem nấu cao dùng cho đàn ông thì tuyệt vời, chắc chắn không có loại thuốc tây – đông nào sánh được và các bà vợ sẵn sàng móc hầu bao mua dành cho chồng. Cặp sừng sơn dương có giá trị gần như sừng tê giác chuyên dùng để chữa các bệnh đường ruột – cách dùng cũng cực kỳ đơn giản: Mài đầu sừng vào chén sành, pha chút rượu trắng thì dù có đau bụng vật vã thế nào, chỉ một phút sau khỏi ngay. Bộ phận quý nhất của con sơn dương – đặc biệt con sơn dương chúa – chính là bốn cái chân. Sở dĩ chúng thuộc loài móng guốc nhưng leo trèo trên cây, trên đá được là nhờ trong móng của nó có túi mật. Chính túi mật này giúp chân sơn dương dù có bị té cũng lành ngay. Nhìn chung trong người con sơn dương cái gì cũng làm thuốc được, vì thế người lạ mới phải lặn lội vào buôn thuê người săn bắn. Từ lâu người buôn Um xem sơn dương là biểu tượng của thần may mắn, mang lại mùa màng bội thu cho mọi nhà. Vì vậy cho dù cái giá được đặt ra đổi con sơn dương đầu đàn là cả chục con bò mẹ vẫn không ai muốn nhận lời. Già làng nghe chuyện đã nói: “Sơn dương là bạn của buôn ta, không ai được sát hại. Kẻ nào làm điều ác với nó sẽ bị đuổi khỏi buôn!”.
Nhưng không phải ai cũng nghe theo lời đúng, trong buôn vẫn có kẻ tham lam, xem rượu, tiền là trên hết, sẵn sàng đánh đổi mọi thứ. Hắn chính là Y Reo, một kẻ đẹp mã, lực lưỡng nhưng lười lao động, chỉ thích uống rượu và tính chuyện đổi chác kiếm lời. Có lẽ vì vậy nên đã hơn hai chục mùa rẫy rồi hắn vẫn chưa có ai thèm bắt làm chồng, tháng ngày cậy nhờ vào mẹ, vợ chồng chị gái, em gái. Nay nghe chuyên một con sơn dương đổi cả chục con bò, hắn mừng như bắt được vàng. Hắn tin đã đến lúc hắn được đổi đời giàu có hơn người và khối cô gái sẽ chạy theo hắn xin bắt làm chồng. Già làng đã cấm không được săn bắn, và hắn cũng sợ luật bất thành văn ấy, song bỏ lỡ cơ hội này thì hắn tiếc lắm. Phải có cách để nhận sốbò của người khách lạ. Cuối cùng, cái đầu đầy rượu nhưng không kém phần xảo quyệt của kẻ ưa đổi thứ này lấy thứ khác kiếm lời hơn là đi phát rẫy làm nương cũng vạch ra một kế hoạch táo bạo để thoát khỏi lời nguyền của già làng. Quả thật không ai ngờ hắn lại liều lĩnh làm vậy.
***
Đêm cuối tháng, bầu trời mùa khô Tây Nguyên trong vắt rắc đầy những vì sao óng ánh nhấp nháy như những con mắt đang dõi theo hai bóng den soi đèn pin nối nhau bám vào vách đá đeo lên đinh Chư Yang. Kẻ dẫn đường không ai khác ngoài Y Reo. Dù phải bám vào từng mép đá, mò mẫm đặt chân lên các cạnh đá sắc như dao cạo, có hòn  trơn tuột song trên vai hắn chiếc gùi đựng nước, đựng rượu và khô nai vẫn được giữ cẩn thận. Kẻ bám theo sau vác khẩu sung Galíp sản xuất tại Hoa Kỳ chính là vị khách lạ cần mưa sơn dương. Theo kế hoạch của Y Reo, hai đứa lợi dụng đêm tối trèo lên đỉnh  núi, núp gần hòn đá lớn, nơi mỗi sáng sớm hay hoàng hôn con sơn dương chúa thường dẫn bầy ra đứng nhìn xuống buôn. Lúc đó, chỉ cần kéo cò chắc chắn sẽ hạ được con mồi. Không ai phạt được Y Reo vì hắn có bắn đâu, người lạ bắn đấy chứ! Còn người lạ thì đâu phải người dân buôn Um nên không bị ràng buộc bởi lời nguyền. Bọn chúng quả thật “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, tìm đến với nhau để làm chuyên đen tối.
Mặc dù rất khó khăn, vất vả gần sáng khi bầy vượn ở lưng chừng núi gọi nhau thức dậy, hai đứa cũng đến được nơi cần đến. Đứng trên mỏm đá, bọn chúng hết nhìn phải, rồi nhìn trái tìm chỗ ẩn nấp. Một bên là vực sâu hun hút, đen thui, một bên là đá lởm chởm chỉ cần sơ xuất một chút thôi sẽ rơi xuống vách đá. Đắn đo, cân nhắc mãi, hai đứa cũng tìm được chỗ núp chỉ cách mỏm dá bầy sơn dương thườngđứng khoảng gần hai chục mét. Với khoảng cách ấy, một viên đạn gồm chục viên bi khi bay ra khỏi nòng sẽ tỏa rộng như một chiếc chài chụp xuống, chắc chắn sẽ có viên trúng đích – cho dù người bắn có dở đến mấy đi nữa.
Như thường lệ, khi phương đông ửng hồng, ông mặt trời từ từ rẽ mây trèo lên đỉnh núi xa xa, đem theo những tia nắng vàng rải lên vách núi, cũng là lúc bầy sơn dương theo nhau lên vách đá đứng ngắmbuôn Um và đón bình minh. Cả bầy vẫn vô tình nhảy nhót theo sau con sơn dương chúa đen bóng đang giương cặp sừng cong vút về phía sau, chìa bộ râu dài có lẽ phải đến nửa mét uốn cong về phía trước phất phơ trước làn gió nhẹ ban mai, tận hưởng không khí trong lành và nào có biết đâu cái chết đang chờ ngay phía trước mặt.
“Ầm!”. Tiếng súng nổ xé toang cảnh bình minh thanh bình, vọng vào vách đá dội lại như tiếng một quả bom tấn ném xuống làm rung chuyển cả núi rừng. Tội nghiệp con sơn dương chúa. Nó chồm lên theo bản năng, tung hai chân trước lao vào không khí, nhằm đúng nơi tiếng súng phát ra bổ xuống.
***
Sau này có người kể rằng họ thấy sơn dương chúa bay ra khỏi mỏm đá lao vào hai kẻ bắn trộm rồi lăn xuống vực thẳm kèm theo một tiếng nổ kinh hồn, tiếng nổ ấy còn lớn hơn cả tiếng súng vừa nổ nhằm vào nó,  kéo theo đất đá lăn xuống ầm ầm, khói bụi mù mịt che lấp cả bầu trời.
Già làng tức giận, kéo cả đoàn thanh niên trai tráng trong buôn bươn bả leo lên đỉnh núi, định trị tội kẻ dám làm trái quy định của buôn, xúc phạm thần linh. Nhưng khi lên đến nơi nhìn hai kẻ bắn trộm ông lại bất giác trào nước mắt. Y Reo nằm ngã ngửa, giữa trán in rõ chiếc móng sơn dương đóng vào làm bay mất một con mắt. Còn người lạ đôi mắt trợn ngược bị bầy kiến vàng bu kín. Có lẽ cả hai đã rơi từ mỏm đá trên chục mét xuống hòn đá to phía dưới. Yàng phạt mà!
Kể từ hôm ấy buôn Um chúng tôi không còn ai nhìn thấy bầy sơn dương ấy nữa. Những thế hệ sau này chỉ còn được nghe kể lại về chúng với một niềm tiếc nhớ xót xa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

NHẬN XÉT MỚI